1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)

77 168 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái NguyênNghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái NguyênNghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái NguyênNghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái NguyênNghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái NguyênNghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái NguyênNghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái NguyênNghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái NguyênNghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái NguyênNghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái NguyênNghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái NguyênNghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái NguyênNghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái NguyênNghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

NÔNG THÁI HÒA

NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY THUỐC TẠI XÃ HOÀNG NÔNG,

HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý Tài nguyên rừng

Khóa học : 2014 - 2018

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

NÔNG THÁI HÒA

NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA MỘT SỐ LOÀI CÂY THUỐC TẠI XÃ HOÀNG NÔNG,

HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý Tài nguyên rừng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan, chưa công bố trên tài liệu nào Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên

XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN

Xác nhận của giáo viên chấm phản biện

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót

sau khi hội đồng chấm yêu cầu

(Ký, ghi rõ họ tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của Nhà trường, Khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau 5 tháng thực tập em đã hoàn thành khóa luận tốt

nghiệp “Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một

số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”

Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản thân còn có sự hướng dẫn tận tình của thầy cô, bạn bè, cô chú, anh chị tại địa bàn

xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Xin cảm ơn cô giáo – TS Nguyễn Thị Thu Hiền, người đã hướng dẫn cho em trong suốt thời gian thực tập đã chỉ dẫn, định hướng đi cho em để em hoàn thành tốt nhiệm vụ Xin cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ Ủy ban Nhân dân

xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và cán bộ Chi cục Kiểm lâm huyện Đại Từ, cùng sự chỉ bảo tận tình của các thầy lang, bà mế thuộc xã Hoàng Nông

Đồng thời xin cảm ơn thầy cô giáo Khoa Lâm nghiệp, các bộ phận liên quan thuộc Trường và người thân trong gia đình cùng bạn bè thân thiết đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Mặc dù đã nỗ lực cố gắng, tuy nhiên do hạn chế về kinh nghiệm cũng như về thời gian và trình độ nghiên cứu nên khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo của thầy cô cũng như các bạn đọc khác để khóa luận được hoàn thiện hơn nữa

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 17 tháng 6 năm 2018

Nông Thái Hòa

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất xã Hoàng nông 20

Bảng 3.1 Mẫu bảng điều tra nguồn cây thuốc được cộng đồng một số dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu sử dụng trong phòng và điều trị bệnh 28

Bảng 4.1 Số loài cây thuốc đã phát hiện ở khu vực nghiên cứu 32

Bảng 4.2 Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ 33

Bảng 4.3 So sánh các họ có nhiều loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu (1) với số loài của từng họ trong hệ thực vật Việt Nam (2) 34

Bảng 4.4 Thống kê các chi có nhiều loài được sử dụng làm thuốc 36

Bảng 4.5 Đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc ở khu vực nghiên cứu 37

Bảng 4.6 Sự phân bố nguồn cây thuốc theo môi trường sống ở khu vực nghiên cứu 39

Bảng 4.7 Đa dạng của các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc của trong cộng đồng dân tộc Dao và Nùng tại khu vực nghiên cứu 41

Bảng 4.8 Đa dạng tần số các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc trong cộng đồng dân tộc Dao và Nùng ở khu vực nghiên cứu 42

Bảng 4.9 Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể 43

Bảng 4.10 Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận ở khu vực

nghiên cứu 44

Bảng 4.11 Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ cây Râu mèo và cây Trứng quốc 46

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 3.1 Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài 29 Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ các dạng sống của nguồn cây ở khu vực nghiên cứu 38 Hình 4.2 Hình ảnh một số dạng sống của nguồn cây thuốc tại khu vực

nghiên cứu 38 Hình 4.3 Biểu đồ sự phân bố cây thuốc theo môi trường sống của nguồn cây

thuốc ở khu vực nghiên cứu 40 Hình 4.4 Hình ảnh hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết 46

Trang 7

KVNC Khu vực nghiên cứu

KH&CN Khoa học & công nghệ

Vs Sống ven sông ven suối

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghía khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiến 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 4

2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới 4

2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trong nước 12

2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 19

2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 19

2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 23

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26

3.2 Nội dung nghiên cứu 26

3.3 Phương pháp nghiên cứu 27

Trang 9

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Đa dạng các bậc taxon nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 32

4.1.1 Đa dạng về bậc ngành 32

4.1.2 Đa dạng bậc họ 33

4.1.3 Đa dạng bậc chi 35

4.2 Đa dạng về dạng sống của thực vật làm thuốc 37

4.3 Đa dạng về môi trường sống của thực vật làm thuốc 39

4.4 Vấn đề sử dụng cây thuốc của cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại khu vực nghiên cứu 41

4.4.1 Đa dạng về bộ phận sử dụng của cây thuốc 41

4.4.2 Đa dạng về công dụng chữa bệnh của các loài cây thuốc 43

4.5 Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận được ở khu vực nghiên cứu 44

4.6 Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng một số dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu 45

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47

5.1 Kết luận 47

5.2 Kiến nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một Quốc gia có 3/4 diện tích đồi núi, là nơi có nguồn tài nguyên cây thuốc đa dạng và là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số quốc gia (Trần Thúy

và cộng sự, 2005) [21] Chính sự đa dạng về tộc người cùng với sự khác biệt về điều kiện, thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đã tạo nên sự đa dạng và phong phú trong vốn tri thức dân gian về kinh nghiệm sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm thuốc chữa bệnh

Bằng những kinh nghiệm dân gian của những người làm thuốc trong mỗi dân tộc, những tri thức về cây thuốc được truyền miệng và lưu truyền cho con cháu đời sau, từ thế hệ này qua thế hệ khác Trải qua thời gian, các bài thuốc

có tính độc đáo và trở nên thông dụng trong việc chăm sóc sức khỏe người dân của cộng đồng mình và những dân tộc xung quanh Vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc cũng như bảo tồn tri thức y học dân gian được tiến hành và mang lại giá trị khoa học và thực tiễn Tuy nhiên, hiện nay nhiều loài cây thuốc quý phân bố chủ yếu ở miền núi, đang có nguy cơ bị tàn phá dẫn đến tuyệt chủng do lạm dụng khai thác quá nhiều và vấn đề bảo tồn cây thuốc còn gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau như: chiến tranh, quá trình đô thị hóa hay tác động của kinh tế thị trường,… sự suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc là không thể tránh khỏi Cùng với đó, những tri thức dân gian của các dân tộc dùng để chữa bệnh cũng đang bị mất dần, những ông lang, bà mế đã già và mất đi, họ mang theo cả những kiến thức về cây thuốc và những bài thuốc hay Thế hệ trẻ ít người tiếp thu những kiến thức mang tính bản địa mà học theo những cái mới, cái hiện đại đã khiến cho những cây thuốc quý, bài thuốc hay bị quên lãng Vì vậy,

Trang 11

cần phải có những biện pháp tiến hành điều tra, tư liệu hóa thực trạng sử dụng cây thuốc của các dân tộc và tri thức bản địa về cây cỏ làm thuốc để xây dựng các giải pháp quản lý, bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc và bảo tồn những tri thức y học dân tộc

Thái Nguyên là một vùng đất giàu tài nguyên, khí hậu nhiệt đới ẩm, có thảm thực vật rất đa dạng, phong phú và là nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống như: Tày, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu, Dao,… Mỗi dân tộc lại mang bản sắc

và kinh nghiệm chữa bệnh bằng thực vật làm thuốc rất đa dạng

Xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là một xã trung du miền núi có diện tích rừng che phủ khá lớn, có một phần diện tích Vườn quốc gia Tam Đảo nằm trên địa bàn xã, nên hệ động thực vật phong phú, nhất là thực vật Tuy nhiên, diện tích rừng tự nhiên của xã hiện nay đã bị thu hẹp đáng kể, số lượng các loài cây thuốc bị cạn kiệt dần do khai thác quá nhiều với phương thức khai thác tận diệt, từ cắt cành, nhổ cây đến đào gốc rễ, do đốt nương làm rẫy trồng chè Để góp phần vào công tác bảo tồn vốn tri thức dân gian và nguồn tài nguyên cây thuốc ở xã Hoàng Nông, tôi đã lựa chọn đề

tài: “Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

- Đánh giá được tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá trị cao được cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên sử dụng trong phòng và trị bệnh

- Xác định được những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam, hiện

có ở khu vực nghiên cứu

Trang 12

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghía khoa học

- Xác định được tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

- Xác định được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá trị cao tại khu vực nghiên cứu

1.3.2 Ý nghĩa thực tiến

Kết quả của đề tài sẽ là một trong những cơ sở thực tiễn để đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc của cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Phòng và chữa bệnh bằng các loài thảo dược đã được con người sử dụng

từ hàng ngàn năm nay Nó vấn đang tồn tại và ngày càng phát triển mạnh mẽ Hàng năm, con người đã tìm ra được những hoạt chất quý trong các loài thảo dược có thể phòng và chữa trị được những căn bệnh từ đơn giản hàng ngày như cảm cúm, ho sốt đến những căn bệnh nan y như ung thư, bệnh tim, suy thận, hay những căn bệnh nhiệt đới nguy hiểm như dịch cúm A H5N1, H1N1, Các cây thuốc và bài thuốc có được nhờ kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ giờ đây đang dần mất đi theo thời gian Do đó việc gìn giữ vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc và bài thuốc từ thảo dược là việc hết sức cần thiết Theo tổ chức y tế thế giới WHO, khoảng 80% dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng (Nguyễn Hoàng Sơn, 2014) [67] Trong tuyên ngôn Alma Ata năm 1978 và “Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền” năm 1991, WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chăm sóc sức khỏe ban đầu (Nguyễn Hoàng Sơn, 2014) [67] Vậy, nghiên cứu về các loài cây thuốc

là hết sức cần thiết cho việc bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc và bài thuốc cho thế hệ hôm nay và mai sau

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới

Tổ tiên loài người từ khi xuất hiện đã gắn bó với thiên nhiên, trải qua quá trình đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật để sinh tồn Trong quá trình

đó, tổ tiên chúng ta ngay từ khi còn là các tộc người đã sớm phát hiện ra những cây cỏ trong tự nhiên có thể sử dụng làm thuốc, đồng thời trong cuộc

Trang 14

sống lao động, đấu tranh với bệnh tật đã sáng tạo ra những bài thuốc và phương pháp chữa bệnh

Khoảng 60.000 năm trước đây, bằng chứng về sự tồn tại của các loài thực vật được sử dụng cho mục đích chữa bệnh đã tìm thấy trong ngôi mộ cổ của người Neanderthal có 8 loài cây thuốc (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, 2016) [65] Đóng góp quan trọng về mô tả cây thuốc đã được thực hiện bởi Dioscorides, một bác sĩ trong quân đội La Mã đã viết “De materia medica” trong khoảng những năm tác giả 60 tuổi Bộ sách này được viết bằng tiếng Hy Lạp mô tả nguồn gốc, đặc điểm và công dụng của khoảng 500 loài thực vật và quy trình sử dụng 1.000 loại thuốc đơn giản (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, 2016) [65] Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc cho mục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia được các nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu lục trên thế giới:

Yanchun Liu và cộng sự (2009) [61], đã ghi nhận và thu thập 68 loài cây thuốc trong 64 chi thuộc 40 họ được người Tây Tạng sử dụng để chữa các bệnh khác nhau

Manju Panghal và cộng sự (2010) [45] khi nghiên cứu kiến thức bản địa

về cây thuốc được sử dụng ở cộng đồng Saperas của làng Khetawas, quận Jhajjar, Haryana, Ấn Độ đã tìm thấy 57 loài thực vật thuộc 51 chi và 35 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau, theo nghiên cứu này

Trang 15

cây thuốc được cộng đồng Saperas sử dụng nhiều nhất là các cây thuộc họ Fabaceae

Arshad Abbasi và cộng sự (2013) [30] khi thẩm định về thực vật học và các giá trị văn hóa của các loại rau ăn được hoang dã quan trọng trong y học của Lesser dãy Hymalaya đã ghi nhận 45 loại rau ăn được hoang dã thuộc 38 chi và 24 họ đã được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau và tiêu thụ

Mi-Jang Song và cộng sự (2013) [49] khảo sát cây thuốc ở đảo Jeju, Hàn Quốc đã tìm thấy 171 loài thực vật thuộc 141 chi và 68 họ, 777 cách sử dụng các loài cây thuốc của người dân bản địa được ghi lại

Auemporn Junsongduang và cộng sự (2013) [31] nghiên cứu về cây thuốc từ nương rẫy và rừng thiêng của dân tộc Karen và Lawa ở Thái Lan đã chỉ ra 365 loài thực vật thuộc 244 chi và 82 họ được sử dụng làm thuốc, trong

đó các cây thuộc họ Euphorbiaceae và Lauraceae được người dân sử dụng nhiều nhất

Naveed Akhtar và cộng sự (2013) [53] nghiên cứu về đa dạng và sử dụng cây thuốc dân tộc trong khu vực Swat, Bắc Pakistan đã ghi nhận 106 loài thực vật thuộc 54 họ được người dân bản địa sử dụng để điều trị bệnh Homervergel G Ong và Young - Dong Kim (2014) [42] nghiên cứu về thực vật học định lượng của các cây thuốc được sử dụng bởi các nhóm bản địa Ati Negrito ở đảo Guimaras, Philippin đã tìm thấy 142 loài cây dược liệu thuộc 55 họ được sử dụng trong 16 loại bệnh

Tahira Bibia và cộng sự (2014) [57] nghiên cứu thực vật dân tộc của cây thuốc ở quận Mastung của tỉnh Balochistan, Pakistan đã chỉ ra 102 loài thực vật thuộc 47 họ được người dân sử dụng cho mục đích điều trị các loại bệnh khác nhau

Mi-Jang Song và cộng sự (2014) [50] khi điều tra và phân tích các kiến thức truyền thống về cây thuốc được sử dụng bởi các cư dân tại Vườn quốc

Trang 16

gia (VQG) Gayasan, Hàn Quốc đã điều tra và thống kê 200 loài thực vật thuộc 168 chi và 87 họ được các cư dân sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau như: rối loạn cơ xương, đau nhức, rối loạn hệ hô hấp, bệnh gan và các vết cắt vết thương

Dol Luitel và cộng sự (2014) [37] khi nghiên cứu cây thuốc được sử dụng bởi cộng đồng người Tamang ở quận Makawanpur của Trung tâm Nepal

đã tìm thấy 161 loài thực vật thuộc 144 chi và 86 họ đã được người dân sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau

Ở Châu Âu:

Y học dân gian châu Âu có một lịch sử lâu dài, những tri thức dân gian bản địa được truyền lại cho các thế hệ sau bằng việc ghi chép lại và thông qua truyền miệng qua nhiều thế kỉ (Evidence-Based Complementary và cộng sự, 2012) [64] Những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học

về việc sử dụng các loài thực vật để điều trị các loại bệnh của người dân bản địa được thực hiện:

Joana Camejo – Rodrigues và cộng sự (2014) [44] khi nghiên cứu về thực vật học của cây thuốc trong công viên tự nhiên của Sera de Saox Mamede, Bồ Đào Nha đã cung cấp thông tin của 165 loài thực vật được sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau

Maria Leporatti và cộng sự (2007) [46] khi nghiên cứu về một số công dụng của cây thuốc trong khu vực Alto Tirreno Cosentino, Calabria, miền Nam nước Ý đã chỉ ra 52 loài thực vật thuộc 35 họ được người dân sử dụng

để điều trị các loại bệnh chủ yếu như: bệnh ngoài da, bệnh về đường hô hấp, đau răng, sâu răng và đau thấp khớp

Montse Parada và cộng sự (2009) [52] nghiên cứu thực vật dân tộc của khu vực Alt Empordaf, Catalonia, bán đảo Iberia đã tìm thấy trên 518 loài thực vật thuộc 335 chi và 80 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau

Trang 17

Maria Leporatti và Kamel Gheddira (2009) [63] khi phân tích so sánh các cây thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền tại Ý và Tunisia đã ghi nhận 153 loài thực vật thuộc 60 họ được người dân sử dụng trong việc điều trị các bệnh khác nhau

Ugur Cakilcioglu và cộng sự (2011) [59] khi khảo sát cây thuốc ở Maden, Elazig, Thổ Nhĩ Kỳ đã tìm thấy 88 loài thực vật thuộc 41 họ được sử dụng cho mục đích điều trị bệnh

Behxhet Mustafa và cộng sự (2012) [33] nghiên cứu về các loài thực vật được sử dụng làm thuốc của dãy núi Alps Albania ở Kosovo đã ghi nhận 98 loài thực vật thuộc 39 họ được người dân sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc các họ Rosaceae, Asteraceae và Lamiaceae

Seyid Ahmet Sargin và cộng sự (2013) [62] nghiên cứu về các loài cây thuốc được sử dụng bởi người dân địa phương của Alasehir, Manisa, Thổ Nhĩ

Kỳ đã thu thập được 137 loài thực vật được người dân bản địa sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau

Gorka Menedez-Baceta và cộng sự (2014) [41] nghiên cứu về cây dược liệu truyền thống được sử dụng ở phía Tây Bắc của xứ Basque, bán đảo Iberia

đã chỉ ra 139 loài thực vật thuộc 58 họ được người dân sử dụng để điều trị bệnh, trong đó các cây được sử sụng nhiều nhất thuộc họ Asteraceae

Ở Châu Mĩ:

Việc nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc của người dân bản địa cũng được thực hiện:

Rainer W Bussmann và Douglas Sharon năm (2006) [54] nghiên cứu về

sử dụng cây thuốc cổ truyền ở miền Bắc Peru đã ghi nhận 510 loài thực vật được người dân địa phương sử dụng để điều trị bệnh, các cây thuộc các họ được sử dụng nhiều nhất là: Asteraceae, Fabaceae, Lamiaceae, Solanaceae, Euphorbiaceae và Poaceae

Trang 18

Cecilia Almeida và cộng sự (2006) [35] nghiên cứu cây thuốc phổ biến được sử dụng trong các khu vực Xingo – một khu vực khô hạn ở Đông Bắc Brazil đã tìm thấy 187 loài thực vật thuộc 128 chi và 64 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnh: cảm lạnh thông thường, viêm phế quản, bệnh tim mạch, bệnh thận, viêm và an thần

Gabriele Volpato và cộng sự (2009) [39] nghiên cứu sử dụng cây thuốc của người nhập cư Haiti và con cháu của họ ở tỉnh Camaguey, Cuba đã chỉ ra

123 loài thực vật thuộc 112 chi và 63 họ được người nhập cư Haiti sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau

Gaia Luziatelli và cộng sự (2010) [40] nghiên cứu cây thuốc của cộng đồng Ashaninka (một nghiên cứu từ các cộng đồng bản địa của Bajo Quimiriki, Junin, Peru đã tìm thấy 402 loài thực vật được cộng đồng sử dụng

để điều trị các loại bệnh, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc các họ: Asteraceae, Araceae, Rubiaceae, Euphorbiaceae, Solanaceae và Piperaceae

Yadav Uprety và cộng sự (2012) [60] nghiên cứu sử dụng cây thuốc trong rừng phương Bắc của Canada đã điều tra và thống kê 546 loài cây thuốc được sử dụng bởi những người thổ dân của rừng phương bắc Canada, các loại cây thuốc này được sử dụng để điều trị 28 bệnh và triệu chứng rối loạn khác nhau, trong đó các cây thuốc được sử dụng để chữa bệnh rối loạn dạ dày – ruột, rối loạn cơ xương là chủ yếu

Theo nghiên cứu “Thực vật dân tộc của người dân Rayones, Nuevo León, Mexico” năm 2014, đã ghi nhận 252 loài thực vật thuộc 228 chi và 91

họ được người dân Rayones sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó các họ được sử dụng chủ yếu là: Asteraceae và Fabaceae (Eduardo Estrada-Castillón

và cộng sự, 2014) [38]

Nghiên cứu “Cây thuốc trong bối cảnh văn hóa của một cộng đồng Mapuche – Tehuelche trong thảo nguyên Datagonia Argentina” đã chỉ ra 121

Trang 19

loài thực vật được cộng đồng sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến tiêu hóa, hô hấp, tim mạch, giảm đau, chống viêm, sản khoa, phụ khoa và sinh dục (Soledad Molares và Ana Ladio, 2014) [56]

Ở Châu Phi:

Người dân Châu Phi đã sử dụng cây thuốc bản địa hàng nghìn năm nay

để bảo vệ sức khỏe của họ, những nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng cây thuốc của những người dân bản địa ở châu Phi rất đa dạng và phong phú (Cây thuốc Châu Phi, 2013) [28]:

Rainer W Bussmann (2006) [66] nghiên cứu về thực vật dân tộc của Samburu ở Nam Turkana, Kenya đã thống kê được 448 loài thực vật mà người dân bản địa sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau

Tilahun Teklehaymanot và Mirutse Giday (2007) [58] nghiên cứu về thực vật học của cây thuốc được sử dụng bởi người dân ở Zegie Peninsula, Tây Bắc Ethiopia đã ghi nhận 67 loài cây thuốc thuộc 64 chi và 42 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến rối loạn tiên hóa, kí sinh trùng và nhiễm trùng

Woldu và Tilahun Teklehaymanot (2009) [51] nghiên cứu về kiến thức cây thuốc của dân tộc Bench ở Ethiopia đã tìm thấy 35 loài thực vật được sử dụng để làm thuốc, trong đó 32 loài được sử dụng để điều trị các bệnh cho người và 3 loài được sử dụng để điều trị các bệnh cho cả người và gia súc Theo nghiên cứu của David J Simbo “Một cuộc khảo sát về các loài thực vật được sử dụng làm thuốc trong Babungo, khu vực Tây Bắc, Cameroon”, đã xác định và ghi nhận 107 loài thực vật thuộc 98 chi và 54 họ được người dân địa phương sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó họ được sử dụng chủ yếu là

họ Asteraceae (David J Simbo, 2010) [36]

“Nghiên cứu về thực vật học và kiến thức bản địa về sử dụng cây thuốc của các thầy lang trong khu vực Oshikoto, Namibia”, đã tìm thấy 61 loài cây thuốc thuộc 25 họ được các thầy lang trong khu vực sử dụng để điều trị các

Trang 20

bệnh khác nhau như: Tâm thần, nhiễm trùng da, vết thương ngoài da, rắn cắn

và các vấn đề tim mạch (Ahmad Cheikhyoussef và cộng sự, 2011) [29]

“Nghiên cứu cây thuốc của Otwal và Ngãi ở quận Oyam, Bắc Uganda”,

đã chỉ ra 71 loài thực vật thuộc 41 họ được người dân địa phương sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau, trong đó họ được sử dụng chủ yếu là họ Asteraceae (Maud M Kamatenesi và cộng sự, 2011) [47]

Nghiên cứu “cây thuốc được sử dụng bởi phụ nữ từ rừng ven biển Agnalazaha Đông Nam Madagascar”, đã thống kê được 152 loài cây thuốc được sử dụng bởi người dân địa phương để điều trị các bệnh, trong đó ghi nhận 8 loài được sử dụng bởi những người phụ nữ để điều trị các biến chứng trong khi sinh, các bệnh nhiệt đới như: sốt rét, giun chỉ và các bệnh liên quan đến tình dục như bệnh lậu và giang mai (Mendrika Razafindraibe và cộng sự, 2013) [48]

Nghiên cứu về “sử dụng và quản lý cây thuốc truyền thống của cộng đồng dân tộc Maale và Ari, ở miền nam Ethiopia”, đã ghi nhận 128 loài cây thuốc thuộc 111 chi và 49 họ được cộng đồng người Maale và Ari sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau (Berhane Kidane và cộng sự, 2014) [34] Kết quả nghiên cứu về cây thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền bởi những người Oromo, quận Ghimbi, Tây Nam Ethiopia, đã thống kê được 49 loài cây thuốc thuộc 31 họ và 46 chi được người Oromo sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau (Balcha Abera, 2014) [32]

Ở Châu Úc:

Những nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc bản địa được thực hiện ở châu Úc còn rất ít Một nghiên cứu về các loài cây thuốc được sử dụng bởi cộng đồng thổ dân Yaegl ở miền Bắc New South Wales, Australia, đã ghi nhận 32 loài cây thuốc thuộc 21 họ được thổ dân Yaegl sử dụng để điều trị các bệnh (Joanne Packera và cộng sự, 2012) [43]

Trang 21

Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc đã để lại những công trình mang tính khoa học, tính dân tộc sâu sắc, cho thấy vốn tri thức dân gian bản địa về sử dụng cây thuốc trên thế giới là vô cùng đa dạng và phong phú

2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trong nước

Ở Việt Nam, tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ lâu Hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật Ngay từ những buổi đầu sơ khai, khi con người còn sống theo lối nguyên thủy, trong quá trình tìm thức ăn, tổ tiên chúng ta đã phát hiện ra công dụng và tác hại của nhiều loại cây Suốt một thời gian dài như vậy, tổ tiên chúng ta đã dần dần tích lũy được nhiều kinh nghiệm, biết lợi dụng tính chất của cây rừng để làm thức ăn và làm thuốc chữa bệnh (Trần Thúy và cộng sự, 2005) [21]

Thế kỷ thứ XI (TCN), nhân dân ta có tục ăn trầu cho ấm người, thơm miệng, uống nước chè xanh cho mát, nụ vối cho dễ tiêu,… điều đó nói lên những hiểu biết về dinh dưỡng và sử dụng thuốc của dân tộc (Lê Trần Đức, 1997) [9]

Từ thời Hùng Vương, tổ tiên ta đã biết nấu rượu, biết dùng Thủy ngân để ướp xác và sử sách đã ghi chép về một lương y tên là Thôi Vỹ đã biết chữa bệnh lao hạch ở thời An Dương Vương (257 – 207) (Trần Thúy và cộng sự, 2005) [21] Thời nhà Lý (1010 – 1221) đã có tổ chức Ty Thái Y chăm lo và bảo vệ sức khỏe cho nhà vua, có nhiều thầy thuốc chuyên lo việc chữa bệnh cho nhân dân và phương pháp chữa bệnh bằng tâm lý liệu pháp phát triển Trong sử sách còn ghi lại năm 1136, vua Lý Thần Tông bị điên được lương y Nguyễn Chí Thành người Gia Viễn – Ninh Bình dùng tâm lý liệu pháp và tắm nước

Bồ hòn chữa cho khỏi bệnh Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông (Trung Quốc) trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc (Trần Thúy và cộng sự, 2005) [21]

Ở thời này, làng Đại Yên là một làng thuốc nổi tiếng, chuyên trồng và bán các loại cây thuốc Nam phục vụ công tác chữa bệnh (Viện dược liệu, 1993) [27]

Trang 22

Thời nhà Trần (1224 – 1399), y học cũng khá phát triển, đã có kế hoạch

tự túc thuốc Nam để kháng chiến Tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng cây thuốc

ở Vạn An và Dược Sơn (xã Hưng Đạo – Chí Linh – Hải Dương) để cung cấp cho quân y (Lê Trần Đức, 1997) [9] Nổi bật ở thời này là nhà sư Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh) – được nhân dân tôn trọng, gọi là “Ông thánh thuốc Nam” Tuệ Tĩnh đã xây dựng 74 ngôi chùa chữa bệnh cho nhân dân không lấy tiền và gây phong trào trồng thuốc ở gia đình Ông là một đại sư nước Việt dùng thuốc Nam giảm giá trị của thuốc Bắc, sắc thuốc chữa bệnh cho nhân dân với phương châm: “thuốc Nam chữa bệnh người Nam” ông đã truyền bá y dược cổ truyền cho nhân dân trong các tác phẩm (Lê Trần Đức, 1997) [9] Thời kỳ nhà Lê (1428 – 1876) đã có những chủ trương tiến bộ trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân, tổ chức Thái Y Viện,

có lương y chăm lo việc chữa bệnh cho quân đội, hàng năm tổ chức các đợt phòng và chống dịch bệnh cho nhân dân Trong giai đoạn này có làng thuốc

ở thôn Nghĩa Trai, huyện Văn Lâm, hiện nay vẫn còn tồn tại và phát triển (Trần Thúy và cộng sự, 2005) [21]

Thế kỷ XVIII, Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông (1729 – 1791)

đã thừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập “Lĩnh Nam bản thảo” nội dung gồm 496 vị thuốc Nam của “Nam dược thần hiệu” và phát hiện thêm hơn 300 vị nữa Tác giả đã để lại bộ sách thuốc rất có giá trị là: “Tân Hoa Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh dương an toàn trạch” gọi tắt là “Lãn Ông Y Nghiệp” hay “Lãn Ông Y Tập” gồm 66 quyển (Nguyễn Nhân Thống, 2008) [19] Suốt 30 năm của cuộc dời mình, tác giả đã xây dựng được nền móng cho nền y học cổ truyền Việt Nam toàn diện cả về lý luận, phương pháp điều trị

và dược liệu

Ngoài các bộ sách trên, còn kể đến tập “Vạn phương thập nghiệm” của Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản 1763 Tập “Nam bang

Trang 23

thảo mộc” của Trần Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất bản năm 1858 (Lê Trần Đức, 1997) [9]

Thời kỳ Tây Sơn (1788 – 1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập “Nam dược” với 620 vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền (Lê Trần Đức, 1997) [9]

Thời kỳ từ năm 1802 – 1883, nhà Nguyễn cũng tổ chức Thái Y Viện, tổ chức điều trị bệnh phong tập trung, mở trường dạy thuốc ở Huế (Trần Thúy

và cộng sự, 2005) [21] Nguyễn Quang Lượng, Nguyễn Kinh,… là những danh y nổi tiếng thời này, đã góp phần phát triển nền y học với quyển: “Nam dược tập nghiệm quốc âm” bằng chữ Nôm của Nguyễn Quang Lượng về phương thuốc dân gian

Trong thời Pháp thuộc (1848 – 1945), y học cổ truyền nước ta có một số hoạt động như: thành lập các hội y học ở Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ; mở các lớp huấn luyện y học cổ truyền, mở các phòng chữa bệnh, tổ chức triển lãm y học cổ truyền,… (Trần Thúy và cộng sự, 2005) [21] Đến đầu thế kỷ XX, đã cho xuất bản một số sách Y học cổ truyền bằng chữ quốc ngữ như “Việt Nam dược học” của Phó Đức Thành Nhiều nhà thực vật học người Pháp và người Việt góp công nghiên cứu cây thuốc Việt Nam, như: bộ “Trung Việt dược tính hợp biên” của Đinh Nho Chân với 1.600 vị thuốc Nam Bắc Công trình nghiên cứu của Crévót, Pétélot Pétélot đã cho xuất bản bộ “Catalogue des produits de L’Indochine” (1928 – 1935), trong đó tập V (Produits medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các loài thực vật có hoa Năm 1952, tác giả đã cho bổ sung và xây dựng thành bộ “Les plantes de médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, gồm 4 tập và thống kê được 1.482 vị thuốc thảo mộc ở ba nước Đông Dương (Lê Thị Thanh Hương, 2007) [12]

Sau cách mạng tháng 8 – 1945, y dược học cổ truyền đạt được những thành tựu to lớn Dưới sự lãnh đạo của Bộ y tế cùng y học hiện đại, sức khỏe

Trang 24

của người dân được quan tâm và chăm lo chu đáo hơn Chỉ thị số 210 TTG/VG ngày 06/12/1966 của thủ tướng chính phủ đã nhận định như sau:

“Dược liệu nước ta rất nhiều, gồm các loài cây thuốc và một số động vật Có nhiều loài quý, hiếm ở trên thế giới Dược liệu ở nước ta chẳng những là cơ

sở cho nền y học dân tộc mà còn có một vị trí quan trọng trong nền y học hiện đại, chẳng những là nguồn tự cung tự cấp về các loài cây thuốc Nam, thuốc Bắc, thuốc Tây, mà còn là loại hàng xuất khẩu có giá trị,… phải coi trọng dược liệu như cây công nghiệp cao cấp” (Võ Văn Chi, 1996) [5]

Vì vậy, sau khi nước nhà thống nhất, việc nghiên cứu cây thuốc ở nước

ta được quan tâm nhiều hơn Có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, tìm tòi và phát hiện thêm nhiều loài cây thuốc mới Tiêu biểu có thể kể đến bộ sách

“Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập, do Đỗ Tất Lợi biên

soạn năm 1957 và đến năm 1961, cuốn sách này được tái bản in thành 2 tập Trong đó, tác giả đã mô tả chi tiết và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam (Nguyễn Tập, 2007) [15] Đỗ Tất Lợi đã tiếp tục dày công nghiên cứu và trrong những năm từ 1962 – 1965, tác giả cho xuất bản bộ “Những cây thuốc

và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, năm 1969 tái bản trong 2 tập Cuốn sách này của tác giả đã đề cập đến trên 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật Tác giả đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung liên tục các loài cây thuốc trong các công trình nghiên cứu của mình và sách đã được tái bản nhiều lần và các năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995, 1999, 2001 và năm 2003 Lần tái bản thứ 7 vào năm 1995 số cây thuốc của ông nghiên cứu đã lên tới

792 loài và gần đây nhất là lần tái bản lần thứ 13 (Lê Thị Thanh Hương, 2007) [12] Bộ sách của ông đã mang lại giá trị khoa học và giá trị thực tiễn sâu sắc, thể hiện sự kết hợp giữa khoa học dân gian và khoa học hiện đại Trong những năm này, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã được xuất bản thành các tập sách như: “Tài Nguyên cây thuốc Việt Nam” vào 1993 của Viện Dược liệu, với khoảng 300 loài cây thuốc (Phạm

Trang 25

Hoàng Hộ, 2006) [11]; Trần Đình Lý với cuốn “1900 loài cây có ích” năm

1995, đã thống kê ở Việt Nam có khoảng 76 loài cho nhựa thơm, 260 loài cho dầu béo, 160 loài có tinh dầu, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây (Lê Thị Thanh Hương, 2007) [12] Lương y lão thành, thầy thuốc ưu tú Lê Trần Đức với cuốn: “Cây thuốc Việt Nam” năm 1995 đã giới thiệu hơn 830 loài cây thuốc chính, phụ (Lê Trần Đức, 1997) [9] Võ Văn Chi là một nhà thực vật lớn của Việt Nam, đã đóng góp rất nhiều trong quá trình nghiên cứu về các loài thực vật ở Việt Nam và ông đã biên soạn cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, trong đó ông mô tả rất tỷ mỷ về các cây được sử dụng làm thuốc ở Việt Nam bao gồm 3.200 cây (Nguyễn Thượng Dong và cộng sự, 2006) [8] Ngoài ra, cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” tập I, II đề cập đến rất nhiều cây cỏ có ích như làm gỗ, làm lương thực, làm thuốc (Nguyễn Thượng Dong và cộng sự, 2006) [8]

Trong những năm từ 2000 đến nay, đã có nhiều cuốn sách và các tài liệu

về cây thuốc được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều người quan tâm tới cây thuốc trên khắp đất nước Việt Nam như: “577 bài thuốc dân gian gia truyền” (Âu Anh Khâm, 2001) [13]; “Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương thang chữa bệnh” (Tào Duy Cần, 2001) [1] và cuốn “Thuốc bệnh 24 chuyên khoa” (Tào Duy Cần, 2006) [2]; “Nghiên cứu cây thuốc từ thảo dược” (Nguyễn Thượng Dong và cộng sự, 2006) [8]; “Cây có vị thuốc ở Việt Nam”

do Phạm Hoàng Hộ nghiên cứu và tập hợp (Phạm Hoàng Hộ, 2006) [11];

“cây thuốc, bài thuốc và biệt dược” của Phạm Thiệp và cộng sự (2000) [16]

đề cập tới 327 cây thuốc phổ biến,… Đồng thời, có nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc trên cả nước công bố trên các tạp chí về cây thuốc như: Đặng Quang Châu đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái

ở huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149 chi, thuộc 71 họ khác nhau (Đặng Quang Châu, 2011) [4] Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải khi điều tra các loài cây của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đã thu

Trang 26

được 93 loài thuộc 7 chi, 42 họ (Đặng Quang Châu và Bùi Hồng Hải, 2003) [3] Các tác giả đã phân loại cây được sử dụng theo các nhóm bệnh: bệnh ngoài da, bệnh về đường tiêu hóa, bệnh về gan, bệnh về xương… Năm 2004, Lưu Đàm Cư và cộng sự khi điều tra các loài cây có ích của dân tộc H’mông

ở vùng núi cao phía Bắc đã phân loại được 4 nhóm theo công dụng: cây lương thực – thực phẩm, cây làm thuốc, cây có độc, cây để nhuộm màu, cây ăn quả Trong nhóm này cây làm thuốc, các tác giả đã thống kê được 657 loài thuộc

118 họ mà người H’mông sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc (Lưu Đàm Cư và cộng sự, 2004) [7] Nguyễn Thị Thủy và Phạm Văn Thỉnh (2004) [20] đã xây dựng các mô hình vườn bảo tồn cây thuốc ở vùng cao Sa

Pa, như vườn rừng, trang trại, vườn các hộ gia đình Bước đầu đã bảo tồn được 52 loài cây thuốc thuộc 28 họ, trong đó có nhiều loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng

Trong Hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ 4 (21/10/2011) tại Hà Nội,

đã có nhiều báo cáo khoa học về tài nguyên cây thuốc và cách sử dụng các loài cây thuốc trong điều trị các bệnh của cộng đồng dân tộc ở Việt Nam được công bố như: “Một số kết quả điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã San

Sả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” của Nguyễn Thị Minh Hải và cộng sự đã ghi nhận 321 loài thuộc 252 chi, 94 họ thuộc 6 ngành thực vật; trong đó có tới

16 loài cây thuộc diện cần được bảo vệ và 9 loài cây đang bị khai thác mạnh ở

xã San Sả Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai (Hội nghị Khoa học Toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25] “Các loài thực vật được đồng bào dân tộc H’mông tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn sử dụng làm thuốc trị bệnh gan” của tác giả Trần Văn Hải và cộng sự đã xác định được 31 loài thực vật được đồng bào dân tộc H’mông tại Khu bảo tồn thiên nhiên Văn Bàn sử dụng làm thuốc chữa các bệnh về gan (viêm gan, bổ gan, giải độc gan và sơ gan) (Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25] “Các loài thực vật được đồng bào dân tộc Mường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò sử dụng

Trang 27

làm thuốc trị bệnh thận” của các tác giả Đỗ Sĩ Hiến và Đỗ Thị Xuyến đã chỉ

ra 65 loài thực vật được đồng bào dân tộc Mường sử dụng làm thuốc chữa bệnh về thận (Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25] “Đánh giá

đa dạng nguồn gen cây thuốc của người Sán Chí ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Lê Thị Thanh Hương và cộng sự đã xác định được 90 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 82 chi, 50 họ thực vật của 2 ngành thực vật bậc cao có mạch được đồng bào dân tộc Sán Chí ở xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên dùng làm thuốc (Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25] “Những cây thuốc được sử dụng thay thế mật gấu theo kinh nghiệm dân gian và đông y ở một số địa bàn tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Lê Thị Thanh Hương và Nguyễn Thị Thuận đã thu được 35 loài thuộc 27 chi, 21 họ của 2 ngành thực vật bậc cao được sử dụng làm thuốc chữa bệnh thay thế mật gấu ở một số địa bàn tỉnh Thái Nguyên (Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4, 2011) [25] “Điều tra các loài cây thuốc và giá trị sử dụng của chúng ở một số xã thuộc huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” của tác giả Võ Thị Phượng và Ngô Trực Nhã đã điều tra và thống kê 232 loài cây được sử dụng làm thuốc thuộc 186 chi, 90 họ tại các xã của huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ

4, 2011) [25] “Nghiên cứu thực vật có giá trị làm thuốc của dân tộc Thái trong Khu bảo tồn Pù Luông – Thanh Hóa” của tác giả Đậu Bá Thìn và cộng

sự (2011) [9] đã điều tra, thu thập và phân loại được 226 loài cây có giá trị làm thuốc của đồng bào dân tộc Thái

“Cây thuốc truyền thống của đồng bào dân tộc Thái ở hai huyện Quỳ Hợp và Quế Phong, miền núi tỉnh Nghệ An” của tác giả Phạm Hồng Ban và Nguyễn Thượng Hải (2013) [10] đã xác định được 287 loài thuộc 204 chi, 87

họ của 4 ngành thực vật bậc cao được đồng bào dân tộc Thái sử dụng làm thuốc “Tri thức sử dụng các loài cây thuốc của công đồng dân tộc Cơ Tu và Vân Kiều tại vùng đệm Vườn Quốc gia Bạch Mã” của tác giả Ninh Khắc Bản

Trang 28

và cộng sự (2013) [10] qua điều tra đã ghi nhận được 249 loài cây thuốc thuộc

82 họ, 178 chi được người Cơ Tu sử dụng, người Vân Kiều với 27 loài cây thuốc thuộc 21 họ

Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc, các bài thuốc không những mang lại những giá trị khoa học, giá trị thực tiễn sâu sắc mà còn đóng góp và công tác bảo tồn nguồn dược liệu nước nhà, bảo tồn những bài thuốc hay Nhằm góp phần, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

* Vị trí địa lý

Xã Hoàng Nông là một xã trung du miền núi bắc bộ của huyện Đại Từ, nằm cách trung tam huyện Đại Từ 11 km về hướng tây và cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 40 km về hướng tây

Ranh giới hành chính tiếp giáp với các xã: phía Đông giáp xã Tiên Hội, phía Tây giáp xã La Bằng và xã Mỹ Yên, phía Bắc giáp xã Bản Ngoại, phía Nam giáp xã Khôi Kỳ

* Địa hình, địa mạo

Hoàng Nông là xã thuộc miền trung du bắc bộ, địa hình tương đối bằng phẳng, địa hình có đặc điểm địa hình dốc dần theo hướng từ Tây sang Đông Phần lớn diện tích tự nhiên của xã là đồi núi các ngọn đồi bát úp thấp được người dân trồng chè xen kẽ là các cánh đồng nhỏ hẹp để canh tác lúa và hoa màu, phía tây bắc giáp với dáy Tam Đảo với hệ động thực vật phong phú có nhiều loài quý hiếm, trên địa bàn xã có 01 con suối chảy theo hướng từ Tây sang Đông bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo với tổng chiều dài khoảng 8 km, diện tích mặt nước toàn xã là 27,16 ha, trong đó diện tích ao, hồ, đầm là 6,55 ha, diện tích sông, suối là 20,61 ha Trung tâm xã là cơ quan trụ sở hành chính xã,

Trang 29

có chợ là nơi giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hóa phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi giữa các xã lân cận

* Địa chất, thổ nhưỡng

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 2.746,3 ha, trong đó đất sản

xuất nông nghiệp 751,1 ha, chiếm 27,35%; đất lâm nghiệp 1.863,51 ha, chiếm 67,85%; đất phi nông nghiệp 124,46 ha; chiếm 4,53%; đất chưa sử dụng 0,78

ha chiếm 0,03%

Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất xã Hoàng nông

Tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn xã là 1863,75 ha chiếm tỷ lệ 67,86%, trong đó diện tích đất rừng tự nhiên 1817,88 ha chiếm 66,19% là đất rừng đặc dụng thuộc quản lý của Vườn Quốc Gia Tam Đảo, chỉ có 45,53 ha chiếm tỷ lệ 1,66% là diện tích rừng trồng Xã Hoàng Nông có điều kiện để phát triển kinh

tế đồi rừng gắn với du lịch sinh thái và khai thác cây dược liệu, các loại thuốc nam phục vụ chữa bệnh Thực hiện tốt công tác quản lý khai thác, vận chuyển, chế biến gỗ và lâm sản trên địa bàn

Trang 30

* Đặc điểm khí hậu

Hoàng Nông mang đặc điểm chung của khí hậu vùng miền núi phía Bắc, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 02 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều; mùa khô từ

tháng 11 đến tháng 3, gió Đông Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô

Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 230C; tổng lượng mưa bình quân hàng năm 1.700 - 2.200 mm, phân bố không đều có chênh lệch lớn giữa mùa

mưa và mùa khô

Tuy nhiên, do lượng mưa phân bố không đồng đều nên vào mùa mưa hiện tượng xói mòn, rửa trôi diễn ra mạnh mẽ, ngược lại vào mùa khô lại thiếu nước phục vụ cho sản xuất, điều đó đã ảnh hưởng lớn đến năng suất và sản lượng cây trồng

Hiện trạng kênh mương: Tổng số toàn xã có 32,929 m kênh mương,

trong đó đã được cứng hoá 12.481 m đạt 37,9%, còn lại 20.448 m là kênh mương đất chưa được cứng hóa Nhìn chung hệ thồng thuỷ lợi của xã đã đáp ứng được cơ bản yêu cầu về nước tưới cho cây lúa, cây chè và nuôi trồng thuỷ sản Tổng diên tích trồng lúa 160,63 ha trong đó có 137,55 ha được tưới tiêu chủ động đạt 85,6%

Hàng năm xã xây dựng Phương án phòng chống lụt bão giảm nhẹ thiên tai, đảm bảo đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu dân sinh và theo quy định về phòng chống thiên tai tại chỗ

Trang 31

Công tác quản lý các công trình thủy lợi: UBND xã đã thành lập đội Thủy nông thực hiện quản lý và khai thác các hồ, đập và hệ thống mương trên địa bàn xã Tổng diện tích nước mặt trên địa bàn xã là 27,16 ha, trong đó:

- Diện tích ao, hồ, đầm 6,55 ha hiện tại đã và đang được các hộ dân sử dụng để chăn nuôi thủy sản kết hợp việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp

- Diện tích đất sông suối 20,61 ha gồm 01 con suối Cửa Tử bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo chảy theo hướng Tây – Đông, là nguồn cung cấp nước chủ yếu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Chế độ thủy văn thất thường, thường có lũ lụt vào mùa mưa, vào mùa khô thường xảy ra hạn hán, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Với nguồn tài nguyên nước ngầm, đến nay chưa có tài liệu hay kết quả nghiên cứu, thăm

dò nào cho riêng xã Hoàng Nông Tuy nhiên trên thực tế các hộ dân đã tự tổ chức khoan giếng, đào giếng để sử dụng nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất Hiện nay trên địa bàn xã có khoảng 20% số hộ đã sử dụng nước giếng khoan, chất lượng nước không màu, không mùi, không vị được đánh giá là nước hợp vệ sinh

Trang 32

2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

* Dân cư, dân tộc

Trên địa bàn xã Hoàng Nông gồm có 6 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 34%, xã có 2 họ đồng bào Công giáo cùng sinh sống gắn bó với nhau Xã có 1469 hộ dân, với 5578 nhân khẩu, chia thành 18 xóm

* Kinh tế

Sản xuất kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất nông – lâm nghiệp và một số ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, hoạt động thương mại và du lịch Lao động: có 4.683 người, trong đó lao động trong độ tuổi là 4.382/5.578 nhân khẩu, chiếm 78,55% (nam 2.285 người; nữ 2.097 người) Lao động trong các lĩnh vực Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 52,02%; công nghiệp, xây dựng là 34,96%; thương mại, dịch vụ là 13,02%

Lao động đã qua đào tạo là 1.335 người (chiếm 30,47% tổng số lao động trong độ tuổi)

Xã đã có 01 chợ tại trung tâm xã thuộc xóm Cầu Đá, diện tích 2.294,9

m2 được đầu tư xây dựng từ năm 1994 Gồm có 01 dãy hàng sén 11 gian, cột bê tông kèo sắt, lợp prô xi măng, 01 dãy hàng ăn có 04 gian cột xi măng, kèo gỗ, lợp prô xi măng và các lều quán tạm, không có các công trình phụ trợ nhà vệ sinh, hệ thống điện, hệ thống chữa cháy

Hoạt động của chợ Hoàng Nông và các điểm bán lẻ trên địa bàn cơ bản đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa trên địa bàn xã

* Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp

Về trồng trọt:

Đối với cây lúa: Diện tích đất trồng lúa theo thống kê đất đai năm 2017

là 160,63 ha, tuy nhiên trong thực tế diện tích gieo cấy cả năm là 268 ha: vụ xuân là 123 ha, vụ mùa là 145 ha, trong đó có một số cánh đồng tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc canh tác và đưa cơ giới hóa vào sản xuất Hệ thống các công trình thủy lợi đã từng bước được đầu tư xây dựng, sửa chữa và

Trang 33

nâng cấp cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp Hoàng Nông

là một trong những xã luôn đứng trong tốp đầu về đưa các giống lúa lai, lúa chất lượng cao vào sản xuất Năng suất lúa bình quân các năm đạt 55,72 tạ/ha, sản lượng 1.493,2 tấn

Đối với cây rau màu: Tổng diện tích gieo trồng cả năm 127,5 ha, trong

đó cây ngô 10,5 ha năng suất bình quân đạt 40,6 tạ/ha, sản lượng 42,63 tấn, cây màu khác là 117 ha, chủ yếu là cây rau màu, đậu, đỗ các loại, đảm bảo vệ

sinh an toàn thực phẩm phục vụ cho nhân dân

Đối với cây chè: Tổng diện tích chè hiện nay là 432,85 ha, trong đó diện

tích chè nằm trong vườn quốc gia Tam Đảo là 37,68 ha, diện tích chè kinh doanh 338,08 ha, năng suất chè đạt 110 tạ/ha, sản lượng 4.133,3 tấn chè kiến thiết cơ bản 57,09 ha Cây chè được xác định là cây mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết việc làm cho nhân dân Hiện nay diện tích chè giống mới có năng suất chất lượng cao chiếm trên 80% Xã có 3 làng nghề chè truyền thống và 1 tổ hợp tác chè Thực hiện các đề án hỗ trợ sản xuất, chế biến, kinh doanh và tiêu thụ chè trong đó tập trung chỉ đạo triển khai thâm canh, cải tạo chè; sản xuất chè an toàn, năng suất chè bình quân đạt 110 tạ/ha

* Về chăn nuôi: chỉ đạo nhân dân thực hiện tốt công tác phòng, chống

dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm; Triển khai kế hoạch tiêm phòng gia súc, gia cầm hàng năm cơ bản đạt chỉ tiêu, kế hoạch giao, không có dịch, bệnh lớn sảy ra triên địa bàn Tuy nhiên do ảnh hưởng của giá lợn giảm mạnh đã gây khó khăn cho bà con chăn nuôi Hiện nay toàn xã có 07 gia trại chăn nuôi lợn

Có 6,55 ha nuôi thủy sản, trong đó có 04 hổ nhỏ, đã tập trung khai thác tốt diện tích mặt nước hiện có để phát triển chăn nuôi thủy sản

* Về lâm nghiệp: với diện tích 1.863,51 ha rừng, trong đó có 1.817,88

ha rừng đặc dụng do Vườn Quốc gia Tam Đảo quản lý và 45,53 ha rừng sản xuất do các hộ dân quản lý Xã Hoàng Nông có điều kiện để phát triển kinh

tế đồi rừng gắn với du lịch sinh thái và khai thác cây dược liệu, các loại

Trang 34

thuốc nam phục vụ chữa bệnh Thực hiện tốt công tác quản lý khai thác, vận chuyển, chế biến gỗ và lâm sản trên địa bàn Hàng năm trồng rừng mới đều đạt và vượt kế hoạch

* Tổ chức sản xuất:

Xã có 01 tổ hợp tác sản xuất chè gồm 10 hộ, 18 lao động thường xuyên

Số mô hình, hình thức liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông sản chủ lực, đảm bảo tính bền vững: có 01 mô hình chè của tổ hợp tác sản xuất chè gắn với tiêu thụ sản phẩm

* Về đời sống:

- Tổng sản lượng lương thực quy thóc: 1.535,9 tấn/năm

- Thu nhập bình quân đầu người: 26 triệu đồng/người/năm

- Thực trạng kinh tế hộ: Hộ nông, lâm, ngư nghiệp 89,2%; hộ công nghiệp, xây dựng 4,6%; hộ thương mại, dịch vụ 6,2%

- Số hộ nghèo theo tiêu chí mới 139 hộ, tỷ lệ 9,29%

Trang 35

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: các loài thực vật được cộng đồng một số dân

tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông sử dụng làm thuốc chữa bệnh; kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

* Phạm vi nghiên cứu:

- Địa điểm nghiên cứu:

+ Công tác điều tra thực địa được tiến hành tại 3 xóm Suối Chùn, Đồng Khuân và Ao Mật của xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên + Nghiên cứu thực nghiệm (xác định hoạt tính khánh khuẩn) được tiến hành tại phòng thí nghiệm Khoa công nghệ sinh học - trường Đại học Khoa học Thái nguyên

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 đến tháng 5/2018

- Nghiên cứu tri thức dân tộc thiểu số: Dao và Nùng

3.2 Nội dung nghiên cứu

* Đánh giá đa dạng các bậc taxon của nguồn tài nguyên cây thuốc được

sử dụng trong cộng đồng một số dân tộc thiểu số ở xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên: đa dạng bậc ngành, họ, chi

* Đánh giá đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc được sử dụng

trong cộng đồng một số dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu

* Đánh giá về môi trường sống của nguồn cây thuốc được sử dụng trong

cộng đồng một số dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu

Trang 36

* Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng một

số dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu: đa dạng về bộ phận sử dụng và công dụng chữa bệnh của các loài cây thuốc

* Xác định những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam tại xã

Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

* Kiểm chứng cơ sở khoa học về khả năng kháng khuẩn của một số loài

cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng một số dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các kết quả gắn với các nội dung nghiên cứu trên, cách thức

và giải pháp thực hiện ý tưởng bao gồm như sau:

* Phương pháp kế thừa

- Kế thừa những những tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở khu

vực nghiên cứu và các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Kế thừa kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các ông lang, bà mế người

dân tộc Dao, Nùng ở khu vực nghiên cứu

* Phương pháp điều tra thực địa

- Điều tra phỏng vấn thu thập cây thuốc: tại khu vực nghiên cứu, phỏng

vấn các ông lang, bà mế, người dân có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc và sử dụng các bài thuốc gia truyền của cộng đồng hai dân tộc Dao và Nùng tại địa bàn nghiên cứu Mẫu phiếu điều tra dựa theo: phiếu điều tra cây thuốc trong cộng đồng và phiếu điều tra bài thuốc gian dân (Viện Dược liệu, Bộ Y tế)

- Thu thập đầy đủ các thông tin cây thuốc gồm: tên phổ thông, tên dân

tộc Dao và Nùng; số hiệu mẫu/ảnh cây thuốc; dạng sống; môi trường sống; bộ phận sử dụng làm thuốc (thân, rễ, hoa, quả, hạt); công dụng Đồng thời ghi chép những đặc điểm dễ nhận biết của cây ngoài thiên nhiên, ghi rõ thời gian, địa điểm và người thu thập thông tin

Trang 37

- Định danh tên cây: định danh loài cây theo các bước: (i) định danh tại

thực địa; (ii) sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia và nguồn tài liệu tin cậy đã công bố giám định lại

+ Bước 1: xác định sơ bộ tên địa phương, tên thường gọi được thực hiện ngay ở lần điều tra đầu tiên Đối với những loài chưa chắc chắn thì ghi chú để kiểm định lại ở bước sau Các loài không biết tên cần phải lấy mẫu (lá, hoa, quả, ) và ghi vào biểu điều tra bằng ký hiệu sp1, sp2, để giám định

+ Bước 2: tất cả các cây được thẩm định lại tên cây, lập danh mục cây thuốc bằng sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia về thực vật và nguồn tài liệu tin cậy đã công bố gồm: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 2000) [10], Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2012) [6], Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005) [14], Danh lục các loài thực vật Việt Nam (Trung tâm NCTN&MT – Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện ST&TNSV, 2001 – 2005) [26] Danh sách tên cây thuốc sẽ được hoàn thiện ở bước này

Bảng 3.1 Mẫu bảng điều tra nguồn cây thuốc được cộng đồng một số dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu sử dụng trong phòng và điều trị bệnh

Thời gian điều tra: Người điều tra:

Địa điểm điều tra: Địa chỉ điều tra:

Dạng cây

Môi trường sống

Bộ phận

sử dụng

Cách

sử dụng

Công dụng

Cán bộ được phỏng vấn

Họ tên

Địa chỉ

Điện thoại (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12)

…… …… … … …… …… … … … … …

* Phương pháp thu thập mẫu: Đối với loài cây chưa xác định được tên

ở ngoài thực địa và loài cần giám định lại tên

Trang 38

- Tiến hành thu mẫu ở thực địa: Mỗi cây thuốc thu từ 3 đến 10 mẫu và

được gắn nhãn ghi rõ các thông tin về ký hiệu mẫu, địa điểm,thời gian và người thu mẫu (các mẫu cùng cây đánh số cùng số hiệu mẫu)

- Dụng cụ thu mẫu: bản gỗ ép mẫu, túi đựng mẫu, bao tải dứa, kéo cắt

cây, giấy báo, dây buộc, etyket, bút chữ A, sổ ghi chép, máy ảnh (Nguyễn

Nghĩa Thìn, 1997) [17]

Hình 3.1 Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài

* Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc

Để đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của cộng đồng 2 dân tộc Dao và Nùng tại khu vực nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp đánh giá của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [18]:

- Đa dạng về bậc phân loại: ngành, lớp, họ, chi, loài

- Đa dạng về dạng sống: kí sinh, dây leo, gỗ trung bình, gỗ nhỏ, thảo, bụi

- Đa dạng về môi trường sống: rừng, đồi, vườn, ven suối

- Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc: thân, rễ, lá, hoa, quả, hạt, nhựa,

cả cây

- Đa dạng về cách chế biến cây thuốc: khô và tươi

- Đa dạng về các nhóm bệnh chữa trị: bệnh về khớp, tim, dạ dày, gan,

giải độc, xương,…

Ngày đăng: 26/04/2019, 15:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải (2003), “Điều tra cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái, xã Xuân Hạnh, huyện Quỳ Châu – Nghệ An”, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái, xã Xuân Hạnh, huyện Quỳ Châu – Nghệ An
Tác giả: Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ Thuật
Năm: 2003
4. Đặng Quang Châu (2011), “Một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái ở huyện Nghĩa Đàn – Nghệ An”, Tạp chí Sinh học, tập 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái ở huyện Nghĩa Đàn – Nghệ An
Tác giả: Đặng Quang Châu
Năm: 2011
7. Lưu Đàm Cư, Hà Tuấn Anh, Trương Anh Thư (2004), “Các cây có ích của dân tộc H’mông và khả năng ứng dụng trong phát triển kinh tế”, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cây có ích của dân tộc H’mông và khả năng ứng dụng trong phát triển kinh tế
Tác giả: Lưu Đàm Cư, Hà Tuấn Anh, Trương Anh Thư
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ Thuật
Năm: 2004
8. Nguyễn Thượng Dong (chủ biên) và nhiều tác giả (2006), “Nghiên cứu thuốc từ thảo dược”, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thuốc từ thảo dược
Tác giả: Nguyễn Thượng Dong (chủ biên) và nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ Thuật
Năm: 2006
20. Nguyễn Thị Thủy, Phạm Văn Thỉnh (2004), “Nghiên cứu xây dựng và bảo tồn cây thuốc ở Sa Pa”, Thái Nguyên, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng và bảo tồn cây thuốc ở Sa Pa
Tác giả: Nguyễn Thị Thủy, Phạm Văn Thỉnh
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2004
1. Tào Duy Cần (2001), Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương thang chữa bệnh, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật Khác
2. Tào Duy Cần (2006), Thuốc bệnh 24 chuyên khoa, Nxb Y học, Hà Nội Khác
5. Võ Văn Chi (1996), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội Khác
6. Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Hà Nội, tập 1-2 Khác
9. Lê Trần Đức (1997), Cây thuốc Việt Nam, trồng hái chế biến và trị bệnh ban đầu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
10. Phạm Hoàng Hộ (2001), Cây cỏ Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Khác
11. Phạm Hoàng Hộ (2006), Cây có vị thuốc ở Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Khác
12. Lê Thị Thanh Hương (2007), “Điều tra và đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Tày ở một số xã của huyện Định Khác
13. Âu Anh Khâm (2001), 577 bài thuốc dân gian gia truyền (sách dịch), Nxb Thanh niên, Hà Nội Khác
14. Đỗ Tất Lợi (2005), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Hà Nội, Hà Nội Khác
15. Nguyễn Tập (2007), Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam, Nxb Mạng lưới lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, Hà Nội Khác
16. Phạm Thiệp, Lê Văn Thuần, Bùi Xuân Chương (2000), Cây thuốc, bài thuốc và biệt dược, Nxb Y học, Hà Nội Khác
17. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, Nxb Nông nghiệp, Hà nội Khác
18. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật, Nxb Đại Học Quốc gia Hà Nội Khác
19. Nguyễn Nhân Thống (2008), Danh y tuổi tý, Hội Đông y Việt Nam – Tạp chí Đông y – số 405/2008 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm