Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố loài cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis) làm cơ sở cho phát triển loài tại xã Bàn Đạt huyện Phú Bình tỉnh Thái NguyênNghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố loài cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis) làm cơ sở cho phát triển loài tại xã Bàn Đạt huyện Phú Bình tỉnh Thái NguyênNghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố loài cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis) làm cơ sở cho phát triển loài tại xã Bàn Đạt huyện Phú Bình tỉnh Thái NguyênNghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố loài cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis) làm cơ sở cho phát triển loài tại xã Bàn Đạt huyện Phú Bình tỉnh Thái NguyênNghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố loài cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis) làm cơ sở cho phát triển loài tại xã Bàn Đạt huyện Phú Bình tỉnh Thái NguyênNghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố loài cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis) làm cơ sở cho phát triển loài tại xã Bàn Đạt huyện Phú Bình tỉnh Thái NguyênNghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố loài cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis) làm cơ sở cho phát triển loài tại xã Bàn Đạt huyện Phú Bình tỉnh Thái NguyênNghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố loài cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis) làm cơ sở cho phát triển loài tại xã Bàn Đạt huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
NGUYỄN VĂN TÙNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ PHÂN BỐ
LOÀI CÂY RÂU MÈO (ORTHOSIPHON SPIRALIS) LÀM CƠ SỞ
CHO PHÁT TRIỂN LOÀI TẠI XÃ BÀN ĐẠT HUYỆN PHÚ BÌNH
TỈNH THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
NGUYỄN VĂN TÙNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ PHÂN BỐ
LOÀI CÂY RÂU MÈO (ORTHOSIPHON SPIRALIS) LÀM CƠ SỞ
CHO PHÁT TRIỂN LOÀI TẠI XÃ BÀN ĐẠT HUYỆN PHÚ BÌNH
TỈNH THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng năm 2018
XÁC NHẬN CỦA GVHD
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước Hội đồng khoa học!
Trang 4có hiệu quả những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và cô giáo ThS La Thu Phương
Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và
phân bố loài cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis) làm cơ sở cho phát triển loài tại xã Bàn Đạt huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên”
Trong thời gian thực hiện đề tài, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của cô ThS La Thu Phương và các thầy cô giáo trong khoa, với sự phối hợp giúp đỡ của các ban lãnh đạo cùng người dân Tôi đã hoàn thành khóa luận đúng thời hạn
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến các thầy, cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là cô giáo ThS La Thu Phương, đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận Do trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế do vậy khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô giáo cùng
toàn thể các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Văn Tùng
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tổng hợp số điểm đo theo tuyến điều tra 20
Bảng 3.2 Độ phong phú của cây bụi và thảm tươi 24
Bảng 3.3 Các thông số được phân tích mẫu đất 25
Bảng 4.1 Tri thức bản địa về sự hiểu biết cây Râu mèo ở Xã Bàn Đạt huyện Phú Bình 27
Bảng 4.2 Tri thức bản địa về sử dụng và gây trồng loài Râu mèo 29
Bảng 4.3 Kết quả đo đếm chiều cao trung bình cây Râu mèo 31
Bảng 4.4 Kết quả đo đếm kích thước trung bình của lá Râu mèo 33
Bảng 4.5 Bảng phân bố của loài Râu mèo trong các trạng thái rừng 34
Bảng 4.6 Bảng phân bố của loài Râu mèo theo tuyến điều tra 35
Bảng 4.7 Bảng phân bố của loài Râu mèo theo độ cao 36
Bảng 4.8 Bảng tổng hợp độ che phủ trung bình của cây bụi nơi có loài Râu mèo phân bố 37
Bảng 4.9 Bảng tổng hợp độ che phủ trung bình của lớp dây leo và thảm tươi nơi có loài Râu mèo phân bố 38
Bảng 4.10 Kết quả phẫu diện đất nơi có loài Râu mèo phân bố 39
Bảng 4.11 Kết quả phân tích đất khu vực xã Bàn Đạt huyện Phú Bình nơi có cây Râu mèo phân bố 40
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 4.1: Rễ và thân cây Râu mèo - Orthosiphon spiralis (Lour) Merr 31 Hình 4.2: Lá của cây Râu mèo – Orthosiphon spiralis (Lour) Merr 32 Hình 4.3: Hoa của cây Râu mèo – Orthosiphon spiralis (Lour) Merr 33 Hình 4.4: Quả và hạt của cây Râu mèo – Orthosiphon spiralis (Lour) Merr 33
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH ẢNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 5
2.2.1 Tình hình nghiên cứu thực vật (cây thuốc) trên thế giới 5
2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 9
2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 12
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 12
2.3.2 Những lợi thế để phát triển kinh tế xã hội 15
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 16
3.3 Nội dung nghiên cứu 16
3.4 Phương pháp nghiên cứu 17
3.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu 17
Trang 93.4.2 Phương pháp nghiên cứu phân loại học 17
3.4.3 Điều tra sơ thám 17
3.4.4 Phương pháp điều tra thu thập số liệu ngoài hiện trường 18
3.4.5 Phương pháp nội nghiệp 26
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH 27
4.1 Đặc điểm sử dụng và sự hiểu biết của người dân về loài cây 27
4.1.1 Tri thức bản địa về sự hiểu biết cây Râu mèo 27
4.1.2 Tri thức bản địa về sử dụng và gây trồng cây Râu mèo 28
4.2 Đặc điểm hình thái rễ, thân, cành, lá, hoa và quả 30
4.3 Đặc điểm phân bố của loài Râu mèo 34
4.3.1 Phân bố theo các trạng thái rừng ở xã Bàn Đạt huyện Phú Bình 34
4.3.2 Phân bố theo tuyến ở xã Bàn Đạt huyện Phú Bình 35
4.3.3 Phân bố theo độ cao ở xã Bàn Đạt huyện Phú Bình 36
4.4 Kết quả của một số đặc điểm sinh thái học của loài Râu mèo 36
4.4.1 Nguồn gốc, chất lượng và mật độ tái sinh loài Râu mèo 36
4.4.2 Đặc điểm cây bụi, và thảm tươi nơi có loài Râu mèo phân bố ở xã Bàn Đạt huyện Phú Bình 37
4.5 Đặc điểm đất nơi loài Râu mèo phân bố 38
4.6 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài 41
4.6.1 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn và phát triển cây Râu mèo tại huyện Phú Bình 41
4.6.2 Một số biện pháp phát triển loài 42
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Kiến nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Bảo tồn đa dạng sinh học là một trong những nhiệm vụ quan trọng và là trọng tâm đối với sự phát triển trên thế giới Với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội cùng sự quản lý tài nguyên sinh học còn yếu kém đã làm cho đa dạng sinh học bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng Sự suy thoái về đa dạng sinh học là rất đáng lo ngại, nhiều loài động thực vật bị đe dọa và có nguy cơ bị tuyệt chủng mà nguyên nhân chính là do con người sử dụng bất hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên Trong đó nguồn tài nguyên rừng, các loài dược liệu đang bị khai thác bất hợp lý dẫn đến suy giảm về diện tích rừng và thành phần loài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và đa dạng sinh học
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, thời tiết quanh năm nóng ẩm từ
đó tạo nên nguồn tài nguyên dược liệu thiên nhiên vô cùng phong phú Trong những năm gần đây nhu cầu về thảo dược trong điều trị bệnh, làm đẹp,nâng cao sức khoẻ cho con người ngày càng cao Các hoạt động mưu cầu cuộc sống của con người đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn và phát triển của các loài cây thuốc trong tự nhiên Để đáp ứng yêu cầu đó, ngành dược liệu đã
và đang phấn đấu không ngừng tìm hiểu thêm những dược liệu mới, công dụng mới giúp điều trị và nâng cao sức khoẻ cho cộng đồng Cho nên, thúc đẩy và không ngừng phát triển công tác nghiên cứu trồng cây thuốc là một yêu cầu cấp bách hiện nay
Cây râu mèo Việt Nam có tên khoa học là Orthosiphon stamineus
Benth, tên khác Orthosiphon spiralis (Lour.) Mer, còn có tên gọi là Bông
Bạc, thuộc họ Hoa môi Lamiaceae Từ lâu, trong dân gian đã lưu truyền về tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu của cây râu mèo Cây râu mèo được xếp vào loại
Trang 11cây hiếm cần được bảo vệ và phát triển nguồn gen Tuy nhiên, cho đến nay những công bố của các nhà y học về dược lý cây râu mèo không nhiều
Nhận thức được vai trò và tác dụng to lớn của loài cây dược liệu râu mèo nên đã có một số đề tài nghiên cứu về loài cây này Những nghiên cứu đưa cây râu mèo vào nhân giống và trồng trọt sẽ góp phần chủ động nguồn nguyên liệu làm thuốc và nâng cao chất lượng dược liệu đưa công tác sản xuất dược liệu cây râu mèo dần đi vào ổn định về số lượng và chất lượng Xuất
phát từ nhu cầu thực tế trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố loài cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis) làm cơ sở cho phát triển loài tại xã Bàn Đạt huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau:
- Xác định được tri thức bản địa của của người dân về sự kiểu biết và
sử dụng cây Râu mèo tại khu vực nghiên cứu
- Xác định được đặc điểm sinh vật học và sinh thái học và phân bố của loài Râu mèo tại khu vực nghiên cứu
- Đề xuất 1 số biện pháp nhằm bảo tồn phát triển nguồn gen cây thuốc quý Râu mèo
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và khoa học
- Giúp sinh viên củng cố lại và bổ sung kiến thức đã học để nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập Qua đó giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, viết và trình bày báo cáo khoa học, nghiên cứu khoa học
- Cung cấp những kinh nghiệm thực tế cho sinh viên trong quá trình tiếp xúc và làm việc với người dân
- Giúp tôi hiểu thêm về sự phân bố và sinh trưởng của cây Râu mèo
Trang 12- Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn
- Biết được tầm quan trọng của các loài thực vật quý hiếm nói chung và cây Râu mèo nói riêng
- Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ
và phát triển rừng hiện nay
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của loài Râu mèo nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
Ở Việt Nam, râu mèo phân bố rải rác ở một số tỉnh miền núi như Cao Bằng, Thanh Hoá (Vĩnh Lộc), Hà Tây (Ba Vì), Lâm Đồng, Phú Yên (Tuy Hoà), Vũng Tàu - Côn Đảo (Bà Rịa), Ninh Thuận (Phan Rang), Kiên Giang (Phú Quốc), Cây ưu ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc trên đất giàu chất mùn ở ven rừng, gần bờ nước hoặc trong thung lũng Độ cao phân bố của cây từ khoảng 10m (ở Phú Yên) đến 600m (ở Cao Bằng) Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân hè Mùa đông có hiện tượng bán tán lụi ở phần thân cành trên mặt đất Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt, nhưng tỷ lệ hạt nẩy mầm thường rất thấp Râu mèo tái sinh chồi khoẻ, nhất là từ những phần còn lại sau khi cắt [5]
Trên cơ sở phân bố và điều kiện tự nhiên của cây râu mèo Việt Nam như vậy, chúng tôi thấy rằng nghiên cứu đặc điểm thực vật, phương thức nhân giống và mật độ trồng cho râu mèo ở vùng Hà Nội cho năng suất cao và chất lượng phù hợp là rất cần thiết cho việc chủ động cung cấp nguồn dược liệu
thay thế nguồn dược liệu sẵn có trong tự nhiên
Theo GS.TS Đỗ Tất Lợi cây râu mèo tên khoa học là Orthosiphon
stamineus Benth còn có tên gọi là Bông Bạc, thuộc họ Hoa môi Lamiaceae [7]
Còn theo “Những cây thuốc Việt Nam” râu mèo có tên khoa học là
Orthosiphon aristatus (Blume) Miq hoặc Orthosiphon stamineus Beth [2]
Ngày nay ở Việt Nam, tiến bộ khoa học ngày một phát triển, kỹ thuật nhân giống của các cây nông nghiệp, công nghiệp và lâm nghiệp, cây dược
liệu ngày một nâng cao cả về chất lượng và số lượng
Trang 14Về cơ sở sinh học
Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu thực vật (cây thuốc) trên thế giới
Trong các xã hội cổ xưa và thậm chí đến tận ngày nay người ta nghĩ rằng bệnh tật là do sự trừng phạt của các thế lực siêu tự nhiên Do đó các thầy lang đã chữa bệnh bằng các lời cầu nguyện, nghi lễ cúng thần linh và ma lực của cây cỏ Cây cỏ làm thuốc được lựa chọn bởi màu sắc, mùi, hình dáng hay
sự hiếm có của chúng Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc là quá trình mò mẫm rút kinh nghiệm trải qua nhiều thế hệ Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthai cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền như cỏ thi, cúc bạc, Người dân bản xứ Mexico từ nhiều nghìn năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mexico mà ngày nay được biết là chứa chất gây ảo giác, kháng khuẩn Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc trong đó có lô hội, kỳ nham, gai dầu, Người Trung Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông bản thảo khoảng 5000 năm trước đây, 365 vị thuốc
và loài cây thuốc Người Ấn Độ cổ đại đã ghi chép nền y học của người Hinđu khoảng 2000 năm trước, trong đó có loài cây gây ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn, [19]
Ngày nay, theo thống kê của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) trên thế giới có khoảng 250.000 - 270.000 loài thực vật bậc cao thì có đến
Trang 1535.000 - 70.000 loài được sử dụng vào mục đích chữa bệnh Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 - 8.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài có thể sử dụng được trong y học truyền thống [16]
Xu hướng trên thế giới hiện nay là vừa bảo tồn những cây thuốc quý hiếm, vừa có kế hoạch khai thác có hiệu quả những nguồn gen này để chăm sóc sức khỏe cộng đồng Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học tạo ra những sản phẩm mới có chất lượng cao, giá thành phù hợp
Nguồn gốc và phân bố
Chi Orthosiphon Benth, có 40 loài trên thế giới, phân bố rải rác khắp
các vùng nhiệt đới Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương Vùng nhiệt đới Đông Nam Á được coi là nơi tập trung và có tính đa dạng cao về thành phần loài của chi, trong đó Việt Nam có 8 loài
Trên thế giới râu mèo là cây nhiệt đới tương đối điển hình, mọc tự nhiên phổ biến ở Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia Các nước ở Đông Dương và cả ở Châu Phi Cây còn được trồng ở Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan, Cu Ba và Việt Nam
Ở Inđônêxia là nước trồng nhiều râu mèo nhất Ngoài khối lượng dược liệu sử dụng nhiều trong nước, năm 1991 - 1995 nước này xuất khẩu sang thị trường châu Âu mỗi năm từ 170 tấn - 200 tấn râu mèo khô
Ở Malaysia có 2 giống râu mèo tím và trắng đây là một loại thảo mộc truyền thống được sử dụng để điều trị bệnh tiểu đường, thận và các rối loạn đường tiết niệu, huyết áp cao và xương hoặc đau cơ bắp Cây râu mèo được chế biến thành một loại trà, còn được gọi là trà Java, nó đã có thể giới thiệu về phía tây ở thế kỷ 20 Râu mèo là phổ biến tiêu thụ như là một loại trà thảo mộc Các pha trà của Java cũng tương tự như cho các loại trà khác Nó được ngâm trong nước nóng đun sôi khoảng ba phút, trước khi được thêm vào với
Trang 16mật ong hoặc sữa Có khá nhiều sản phẩm thương mại xuất phát từ cây râu mèo ở Malaysia [8]
Một số tác dụng của cây râu mèo
Tăng và bài tiết nước tiểu: Theo các tác giả Chow S.Y.Liao J.F (Đài Loan), dịch chiết từ râu mèo trên chó thí nghiệm bằng đường tiêm truyền tính mạch với liều 18,8mg/kg/phút có tác dụng tăng cường bài tiết nước tiểu và
các chất điện giải Na+ K+ Cl
Lợi tiểu: Các tác giả G.A Schut và J.H.Zwaving (Hà Lan) đã xác định tác dụng lợi tiểu của 2 flavon sinensetin và 3-hydroxy - 3,6,7,4 tetramethoxyflavon bằng đường tiêm tính mạch với liều lượng 10g/kg, lượng nước tiểu thu được sau
140 phút là 410mg, còn Sinensetin dùng cùng liều trên, lượng nước tiểu thu được sau 160 phút là 614mg, trong khi đó ở lô chuột đối chứng, sau 120 phút, không thu được một lượng nước tiểu nào Hai flavon trên cùng một liều 1mg/kg
có so sánh với tác dụng của hydrochlorothiazid thấy tác dụng lợi tiểu yếu hơn và xuất hiện chậm [14]
Bệnh thận và sỏi thận: Theo các tác giả Ấn Độ, râu mèo rất có ích cho điều trị bệnh thận và phù thũng Trên bệnh nhân, râu mèo có tác dụng làm kềm hóa máu, sự có mặt của hoạt chất orthosiphonin và muối kali trong dược liệu có tác dụng giữa cho acid uric và muối urat ở dạng hòa tan, do đó phòng ngừa được sự lắng đọng của chúng để tạo thành sỏi thận Ở Thái Lan, thí nghiệm trên những người tình nguyện khỏe mạnh, dịch râu mèo có tác dụng làm tăng sự bài tiết citrat và oxalat; oxalat với hàm lượng cao có thể tăng nguy cơ hình thành sỏi thận [13]
Hạ huyết áp, giảm tần số hô hấp: Trên động vật thí nghiệm, chất
methylripariochromene A (MRC), ly trích từ lá râu mèo cho thấy có tác dụng
hạ huyết áp (đặc biệt là huyết áp tâm thu) do tác dụng giãn mạch, giảm hậu tải của tim và lợi tiểu Trên chuột nhắt trắng, râu mèo bằng đường tiêm xoang
Trang 17bụng với liều 2 - 4g/kg làm giảm hoạt động vận động của chuột Trên chó, bằng đường tiêm truyền tĩnh mạch với liều 0,179g/kg có tác dụng hạ huyết áp
và làm giảm tần số hô hấp [14]
Hạ đường huyết: Dịch chiết lá râu mèo có tác dụng hạ đường huyết ở
bệnh nhân đái tháo đường, nhưng tác dụng này không hằng định, cơ chế tác dụng, có thể là do kích thích sự hình thành glycogen ở gan Acid ursolic làm
giảm đường huyết, dùng trị đái tháo đường (ở Đài Loan) [14]
Bảo vệ gan: Chất ly trích bằng metanol từ lá râu mèo cho thấy có tác dụng bảo vệ gan bị tổn hại bởi việc dùng quá liều paracetamol [14]
Tăng sức đề kháng: Các flavonoid trong râu mèo có tác dụng chống oxy hóa và bẫy gốc tự do là các chất gây tổn hại cho tế bào và hệ miễn dịch
của cơ thể, do đó râu mèo còn có tác dụng tăng sức đề kháng của cơ thể [14]
Hiệu quả trị mụn: Trong hai cuộc thí nghiệm để trị mụn, một ở Pháp
trên người châu Âu và một ở Thái Lan trên người châu Á, cho thấy một loại
mỹ phẩm dạng nhũ tương có chứa 2% trích tinh lá râu mèo làm giảm chất bã nhờn và kích thước mụn trên những người da nhờn do tác dụng làm giảm isozym týp 1 của 5-alpha reductase cũng như giảm sản sinh chất squalen, một cấu tử chính tạo nên chất bã nhờn là nguyên nhân phát sinh mụn Tác dụng của mỹ phẩm có trích tinh râu mèo tốt hơn khi so sánh với chế phẩm trị mụn thông thường chứa 1% kẽm gluconat
Theo Đông y, cây râu mèo có vị ngọt, nhạt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, tiểu viêm, trừ thấp Dùng chữa viêm thận cấp tính
và mạn tính, viêm bàng quang, soi thận đường tiết niệu,… Râu mèo được sử dụng độc vị hoặc phối hợp với các thuốc khác trong các chứng bệnh thống phong, thấp khớp, thấp ngoài khớp, phù nề, viêm thận, sỏi niệu, tiểu ít, viêm gan, hoàng đản, sốt nóng, cảm cúm, thủy đậu (trái rạ), sởi (ban đỏ), đái tháo đường, cao huyết áp, [1]
Trang 182.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu về sinh thái
Ý nghĩa của nghiên cứu sinh thái loài hết sức cần thiết và quan trọng, đây là cơ sở cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường
Khi nghiên cứu sinh thái các loài thực vật, Lê Mộng Chân (2000) [4]
đã nêu tóm tắt khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu Sinh thái thực vật nghiên cứu tác động qua lại giữa thực vật với ngoại cảnh Mỗi loài cây sống trên mặt đất đều trải qua quá trình thích ứng và tiến hoá lâu dài, ở hoàn cảnh sống khác nhau các loài thực vật thích ứng và hình thành những đặc tính sinh thái riêng, dần dần những đặc tính được di truyền và trở thành nhu cầu của cây đối với hoàn cảnh Con người tìm hiểu đặc tính sinh thái của loài cây để gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, sử dụng và bảo tồn các loài cây đúng lúc, đúng chỗ đồng thời lợi dụng các đặc tính ấy để cải tạo tự nhiên và môi trường
Đỗ Tất Lợi (1991) [7] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài thực vật bản địa hoang dại
hữu ích làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay
Nghiên cứu về cây Râu mèo
Mô tả thực vật cây Râu mèo: Cây râu mèo là cây có giá trị về mặt y học, tuy nhiên loài cây này vẫn chưa được nghiên cứu ở nhiều nơi, còn thiếu rất nhiều kiến thức về loài cây này Vì vậy để phát triển và mở rộng nghiên cứu loại cây này phải có cơ sở khoa học dựa trên những nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái của loài, từ đó đề xuất giải pháp kỹ thuật trong tạo giống, phát triển nguồn dược liệu quý báu này
Theo tài liệu về phân loại thực vật [15], cây Râu mèo còn gọi là cây Cây Bông bạc, theo Danh lục các loài thực vật Việt nam, Tập II Cây Râu
Trang 19mèo có tên khoa học Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr, trong chi (genus) Râu mèo (Trực quản) - Orthosiphon, Họ (familia) Bạc hà hay Hoa môi -
Lamiaceae, Bộ (ordo) Hoa môi - Lamiales, là một đơn vị phân loại trong nhánh Cúc (asterids) của thực vật hai lá mầm (Ngọc lan)
Cây Râu mèo có tên như vậy vì nhị và nhuỵ của hoa thò ra giống như
râu con mèo Râu mèo là cây thân cỏ nhiều năm, cao 30 - 100cm Thân cây có
cạnh vuông thường có màu tím ở thân trưởng thành, mang nhiều cành Lá mọc đối, đôi lá trước mọc thành chữ thập đối với đôi lá sau Cuống lá rất ngắn, chừng 2 - 5mm Cụm hoa tận cùng thẳng, mọc thành chùm, lúc non màu trắng lúc già ngả màu xanh tím, hoa nở suốt mùa hè
Nơi sống và sinh thái: Thường gặp ở nơi sáng và ẩm, cây ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt, nhưng tỷ lệ hạt nẩy mầm thường rất thấp Hoa, quả chủ yếu vào tháng 7 - 11 Râu mèo tái sinh chồi khoẻ, nhất là từ những phần còn lại sau khi cắt Độ cao phân bố của cây từ khoảng 10m (ở Phú Yên) đến 600m (ở Cao Bằng) Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân hè Mùa đông có hiện tượng bán tán lụi ở phần thân cành trên mặt đất
Phân bố: Cây Râu mèo có phân bố: Lào Cai (Sa Pa), Hà Tây (Ba Vì), Hà Nội (Văn Điển), Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế (Huế), Lâm Đồng (Đà Lạt, Di Linh), Ninh Thuận (Phan Rang), Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu (Bà Rịa), Kiên Giang (Phú Quốc) và một số tỉnh khác thường trồng Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia [6]
Nghiên cứu liên quan về cây Râu mèo
Thạc sĩ Phạm Hồng Minh (2009): “Nghiên cứu đặc điểm thực vật, phương pháp nhân giống và ảnh hưởng mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng dược liệu của hai mẫu giống râu mèo (Orthosiphon sp.) tại Thanh Trì - Hà Nội” Là nghiên cứu đầu tiên ở Việt
Trang 20Nam về đặc điểm thực vật, phương thức nhân giống và ảnh hưởng mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng dược liệu của 2
giống râu mèo Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm cơ sở khoa học
cho công tác nghiên cứu chọn tạo giống và nghiên cứu các các biện pháp kỹ thuật khác cũng như là cơ sở khoa học trong điều trị và chữa bệnh Kết quả của đề tài bước đầu đã phân biệt đặc điểm hình thái, khả năng nhân giống của hai giống râu mèo và xác định mật độ trồng thích hợp cho hai giống râu mèo nhằm góp phần hoàn thiện quy trình tuyển chọn giống và trồng cây râu mèo
năng suất chất lượng cao cho vùng Hà Nội [8]
Đặng Duy Nhân (2010): “Khảo sát thành phần hóa học lá cây râu mèo Orthosiphon stamieus Benth họ hoa môi Lamiaceae được trồng ở miền Trung Việt Nam” Từ cao eter dầu và cao chloroform, đã cô lập được bốn hợp chất RM1-RM2-RM3-RM4 Dựa vào các kết quả phân tích phổ nghiệm H-NMR,
C13 và DEPT-NMR, các cấu trúc các hợp chất lần lượt được xác định là hydroxy-6,7,3’,4’- tetrametoxyflavon (RM1), eupatorin (RM2), sinensetin (RM3), orthosiphol F (RM4) Bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép đầu dò từ ngoại UV/Vis, hàm lượng eupatorin và sinensetin trong lá râu mèo khô được xác định lần lượt là 15,88 mg/kg và 17,33 mg/kg [9]
5-Nguyễn Kim Bích, 5-Nguyễn Thị Phương, Trịnh Thị Nga, Vũ Thị Lan, Nguyễn Minh Ngọc, “Phân tích một số thành phần và nhóm hoạt chất trong râu mèo Herba Othosiphonis spiralis bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng kết hợp đo mật độ (TLC scanning) phục nghiên cứu tiêu chuẩn hoá”, Tạp chí dược liệu, tập 14, số 6/ 2009, tr.286 Sử dụng sắc ký lớp mỏng - vân tay (TLC-FP) xác định các flavonoid, terpennoids và các dẫn xuất của axit caffeic cùng với việc làm giảm chất lượng của sinensetin và axit ursolic trên Herba Orthosiphonis spiralis Các dung môi của dichloromethan: ethylacetat 6: 4 (1), chloroform: ethylacetat 5: 2 (2) và toluen: ethylacetat: aceton: axit formic 5:
Trang 212: 2: 1 (3) được sử dụng để tách nhóm: flavonoid, Terpenoids và sinensetin tương ứng Việc phát hiện các flavonoid và các dẫn xuất axit caffeic được quan sát thấy dưới ánh sáng UV ở 366nm trước và sau khi phun thuốc thử
NP / PEG Để phát hiện terpennoids, hình dung bằng cách phun axit sulfuric 10% và làm nóng [3]
2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.3.1.1.Vị trí địa lý
Phú Bình là một huyện trung du, địa đầu phía đông nam của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 28km theo quốc lộ 37 Phía đông giáp huyện Yên Thế, phía nam giáp huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang), phía bắc và tây bắc giáp huyện Đồng Hỷ, phía tây và tây nam giáp huyện Phổ Yên Có tọa độ địa lý từ 21023/33” đến 21035/22” vĩ bắc, giữa 1050 51 đến 106002 kinh đông
2.3.1.2 Điều kiện địa hình
Tổng diện tích tự nhiên huyện Phú Bình là 249,36km2 Sự kiến tạo địa chất và con sông Cầu, sông Máng, kênh Đông (thuộc hệ thống đại thuỷ nông) chia cắt Phú Bình thành 3 vùng:
Vùng I (tả ngạn sông Máng) gồm 8 xã, trong đó có 7 xã miền núi là: Đồng Liên, Bàn Đạt, Đào Xá, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành, Tân Hoà và
Trang 222.3.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết
Khí hậu Phú Bình mang đặc tính của khí hậu của miền núi trung du Bắc
Bộ Khí hậu của huyện thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, gồm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng tư năm sau Mùa hè có gió Đông Nam mang về khí hậu ẩm ướt Mùa đông có gió mùa Đông Bắc, thời tiết lạnh và khô
Theo số liệu của Tổng cục Khí tượng Thủy văn, nhiệt độ trung bình hàng năm của huyện giao động khoảng 23,1o – 24,4oC Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6 – 28,9oC) và tháng lạnh nhất (tháng 1 – 15,2oC)
là 13,7oC Tổng tích ôn hơn 8.000oC Tổng giờ nắng trong năm giao động từ 1.206 – 1.570 giờ Lượng bức xạ 155Kcal/cm2
Lượng mưa trung bình năm khoảng từ 2.000 đến 2.500 mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng 81-82% Độ ẩm cao nhất vào tháng 6, 7, 8 và thấp nhất vào tháng 11, 12
Có thể nói điều kiện khí hậu - thủy văn của Phú Bình khá thuận lợi cho việc phát triển các ngành nông, lâm nghiệp với các cây trồng vật nuôi thích
hợp với địa bàn trung du
2.3.1.4 Về đất đai thổ nhưỡng
Theo số liệu thống kê do Phòng Thống kê huyện Phú Bình cung cấp, năm 2007 Phú Bình có tổng diện tích đất tự nhiên 24.936 ha, trong đó đất nông nghiệp có 20.219 ha, (chiếm 81%), trong đó đất sản xuất nông nghiệp 13.570 ha (chiếm 54,3%), đất lâm nghiệp 6.218 ha (chiếm 25%), đất nuôi trồng thủy sản 431 ha (chiếm 1,7%); đất phi nông nghiệp 4.606 ha (chiếm 18,5 %) và đất chưa sử dụng 111 ha (chiếm 0,5%) Như vậy trong cơ cấu đất đai của huyện, đất sản xuất nông nghiệp chiếm tới 54,3% trong khi đất lâm nghiệp chỉ chiếm 25% Nhìn chung đất đai Phú Bình được đánh giá là có chất lượng xấu, nghèo chất dinh dưỡng, khả năng giữ nước và giữ ẩm kém, độ
Trang 23mùn tổng số thấp từ 0,5% đên 0,7%, độ PH cao từ 4 đến 5 Với tài nguyên đất đai như vậy, hiệu quả sản xuất nông nghiệp không cao
2.3.1.5 Về tài nguyên - khoáng sản
Về tài nguyên khoáng sản tự nhiên, Phú Bình không có các mỏ khoáng sản có trữ lượng lớn như ở các huyện khác của tỉnh Phú Bình có nguồn cát,
đá sỏi ở sông Cầu Đây là là nguồn vật liệu xây dựng khá dồi dào, phục vụ
cho các hoạt động khai thác đáp ứng cho nhu cầu trong huyện
2.3.1.6 Về du lịch:
Phú Bình là huyện có truyền thống lịch sử lâu đời Trong kháng chiến chống Pháp, đây còn là địa bàn An toàn khu (ATK) Bởi vậy Phú Bình có nhiều di tích lịch sử Trên địa bàn huyện Phú Bình tổng cộng có 70 di tích văn hóa lịch sử, trong đó có 7 di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, 10 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh Tuy có tiềm năng phát triển dịch
vụ du lịch nhưng đây không phải là thế mạnh nổi bật của Phú Bình Hơn nữa việc đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất để khai thác những tiềm năng này còn hạn chế Do vậy, để biến tiềm năng này thành hiện thực, Phú Bình cần có một qui hoạch tổng thể hợp lý, cần có sự đầu tư lớn và liên kết với các địa
phương khác
2.3.1.7 Kết cấu hạ tầng
Sự yếu kém về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống đường giao thông liên tỉnh, liên xã là một trở ngại và thách thức chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế của huyện Mấy năm gần đây tuy có được Nhà nước quan tâm đầu tư nhưng hệ thống đường giao thông chưa được cải thiện nhiều, còn cần phải có đầu tư lớn mới đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của huyện Có thể nói phát triển, nâng cấp đường giao thông là khâu mấu chốt để tạo ra sự bứt phá
kinh tế của huyện trong những năm tới
Trang 242.3.1.8 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của huyện khá dồi dào, chất lượng nguồn nhân lực vào loại khá Đây là thế mạnh đối với việc phát triển kinh tế xã hội của huyện Tuy nhiên, huyện cần chú trọng hơn nữa việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh công tác đào tạo nghề phù hợp để có thể cung cấp lao
động có chất lượng cho huyện, tỉnh cũng như cho cả nước
2.3.2 Những lợi thế để phát triển kinh tế xã hội
Với vị trí địa lý của mình, Phú Bình có điều kiện mở rộng giao lưu kinh
tế và thị trường với các địa phương khác trong cũng như ngoài tỉnh Với sự phát triển của mạng lưới đường giao thông quốc gia và nội tỉnh, nhất là QL3
và những trục đường được xây dựng và nâng cấp nối liến huyện với các địa phương giáp ranh và thủ đô, Phú Bình sẽ có những vận hội mới phát triển kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Về tài nguyên đất đai của huyện, về cơ bản hiện nay quĩ đất đã được khai thác hết Quĩ đất cho các công trình phúc lợi của địa phương từ xã đến huyện rất eo hẹp Đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Chất lượng đất nhìn chung xấu, nên năng suất thực tế không cao và tiềm năng tăng năng suất cây trồng hạn chế Giá trị sản phẩm trồng trọt/1 ha đất nông nghiệp thấp, chỉ khoảng 25 triệu đồng
Thế mạnh của Phú Bình là sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa
và chăn nuôi gia súc, gia cầm Là một huyện Anh hùng có bề dày về lịch sử
và văn hoá với một hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, là căn cứ ATK2 tiền khởi nghĩa và có nhiều cảnh quan đẹp Nguồn tài nguyên này sẽ giúp Phú Bình có điều kiện phát triển du lịch và qui hoạch các khu nghỉ dưỡng, đáp ứng nhu cầu cầu của nhân dân trong huyện, tỉnh cũng như các tỉnh lân cận,…
Trang 25PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Loài Râu mèo - Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài
cây Râu mèo, làm cơ sở đề xuất các biện pháp phát triển loài
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành từ tháng 8/2017 đến tháng 12 /2017
- Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Bàn Đạt huyện Phú Bình
3.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu, khóa luận nghiên cứu các nội dung chính sau:
Đặc điểm sử dụng và sự hiểu biết của người dân về loài cây Râu mèo + Sự hiểu biết của người dân về loài cây Râu mèo tại địa điểm nghiên cứu + Điều tra thực trạng khai thác và sử dụng của loài cây Râu mèo
Đặc điểm hình thái của loài Râu mèo
+ Hình thái thân cây, rễ, lá, hoa, quả
Một số đặc điểm sinh thái của loài Râu mèo
+ Đặc điểm tầng cây gỗ nơi có loài Râu mèo phân bố
+ Đặc điểm về ánh sáng nơi loài Râu mèo phân bố
+ Đặc điểm về tái sinh của loài
+ Đặc điểm cây bụi và thảm tươi nơi có loài Râu mèo phân bố
+ Đặc điểm đất nơi loài cây nghiên cứu phân bố
Đặc điểm phân bố của loài Râu mèo
+ Phân bố theo trạng thái
+ Phân bố theo tuyến
+ Phân bố theo độ cao
Trang 26 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã kế thừa các số liệu, tài liệu sau:
- Các tài liệu, công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, hình thái, tái sinh, giá trị sử dụng của loài Râu mèo được thực hiện ở trong và ngoài nước
- Các số liệu, tài liệu, bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng tại huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu phân loại học
Để xác định, làm quen và nhận rõ loài khi triển khai nghiên cứu thực địa thì việc nghiên cứu phân loại loài rất quan trọng Nghiên cứu này thực hiện tốt giúp nhà nghiên cứu không nhầm lẫn đối tượng nghiên cứu Ngoài ra,
nó cũng chỉ rõ vị trí phân loại của loài trong các hệ thống phân loại
Để thực hiện được nội dung này, đề tài đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu liên quan về hệ thống học của chi và họ Hoa môi trên thế giới và trong nước, đồng thời tiến hành kiểm tra và được thầy giáo La Quang Độ nguyên giảng viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên hướng dẫn cách nhận biết cây Râu mèo ngoài thực địa để không bị nhầm lẫn với các cây khác Các đặc điểm hình thái của loài cũng được nghi chép để phục vụ nghiên cứu hình thái loài
3.4.3 Điều tra sơ thám
Sau khi đã có những thông tin sơ bộ về hình thái và phân bố của loài, đề tài tiến hành xác định trên bản đồ khu vực cần điều tra Điều tra sơ thám nhằm:
- Nhận diện chính xác loài và xác định sơ bộ khu vực nghiên cứu của loài Râu mèo
Trang 27- Xác định sơ bộ tuyến điều tra sao cho đảm bảo đi qua các loại rừng đại diện, nới có loài Râu mèo phân bố
3.4.4 Phương pháp điều tra thu thập số liệu ngoài hiện trường
a) Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái
Sử dụng phương pháp quan sát mô tả trực tiếp đối tượng lựa chọn đại diện kết hợp với phương pháp đối chiếu, so sánh với các tài liệu đã có Đây là phương pháp thông dụng được dùng trong nghiên cứu thực vật học (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2001) [10] Cụ thể như sau:
- Quan sát mô tả hình thái và xác định kích thước của các bộ phận: thân cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa và hạt của cây Râu mèo, đối với thân cây ta dùng thước Palme để xác định đường kính gốc (Doo), đo lá và quả bằng cách chọn những lá và quả sinh trưởng bình thường không bị sâu bệnh hay biến dạng dùng thước kẻ hoặc thước dây đo chiều dài và rộng rồi ghi lại các thông
số đã đo vào bảng, ngoài ra chúng ta có thể dùng thước kẹp để đo kích thước quả rất tiện lợi và có độ chính xác cao
- Lấy mẫu tiêu bản không những của loài nghiên cứu mà lấy của các loài khác trong quần xã phục vụ cho việc định danh loài Các mẫu vật thu được cần
so sánh với các tiêu bản trước đây hoặc nhứng loài cây có hình thái tương tự nhằm xác định tính chính xác của loài
- Đo đếm giá trị trung bình của lá và quả cây Râu mèo Thu hái 100 mẫu lá, quả ở 3 vị trí trên tán cây (dưới tán, giữa tán và đỉnh tán)
- Dụng cụ thiết bị hỗ trợ: Máy ảnh, thước dây, ống nhòm, thước đo
độ cao, GPS,…
b) Phương pháp phỏng vấn người dân
Để đánh giá và tìm hiểu sự hiểu biết và sử dụng các loài Râu mèo trong khu vực nghiên cứu, chúng tôi tiến hành chọn các đối tượng phỏng vấn như sau: Những người được phỏng vấn gồm những người đã từng khai thác và sử