1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những giá trị đương đại của pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam thế kỷ XV-– XIX

11 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 24,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự thực thì tính thống nhất quyền lực, tính thống nhất của một Đảng cầm quyền, kiểm soát quyền lực tư pháp cấp cao, tối cao; mối quan hệ độc lập nhưng liên thông, thống nhất, đồng bộ hài

Trang 1

Những giá trị đương đại của pháp luật tố tụng PKVN thế kỷ XV – XIX

1 Giá trị đương đại về lý luận trong xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng phong kiến Việt Nam

Sau hàng nghìn năm phong kiến quân chủ, thời thuộc Pháp, thời VNCH và VNDCCH pháp luật tố tụng mang dấu ấn thực dân cũ mới và pháp luật thời chiến Sự chuyển dịch từ mô hình phương Đông sang phương Tây, từ Quân chủ sang Cộng hòa đã

để lại rất nhiều bài học trong lịch sử tố tụng Từ “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc đến những Tòa án Đặc biệt, Tòa án Binh, Tòa Đại hình, Tòa tiểu hình, Tòa phá án, Tòa hòa giải, Tòa sơ thẩm, Tòa thượng thẩm xuất hiện, đã nâng tầm pháp luật tố tụng lên một bước phát triển mới, ảnh hưởng của cả mô hình châu Âu lục địa và

mô hình Anh - Mỹ Tuy nhiên, trải qua gần một thế kỷ (1885– 1985), pháp luật tố tụng Việt Nam vẫn là công cụ của quyền lực chính trị và quân sự, công cụ của quá trình thực dân hóa kiểu cũ, kiểu mới với một nền cộng hòa dân chủ quan liêu, chuyên chính

Từ 1986 đến 2001, pháp luật tố tụng dần được đổi mới thống nhất, phục vụ cho công cuộc cải tạo, xây dựng phát triển đất nước và hội nhập quốc tế Từ 2002 đến 2020, chiến lược cải cách tư pháp đã thúc đẩy một bước tiến mới cho nền tư pháp nói chung và

hệ thống Tòa án Việt Nam nói riêng Các bài học như “Lưu quan”, “Hồi tỵ”, “Khảo

khóa”, “Dưỡng liêm” với sự thành lập “Hội đồng thẩm phán Tối cao”, “Tòa án cấp cao

khu vực”, Học viện Tòa án, hình thành Án lệ, đã là một phần thành công từ việc học tập

kết hợp hài hòa kinh nghiệm của hai Mô hình tòa án cơ bản: “Thẩm vấn và Tranh tụng”.

Sự thực thì tính thống nhất quyền lực, tính thống nhất của một Đảng cầm quyền, kiểm soát quyền lực tư pháp cấp cao, tối cao; mối quan hệ độc lập nhưng liên thông, thống nhất, đồng bộ hài hòa giữa Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp và tố tụng vẫn còn là một giá trị truyền thống cần được nghiên cứu làm sáng tỏ

Khi nghiên cứu, đánh giá những giá trị về mặt lý luận trong việc xây dựng pháp luật

tố tụng của nhà nước phong kiến, cần phải đặt trong hoàn cảnh lịch sử, thành tựu và sự tiến bộ trong khoa học kỹ thuật của khu vực và thế giới ở thời đại đó Khi mà, về lịch sử còn là những cuộc chinh phạt, sự hy sinh sức người, sức của cho việc thống trị chiếm

Trang 2

đoạt và làm chủ những vùng đất mới của các quốc gia Tây phương, không chỉ trong khu vực mà trên toàn thế giới Khi khoa học kỹ thuật còn lạc hậu, khi tính tập quyền quân chủ dần thống trị hầu hết các cơ cấu quyền lực, việc lấy pháp luật làm định chuẩn để quản lý

xã hội, xử lý vi phạm là những thành công cơ bản về khoa học pháp lý của thời kỳ lịch sử này Cho nên, tác giả qua nghiên cứu, đánh giá và khái quát các giá trị về lý luận và thực

tiễn của pháp luật tố tụng truyền thống dựa trên ba vấn đề: Một là, giá trị về lập pháp;

Hai là, giá trị về hành pháp; Ba là, giá trị về tư pháp; đồng thời cũng dựa trên những

thành quả đã đạt được khi nghiên cứu về pháp luật tố tụng tổng quát và chuyên ngành với những chương mục ở phần trên

Thứ nhất, Giá trị đương đại về lập pháp của luật tố tụng PKVN

Thành quả quá trình lập pháp của nhà nước phong kiến thời Hậu Lê cho đến thời nhà Nguyễn là cả một quá trình xây dựng và phát triển lâu dài và cũng đã đạt được nhiều giá trị đã được ghi nhận trong lịch sử Trên phương diện lý luận, các Bộ luật không chỉ thực hiện chức năng quản lý xã hội xử lý vi phạm bằng pháp luật mà còn mang lại những giá trị nghiên cứu khoa học về kỹ thuật lập pháp Cho dù, các điều luật được ban hành trên nền ngôn ngữ chữ Nho, ngữ nghĩa chủ yếu theo cấu trúc Hán nôm Các nhà lập pháp khi xây dựng bộ luật cũng có sự tham khảo cách thiết lập các quy tắc quản lý và thiết kế

hệ thống tố tụng dựa trên Bộ luật của các triều đại phong kiến Trung Quốc Nhưng những thành quả lập pháp của các Bộ luật Đại Việt cũng đã khẳng định được tính sáng tạo, độc đáo, đặc thù, hài hòa, phù hợp Thành tựu pháp luật về nội dung, hình thức và thủ tục đã vượt xa khuôn khổ luật pháp Đường Minh Thanh, mang đậm dấu ấn lập pháp và giá trị bản truyền của dân tộc Việt Nam

Khi mà các nước trong khu vực và trên thế giới chưa xây dựng được bộ luật riêng điều chỉnh các hoạt động về tố tụng thì nhà nước phong kiến Việt Nam thế kỷ XV –

XVIII đã có được các văn bản Hội điển về tố tụng như Hồng Đức niên gian chư cung thể

thức, Từ tụng điều lệ, Nhân mạng tra nghiệm pháp và Bộ Quốc triều Khám tụng Điều lệ,

đó là những văn bản quy phạm pháp luật riêng điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động tư pháp xét xử cho nhà nước của mình Tiến trình pháp điển hóa pháp luật

Trang 3

tố tụng nâng các quy tắc từ các chiếu chỉ, lệnh lệ, điều lệ thành Bộ luật đã khẳng định giá trị quá trình lập pháp của nhà nước PKVN Tất cả quy trình thực hiện việc xét xử được quy định thành Bộ luật và công khai thực hiện Mọi chủ thể đều phải tuân thủ luật pháp

và không được làm trái luật hoặc chống đối, hoặc bẻ cong luật, lạm dụng pháp luật (tội uổng pháp, bất uổng pháp)

Theo các nghiên cứu cho thấy, pháp luật tố tụng của nhà nước PKVN thế kỷ XV – XIX đã đạt được những trình độ nhất định về kỹ thuật lập pháp Đó là tính tiên phong khi

có được Bộ luật tố tụng đầu tiên cho nhà nước mình; tính thống trị tối cao trong quản trị

về tư pháp xét xử được xác lập thuộc quyền vua chúa; tính dự liệu trong xây dựng và vận hành pháp luật tố tụng thống nhất; tính pháp điển trong quá trình xây dựng và ban hành pháp luật chung mang tính Hiến chương và chuyên ngành Khi đó giá trị lập pháp và kỹ thuật lập pháp, trình độ uyên bác của nhà lập pháp về lĩnh vực tố tụng của nhà nước PKVN đã được khẳng định trong các văn bản và sử liệu

Như đã trình bày ở các chương và các phụ lục, giá trị đương đại và tính kế truyền pháp luật tố tụng từ truyền thống là một dự án khả thi Kể cả về mục tiêu nhằm hướng đến dân chúng, cách thức tổ chức hệ thống tư pháp tòa án, chủ thể và khách thể tố tụng,

về bộ máy vận hành, về quy trình và thủ tục, về hình thức và nội dung, đặc biệt là lập pháp tố tụng chuyên sâu trong từng lĩnh vực Điều này sẽ chi phối cả về quy trình đào tạo nhân sự, tuyển bổ, vận hành hoạt động, tổng kết thống kê, lưu trữ án từ; chi phối hoạt động xét hỏi, tranh tụng, ra quyết định bản án, tập hợp xây dựng Án lệ chuyên sâu; đào tạo Thẩm phán, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Chấp hành viên, Luật sư công tố, Luật sư bào chữa, Công chứng, chứng thực chuyên ngành Trên cơ sở đó, xây dựng kiến tạo những Tòa chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu cập nhật những yếu tố mới mà vẫn đảm bảo sự

ổn định bền vững của những Tòa án mang tính Kinh điển Kết hợp cả truyền thống và hội nhập, trong nước và quốc tế, đối nội và đối ngoại về tư pháp, tài phán, tranh tụng, dẫn độ

và thi hành bản án

Hiện nay, việc thành lập Tòa án cấp cao, Hội đồng Thẩm phán tối cao, các Tòa cấp Huyện, Tỉnh, Khu vực Bắc Trung Nam (đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP HCM) là tương

Trang 4

đối hợp lý và phù hợp Với thời đại công nghệ 4.0 thì việc Lập các Án lệ mẫu có thể còn được thiết kế bằng “Hình ảnh mẫu của phiên tòa”, các lập luận, các chứng cứ, cáo trạng,

tranh tụng và tuyên án Tất cả đều có thể được tổ chức thống nhất, kiểm soát và ban hành

Lệ án thông qua sự kiểm định của Tòa cấp cao, Tòa tối cao và sự Phê chuẩn của Hội

đồng thẩm phán tối cao Đối với các vụ án lớn, có tầm ảnh hưởng chính trị sâu rộng, cần phải có những Thẩm phán có đủ năng lực, đức tài, tầm nhìn và kinh nghiệm, cần có ý kiến của Ban bí thư, Chủ tịch nước và cần dự liệu về sự thống nhất đồng thuận trong tâm thức của dân chúng Lập pháp là để vận hành thực tiễn đạt hiệu quả bền vững, cho nên

thực sự phải là những Nhà lập pháp tài năng của hệ thống pháp lý, trong cả lý luận và

thực hành Thành viên Hội đồng thẩm phán tối cao có thể là những Nhà lập pháp tối cao trong lĩnh vực tư pháp Trong thiết kế Lập pháp chuyên ngành, nhất thiết phải có sự tham gia của những chuyên gia đầu ngành Quá trình lập pháp và kỹ thuật lập pháp chỉ có thể

thành công với một “Hội đồng lập pháp” tài năng và tâm huyết Họ phải là những người

có đủ tri thức tầm cao và kinh nghiệm thực tiễn Có như vậy thì mới có thể kiến thiết, tạo lập được những văn bản pháp luật bền vững ổn định trong hàng trăm năm như thời quân

chủ PKVN đã từng trải nghiệm

Thứ hai, Giá trị đương đại về hành pháp và tư pháp của luật tố tụng PKVN

Mục đích lập pháp về pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến là nhằm đáp ứng các hoạt động hành pháp, tức là quản lý hành chính tư pháp đồng thời thực hiện xét xử, đáp ứng yêu cầu của xã hội và người dân Quan lại được nhà vua trao quyền bỏ nhiệm đảm nhận chức vụ cũng đồng thời thực hiện cai quản cơ cấu hành chính địa phương từ huyện, châu, lộ, trấn cho đến phủ, phủ doãn, ty, tỉnh Cơ quan trung ương thực hiện nhiều chức năng phụ thuộc vào việc phân định trách nhiệm từ nhà vua đến quan lại các cấp theo văn bản pháp luật đã ban hành Khi xây dựng Bộ luật QTHL, QTKTĐL, HVLL và các VBQPPL, mục đích cơ bản là mang lại giá trị quản lý hành chính và xã hội, phục vụ cho việc bảo vệ quyền cai trị của nhà nước phong kiến tập quyền, đồng thời đảm bảo an ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc, phát triển xã hội, trị quốc an dân

Trang 5

Từ thời Lê đến thời nhà Nguyễn, chỉ có một số cơ quan trung ương là có chức năng tương đối chuyên sâu về tư pháp xét xử Còn các cơ quan địa phương thì hầu như kiêm chức việc: cả quản lý, xử lý vi phạm, điều tra, xét xử, thi hành án Chỉ có chức quan Hiến ty ở cấp đạo xứ Thừa tuyên và chức quan Án sát triều Nguyễn ở cấp tỉnh là tương đối độc lập thực hiện việc xét xử hình án, còn ở các triều đại phong kiến khác, quan án đều thực hiện chung các chức năng nhiệm vụ quản lý hành chính, quân sự an ninh và tư pháp xét xử Việc thực hiện hoạt động xét xử tại Nha môn, công khai taih công đường theo cấp hành chính và theo thẩm quyền chuyên môn đã được quy định trong các Bộ luật

Như vậy, giá trị hành pháp song hành tư pháp của hoạt động tố tụng được thiết lập

và thể chế hóa từ ý chí của vương quyền Quyền xét xử và quyền kiểm soát tối cao do nhà vua quyết định, cơ cấu hoạt động tố tụng đòi hỏi không cho phép mọi chủ thể vượt qua tầm giám sát được mặc định sẵn Do đó, trong xây dựng pháp luật tố tụng của nhà nước phong kiến, cơ chế kiểm soát được các nhà lập pháp soạn thảo rất kỹ và thực hiện theo một quy tắc nhất định, đảm bảo không cho phép các quan án vi phạm pháp luật hoặc thực hiện hành vi tham nhũng, nhận hối lộ khi thực hiện công vụ của mình Đây là những thành quả tiến bộ trong nghiên cứu lập pháp và áp dụng pháp luật của thời kỳ này Không cần phải bàn cãi và tranh luận, có thể khẳng định giá trị đương đại của sự kết nối liên thông này là tất yếu

Thú ba, Giá trị đương đại về tố tụng đảm bảo sự tôn nghiêm của pháp luật

Xây dựng pháp luật tố tụng bắt nguồn từ sự thống trị quyền lực của nhà vua, đòi hỏi phải thực thi luật pháp, thực hiện công lý Tuy nhiên, hoạt động xét xử tuân theo ý chí của các nhà lập pháp, mặc dù đòi hỏi sự công bằng bình đẳng và công khai tại Nha môn, công đường, nhưng vẫn có những quy định có tính chất thiên vị và nhân đạo đối với một số chủ thể mà pháp luật không quy định điều chỉnh trong các Bộ luật như đối với công thần khai quốc, hoàng tộc, nếu vi phạm thì việc trừng phạt cũng nhẹ hơn rất nhiều, điều này với đa số người dân đều không có được

Trong xét xử, việc quyết định hình phạt cũng có các hình thức áp dụng chế tài khác nhau Có tội không áp dụng hình phạt bổ sung, có tội có quy định hình phạt bổ

Trang 6

sung Hình phạt cũng có thể được thay thế bằng hình phạt khác và thường áp dụng bằng hình phạt tiền đối với những tội có quy định này Ở đây cũng thể hiện nên tính mềm dẻo trong áp dụng pháp luật đối với một số trường hợp và thường với quan lại, địa chủ hoặc những người có tiền của, còn đối với dân thường thì phạt tiền cũng có phần giảm nhẹ, nếu không có khả năng thì cũng có thể được vua ra lệnh miễn giảm

Trong hoạt động tố tụng, mặc dù chính quyền địa phương cấp phường xã không nằm trong cơ cấu thực hiện hoạt động tố tụng, không có công đường xử án nhưng lại khá quan trọng trong việc hỗ trợ các hoạt động tố tụng Từ việc giải quyết các tranh chấp rất nhỏ, hòa giải mâu thuẫn trong làng xã, hỗ trợ Nha môn bắt người, đóng góp các loại thuế, thực hiện các hạn điền, khai hoang, phục hóa, bảo vệ đê điều, duy trì hương ước, luật tục,

lệ làng Đây là cấp địa phương gần với dân nhất và phải chịu áp lực từ phía chính quyền

và phía người dân, đòi hỏi cần phải đảm bảo dung hòa quyền và lợi ích cũng như nghĩa

vụ đối với các bên Cũng xuất phát từ thực tế và trong nhiều trường hợp, hoạt động tố tụng sẽ tốt hơn rất nhiều khi chính quyền có sự quản lý và liên kết chặt chẽ Qua đó, cho thấy, giữa chính quyền trung ương, đứng đầu là nhà vua, chưa thể kiểm soát hết các địa phương cho đến cấp xã, và do vậy, một thực tế là làng xã và người dân là vùng đất màu

mỡ béo bở cho quan lại các cấp địa phương quản lý mà chính quyền trung ương ít can thiệp

Quyền tư pháp chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đưa các văn bản pháp luật tố tụng vào đời sống xã hội Phòng chống và ngăn ngừa các hành vi vi phạm có thể xảy ra, xóa đi sự ngăn cách, không am hiểu pháp luật giữa các chủ thể mà pháp luật điều chỉnh Giá trị của các Bộ luật của nhà nước phong kiến được kiểm định và khẳng định bởi QTKTĐL ngắn gọn, rõ ràng và được xây dựng trên cơ sở tôn trọng luật tục truyền thống, qua thời gian đến ngày nay tồn tại dưới hình thức tập quán trong xã hội

Cả ba giá trị lý luận pháp lý về lập pháp, hành pháp, tư pháp được đặt ra khi xây dựng pháp luật tố tụng Hoạt động tố tụng xét xử với đầy đủ hệ thống Nha môn, công đường, ngục hình và các quan lại có trình độ học vấn là công cụ mang lại quyền lực sức

Trang 7

mạnh chuyên chế cho nhà nước phong kiến, khẳng định giá trị pháp lý, tính chính danh,

sự vững chắc của cả thể chế nhà nước quân chủ tập quyền

2 Giá trị đương đại về thực tiễn của việc xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng trong hoạt động xét xử của nhà nước phong kiến Việt Nam

Thứ nhât, Xây dựng mô hình tổ chức xét xử và kiểm soát tố tụng thống nhất

Qua nghiên cứu các Bộ luật QTHL, QTKTĐL, HVLL, cho thấy, pháp luật phong kiến thời kỳ này đã xây dựng được mô hình và quy trình thủ tục tiến hành tố tụng để áp dụng vào thực tiễn xét xử Quy trình từ khi nhận đơn khiếu kiện hoặc tố cáo, thụ lý hồ sơ, cho đến điều tra, thẩm vấn, xét xử công khai tại công đường, ra phán quyết và thi hành bản án là một quá trình được các nhà lập pháp nghiên cứu thiết kế rất kỹ Giá trị pháp lý của việc xây dựng mô hình, cách thức tiến hành tố tụng cho đến sau này, pháp luật vẫn còn áp dụng và thực hiện

Mô hình tố tụng thẩm vấn trong QTKTĐL khi xét xử, quan án chủ yếu áp dụng

phương thức thẩm vấn tại công đường, thực hiện trực tiếp với người bị tố cáo, nhân chứng, những người có liên quan khi được gọi đến Thẩm vấn xét hỏi còn được thực hiện khi khảo cung đối với những tội phạm hình sự nhưng chưa có đủ bằng chứng, lời khai được ghi nhận trong bản cung khai để có thể quy kết có tội hay không có tội Quan án căn cứ vào nhân chứng, vật chứng, thông qua nội dung đơn tố cáo để tra xét, thụ lý, khảo cung và đưa ra kết luận trong bản cáo trạng Mô hình xét xử thời kỳ này mang tính chất

áp đặt trong quy trình và thủ tục tiến hành tố tụng

Hoạt động thanh tra kiểm soát án từ và việc chấp hành pháp luật được quy định

và thực hiện tương đối khoa học chặt chẽ Hệ thống cơ quan tố tụng xét xử cũng đồng thời thực hiện việc tra soát theo mô hình cấp trên kiểm soát cấp dưới, từ cấp địa phương cho tới cấp trung ương, vua chúa nắm quyền giám sát tối thượng trong hoạt động tố tụng Pháp luật PKVN đã nắm bắt quy luật quản lý và kiểm soát một cách khá hiệu quả Vận

dụng nguyên tắc: dùng quyền lực để hạn chế quyền lực, giám sát ba bên, ba cấp, ba tầng;

giám sát trong, ngoài và giám sát độc lập Thành công của lập pháp trong tố tụng theo mô hình thẩm vấn là tính chặt chẽ, thống nhất, liên thông, đồng bộ, phòng ngừa và hạn chế

Trang 8

được vi phạm của quan chức, lại viên khi thi hành công vụ Trong mô hình này, hoạt động tranh tụng khá hạn chế, quyền luận bàn, hội thẩm, kết luận đều thuộc quyền của Nha môn Trong mô hình này, chưa xuất hiện cơ quan công tố độc lập, chưa có tổ chức luật sư bào chữa bênh vực, bảo vệ cho bên bị và các bên có liên quan trong vụ kiện tụng

Mô hình này, vừa có ưu điểm, vừa có nhược điểm

Ưu điểm là: sự phối hợp của cơ quan công quyền, nhanh chóng, đồng bộ, huy

động được cả bộ máy chính quyền để xử lý vụ việc; Các quan lại được tuyển bổ đào tạo

và có kinh nghiệm, chuyên nghiệp, tinh thông; Quá trình từ nhận đơn thụ lý thẩm vấn xét hỏi, xét xử, thi hành án, nhanh chóng, theo định kỳ, thời hạn, thời hiệu nghiêm ngặt chặt chẽ

Hạn chế là: tính độc lập, độc quyền, xử quyết của quan lại nha môn, dễ đẩy bên

nguyên, bên bị, các bên có liên quan vào thế bị động, dễ dẫn đến sự ép cung, lừa cung, dối cung, nhục hình cung, oan sai, độc đoán; Bên nguyên bên bị lo lắng, phụ thuộc vào tòa và phán quan, không có chỗ dựa điểm tựa cả về pháp lý và tâm lý, đẩy họ vào thế yếu trước quan tòa và công quyền Mặc dù theo luật, bên bị có thể kêu oan, không thừa nhận tội trạng, có thể khiếu nại bản án, phúc thẩm và giám đốc 2 tầng, án ngờ quan không được kết tội, nhưng thực tế, mô hình thẩm vấn vẫn trao quyền quyết định, kết án cho ý chí độc quyền của quan tòa Các bên không thể tự bảo vệ mình, không được quyền im lặng hoặc từ chối nhận tội, không được quyền tự tìm cách thoát tội bảo vệ chính bản thân mình

Thiết nghĩ, theo luật tự nhiên, con người cần tự bảo vệ chính mình, được quyền tự

vệ, bảo hộ cho mình và người thân, đó là luật tự nhiên, luật của thiên tạo, luật của sự sống muôn đời Luật của con người và luật của lý trí nhà nước cần phải tôn trọng, thừa nhận và bảo đảm quy luật chính đáng của con người Điều này có thể khắc phục khi kết hợp với mô hình tranh tụng, nhằm đảm bảo quyền của bên nguyên, bên bị, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, cho dù họ đang trong tình trạng yếu thế, có thể bị kết tội và bị tước đoạt quyền do ở diện nghi vấn phạm tội Trong lịch sử và hiện tại, mô hình thẩm vấn kết hợp tranh tụng có rất nhiều ưu thế

Trang 9

Thứ hai, Hoạt động tố tụng và quản lý hành chính tư pháp theo địa lý vùng miền, kết hợp hài hòa với luật tục, hương ước, lệ làng

Cơ cấu cơ quan hành chính cũng chính là cơ quan tố tụng, được hình thành theo phân chia địa lý vùng miền Đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội từng vùng miền có điểm giống và khác nhau, cho nên, để đảm bảo pháp luật thực sự là công cụ quản lý hữu hiệu, thì việc thực hiện phân hóa và quản lý hành chính tư pháp theo địa lý vùng miền là phù hợp, phát huy tối đa những giá trị pháp lý thực tiễn trong hoạt động tố tụng theo vùng miền và tộc người

Luật tục, hương ước, lệ làng xuất phát từ phong tục, tập quán và lối sống của cộng đồng làng xã, qua thời gian, trở thành các quy tắc bất thành văn hoặc thành văn được quy định và áp dụng riêng cho các cộng đồng làng xã Việt Nam Những quy tắc dân gian tồn tại một cách khách quan và luôn được lưu giữ, trân trọng, được các chủ thể trong cộng đồng thực hiện một cách tự nguyện Thời Lê Thánh Tông đã ban điều luật cho phép các làng xã có thể được lập hương ước riêng1 Các nhà lập pháp thời kỳ này khi soạn thảo các

Bộ luật đều tôn trọng luật tục, hương ước, lệ làng và chấp nhận sự tồn tại song song cùng pháp luật nhà nước nhưng không cho phép có xung đột với lợi ích chung

Mặt tiến bộ của luật tập quán giúp hồi sinh các giá trị văn hóa truyền thống trong luật tục, hương ước, lệ làng, loại bỏ các mặt tiêu cực phát huy các mặt tích cực, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và sự phát triển Sự kết hợp quản lý hành chính tố tụng theo vùng miền và luật tục, hương ước, lệ làng tạo nên tính chất đa dạng của cộng đồng làng

xã Việt Nam Đồng thời giúp cho luật nước đến với lệ làng, lệ làng hài hòa phù hợp với Luật nước Điều này được thể hiện cả trong QTHL, HVLL và các bộ luật, Hội điển

PKVN thế kỷ XV – XIX mà ngày nay cần nghiên cứu học tập

Thứ ba, Phân loại vụ việc trong tố tụng chuyên ngành và giá trị kiến tạo mới

1 Xem thêm Hồng Đức thiện chính thư, 1464, Điều 260, “nếu làng xã nào có những tục lệ khác lạ thì được phép lập Khoán ước nhưng phải nhờ viên chức nho gia là người đứng tuổi, có đức hạnh ngay thẳng giúp cho việc soạn thảo

và phải trình lên quan chức các nha môn xem xét rõ các điều khoản để phê chuẩn hay bác bỏ Nếu ai vi phạm các

quy định của nhà nước thì cho phép xã quan tố cáo lên nha môn để trị tội”

Trang 10

Thông qua cách phân loại các vụ kiện tiêu biểu ở trên cho thấy tư duy pháp lý mạch lạc, gần gũi dễ hiểu với dân, chứa đựng nguyên lý pháp luật, tôn giáo, tập quán, luật tục, hòa giải, phạt vạ, tất cả đều được áp dụng từ cơ sở, có sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan Hành chính - Kinh tế - Quân sự - Tư pháp Nếu như luật tố tụng trong QTHL mang tính nguyên lý, chủ yếu định vị trách nhiệm của quan lại khi tiến hành tố tụng; luật

tố tụng đời Hồng Đức có giá trị thực tiễn, tăng cường xử lý về phương diện dân sự, luật

đến với dân, thì luật tố tụng thời Lê - Trịnh mang tính chuyên ngành chuyên sâu trong

từng loại việc kiện, với một trình độ lập pháp cao cả về nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục,

quy trình, các dự liệu tình huống, cách xử lý và thực tiễn xét xử cũng như thi hành bản

án Theo đó, sự phân biệt tố tụng hình, tố tụng dân, tố tụng hành chính, quan chế và quân

sự chỉ có ý nghĩa tương đối Những vụ án lớn về chính trị, tầm ảnh hưởng sâu rộng đến dân chúng và quan chức đều phải do triều đình quyết án Án liên quan đến Hoàng tộc, Đại công thần đều xử theo trình tự tố tụng đặc biệt Án về gia đình, hôn nhân, điền sản, vay nợ, bức hiếp, cờ bạc, nhân mạng, đấu ẩu đều có quy trình tố tụng chuyên sâu và

những quy định như vậy là phù hợp, tiến bộ và hiệu quả Tác giả Vũ Quốc Thông, trong cuốn “Pháp chế sử Việt Nam” đã có đề cập đến tổ chức tư pháp trong lịch sử dưới góc độ

tổ chức bộ máy hành chính nhà nước Ông phác họa hệ thống Pháp đình về “Tổ chức các

thẩm cấp” và “Thể thức tố tụng” với điểm mốc năm 1649 Thể chế lưỡng đầu chế Lê

-Trịnh đã phá vỡ nguyên lý “quân quyền - chính danh”, thay vào đó là thẩm quyền thực

tiễn của Chánh đường phủ chúa Công thức là “Hoàng gia giữ uy phúc, vương phủ nắm

quyền bính” Quyền lực của ông vua và triều đình dần bị vô hiệu hóa, có danh mà không

có thực quyền - “hữu danh vô thực” Theo đó, tác giả Vũ Quốc Thông có trình bày một

số nội dung về cách thức xét xử các vụ kiện về Tạp tụng, Nhân mạng, Trộm cướp, Hộ hôn, Ruộng đất, nhưng rất sơ lược và chỉ dừng lại ở thế kỷ XVIII Đây là một trong những nội dung quan trọng, có giá trị để phân loại tố tụng theo tính chuyên ngành, chuyên sâu, chuyên nghiệp hóa và dễ ứng dụng trong thực tiễn song hầu hết các công trình nghiên cứu sau này đều bỏ qua Rộng và xa hơn, tác giả Vũ Văn Mẫu còn đưa ra nhận định rằng: nếu như trong luật nội dung có thể còn nhiều xung đột, tranh chấp thì sự

thống nhất trong luật hình thức và luật thủ tục chuyên sâu theo loại vụ việc sẽ tạo nên sự

Ngày đăng: 26/04/2019, 09:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w