1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông bằng chế phẩm (tinh dầu Sả Java) chiết suất từ lá Sả Java (Cymbopogon winterianus) tại trường Đại học Nông Lâm (Khóa luận tốt nghiệp)

79 97 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 3,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông bằng chế phẩm (tinh dầu Sả Java) chiết suất từ lá Sả Java (Cymbopogon winterianus) tại trường Đại học Nông LâmBước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông bằng chế phẩm (tinh dầu Sả Java) chiết suất từ lá Sả Java (Cymbopogon winterianus) tại trường Đại học Nông LâmBước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông bằng chế phẩm (tinh dầu Sả Java) chiết suất từ lá Sả Java (Cymbopogon winterianus) tại trường Đại học Nông LâmBước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông bằng chế phẩm (tinh dầu Sả Java) chiết suất từ lá Sả Java (Cymbopogon winterianus) tại trường Đại học Nông LâmBước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông bằng chế phẩm (tinh dầu Sả Java) chiết suất từ lá Sả Java (Cymbopogon winterianus) tại trường Đại học Nông LâmBước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông bằng chế phẩm (tinh dầu Sả Java) chiết suất từ lá Sả Java (Cymbopogon winterianus) tại trường Đại học Nông LâmBước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông bằng chế phẩm (tinh dầu Sả Java) chiết suất từ lá Sả Java (Cymbopogon winterianus) tại trường Đại học Nông Lâm

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PỜ GIA THANH

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU BẢO QUẢN GỖ THÔNG BẰNG CHẾ PHẨM (TINH DẦU SẢ JAVA) CHIẾT SUẤT

TỪ LÁ SẢ JAVA (CYMBOPOGON WINTERIANUS)

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Khoa : Lâm nghiệp

Khóa : 2014 – 2018

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PỜ GIA THANH

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU BẢO QUẢN GỖ THÔNG BẰNG CHẾ PHẨM (TINH DẦU SẢ JAVA) CHIẾT SUẤT

TỪ LÁ SẢ JAVA (CYMBOPOGON WINTERIANUS)

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Khoa : Lâm nghiệp Khóa : 2014 – 2018 Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Việt Hưng

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình nghiên cứu thực nghiệm hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2018

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người viết cam đoan

Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước

Hội đồng khoa học

Th.S Nguyễn Việt Hưng Pờ Gia Thanh

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót

sau khi hội đồng chấm yêu cầu

(Ký, ghi rõ họ tên)

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Nhằm thực hiện kế hoạch đào tạo năm học 2017 – 2018, niên khóa 2014-2018 của nhà trường, cũng như được sự nhất trí của Khoa và Nhà trường, từ ngày 14/8/2017 đến ngày 12/11/2017, em được phân công đi thực tập tại Trường để chúng em có cơ hội vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng ngành vào việc nghiên cứu việc thực hành, vào thực tế đời sống; vừa là

để học tập, có cơ hội tiếp cận với môi trường làm việc thực tế, trau dồi kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm làm việc Em đã tiến hành thực tập tại trường

Đại học Nông lâm Thái Nguyên với đề tài: “Bước đầu nghiên cứu bảo quản

gỗ thông bằng chế phẩm (tinh dầu Sả Java) chiết suất từ lá Sả Java (Cymbopogon winterianus) tại trường Đại học Nông Lâm”

Trong suốt quá trình thực tập tại Trường em luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Khoa và Nhà trường, đặc biệt được Th.S Nguyễn Việt Hưng

đã tận tâm hướng dẫn em

Nhân đây em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới nhà trường, khoa,

bộ môn, đã giúp đỡ em hoàn thành đợt thực tập cuối khóa của mình Xin cảm

ơn thầy giáo Nguyễn Việt Hưng đã tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành việc thực tập Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của cô thì em nghĩ bài báo cáo này của em rất khó có thể hoàn thiện được

Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian còn ngắn, kiến thức của

em còn hạn chế Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn,

em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô và các bạn để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

ASTM : American Society for Testing and Materials

(Hiệp hội vật liệu và thử nghệm Hoa Kì)

M1 : Khối lượng trước khi ngâm

M2 : Khối lượng sau ngâm

Mtt : Khối lượng thuốc thấm

Trang 6

đối với mối 38 Bảng 4.7 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 20% (ngâm 24 giờ) đối

với mối 39 Bảng 4.8 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 100% đối với mối 40 Bảng 4.9 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở các nồng độ đối với mối 41

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Chuẩn bị lá Sả 22

Hình 3.2 Cho lá vào nồi 22

Hình 3.3 Chuẩn bị nấu 22

Hình 3.4 Nấu Sả 22

Hình 3.5 Bắt đầu ra dầu Sả 23

Hình 3.6 Lọc tinh dầu Sả 23

Hình 3.7 Pha dịch chiết theo nồng độ 24

Hình 3.8 Quét dịch chiết lên mẫu 24

Hình 3.9 Làm hộp nhử mối 27

Hình 3.10 Đặt hộp nhử 27

Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của nồng độ đến lượng chế phẩm thấm vào gỗ 31

Hình 4.2 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 10% (nhúng 10 phút) đối với mối 34

Hình 4.3 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 10% (ngâm 24 giờ) đối với mối 35

Hình 4.4 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 15% (nhúng 10 phút) đối với mối 36

Hình 4.6 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 20% (nhúng 10 phút) đối với mối 38

Hình 4.7 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 20% (ngâm 24 giờ) đối với mối 40

Hình 4.8 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 100% đối với mối 41

Hình 4.9 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở các nồng độ đối với mối 42

Hình 4.10 Hiệu lực của dịchchiết lá Sả java ở nồng độ 10% 44

Trang 8

vi

Hình 4.11 Hiệu lực của dịchchiết lá Sả java ở nồng độ 10% 44Hình 4.12 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 15% (nhúng 10 phút)

đối với nấm 44Hình 4.13 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 15% (ngâm 24 giờ)

đối với nấm 44Hình 4.14 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 20% (nhúng 10 phút)

đối với nấm 44Hình 4.15 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 20% (ngâm 24 giờ)

đối với nấm 44Hình 4.16 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 100% (quét) 49

Trang 9

vii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC HÌNH v

MỤC LỤC vii

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Ý nghĩa của đề tài 2

PHẦN 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.1.1 Bảo quản gỗ và tầm quan trọng của công tác bảo quản gỗ 4

2.1.2 Phương pháp bảo quản gỗ 5

2.1.3 Những vấn đề về thuốc bảo quản và nguyên liệu 9

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 13

2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản trên thế giới 13

2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản ở Việt Nam 15

2.2.3 Tình hình nghiên cứu về sử dụng Sả java (Cymbopogon winterianus) 19 PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20

3.2 Địa điểm và thời gian thực tập 20

Trang 10

viii

3.3 Nội dung nghiên cứu 20

3.4 Phương pháp nghiên cứu 21

3.4.1 Phương pháp kế thừa 21

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 21

3.4.3 Phương pháp xác định lượng thuốc thấm 24

3.4.4 Phương pháp đánh giá hiệu lực của chế phẩm bảo quản 25

3.4.5 Phương pháp phân tích, xử lý số và tổng hợp số liệu 29

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm tẩm đến lượng chế phẩm Sả java thấm vào gỗ 31

4.2 Hiệu lực với mối của chế phẩm lá Sả java trên gỗ Thông 33

4.2.1 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 10% đối với mối 33

4.2.2 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 15% đối với mối 35

4.2.3 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 20% đối với mối 38

4.2.4 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java ở nồng độ 100% (quét) đối với mối 40 4.3 Hiệu lực của dịch chiết lá Sả java đối với nấm 43

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Kiến nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

PHỤ LỤC 51

Trang 11

Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới nên các sinh vật hại gỗ nói chung và nấm gây biến màu gỗ nói riêng phát triển rất mạnh Do đó, để hạn chế các tác nhân gây hại lâm sản một số biện pháp kỹ thuật đã được sử dụng rộng rãi như: chọn mùa chặt hạ, ngâm dưới ao hồ, hun khói, kê xếp gỗ ở những nơi thoáng mát, Tuy nhiên khi áp dụng các biện phap bảo quản trên cùng tồn tại một số nhược điểm đó là thời gian xử lý kéo dài gây khó khăn trong việc chủ động nguồn nguyên liêu, ngâm nước lâu ngày sẽ gây ô nhiễm môi trường nước và không khí khu vực xử lý Nhằm giải quyết vấn đề đó ngành chế biến lâm sản đã

và đang không ngừng nghiên cứu công trình công nghệ bảo vệ gỗ

Hiện nay do việc sử dụng các chất có nguồn gốc hóa học đã làm ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí), làm mất cân bằng sinh học Ngoài ra, khi sử dụng các loại thuốc bảo quản gỗ có nguồn gốc hóa học là nguy cơ gây hại sức khỏe con người trước mắt cũng như lâu dài

Trang 12

2

Sả java thuộc loại cây thảo sống lâu năm, mọc thành bụi, phân nhánh nhiều Thân rễ trắng hoặc hơi tím vàng, lá dài hẹp, mép hơi ráp, bẹ trắng, rộng Có đặc tính kháng bệnh, diệt côn trùng Trên thực tế tinh dầu Sả java được sử dụng làm giảm đau rất tốt, còn trị nấm rất hiệu quả, tốt cho xương và dây chằng giúp điều trị trí nhớ kém, trầm cảm, tuần hoàn kém, giảm độ sưng tấy do côn trùng đốt, chống nấm, chống nhiễm trùng và miễn dịch tốt Bên cạnh đó, tinh dầu sả java còn được dùng làm thuốc sát trùng, diệt ký sinh trùng, diệt mối mọt, chữa ghẻ cho gia súc… Sả java dễ trồng, khả năng ứng dụng ở các địa phương đơn giản [3]

Qua điều tra sơ bộ tại địa phương cho thấy người dân sử dụng tinh dầu sả java được chiết xuất từ lá để phòng chống sâu hại cây trồng và bảo quản gỗ Để

có cơ sở khoa học về cách sử dụng lá Sả java tôi tiến hành nghiên cứu về khả

năng bảo quản của tinh dầu Sả java thông qua đề tài: "Bước đầu nghiên cứu

bảo quản gỗ Thông bằng chế phẩm (tinh dầu Sả java) chiết suất từ lá Sả java (Cymbopogon winterianus) tại trường Đại học Nông Lâm"

1.2 Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài

Trang 13

3

- Ý nghĩa khoa học

Đề tài mở ra hướng nghiêm cứu bảo quản gỗ Thông bằng chế phẩm sinh học từ lá Sả java nhằm để bảo quản, kháng nấm mốc, biến màu gỗ Tạo ra được thuốc có tính hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường, không làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và động vật

- Ý nghĩa thực tiễn

Về phương diện thực tiễn, kết quả nghiên cứu cho ta biết được chế phẩm sinh học từ lá Sả java sẽ giúp cho các xưởng chế biến gỗ và các hộ gia đình biết được công dụng của chế phẩm sinh học có tác dụng bảo quản gỗ, tẩy nấm mốc

và biến màu gỗ, biết được công thức chế biến ra chế phẩm sinh học từ lá Sả java một cách hợp lý và hiệu quả nhất Dựa vào kết quả này người dân có thể áp dụng biện pháp bảo quản gỗ đạt hiệu quả tốt nhất, không gây ô nhiễm môi trường, không làm ảnh hưởng đến sức khỏe của mình và mọi người xung quanh

Có thể làm tư liệu tham khảo cho các công trình xây dựng trong việc bảo quản gỗ thông khỏi bị mối ăn, nấm mốc, biến màu gỗ

Trang 14

4

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1) Bảo quản kĩ thuật: Là phương pháp bảo quản tác động vào gỗ làm cho

gỗ kéo dài thời gian sử dụng, phương pháp này không dùng hóa chất như: Cách

li gỗ với đất, nước, hơi ẩm, hong, phơi, sấy hoặc ngâm gỗ trong bùn ao

2) Bảo quản bằng hoá chất: Là phương pháp dùng hóa chất để phun tẩm vào gỗ, quét, ngâm gỗ tẩm gỗ hoặc xông hơi, dùng hoá chất xử lí trực tiếp sinh vật hại gỗ

3) Bảo quản bằng biện pháp sinh học: Dùng một số loài nấm, côn trùng để diệt sinh vật hại gỗ (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5]

2.1.1.2 Tầm quan trọng của công tác bảo quản gỗ

Việc áp dụng chế phẩm bảo quản lâm sản nhằm mục tiêu:

Công nghệ bảo quản nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ sử dụng lâm sản ngoài gỗ và gỗ gấp hàng chục lần so với việc sử dụng theo độ bền tự nhiên Nhằm tăng giá trị sử dụng, hạn chế các tổn thất nặng nề do các sinh vật gây hại như mối mọt, nấm mục, v.v…gây ra kể từ ngay sau khi chặt hạ đến suốt quá trình sử dụng

Bằng biện pháp kỹ thuật (có hoặc không sử dụng chế phẩm bảo quản) phải kéo dài tuổi thọ sử dụng gỗ và lâm sản ngoài gỗ lên nhiều lần so với gỗ không được xử lý bảo quản, góp phần đảm bảo an toàn cho các sản phẩm và công trình

sử dụng lâm sản

Trang 15

5

Công nghệ bảo quản ra đời được đánh giá là một bộ phận của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật của thế kỷ XX Nó mang lại hiệu quả quả kinh tế lớn, tiết kiệm tài nguyên rừng, góp phần sử dụng tài nguyên hợp lý, chủ động, hiệu quả, do đó nó có vai trò trong chiến lược phát triển, bảo vệ tài nguyên rừng và trong nền kinh tế quốc dân (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5]

Gỗ, tre, nứa là nguồn lâm sản được sử dụng phổ biến để làm nguyên liệu trong xây dựng, làm đồ nội thất và đồ gia dụng thiết yếu khác

Từ lâu đời nhân dân ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và tìm ra các biện pháp hạn chế sự tấn công này như: Chặt tre, gỗ vào mùa đông để giảm lượng dinh dưỡng trong cây, ngâm tre gỗ dưới ao hồ để phá hủy một phần lượng dinh dưỡng đó, để gác bếp, hun khói,… Đặc điểm nổi bật là chúng ta sống trong môi trường nhiệt đới nóng ẩm Điều kiện này thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật nói chung song đối với sinh vật gây hại cũng hoạt động mạnh quanh năm Công nghệ bảo quản bằng các loại chế phẩm tự nhiên ra đời chính là đã kế thừa các thành tựu của việc nghiên cứu cơ bản về sinh vật học

2.1.2 Phương pháp bảo quản gỗ

2.1.2.1 Phương pháp ngâm thường

Đặc điểm chung: Ngâm gỗ vào dung dịch bảo quản trong điều kiện bình thường là một trong những phương pháp cổ điển nhất Khi ngâm gỗ hoặc lâm sản khác trong một chất lỏng có hiện tượng sau: Sự chuyển động của các phần tử dung dịch bảo quản vào trong gỗ (lâm sản khác) nhờ hiện tượng thẩm thấu và sự chuyển động của dung dịch bảo quản vào gỗ nhờ áp lực mao quản Các màng tế bào được coi là màng bán thấm, tạo ra sự thấm một chiều của các phần tử thuốc

từ ngoài vào Đồng thời với quá trình thấm thuốc vào gỗ thì có một số phần tử nước từ trong gỗ chuyển động ngược trở ra vào dung dịch thuốc Tốc độ chuyển động của hai chiều ngược nhau này phụ thuộc vào ẩm độ gỗ, nồng độ dung dịch, loại gỗ (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5]

Trang 16

Ẩm độ gỗ ít nhất phải trên 50%, nồng độ dung dịch phải cao hơn gấp 2 - 3 lần so với nồng độ chế phẩm cùng loại khi tẩm bằng phương pháp khác (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5]

2.1.2.3 Phương pháp nóng - lạnh

Khi gỗ được làm nóng lên, không khí và hơi nước trong gỗ cũng bị nóng dần và dãn nở thể tích Song thể tích gỗ tăng không đáng kể, do vậy áp suất trong gỗ sẽ cao hơn áp suất bên ngoài, một phần không khí và hơi nuớcc sẽ thoát

ra khỏi gỗ

Khi gỗ bị chuyển sang trạng thái lạnh, không khí và hơi nước còn lại trong gỗ sẽ

bị lạnh và trở về trạng thái ban đầu, thể tích không gian mà chúng chiếm chỗ sẽ nhỏ hơn Kết quả làm cho áp suất trong khoang rỗng tế bào gỗ bị giảm, thấp hơn áp suất môi trường xung quanh Do sự chênh lệch áp suất này, dung dịch chế phẩm lạnh sẽ dễ dàng thấm vào gỗ (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5]

2.1.2.4 Phương pháp chân không áp lực

Phương pháp này gồm hai quá trình:

Tăng áp lực: Tạo ra sức ép để ép chế phẩm thấm vào gỗ, trị số áp lực thông thường 6 - 12.105pa

Hút chân không: Độ sâu chân không thường là 600 – 650 mmHg Cụ thể hút chân không ở các thời điểm: Chân không trước khi tăng áp lực Chân không giữa các quá trình áp lực Chân không sau quá trình áp lực

Trật tự của hai quá trình cơ bản này thay đổi tùy theo quy trình, tức phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Khả năng thấm chế phẩm của các loại gỗ, độ ẩm gỗ, loại chế phẩm, lượng thấm chế phẩm cần thiết…

Trang 17

7

Sự thay đổi của hai quá trình đã tạo nên nhiều phương pháp tẩm gỗ như: Phương pháp tế bào đầy; phương pháp tế bào rỗng; phương pháp bán dẫn (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5]

2.1.2.5 Phương pháp bóc vỏ cây

Phương pháp này để hạn chế sự xâm nhập của mọt hại gỗ tươi và mối hại

vỏ cây, sau khi khai thác thường được bóc vỏ (trừ một số loại gỗ chuyên dùng cần giữ vỏ) Bóc vỏ làm gỗ ráo mặt nhanh, ẩm độ giảm xuống tạo điều kiện bất lợi cho các sinh vật hại gỗ tươi xâm nhập (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5]

2.1.2.6 Phương pháp phơi, sấy gỗ

Gỗ phơi sấy là một biện pháp bảo quản lâm sản khỏi một số loại côn trùng hại gỗ tươi Gỗ có độ ẩm cao được xếp thành chồng lên nhau hoặc được xếp lên

đà kê để ngoài không khí hoặc cho vào lò sấy

Với phương pháp này, ngoài loại bỏ được những yếu tố gây hại do sinh vật gây ra còn hạn chế được tác nhân phi sinh vật như cong vênh, nứt nẻ ở gỗ

Trong việc xếp đống gỗ để hong phơi tránh hiện tượng để ánh sáng chiếu hoặc gió lùa trực tiếp vào đầu của cây hoặc tấm ván gỗ Khi đó làm cho độ ẩm thoát ra quá nhanh dẫn đến hiện tượng gỗ bị nứt đầu

Việc xếp thanh kê phải đúng kỹ thuật: Kích thước các thanh kê, khoảng cách giữa các thanh kê phải đều nhau, các thanh kê giữa các trồng ván phải thẳng hàng Khoảng cách giữa các thanh kê phụ thuộc vào loại gỗ, chiều dày tấm ván, kích thước thanh kê thường dày 2.5 cm, rộng 5 - 6 cm (Nguyễn Thị Bích Ngọc

và cs, 2006) [5]

2.1.2.7 Phương pháp hun khói, ngâm

Phương pháp này áp dụng theo kinh nghiệm Phương pháp hun khói tre, gỗ, song mây lên trên bếp giúp cho tre nứa, song mây khô nhanh, chống được mốc Mặt khác trên bề mặt sẽ có một lớp bồ hóng có thành phần hóa học tương tự như sản phẩm dầu nhựa có khả năng phòng được nấm mốc và mọt tre

Trang 18

8

Phương pháp ngâm tre, gỗ trong ao hồ hoặc bùn với một thời gian 6 tháng đến 1 năm hoặc lâu hơn sẽ hạn chế được mọt mốc Phương pháp này sẽ làm biến đổi thành phần hóa học trong gỗ, cụ thể làm cho hàm lượng đường và tinh bột có trong tre, gỗ giảm đi (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5]

2.1.2.8 Phương pháp tẩm cây đứng

Phương pháp này có tên là tẩm cây sống (cây chưa bị chặt hạ) Lợi dụng đặc điểm của cây phải hút nước, muối khoáng từ đất qua hệ thống rễ, theo các mạch dẫn lên lá để sau quá trình quang hợp tạo thành nhựa luyện nuôi cây Phương pháp này sẽ tác động chặn dòng nhựa luyện và thay bằng dung dịch chế phẩm bảo quản, chế phẩm sẽ đi theo mạch dẫn và phân bố trong cây (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [5]

2.1.2.9 Phương pháp thay thế nhựa

Gỗ sau khi chặt 2 - 3 ngày, nhựa cây vẫn ở trang thái lỏng sẽ dịch chuyển được nếu có lực đẩy từ phía gốc đến ngọn của khúc gỗ

Lợi dụng đặc điểm này, người ta dùng dung dịch chế phẩm tiếp vào một đầu của khúc gỗ (phía gốc), nhờ sự chênh lệch áp lực của dung dịch ở đầu gốc và đầu ngọn khúc gỗ, dung dịch tẩm sẽ ép vào các mạch, dồn dần nhựa về một phía

và sẽ thay thế vị trí của nhựa vào các khoảng trống

Thời gian ngâm tẩm tùy thuộc vào từng loại gỗ, bình quân 5 - 12 ngày Sau khi kết thúc quá trình tẩm một tuần lễ có thể tiến hành bóc vỏ và tùy theo thời gian hong phơi tương ứng với yêu cầu về độ ẩm ta có thể đem sử dụng

Lượng thuốc tiêu hao cho phương pháp này khoảng 400 - 500 kg/m3 dung dịch thuốc nước Có nồng độ dung dịch thuốc tẩm tùy thuộc vào từng loại thuốc

Trang 19

9

+ Phương pháp phun

Phương pháp phun nhanh hơn phương pháp quét tuy vậy do lượng hao phí của phương pháp này quá lớn, nhất là những chi tiết nhỏ nên phạm vi sử dụng ít Tác dụng bảo quản: Mang tính tạm thời, bảo quản lớp mặt Nó cũng có tầm quan trọng nhất định trong một số trường hợp như bảo quản bổ sung những vật dụng ở những chỗ hiểm yếu của các công trình như gầm cầu, trần nhà các chỗ khe ngóc ngách quét gỗ (Nguyễn Thị Tuyên, 2008) [10]

2.1.3 Những vấn đề về thuốc bảo quản và nguyên liệu

2.1.3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thấm thuốc của gỗ

+ Loại gỗ :

Sức thấm của các loại gỗ khác nhau Ngay trên cùng một cây gỗ ở gỗ giác

và gỗ lõi cũng khác nhau Do cấu tạo gỗ rất phức tạp, con đường dẫn dung dịch thuốc bảo quản chủ yếu là hệ thống mạch gỗ, quản bào và lỗ thông ngang Nếu kích thước của hệ thống này lớn thì sức thấm thuốc tăng Do vậy, khối lượng thể tích là yếu tố cần quan tâm

Yếu tố trong cấu tạo gỗ ảnh hưởng đến sức thấm thuốc và thể bít Thể bít là một loại chất chiết xuất từ nguyên sinh cấu tạo nên, nó có vai trò như nút ngăn cản chất lỏng đi vào ống mạch

+ Thời gian ngâm:

Thời gian ngâm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Loại gỗ, độ ẩm gỗ, loại thuốc,… Ví dụ cùng một loại gỗ, ngâm cùng một loại thuốc, nhưng quy định về lượng thuốc thấm và độ sâu thấm thuốc khác nhau thì thời gian ngâm dài ngắn khác nhau

+ Loại thuốc, lượng thuốc, nồng độ thuốc

Loại thuốc khác nhau thì lượng thuốc thấm và thời gian thấm thuốc là khác nhau Trong cùng một loại thuốc khi thay đổi nồng độ dung dịch, lượng thuốc bảo quản sẽ ảnh hưởng tới khả năng thấm thuốc Có một vài trường hợp khi ngâm gỗ có độ ẩm cao với dung dịch thuốc nồng độ cao lúc này làm thay đổi quá

Trang 20

2.1.3.2 Chế phẩm bảo quản

* Yêu cầu của chế phẩm bảo quản:

- Độc hại cao với sinh vật hại lâm sản nói chung

- Không độc hại với con người và gia súc

- Khả năng ổn định của thuốc lâu dài trong lâm sản khi sử dụng trong các môi trường khác nhau

- Dễ thấm, thấm sâu vào lâm sản

- Không làm ảnh hưởng đến tính chất của gỗ và giảm tối đa khả năng bén cháy của gỗ, không làm ảnh hưởng đến độ bền cơ học của gỗ

- Không ảnh hưởng đến màng keo dán và quá trình trang sức bề mặt

- Không ăn mòn kim loại

- Không gây ô nhiễm môi trường

- Giá thành rẻ, thông dụng, dễ sử dụng

* Cơ chế tác dụng của chế phẩm bảo quản với nấm

Mỗi loài nấm có một ngưỡng độ ẩm thích hợp cho quá trình phát triển, ngoài ra còn các điều kiện khác như oxy, nhiệt độ, ánh sáng và độ pH Để phòng chống nấm gây hại lâm sản, người ta thường áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm thay đổi điều kiện sống của nấm hoặc làm độc hóa nguồn thức ăn của nấm bằng các loại thuốc bảo quản lâm sản Chế phẩm bảo quản có hiệu lực đối với nấm khi được tẩm vào gỗ, trước hết nó đã tạo ra một môi trường khác hẳn với gỗ không tẩm chế phẩm, nó tước bỏ những điều kiện thuận lợi cho việc nảy mầm của các bào tử nấm, hơn thế nữa chế phẩm bảo quản còn phá hoại ngay các bào tử nấm,

Trang 21

11

các hoạt chất của chế phẩm bảo quản thấm vào các bào tử phản ứng với các thành phần chủ yếu của bào tử làm cho bào tử không nảy mầm được Kết quả tổng hợp các tác động nói trên của chế phẩm bảo quản là làm cho nấm bị biến dạng về hình thái, hoặc bị tiêu diệt ngay trên gỗ tẩm chế phẩm bảo quản

* Cơ chế tác dụng của chế phẩm bảo quản với côn trùng

Chế phẩm bảo quản dùng để phòng trừ côn trùng có thể xử lý diệt trực tiếp côn trùng hoặc bằng lớp hóa chất độc ngăn không cho côn trùng tiếp cận với nguồn thức ăn Cơ chế tác dụng của chế phẩm bảo quản đối với côn trùng là chế phẩm có thể làm tê liệt hệ thần kinh do chúng tiếp xúc trực tiếp với chế phẩm hoặc khi côn trùng ăn phải gỗ đã tẩm chế phẩm Chế phẩm có tác dụng tiêu diệt

vi khuẩn và các men tiêu hóa trong ruột côn trùng làm cho thức ăn không tiêu hóa được

* Cơ chế thấm chế phẩm bảo quản:

Quá trình thấm chế phẩm bảo quản vào trong gỗ là do một hoặc nhiều quá trình tác động vào đó là các quá trình mao dẫn, tác động khuếch tán hoặc do tác động áp lực từ bên ngoài Các tác động này, tùy từng trường hợp cụ thể nó có thể độc lập hoặc cùng lúc xảy ra

Trang 22

12

Trên thực tế, do tế bào gỗ có cấu tạo không đồng nhất, đẳng hướng và một

số loại gỗ còn có dầu nhựa cản trở sự thấm chế phẩm và việc xác định các thông

số sẽ gặp khó khăn (Lê Xuân Tình và cs,1992) [9]

+ Thấm do khuếch tán:

Quá trình khuếch tán là quá trình di chuyển vật chất từ pha này sang pha khác khi hai pha tiếp xúc trực tiếp với nhau Trong dung dịch quá trình khuếch tán làm cho dung dịch đồng nhất về khối lượng riêng và áp suất Do vậy, các phần tử ion thuốc bảo quản hòa tan trong nước sẽ chuyển động với một động năng trung bình của chuyển động tịnh tiến vào, áp suất đó do các phần tử gây lên Áp suất này gọi là áp suất thẩm thấu Trong ngâm tẩm gỗ vách tế bào gỗ có thể coi là màng bán thấm Vận tốc chuyển động của các phân tử hoặc ion phụ thuộc vào nhiệt độ, khi nhiệt độ càng cao thì vận tốc chuyển dịch tăng lên Bằng các phép đo chính xác, người ta đo được tốc độ chuyển động tỷ lệ với T (T là

nhiệt độ) Áp suất thấm thấu phụ thuộc vào T, nếu T tăng thì áp suất tăng

Đối với gỗ có độ ẩm cao, khi tẩm thuốc bảo quản, nước ở trong gỗ có xu hướng dịch chuyển ra dung dịch tẩm và các phân tử hoặc ion chất bảo quản sẽ dịch chuyển vào gỗ (Lê Xuân Tình và cs,1992) [9]

* Thấm do áp lực từ bên ngoài:

Quá trình thấm này là do có áp lực được tạo ra từ bên ngoài tác động lên bề mặt dung dịch thuốc hoặc bề mặt gỗ Áp lực này có thể được tạo ra bằng những hình thức sau:

Dùng thiết bị tạo áp suất nén áp lực lên bề mặt dung dịch chế phẩm Trong thực tế người ta có thể kết hợp với rút chân không cho gỗ để tăng thêm độ chênh lệch áp suất

Tạo ra chênh lệch cột áp giữa dung dịch thuốc và bề mặt gỗ bằng cách nâng độ cao của bình đựng chế phẩm lên so với bề mặt gỗ một độ cao nhất định

Làm cho áp suất trong gỗ thấp hơn so vơi dung dịch thuốc ở bên ngoài bằng cách đun nóng gỗ lên cho nước và không khí trong gỗ thoát ra ngoài sau đó làm lạnh đột ngột trong dung dịch thuốc

Trang 23

13

Vì vậy trong thực tế của công tác bảo quản lâm sản, cần chọn loại thuốc bảo quản và dung môi có khối lượng riêng nhỏ để cho quá trình thuốc thấm vào

gỗ được thuận lợi (Lê Xuân Tình và cs,1992) [9]

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản trên thế giới

Ngay từ thời kỳ sơ khai, người Ai Cập đã biết dùng nhựa để bảo vệ gỗ trong công trình xây dựng, tránh cho gỗ không bị mục nát do các sinh vật gây ra

Từ lâu đời, người dân ở một số nước châu Á đã có biện pháp bảo quản rất độc đáo và hiệu quả đó là ngâm gỗ, tre nứa trong bùn ao Biện pháp này đã trở thành tập quán duy trì cho đến ngày nay Tất cả những giải pháp bảo quản lâm sản mang tính tập quán đó không mang lại hiệu quả bảo quản triệt để, bởi nguyên nhân gây nên sự phá huỷ lâm sản chưa được khám phá Đến khi những phát hiện của Pasteur và Kock đã chỉ ra rằng các vi sinh vật và côn trùng là những đối tượng sinh vật chủ yếu gây nên sự phá hủy cấu trúc lâm sinh thì định hướng tẩm vào gỗ và lâm sản bằng các hóa chất có độc tính với sinh vật gây hại mới được hình thành Việc ngâm tẩm gỗ nhằm kéo dài tuổi thọ mới ra đời cách đây 300 năm (Coventry E và cs, 2002) [13]

Năm 1747, Emerson đã đề xuất dung chế phẩm dạng dầu để bảo quản gỗ, sớm hơn nữa là Zohann Glauder đã dung một loại nhựa để quét cho gỗ đã được đốt cháy một lớp mỏng Đến thế kỷ 19, một loạt sản phẩm hóa chất đã được sử dụng để tẩm gỗ như clorua thủy ngân HgCl2 (1805), clorua kẽm ZnCl2 (1815), sun phát đồng CuSO4 (1837)… Trong những thập niên trở lại đây, danh mục các sản phẩm hóa học dung cho bảo quản lâm sản ngày càng được bổ sung thêm Song chính trong quá trình phát triển đó, các hóa chất có độc tính cao đối với sức khỏe con người và môi trường đã dần bị loại bỏ Các hợp chất tổng hợp bằng con đường hóa học, chiết xuất từ thực vật, từ vi sinh vật có hiệu lực phòng trừ sinh vật có hiệu lực phòng trừ sinh vật gây hại lâm sản cao và an toàn với con người, môi trường sống đã được ưu tiên nghiên cứu và đưa vào sử dụng (Coventry E và

cs, 2002) [13]

Trang 24

14

Cùng với sự ra đời phát triển của các lĩnh vực khoa học sinh vật, nhiều loài nấm mốc, côn trùng, hà phá hại gỗ và lâm sản cũng đã được điều tra, phân loại Các công trình nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái đã làm tiền đề cho các nhà hoá học, công nghệ, nghiên cứu mở rộng các chế phẩm bảo quản, các biện pháp kỹ thuật xử lý bảo quản gỗ và lâm sản Một trong những thành tựu nổi bật về sự kết hợp hữu hiệu này của các nhà nghiên cứu cơ bản và các nhà nghiên cứu kỹ thuật giữa thế kỷ 20 này là nghiên cứu diệt mối gây hại lâm sản trong các công trình xây dựng bằng phương pháp lây truyền để diệt mối tận tổ Từ việc phát hiện ra đặc tính của mối: chúng mớm thức ăn cho nhau, liếm lẫn nhau, một

số nhà khoa học của ấn Độ, Inđônexia đã nghĩ đến biện pháp dùng các chất hoá học xử lý lên con mối, nhờ đặc tính sinh học nói trên, mối sẽ truyền chất độc về tận tổ, tận hoàng cung của mối chúa Feytand (1949) cho biết cụ thể thêm rằng các hợp chất có gốc là asenic hoặc fluo ở dạng bột mịn có thể dùng làm thuốc để gây cho mối chết bằng cách lây truyền (Coventry E và cs, 2002) [13]

Một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn các cơ sở lý luận để từ đó nghiên cứu các giải pháp phù hợp trong việc bảo quản lâm sản

Christebsen (1951) nghiên cứu mối quan hệ giữa nhiệt độ với khả năng khuếch tán của thuốc bảo quản gỗ và nhận định rằng: Nhiệt độ tăng thì khả năng khuếch tán tăng, do khi nhiệt độ tăng thì khả năng linh động của điện tử phân ly của thuốc bảo quản cũng sẽ tăng và do đó dễ khuếch tán vào gỗ (Coventry E và

Trang 25

15

cứu quá trình phòng mục gỗ bằng phương pháp khuếch tán và lưu ý cần phải đo đạc một cách tỷ mỷ độ ẩm của gỗ, nhiệt độ xử lý, nồng độ của dung dịch và thời gian xử lý mới có thể xác định được chính xác các yếu tố ảnh hưởng

Viden (1984) thông qua các thí nghiệm của mình đã kết luận rằng: Quá trình khuếch tán chủ yếu xảy ra ở các mao mạch trong những tế bào rỗng Hàm lượng nước trong gỗ cao thì tốc độ khuếch tán tăng

Năm 1990, Konabe trong một thí nghiên cứu của mình đã nhận định: Trong

xử lý ngâm tẩm, nếu gỗ quá khô phải làm cho gỗ ướt để cho độ khuếch tán có hiệu quả cao nhất (Coventry E và cs, 2002) [13]

Hiện nay, công tác nghiên cứu về các chế phẩm bảo quản lâm sản đang tiếp tục được triển khai theo hướng loại bỏ các thành phần hóa chất độc, sử dụng các hoạt chất có nguồn gốc từ thực vật và vi sinh vật

2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản ở Việt Nam

Gỗ sau khi chặt hạ đã mất đi khả năng bảo vệ tự nhiên, chống lại sự phá hoại côn trùng và nấm Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, nơi mà điều kiện khí hậu hết sức thích hợp cho sự phát triển của sinh vật gây hại lâm sản thì tổn thất về lâm sản do sinh vật gây ra là rất lớn Mục đích của quá trình bảo quản là tác động vào lâm sản (có hoặc không có hoá chất) nhằm nâng cao khả năng kháng chịu đối với sinh vật gây hại, kéo dài thời gian sử dụng của lâm sản Đối với gỗ

sử dụng làm nguyên liệu trong sản xuất đồ mộc đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm phá hoại của sinh vật hại gỗ, các giải pháp kỹ thuật và loại chế phẩm bảo quản phù hợp với điều kiện sử dụng lâm sản

Một số tài liệu nghiên cứu trong lĩnh vực bảo quản ở nước ta như sau: Nguyễn Xuân Khu (1972), trong luận án PTSKH đã nghiên cứu chế độ tẩm

gỗ dương ở độ ẩm khác nhau Tác giả đã nghiên cứu về mối tương quan giữa sức thấm thuốc với độ ẩm gỗ, nồng độ thuốc theo các chiều thớ gỗ khác nhau ở gỗ giác, gỗ lõi Tác giả cũng đã rút ra nhiều kết luận có ý nghĩa khoa học về bảo quản gỗ như: Khi gỗ có độ ẩm dưới điểm bão hòa sức thấm thuốc gỗ dương sẽ

Trang 26

16

tăng dần khi độ ẩm giảm, ngược lại khi độ ẩm cao hơn 50% sức thấm thuốc sẽ tăng khi tăng độ ẩm Tác giả cũng kết luận sức thấm thuốc theo chiều xuyên tâm lớn hơn chiều tiếp tuyến, gỗ giác lớn hơn gỗ lõi (Nguyễn Xuân Khu, 1972) [1] Nguyễn Chí Thanh (1985), đã tiến hành thử hiệu lực của thuốc bảo quản

và độ bền của gỗ trong điều kiện trên bãi thử tự nhiên Tác giả đã dùng 5 loại thuốc là XM-5B, LN3 , XM-5A, FBB và FBC để thử hiệu lực đối với 16 loài

gỗ tự nhiên bằng 2 phương pháp: Ngâm thường và áp lực chân không Tác giả kết luận: Hiệu lực của thuốc phụ thuộc vào lượng thuốc thấm và điều kiện sử dụng Ngâm thường ở 48 giờ lượng thuốc thấm đạt từ 1 – 1,3 kg/m3, nếu đem chôn ngoài trời sau 18 đến 20 tháng chỉ số độ bền giảm đi rất nhanh, nhưng cũng cùng loại thuốc trên nếu dùng dưới mái che, sau 3 năm vẫn chưa bị sinh vật phá hoại Ông cho biết, trong điều kiện dùng dưới mái che và môi trường không ẩm ướt, với nồng độ thuốc 5% và ngâm thường trong 48 giờ 16 loài gỗ rừng tự nhiên chống chịu được các sinh vật phá hoại Đây là kết luận có ý nghĩa quan trọng giúp các nhà nghiên cứu về bảo quản sau này có thể tham khảo định hướng được nồng độ một số thuốc bảo quản và thời gian ngâm hợp

lý trong ngâm thường Theo tác giả trên, thí nghiệm bảo quản gỗ mau mục bằng phương pháp tẩm cây đứng Tác giả đã xác định, lượng thuốc mà cây hút

có quan hệ mật thiết với nhiệt độ, độ ẩm không khí Khi ẩm độ không khí tăng, lượng thuốc cây hút được giảm và ngược lại

Ngoài ra, loại thuốc và nồng độ của thuốc có ảnh hưởng đến tốc độ hút thuốc của cây Khi tẩm bằng CuSO4 có độ hòa tan tối đa là 40% thì thời gian

xử lý có cây chỉ hết 5 giờ Trong khi đó, tẩm bằng LN1 có độ hòa tan là 4% thì thời gian xử lý thuốc phải mất 25 giờ Nguyên nhân của hiện tượng này là

do loại thuốc tan ít còn lẫn dạng huyền phù nên khả năng dẫn truyền kém hoặc khi nồng độ dung dịch 3 thấp thì lượng dung dịch cây hút được khi tẩm phải lớn thì mới đảm bảo lượng thuốc bột quy định cho 1m3 gỗ (Nguyễn Văn Thống, 1976) [8]

Trang 27

17

Lê Văn Lâm (1985) đã bước đầu nghiên cứu bảo quản cho ván dán ba lớp

gỗ trám trắng Tác giả tiến hành ngâm tẩm gỗ bóc bằng phương pháp nhúng với

5 công thức thuốc bảo quản có thành phần chủ yếu gồm PCP, Boax, NaF và CuSO4 nồng độ 5% Tác giả đã kết luận thuốc có hiệu lực phòng chống sự phá hoại của sinh vật hại gỗ và ít ảnh hưởng đến màu sắc tự nhiên của gỗ (Lê Văn Lâm, 1985) [4]

Năm 2000, Trần Thị Thúy Lành thực hiện đề tài nghiên cứu, "Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ dung dịch và thời gian ngâm tẩm của 2 loại thuốc (nước javen và nước oxy già) đến hiệu quả tẩy mốc cho luồng, kết quả chỉ

ra rằng khi sử dụng 2 công thức này ở những chế độ thích hợp (thời gian, nồng độ) cho hiệu quả tẩy mốc cao đối với luồng (Nguyễn Chí Thanh, 1985) [6]

Lê Văn Lâm, Nguyễn Thị Bích Ngọc (2003) cũng đã tiến thực hiện đề tài

"Nghiên cứu công nghệ bảo quản chế biến gỗ rừng trồng", trong đó tác giả cũng

đã tiến hành khảo nghiệm độ bền tự nhiên của gỗ Thông mã vĩ và tiến hành ngâm tẩm bảo quản cho đối tượng gỗ này để phục vụ trong sản xuất ván ghép thanh Kết quả chỉ ra khi ngâm tẩm gỗ Thông mã vĩ bằng chế phẩm LN5 và XM5 nồng độ 5% theo phương pháp ngâm thường và chân không áp lực thì cho hiệu lực phòng chống tốt đối với nấm mốc gây hại

Năm 2004, Phòng Nghiên cứu Bảo quản lâm sản – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, tiến hành nghiên cứu đề tài nghiên cứu tạo thuốc chống mốc cho lâm sản

Đến năm 2007, Phòng Nghiên cứu Bảo quản lâm sản – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam tiến hành nghiên cứu khả năng sử dụng một số nguồn nguyên liệu có nguồn gốc thực vật làm thuốc bảo quản lâm sản Đề tài chỉ ra răng khi sử dụng thành phần hoạt chất có nguồn gốc từ neem, tanin, thàn mát đã có hiệu quả nhất định trong việc bảo quản phòng nấm mốc và côn trùng hại gỗ Bùi Văn Ái (2008) đã tiến hành đề tài "Nghiên cứu sử dụng dầu vở hạt điều làm thuốc bảo quản lâm sản", kết quả chỉ ra rằng khi sử dụng dầu vỏ hạt điều đã được xục khí

Trang 28

Năm 1999-2000, Viện sinh học Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành thử nghiệm dầu xoan Ấn Độ lên sự phát triển bọ hà khoai lang, kết quả cho thấy dầu xoan chịu hạn có tác dụng phòng trừ bọ hà khoai lang, có tác dụng giảm

sự ký sinh, sự sinh sản của bọ hà với khoai lang ngay từ tuần đầu tiên và có tác dụng xua đuổi bọ hà đen ký sinh Bên canh đó viện cũng hoàn thành quy trình nhân giống cây xoan chịu hạn bằng nuôi cấy mô Năm 2001, Dương Anh Tuấn

và cộng sự bước đầu nghiên cứu thành công việc chiết tách và tinh sạch Azadirachtin từ nhân hạt xoan chịu hạn trồng tại Việt Nam và thử nghiệm hoạt tính gây ngán ăn trên sâu khoang (Nguyễn Tiến Thắng và cs, 2004) [7]

Năm 2001, Nguyễn Thị Minh Hà đã khảo sát thành phần hóa học của hạt

và lá xoan thu hái từ cây xoan trông tại Việt Nam, chiết xuất thô và hoạt chất sinh học từ nhân hạt xoan và thử tác dụng kháng nấm Fusarium oxysporum, Alternaria sp Của sản phẩm chiết xuất thô này (Nguyễn Tiến Thắng và cs, 2004) [7]

Năm 2003, Vũ Đăng Khánh đã khảo sát hoạt tính kháng một số loại nấm gây bệnh và nấm Aspergillus flavus sinh độc tố Aflatoxin của sản phẩm chiết xuất từ xoan chịu hạn trồng tại Việt Nam

Năm 2004, Lê Thị Thanh Phượng đã chiết xuất được các hoạt chất sinh học

từ nhân hạt neem( Azadirachta indica A.Juss) và khảo sát tác động của chúng đối với ngài gạo (Corcyra cephadonica St.)

Trang 29

19

2.2.3 Tình hình nghiên cứu về sử dụng Sả java (Cymbopogon winterianus)

Tinh dầu Sả từ lá Sả java được sử dụng nhiều trong y học như để điều trị làm giảm đau rất tốt, còn trị nấm rất hiệu quả, tốt cho xương và dây chằng giúp điều trị trí nhớ kém, trầm cảm, tuần hoàn kém, giảm độ sưng tấy do côn trùng đốt, chống nấm, chống nhiễm trùng và miễn dịch tốt [3]

Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có công trình nào công bố kết quả nghiên cứu về tinh dầu Sả java chiết lá Sả java trong bảo quản gỗ Do vậy, để có cơ sở khoa học về cách sử dụng tinh dầu chiết lá Sả java, một loại chế phẩm bảo quản lâm sản có nguồn gốc thực vật thân thiện với môi trường vào phục vụ sản xuất nên chúng tôi lựa chọn nghiên cứu Sả java và lựa chọn Thông đuôi ngựa là loại

gỗ rừng trồng được trồng phổ biến tại Việt Nam để thử nghiệm là rất cần thiết và

ý nghĩa

Trang 30

20

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Khả năng kháng nấm và mối hại gỗ Thông của tinh dầu Sả java

+ Tinh dầu sả java với nồng độ 10%, 15%, 20% 100%

- Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm: Sử dụng các trang thiết bị có trong phòng thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Phương pháp: Phương pháp ngâm, quét

- Chỉ tiêu theo dõi:

+ Khả năng phòng chống nấm mốc

+ Khả năng phòng chống mối

3.2 Địa điểm và thời gian thực tập

Địa điểm thực tập: Tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Thời gian thực tập: Từ ngày 14/8/2017 đến ngày 12/11/2017

3.3 Nội dung nghiên cứu

Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ và thời gian ngâm tẩm đến lượng chế phẩm Sả java thấm vào gỗ

Đánh giá hiệu lực của tinh dầu Sả java đến khả năng phòng trừ mối

Đánh giá hiệu lực của tinh dầu Sả java đến khả năng phòng nấm mốc

Trang 31

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

- Yếu tố cố định:

+ Loại gỗ, tuổi gỗ

+ Phương pháp

+ Thuốc bảo quản

- Yếu tố thay đổi:

+ Nồng độ dung dịch bảo quản

+ Thời gian ngâm

Lá Sả java để chế biến chế phẩm (tinh dầu)

3.4.2.2 Công đoạn sơ chế gỗ

Gia công gỗ thành các mẫu có kích thước 10x30x200(mm)

Trang 32

22

3.4.2.3 Các bước tạo tinh dầu Sả java (Phương pháp chiết suất: Lôi cuốn hơi nước)

Bước 1: Chuẩn bị lá Sả java, nồi nấu, củi

Bước 2: Cho lá vào nồi, đun lên, nước bay hơi thì tinh dầu sẽ bay theo, sau

đó làm lạnh để đưa tinh dầu và nước vào bình, tinh dầu nổi lên trên sẽ được chiết tách ra, giữ lửa ở nhiệt độ cao trong suốt quá trình nấu [2]

Bước 3: Lọc tinh dầu, thu được tinh dầu nguyên chất

Trang 33

23

Hình 3.5 Bắt đầu ra dầu Sả Hình 3.6 Lọc tinh dầu Sả

Sau khi đã có tinh dầu tiến hành pha các nồng độ, đong chế phẩm vào xô,

để chuẩn bị tiến hành thí nghiệm Dung môi pha với dầu Sả là dầu diezen, dầu diezen không có tác dụng phòng mối

 Nồng độ 10%: 2,7l dầu diezen +0,3l dung dịch tinh dầu sả nồng độ 100%

 Nồng độ 15%: 2,55l dầu diezen +0,45l dung dịch tinh dầu sả nồng độ 100%

 Nồng độ 20%: 2,4l dầu diezen +0,6l dung dịch tinh dầu sả nồng độ 100%

 Nồng độ 100%:

- Trình tự ngâm

+ Pha dung dịch theo tỷ lệ: 10%, 15%, 20%, vào 3 thùng ngâm và dung dịch 100% vào 1 thùng để quét

+ Xếp các thanh gỗ vào các thùng ngâm tẩm, ghim chặt

+ Đổ dung dịch đã pha nồng độ vào sao cho lượng chế phẩm phải cao hơn nguyên liệu từ 10 - 15 cm

+ Thời gian ngâm tẩm: nhúng 10 phút và ngâm trong 24 giờ

+ Vớt nguyên liệu ra khỏi thùng tẩm xếp lên giá kê

+ Đối với mẫu thử lượng thuốc thấm, kiểm tra ngay

+ Đối với nấm, cân lại gỗ sau khi ngâm tiến hành theo dõi luôn

Trang 34

3.4.3 Phương pháp xác định lượng thuốc thấm

- Trước khi tiến hành ngâm tẩm mẫu được đánh số theo thứ tự từ bé đến lớn

và được ngâm dung dịch chiết suất từ lá Sả java Sau đó tiến hành cân xác định khối lượng ban đầu mẫu gỗ, kết thúc quá trình tẩm để ráo mẫu gỗ, cân xác định khối lượng mẫu sau khi tẩm thuốc bảo quản Để xác định lượng thuốc thấm

chúng tôi áp dụng công thức sau: (Nguyễn thị Bích Ngọc 2006)

- M2 Khối lượng mẫu sau tẩm

- M1 Khối lượng mẫu trước khi tẩm

Trang 35

25

- C nồng độ dung dịch thuốc bảo quản

- Vt thể tích mẫu gỗ tẩm

Số lượng mẫu khảo nghiệm: 60 mẫu trong đó nồng độ 10% thử nghiệm là

12 mẫu (6 mẫu nhúng 10 phút và 6 mẫu ngâm 24 giờ), nồng độ 15% thử nghiệm

là 12 mẫu (6 mẫu nhúng 10 phút và 6 mẫu ngâm 24 giờ), nồng độ 20% thử nghiệm là 12 mẫu (6 mẫu nhúng 10 phút và 6 mẫu ngâm 24 giờ), nồng độ 100% thử nghiệm là 12 mẫu, và 12 mẫu đối chứng không ngâm, quét chế phẩm chung

3.4.4 Phương pháp đánh giá hiệu lực của chế phẩm bảo quản

3.4.4.1 Đánh giá hiệu lực chế phẩm đối với nấm

Chế phẩm bảo quản từ lá Sả java: Nồng độ thí nghiệm 10%, 15%, 20%, 100%

Quy cách mẫu: Mẫu gỗ Thông đuôi ngựa kích thước: 10 x 30 x 200 (mm)

Số lượng mẫu thử nghiệm là 60 mẫu: Với mỗi nồng độ thử nghiệm 12 mẫu (6 mẫu nhúng 10 phút và 6 mẫu ngâm 24 giờ) và 12 mẫu đối chứng không ngâm, quét chế phẩm chung cho các nồng độ thử nghiệm

Phương pháp xử lý mẫu:

+ Phương pháp quét, nhúng

+ Mẫu đối chứng được phơi đến độ ẩm ≤ 20%

Trang 36

Chỉ tiêu đánh giá:

Hiệu lực của thuốc bảo quản đối với nấm được đánh giá bằng cách cho điểm dựa trên 3 chỉ tiêu so sánh giữa mẫu quét chế phẩm bảo quản và mẫu đối chứng Diện tích biến màu, diện tích mục mềm và độ hao hụt khối lượng mẫu + Tỷ lệ phần trăm diện tích bề mặt mẫu bị nấm mốc, biến màu (Tbm)

BMdc, MMdc, HHdc_ lần lượt là bình quân diện tích vùng bị biến màu, mục mềm, hao hụt của mẫu đối chứng

BMtt, MMtt, HHtt_ lần lượt là diện tích vùng bị biến màu, mục mềm, hao hụt của mẫu tẩm chế phẩm

Cách cho điểm từng chỉ tiêu (Tbm), (Tmm), (Thh) như sau:

Nếu các chỉ tiêu đạt từ 0% đến 30% cho 3 điểm

Trang 37

27

Nếu các chỉ tiêu đạt từ 30% đến 60% cho 2 điểm

Nếu các chỉ tiêu đạt trên 60% cho 1 điểm

Tổng hợp số điểm của 3 chỉ tiêu, công thức chế phẩm nào đạt 3 đến 4 điểm

là chế phẩm tốt, đạt 5 đến 7 điểm là chế phẩm có hiệu lực trung bình, đạt 8 đến 9 điểm là chế phẩm có hiệu lực xấu

3.4.4.2 Đánh giá hiệu lực chế phẩm đối với mối

Chế phẩm bảo quản từ dịch chiết lá Sả java: Nồng độ thí nghiệm 10%, 15%, 20%, 100%,

Mối thử: Mối rừng

Quy cách mẫu: Mẫu gỗ Thông đuôi ngựa kích thước 10 x 30 x 200 (mm)

Số lượng mẫu thử nghiệm là 60 mẫu: Với mỗi nồng độ thử nghiệm 12 mẫu (6 mẫu nhúng 10 phút và 6 mẫu ngâm 24 giờ) và 12 mẫu đối chứng không quét chế phẩm cho các nồng độ thử nghiệm

Phương pháp xử lý mẫu

+ Phương pháp quét, ngâm

+ Mẫu đối chứng được phơi khô đến độ ẩm ≤ 20%

Mẫu sau khi xử lý được đặt thử nghiệm tại các địa điểm nơi có mối đang hoạt động mạnh Sau thời gian 2 tháng thu kết quả và đánh giá các mẫu quét so với mẫu đối chứng

Trang 38

28

Chỉ tiêu đánh giá:

Hiệu lực của chế phẩm bảo quản đối với mối được đánh giá bằng cách cho điểm dựa trên 3 tiêu chí so sánh giữa mẫu ngâm, quét chế phẩm bảo quản và mẫu đối chứng

+ Phần trăm số mẫu có vết mối ăn (Tv)

Vtt, VRtt, VStt_ lần lượt là bình quân sốmẫu tẩm chế phẩm có vết mối ăn, mẫu có vết ăn rộng ≤ 1 cm2, mẫu có vết ăn sâu ≤ 1 mm2

- Cách cho điểm từng chỉ tiêu (Tv), (Tvr), (Tvs) như sau:

+ Phần trăm số mẫu có vết mối ăn hại từ 0% đến 30%: Cho 3 điểm

+ Phần trăm số mẫu có vết mối ăn hại từ 30% đến 60%: Cho 2 điểm

+ Phần trăm số mẫu có vết mối ăn hại trên 60%: Cho 1 điểm

Tổng hợp số điểm của 3 chỉ tiêu, công thức chế phẩm nào đạt 3 đến 4 điểm

là chế phẩm tốt, đạt 5 đến 7 điểm là chế phẩm có hiệu lực trung bình, đạt 8 đến 9

là chế phẩm có hiệu lực xấu

Trang 39

29

3.4.5 Phương pháp phân tích, xử lý số và tổng hợp số liệu

- Kết quả thí nghiệm được xử lư trên phần mềm Excel, tiến hành phân tích tương quang ANOVA để thấy sự tương quan của các yếu tố

- Tổng hợp, phân tích các số liệu, tài liệu theo một trình tự nhất định Sử dụng bảng biểu theo các mẫu:

Mẫu bảng 3.2 Hiệu lực của chế phẩm chiết từ lá Sả java ở các nồng độ đối

với nấm

TT

Hiệu lực của chế phẩm bảo quản theo các chỉ tiêu

Điểm

Diện tích vết nấm (cm 2 )

Phần trăm diện tích (%)

Điểm

Diện tích vết nấm (cm 2 )

Phần trăm diện tích (%)

Hiệu lực chế phẩm theo các chỉ tiêu

T v Điểm T vs Điểm T vr Điểm

10

15

20

100

Ngày đăng: 26/04/2019, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w