CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc SÁNG KIẾN - Tên sáng kiến: Giải pháp giúp học sinh biết cách làm dạng bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí...
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
SÁNG KIẾN
- Tên sáng kiến:
Giải pháp giúp học sinh biết cách làm dạng bài văn nghị luận
về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
Trang 2SÁNG KIẾN: GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH BIẾT CÁCH LÀM DẠNGBÀI VÃN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ÐỀ TÝ TÝỞNG, ÐẠO LÍ
- Lĩnh vực áp dụng: Sáng kiến chủ yếu phục vụ cho việc bồi dưỡng họcsinh giỏi môn Ngữ văn lớp 8, lớp 9, học sinh giỏi các môn KHXH lớp 8, ngoài
ra còn làm tư liệu tham khảo bồi dưỡng học sinh đại trà trong trường THCS
- Mô tả sáng kiến:
Phần 1 Về nội dung của sáng kiến
Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí là một dạng trong kiểu bài nghịluận xã hội, bên cạnh dạng bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.Những bài làm văn của dạng bài này được đưa vào chương trình Ngữ văn THCS
từ lớp 7 đến lớp 9 Ở lớp 7, học sinh đã tiếp cận với những đề bài như: Chứng
minh rằng nhân dân ta từ xưa đến nay luôn sống theo đạo lí “Ăn quả nhớ kẻ
trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” Hoặc: Hãy chứng minh tính đúng đắn của
câu tục ngữ: “Có công mài sắt, có ngày nên kim” Ở lớp 8, các em được làm những đề bài như: Câu nói của M Go-rơ-ki: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến
thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì?
Tuy nhiên, ở lớp 7 và lớp 8, các em chỉ tiếp cận và thực hành các đề bài đó quaviệc tìm hiểu đặc điểm chung của văn nghị luận hoặc tìm hiểu các phép lập luậnchứng minh, giải thích Phải đến học kì II lớp 9, nghị luận về một vấn đề tưtưởng, đạo lí mới được dạy thành một dạng bài riêng Các em được cung cấpnhững kiến thức cơ bản nhất về dạng bài này như: thế nào là nghị luận về mộtvấn đề tư tưởng, đạo lí, yêu cầu về nội dung, hình thức của bài, cách làm bài.Tuy nhiên, thời lượng 02 tiết là quá ít để học sinh nắm chắc cách làm, đặc biệtsau đó lại không có bài kiểm tra đánh giá về dạng bài này; vì vậy, hầu như các
em vẫn còn rất mơ hồ về kiến thức, lúng túng về kĩ năng khi cuối học kì lại gặplại bài tập liên quan đến dạng bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí Mặtkhác, trong các đề kiểm tra từ lớp 6 đến lớp 9 và đề thi học sinh giỏi, đề thi vàoTHPT luôn có câu hỏi đánh giá năng lực đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiếnthức, kĩ năng về kiểu bài nghị luận xã hội, trong đó có nghị luận về một vấn đề
tư tưởng, đạo lí Do chưa nắm chắc cách làm bài từ việc tìm hiểu đề, tìm ý, lậpdàn ý, viết bài, nên hầu như các em chỉ làm bài một cách qua loa, sơ sài, gặp đềbài nào quen thuộc thì viết bài văn theo trí nhớ, còn khi gặp những đề mới thìlúng túng không biết triển khai như thế nào Vì thế, các bài viết này thường đạtkết quả không cao, trong khi đây mới chính là những bài đánh giá đúng nhấtnăng lực, phẩm chất người học
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã đề xuất một số giải pháp cụ thể để giúpcác em học sinh có thể nắm được cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề tưtưởng, đạo lí, vận dụng tốt hơn trong quá trình học chương trình chính khóa vàbồi dưỡng học sinh giỏi
Trang 3* Giải pháp 1: Giúp học sinh biết cách làm bài từ việc nắm được yêu cầu
cơ bản của dạng bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
- Học sinh cần thấy được nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí là mộtdạng trong kiểu bài nghị luận xã hội, bên cạnh dạng bài nghị luận về một sựviệc, hiện tượng đời sống
- Yêu cầu cơ bản của dạng bài này là:
+ Về hình thức:
Bài viết có bố cục ba phần rõ ràng; cách diễn đạt trong sáng, mạch lạc;luận điểm đúng đắn, sáng tỏ, lập luận chặt chẽ, lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục, đặcbiệt cần chú ý lấy các dẫn chứng trong đời sống xã hội
Bài văn có dung lượng thông thường khoảng 300 – 400 chữ
* Giải pháp 2: Giúp học sinh biết cách làm bài với các thao tác cụ thể
2.1 Hướng dẫn học sinh nhận diện đề bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
- Các vấn đề tư tưởng, đạo lí thường được gợi mở qua một câu tục ngữ, cadao, danh ngôn, câu nói của người nổi tiếng
Ví dụ:
+ Bàn về câu tục ngữ “Thời gian là vàng”
+ Suy nghĩ về câu nói: “Đường đi khó không phải vì ngăn sông cách núi,
mà khó vì lòng người ngại núi e sông” (Nguyễn Bá Học)
- Các vấn đề tư tưởng, đạo lí có khi được khơi gợi từ một khía cạnh nào
đó trong một văn bản đã học
Ví dụ:
+ Từ nhân vật anh thanh niên trong truyện Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành
Long), hãy trình bày suy nghĩ về tính tự lập của học sinh
+ “Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
(Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải)
Trang 4Từ khát vọng sống của nhà thơ Thanh Hải trong khổ thơ trên, hãy trìnhbày suy nghĩ về lí tưởng sống của thanh niên trong thời đại ngày nay.
- Có khi vấn đề tư tưởng, đạo lí được thể hiện qua một câu chuyện, mộtbản tin, một đoạn thơ, một đoạn ca từ trong bài hát Học sinh phải “giải mã”được các ngữ liệu để tìm ra vấn đề tư tưởng, đạo lí cần bàn luận
Ví dụ:
Chuyện xưa kể lại rằng, một buổi tối, một vị thiền sư già đi dạo trong thiền viện, chợt trông thấy một chiếc ghế dựng sát chân tường nơi góc khuất Đoán ngay ra đã có chú tiểu nghịch ngợm nào đó làm trái quy định – vượt tường trốn ra ngoài chơi – nhưng vị thiền sư không nói với ai, mà lặng lẽ đi đến, bỏ chiếc ghế ra rồi quỳ xuống đúng chỗ đó.
Một lúc sau, quả đúng có một chú tiểu trèo tường vào Đặt chân xuống, chú tiểu kinh ngạc khi phát hiện ra dưới đó không phải là chiếc ghế mà là vai thầy mình, vì quá hoảng sợ nên không nói được gì, đứng im chờ nhận được những lời trách cứ và cả hình phạt nặng nề Không ngờ vị thiền sư lại chỉ ôn tồn nói: “Đêm khuya sương lạnh, con mau về thay áo đi” Suốt cuộc đời chú tiểu không bao giờ quên được bài học từ buổi tối hôm đó.
Cách xử sự của vị thiền sư trong câu chuyện trên gợi cho em suy nghĩ gì?Hãy trình bày ý kiến của em bằng một bài văn nghị luận
- Giáo viên cần lưu ý học sinh không được nhầm lẫn sang kiểu bài nghịluận văn học Nhất là với những đề có trích dẫn ngữ liệu là một câu chuyện, mộtbài (đoạn) thơ học sinh rất dễ lạc sang phân tích, bàn luận về nhân vật trongcâu chuyện, nội dung, nghệ thuật của chính văn bản đó
2.2 Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt các bước làm bài
2.2.1 Cẩn trọng, nhanh nhạy trong việc tìm hiểu đề và tìm ý
Đứng trước đề bài, cần xác định rõ đâu là trọng tâm của bài, cần xác định
rõ vấn đề tư tưởng, đạo lí cần bàn luận Có những đề đã định hướng rõ cho bàilàm qua các từ “tư tưởng”, “đạo lí”, nhưng cũng có những đề hoạc sinh phải tựxác định thông qua cách nêu yêu cầu của đề và phần ngữ liệu có trong đề
Ví dụ:
+ Đề bài: Suy nghĩ về đạo lí Uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta.
Hoặc đề bài: “Trăng cứ tròn vành vạnh
Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình”
Trình bày suy nghĩ của em về đạo lí, lẽ sống đặt ra từ đoạn thơ trên
Trang 5Với các đề bài trên, học sinh dễ dàng xác định được yêu cầu trọng tâm là
“đạo lí”, “tư tưởng”, không sai lạc yêu cầu
+ Đề bài: “Có một gương mặt đẹp soi vào gương quả là hạnh phúc.
Nhưng hạnh phúc càng trọn vẹn hơn nếu có một tâm hồn đẹp để mỗi khi soi vào tấm gương lương tâm sâu thẳm mà lòng không hổ thẹn” (Băng Sơn) Suy nghĩ
về ý kiến trên
Với đề bài trên, học sinh cần xác định rõ: đề không có chữ “tư tưởng”,
“đạo lí”, nhưng người làm bài phải bàn luận để thấy được tính đúng đắn của mộtquan điểm về cách nhìn nhận, đánh giá vẻ đẹp con người, từ đó xây dựng quanđiểm đúng: hãy quý trọng vẻ đẹp bên ngoài, nhưng cần nhất là phải tu dưỡng,rèn luyện đời sống tâm hồn, nhân cách để xứng đáng là con người
- Sau khi xác định đúng yêu cầu của đề, cần vận dụng các kĩ năng để tìm
ý cho bài.Thông thường, học sinh tìm ý bằng cách đặt ra các câu hỏi và trả lờicác câu hỏi như:
+ Vấn đề tư tưởng, đạo lí đó là gì?
+ Cần hiểu vấn đề tư tưởng, đạo lí đó như thế nào? Tư tưởng, đạo lí đó cónhững biểu hiện như thế nào?
+ Quan điểm, tư tưởng đó đúng sai như thế nào?
+ Xưa nay, chúng ta đã vận dụng tư tưởng, đạo lí đó như thế nào?
+ Chúng ta phải làm gì để thể hiện tư tưởng, đạo lí đó?
Trang 6Ví dụ: Với đề bài: “Trăng cứ tròn vành vạnh
Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình”
Trình bày suy nghĩ của em về đạo lí, lẽ sống đặt ra từ đoạn thơ trên
Học sinh có thể viết mở bài như sau:
Nhân dân ta có nhiều truyền thống đạo lí tốt đẹp như tương thân tương ái,uống nước nhớ nguồn Những đạo lí đó đã làm nên nét đẹp ngàn đời cho conngười Việt Nam Một trong những đạo lí luôn được gìn giữ và phát huy ở mọi
thời đại là ân nghĩa thủy chung, trân trọng quá khứ Khổ thơ cuối trong bài Ánh
trăng của Nguyễn Duy đã khơi gợi trong ta đạo lí truyền thống cao đẹp đó:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình”
2.2.3.2 Rèn cách triển khai phần thân bài
- Thao tác giải thích: Tùy theo từng đề bài, có thể giải thích từng từ, cụm
từ, giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng sau đó phải rút ra tư tưởng chung của cảcâu Với đề bài yêu cầu nghị luận về một vấn đề rút ra từ một câu chuyện, mộtbản tin, một đoạn thơ, một đoạn ca từ trong bài hát , cần tóm lược nội dung củangữ liệu để rút ra vấn đề nghị luận
Ví dụ:
Với đề bài: “Có một gương mặt đẹp soi vào gương quả là hạnh phúc.
Nhưng hạnh phúc càng trọn vẹn hơn nếu có một tâm hồn đẹp để mỗi khi soi vào tấm gương lương tâm sâu thẳm mà lòng không hổ thẹn” (Băng Sơn) Suy nghĩ
về ý kiến trên
Học sinh cần giải thích được như sau:
Trang 7+ Gương mặt đẹp: vẻ đẹp bên ngoài
+ Tâm hồn đẹp: vẻ đẹp của đời sống nội tâm bên trong (bao gồm nhâncách, trí tuệ, đạo đức) của con người
+ Gương: sự soi chiếu của cuộc đời vào mỗi con người để đánh giá giá trịcủa con người ấy
Ý nghĩa cả câu:Vẻ đẹp hình thức bên ngoài vốn mang lại hạnh phúc chocon người Nhưng vẻ đẹp tâm hồn bên trong sẽ càng làm cho con người hạnhphúc hơn
Câu nói muốn khẳng định một quan điểm sống: Biết quý trọng vẻ đẹp bênngoài là cần thiết, nhưng cần nhất là phải luôn tu dưỡng, rèn luyện đời sống tâmhồn, nhân cách để xứng đáng là con người
Với đề bài: “Có một gương mặt đẹp soi vào gương quả là hạnh phúc.
Nhưng hạnh phúc càng trọn vẹn hơn nếu có một tâm hồn đẹp để mỗi khi soi vào tấm gương lương tâm sâu thẳm mà lòng không hổ thẹn” (Băng Sơn) Suy nghĩ
về ý kiến trên
Học sinh có thể tìm và sắp xếp các ý trong phần bàn luận như sau:
Luận điểm 1: Cái đẹp hình thức mang lại hạnh phúc cho con người
Lí lẽ 1: Cái đẹp hình thức thể hiện ra bên ngoài, ai cũng có thể nhìn thấynhư hình thể, khuôn mặt, phong cách ăn mặc Cái đẹp hình thức giúp conngười tự tin, vui sướng khi được mọi người ngưỡng mộ
Dẫn chứng: những bạn học sinh xinh xắn, những cô gái đẹp, những chàngthanh niên tuấn tú
Lí lẽ 2: Cái đẹp hình thức càng đẹp hơn, khiến con người ta hạnh phức, tựhào hơn khi nó phù hợp với thuần phong mĩ tục, nó thể hiện văn hóa của đấtnước, dân tộc
Dẫn chứng: niềm hạnh phúc của những người mặc trang phục đẹp, trangphục truyền thống trong các cuộc thi nhan sắc, trí tuệ
Luận điểm 2: Cái đẹp tâm hồn mới làm cho con người hạnh phúc thật sự
Trang 8Lí lẽ 1: Tâm hồn đẹp mang lại hạnh phúc cho con người bởi khi đó conngười biết ước mơ, khát vọng, sống có lí tưởng cao đẹp, biết yêu thương, giúp
đỡ mọi người, cảm nhận được giá trị của cuộc sống
Dẫn chứng: trong văn học, anh thanh niên (Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn
Thành Long) cảm thấy thật hạnh phúc khi góp phần nhỏ vào chiến công củakhông quân ta bắn rơi máy bay Mĩ; trong đời sống, những cầu thủ của đội tuyểnbóng đá quốc gia đã hạnh phúc ngập tràn bởi đã cống hiến hết mình trong nhữngtrận cầu đẹp, mang lại niềm vui, niềm tự hào cho người hâm mộ
Lí lẽ 2: Người có nhân cách đẹp, trí tuệ thông minh, tấm lòng nhân ái sẽluôn được mọi người yêu mến, quý trọng và họ sẽ có được thành công Và khi
đó, họ là những người hạnh phúc thật sự, “giàu có” thật sự
Dẫn chứng: niềm hạnh phúc của chị Mai Anh – “người phụ nữ hồi sinh béThiện Nhân”, niềm hạnh phúc của vợ chồng chị Phương, anh Tín – những người
đã nhận cưu mang em bé Mường Lát
- Thao tác xây dựng bài học nhận thức: Cần xây dựng được quan điểmđúng đắn, những việc làm cụ thể, thiết thực để thực hiện tư tưởng, đạo lí; đồngthời bày tỏ thái độ phê phán đối với những tư tưởng, quan điểm tiêu cực, đối lậpvới cái đúng, cái tích cực
Ví dụ:
Với đề bài: “Có một gương mặt đẹp soi vào gương quả là hạnh phúc.
Nhưng hạnh phúc càng trọn vẹn hơn nếu có một tâm hồn đẹp để mỗi khi soi vào tấm gương lương tâm sâu thẳm mà lòng không hổ thẹn” (Băng Sơn) Suy nghĩ
về ý kiến trên
Học sinh có thể xây dựng bài học nhận thức như sau:
+ Mỗi chúng ta cần chú ý cả vẻ đẹp hình thức lẫn tâm hồn, bởi người có
cả vẻ đẹp hình thức và tâm hồn mới là con người hoàn chỉnh Hai vẻ đẹp đó hàihòa với nhau sẽ đem lại cho con người hạnh phúc trọn vẹn
+ Tuy nhiên, nếu chẳng may có một hình thức không mong muốn thì cũngkhông nên quá tự ti, đau khổ, mà hãy lạc quan, và điều quan trọng là cố gắng bồiđắp vể đẹp tâm hồn, nhân cách, trí tuệ
+ Cần phê phán một bộ phận giới trẻ hiện nay quá coi trọng hình thức,chạy theo vẻ bề ngoài nhiều khi lố lăng, phản cảm, trái thuần phong mĩ tục.Cũng cần tránh cách sống lôi thôi, cẩu thả, không để ý đến hình thức, bởi nhưthế là không coi trọng bản thân và thiếu tôn trọng người khác
Trang 9Ví dụ:
Với đề bài: “Trăng cứ tròn vành vạnh
Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc
Đủ cho ta giật mình”
Trình bày suy nghĩ của em về đạo lí, lẽ sống đặt ra từ đoạn thơ trên
Học sinh có thể viết kết bài như sau:
Annatole France từng nói: “Đừng đánh mất quá khứ, vì với quá khứ,người ta xây dựng tương lai Ân nghĩa thủy chung, trân trọng quá khứ không chỉ
là truyền thống đạo lí của dân tộc ta mà còn là lẽ sống cao đẹp của nhân loại từxưa đến nay và mãi mãi về sau Những câu thơ đầy tính suy tư, chiêm nghiệmcủa Nguyễn Duy như mãi nhắc nhở chúng ta kế thừa, phát huy những truyềnthống đạo lí của dân tộc, hướng chúng ta đến với những giá trị bền vững củacuộc sống Đó cũng là bài học đạo lí sâu sắc cho thế hệ trẻ – chủ nhân đất nướctrong thời đại mới
2.2.3.4 Rèn kĩ năng sửa chữa và hoàn thiện bài
Sau khi biết bài, học sinh cần đọc lại bài, soát lỗi, kiểm tra xem bài viết đãthể hiện hết ý định của mình chưa, có mắc lỗi chính tả, dùng từ đặt câu, diễn đạthay không Từ đó các em sẽ hoàn thiện bài viết và rút kinh nghiệm cho lần sau
Phần 2: Về khả năng áp dụng của sáng kiến
- Sáng kiến đã được áp dụng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi và
học sinh đại trà môn Ngữ văn trường THCS Lý Tự Trọng năm học 2016 –
2017, đội tuyển HSG các môn KHXH trường THCS Lý Tự Trọng năm học
2017 – 2018, có khả năng áp dụng ở các trường THCS trong toàn huyện
Bảng số liệu thể hiện kết quả áp dụng sáng kiến vào thực tiễn bồi dưỡnghọc sinh giỏi tại trường THCS Lý Tự Trọng:
Trước khi áp dụng sáng kiến:
Trang 10+ Sáng kiến mang lại lợi ích xã hội: nâng cao chất lượng giảng dạy mônNgữ văn trong trường THCS; học sinh được rèn tư duy nghị luận, biết đưa ra vàbảo vệ quan điểm của mình về các vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội.
- Các thông tin cần được bảo mật: không
d) Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Cơ sở vật chất trường học
- Sách báo, tài liệu tham khảo của giáo viên và học sinh
- Thời gian bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi
đ) Về khả năng áp dụng của sáng kiến cho những đối tượng, cơ quan, tổchức nào hoặc những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu:
Sáng kiến đã được giáo viên môn Ngữ văn tổ Khoa học xã hội trườngTHCS Lý Tự Trọng áp dụng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
Tôi làm đơn này trân trọng đề nghị Hội đồng sáng kiến xem xét và côngnhận sáng kiến Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực,đúng sự thật, không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác và hoàn toànchịu trách nhiệm về thông tin đã nêu trong đơn
Hương Canh, ngày 25 tháng 01 năm 2019
Trang 11NGƯỜI VIẾT ĐƠN
Đỗ Thị Hồng Hạnh
Trang 12Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện Bình Xuyên
Trường THCS Lý Tự Trọng nhận được đơn đề nghị công nhận sáng kiếncủa Ông (bà): Đỗ Thị Hồng Hạnh
- Ngày tháng năm sinh: 11/11/1976 Nam, nữ: Nữ
- Đơn vị công tác: Trường THCS Lý Tự Trọng
- Chức danh: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
- Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến: 100%
- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Đỗ Thị Hồng Hạnh
- Tên sáng kiến: Giải pháp giúp học sinh biết cách làm dạng bài văn nghịluận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
- Lĩnh vực áp dụng: Sáng kiến chủ yếu phục vụ cho việc bồi dưỡng họcsinh giỏi môn Ngữ văn lớp 8, lớp 9, học sinh giỏi các môn KHXH lớp 8, ngoài
ra còn làm tư liệu tham khảo bồi dưỡng học sinh đại trà trong trường THCS
Sau khi nghiên cứu đơn đề nghị công nhận sáng kiến,
- Tôi tên là Vũ Thị Lan Hương
- Chức vụ: Hiệu trưởng Trường THCS Lý Tự Trọng, trưởng ban thi đuanhà trường
Thay mặt nhà trường nhận xét, đánh giá như sau:
1 Đối tượng được công nhận sáng kiến: Giải pháp tác nghiệp
2 Nhận xét, đánh giá về nội dung sáng kiến:
a) Đảm bảo tính mới, tính sáng tạo, vì:
- Không trùng với nội dung của giải pháp trong đơn đăng ký sáng kiếnnộp trước;
- Chưa bị bộc lộ công khai trong các văn bản, sách báo, tài liệu kỹ thuậtđến mức căn cứ vào đó có thể thực hiện ngay được;