Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích NAA đến sự hình thành hom cây Trà hoa vàng (Camellia chrysantha) tại trường Đại học Nông Lâm Thái NguyênNghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích NAA đến sự hình thành hom cây Trà hoa vàng (Camellia chrysantha) tại trường Đại học Nông Lâm Thái NguyênNghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích NAA đến sự hình thành hom cây Trà hoa vàng (Camellia chrysantha) tại trường Đại học Nông Lâm Thái NguyênNghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích NAA đến sự hình thành hom cây Trà hoa vàng (Camellia chrysantha) tại trường Đại học Nông Lâm Thái NguyênNghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích NAA đến sự hình thành hom cây Trà hoa vàng (Camellia chrysantha) tại trường Đại học Nông Lâm Thái NguyênNghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích NAA đến sự hình thành hom cây Trà hoa vàng (Camellia chrysantha) tại trường Đại học Nông Lâm Thái NguyênNghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích NAA đến sự hình thành hom cây Trà hoa vàng (Camellia chrysantha) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Trang 1NGUYỄN VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ CHẤT KÍCH THÍCH
RA RỄ NAA ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH HOM CÂY TRÀ HOA VÀNG
( Camellia chrysantha) TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2014 – 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2NGUYỄN VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ CHẤT KÍCH THÍCH
RA RỄ NAA ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH HOM CÂY TRÀ HOA VÀNG
( Camellia chrysantha) TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Khoa : Lâm nghiệp Khoá học : 2014 – 2018 Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Thu Hoàn
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu
và kết quả trong khóa luận tốt nghiệp này là hoàn toàn trung thực, chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Xác nhận của GVHD Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học
Nguyễn Văn Tuấn
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích NAA đến sự hình thành hom cây Trà hoa vàng (Camellia chrysantha) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên’’, tôi đã
nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
TS Nguyễn Thị Thu Hoàn người hướng dẫn đề tài tốt nghiệp đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu nhà trường, cùng các thầy cô giáo Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Văn Tuấn
Trang 5nghiệm 31 Bảng 4.4: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố đối với chỉ số ra rễ của hom 33 Bảng 4.5 Tỷ lệ ra chồi của hom giâm Trà hoa vàng 34 Bảng 4.6: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố đối với chỉ số ra chồi của hom
35 Bảng 4.7 Kết quả về sinh trưởng và tiêu chuẩn xuất vườn 36
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cây trà hoa vàng tự nhiên 15 Hình 2.2 Cây trà hoa vàng tái sinh tự nhiên 17
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3
2.2 Tổng quan về loài cây Trà hoa vàng 14
2.3 Tình hình nghiên cứu cây Trà hoa vàng trên thế giới và Việt Nam 17
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 23
2.4.1 Đặc điểm - vị trí địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu 23
2.4.2 Một số chỉ tiêu về nhiệt độ, độ ẩm của môi trường không khí trong thời gian thí nghiệm 23
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Nội dung nghiên cứu 24
3.3 Phương pháp nghiên cứu 24
Trang 93.3.1 Chỉ tiêu theo dõi 24
3.3.2 Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin 24
3.3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 27
3.3.4 Phương pháp kế thừa và chọn lọc 27
3.3.5 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 27
3.3.6 Phương pháp xử lí số liệu 28
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến tỉ lệ sống của hom cây Trà hoa vàng 29
4.2 Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ thuốc NAA đến khả năng ra rễ của cây hom Trà hoa vàng 31
4.3 Khả năng ra chồi của cây hom Trà hoa vàng của các công thức đợt cuối thí nghiệm 34
4.4 Đánh giá sinh trưởng và tiêu chuẩn xuất vườn Trà hoa vàng 36
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40 PHỤ LỤC
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trà hoa vàng (Camellia chrysantha) thuộc chi Camellia là một chi lớn
thuộc họ Chè Theaceae Các loài trong chi Camellia có nhiều tác dụng như
làm gỗ, làm đồ gia dụng bền chắc, lá hoa làm đồ uống, làm dược liệu và làm cây cảnh Ngoài ra, có thể trồng dưới tán cây khác trong các đai rừng phòng
hộ chống xói mòn, nuôi dưỡng nguồn nước Trà hoa vàng là một loại đồ uống
bổ dưỡng cao cấp có tác dụng phòng và chữa bệnh tốt, các ứng dụng khác sử dụng các chất dinh dưỡng trong lá, hoa còn có tác dụng hạ huyết áp, tim mạch, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bướu, tăng cường
hệ miễn dịch nhưng chưa được khai thác, do rất hạn chế về nguồn giống Ngoài ra đây còn là một loài cây cảnh quan được ưa chuộng do màu vàng của trà hoa vàng rất đặc trưng, khó có thể tạo ra được bằng phương pháp lai hữu tính Trà hoa vàng còn có giá trị sử dụng để lấy gỗ, có thể làm cây trồng tầng dưới ở các đai rừng phòng hộ Ngày nay các nhà thực vật thế giới xem các loài trà hoa vàng là nguồn gen quý hiếm cần được bảo vệ nghiêm ngặt
Trước đây cây Trà hoa vàng còn được dùng làm cảnh vì sắc màu vàng đượm, lung linh của trà hoa vàng khiến người chơi cảnh bị mê hoặc trà hoa vàng không những chỉ để chơi cảnh mà còn dùng làm trà uống hàng ngày rất ngon và bổ dưỡng
Ngay nay dưới nên khoa học hiện đại Trà hoa vàng (Camellia chrysantha) trở nên quý giá hơn bao giờ hết bợi công dụng và những lợi ích của trà hoa vàng mang lại những hợp chất trong trà hoa vàng nhiều và quý người ta tìm thấy trà chứa hơn 400 hoạt chất và trong đó quý giá là các saponin Tea polyphenon và các nguyên tố như Selenium (Se), Germannium
Trang 11(Ge), Kalium (K) Kẽm (Zn), Molypden (Mo), Vanadium (V), Mangan (Mn)
Để thử nghiệm ảnh hưởng của chất kích thích tới tỷ lệ sống và khả năng
ra rễ của hom giâm, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ NAA đến sự hình thành cây hom Trà hoa vàng ( Camellia chrysantha) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được nồng độ thuốc kích thích ra rễ thích hợp nhất cho nhân giống bằng phương pháp giâm hom trong sản xuất giống cây Trà hoa vàng
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Là tài liệu trong học tập, là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan
- Giúp cho sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn
- Nắm được phương pháp nghiên cứu
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Có được kỹ năng nhân giống cây bằng phương pháp giâm hom
- Áp dụng kết quả nghiên cứu trong nhân giống cây Trà hoa vàng bằng hom
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
*Cơ sở khoa học của nhân giống vô tính
Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống để cung cấp hạt hoặc hom cành cho trồng rừng trên quy mô lớn và cho các bước cải thiện giống theo các phương thức sinh sản thích hợp
Nhân giống bằng hom là một trong những phương pháp nhân giống sinh dưỡng Đó là việc dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành, hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là cây hom, cây hom có đặc tính di truyền như của cây mẹ
Nhân giống vô tính là từ một phần của các cơ quan dinh dưỡng (như rễ, thấy, lá dùng phương pháp nuôi nhân tạo để mọc ra cây - mới, còn gọi là nhân giông sinh dưỡng Đặc điểm chủ yếu của nhân giống vô tính là chúng có thể giữ được đặc tính của bố mẹ, có thể ra hoa sớm, nhưng sự phát triển bộ rễ cây
có thể kém hơn, tính thích ứng và sức sống không mạnh và không thể trồng hàng loạt như cây gieo hạt Phương pháp thường được trồng nhân giống vô tính có tách cây, chiết cành, giâm cành tiếp ghép Lê Đình Khả (2002) [8]
* Ưu điểm của giâm hom
- Hệ số nhân cao: Từ một cây mẹ, giống tốt có thể lấy được nhiều cành hom để tạo ra nhiều cây con Trong khi chiết không cho phép lấy nhiều cành trên một cây
- Giữ nguyên đặc tính cây mẹ, chất lượng và tính chống chịu ổn định: Trong giâm hom đặc tính di truyền, phẩm chất và tính trạng trội của cây mẹ được giữ nguyên Có khả năng khống chế số lượng đực hoá
- Năng suất, sản lượng cao: Cây giâm hom hầu hết đều ra quả nhanh
Trang 13hơn cây trồng bằng hạt, vì nó hoàn thành diện tích tán lá cần thiết để ra hoa sớm hơn
* Nhược điểm của giâm hom
Giâm hom đòi hỏi kỹ thuật công phu, giá thành cao hơn nhân giống bằng hạt (chi phí cao gấp 6 - 8 lần so với trồng bằng hạt) Hạn chế tuổi của cây mẹ lấy hom
*Cơ sở phát sinh phát triển cá thể
Bất kỳ một loài sinh vật nào trong quá trình sinh trưởng và phát triển đều chịu sự điều hoà của bộ gen và bộ gen do môi trường xung quanh điều chỉnh Trong bộ gen sẽ có những gen hoạt động theo điều kiện nhất định và được điều khiển nhịp nhàng theo môi trường với sự phát triển cá thể đặc trưng cho từng loài cụ thể
Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây được thể hiện qua các giai đoạn: non trẻ, chuyển tiếp, thành thục Khả năng ra chồi rễ ở các bộ phận cũng khác nhau, ở các bộ phận thuộc giai đoạn non trẻ khả năng ra rễ lớn hơn
ở giai đoạn trưởng thành Do vậy việc xử lí trẻ hoá là một biện pháp quan trọng trong nhân giống bằng hom ở những loài cây khó ra rễ Dương Đức Trình (2001) [13]
Có 2 loại rễ: Rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh
- Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng chỉ phát triển khi bộ phận của thân được tách ra khỏi cây mẹ
- Rễ mới sinh: Là loại rễ sinh ra sau khi cắt và giâm hom Khi đó các tế
Trang 14bào chỗ bị cắt, bị tổn thương, và các tế bào dẫn truyền đã chết của mô gỗ được
mở ra là giai đoạn các chu trình trao đổi chất và vận chuyển các chất trong thân cây, dẫn đến dòng nhựa luyện được dẫn từ lá xuống đây bị dồn lại khiến cho các tế bào phân chia hình thành mô sẹo, đây là cơ sở hình thành rễ bất định [8]
Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm 3 giai đoạn:
- Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành lên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt
- Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia và hình thành lớp mô mềm gọi là mô sẹo
- Các tế bào vùng thượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu hình thành rễ
*Ảnh hưởng của môi trường sống đến quá trình giâm hom
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom
- Nhân tố ngoại sinh: gồm đặc điểm của di truyền của từng xuất xứ, từng
cá thể cây, tuổi cành, pha phát triển của cành và các chất điều hòa sinh trưởng
- Nhân tố nội sinh: các loại hóa chất kích thích ra rễ và các nhân tố
ngoại cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,…)
* Nhân tố ngoại sinh
Các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng đến ra rễ của hom giâm: Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành, nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giâm hom: Mùa vụ, điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, giá thể giâm hom
Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành: Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, đặc biệt là của cây non
Điều kiện ánh sáng cho cây mẹ lấy cành ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm
Trang 15- Thời vụ giâm hom:
Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom giâm Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời
vụ lấy cành và thời vụ giâm hom Một số loài có thể giâm hom quanh năm song cũng có những cây có mùa vụ rõ rệt Theo Frison (1967) và Nesterow (1967) thì mùa mưa là mùa giâm hom có tỷ lệ ra rễ nhiều nhất ở nhiều loài cây, trong khi đó có một số loài khác thì lại có tỷ lệ ra rễ cao hơn ở mùa xuân Hom được lấy trong các thời kỳ cây mẹ hoạt động sinh trưởng mạnh có tỉ lệ
ra rễ cao hơn các thời kỳ khác (Lê Đình Khả, 2001) [8]
Thời vụ giâm hom đạt kết quả cao hay thấp thường gắn với điều kiện thời tiết, khí hậu trong năm, thường sinh trưởng mạnh vào mùa xuân - hè, sinh trưởng chậm vào thời kỳ cuối thu và mùa đông Vì vậy thời gian giâm hom tốt nhất vào mùa xuân, hè và đầu thu Thời vụ giâm hom có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của nhân giống bằng hom cành
Đối với loài cây nghiên cứu là cây gỗ cứng và rụng lá thì nên lấy cành lúc cây bắt đầu vào thời ngủ nghỉ, còn đối với loài cây gỗ mềm nửa cứng không rụng lá thì nên lấy hom vào mùa sinh trưởng để có kết quả giâm hom tốt nhất và cho hiệu quả cao nhất
- Ánh sáng:
Ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sống của cây vì đó là nhân tố cần thiết cho quá trình quang hợp và trong quá trình ra rễ của hom giâm và nhất là ánh sáng tán xạ Ánh sáng có ảnh hưởng đến quá trình quang hợp tạo nên các chất đồng hóa tham gia vào vận chuyển trong mạch libe và ánh sáng có tác dụng kích thích dòng vận chuyển các chất hữu cơ ra khỏi lá, ở ngoài sáng tốc độ vận chuyển các chất đồng hóa trong libe nhanh hơn trong tối Nhưng trong hom giâm không có lá thì quá trình quang hợp không diễn ra do
đó không thể có hoạt động ra rễ, trừ một số loại cây đặc biệt có thể ra rễ trong
Trang 16bóng tối Hầu hết các loài cây không thể ra rễ trong điều kiện tối hoàn toàn Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tự nhiên mạnh và nhiệt độ cao làm cho quá trình ra rễ giảm Vì vậy trong quá trình giâm hom phải che bóng thích hợp cho từng loài cây khác nhau với độ tàn che khác nhau Trên thực tế ảnh hưởng của ánh sáng đến sự ra rễ của hom giâm thường mang tính chất tổng hợp: Ánh sáng
- nhiệt - ẩm mà không phải là từng nhân tố riêng lẻ
Ngoài ra tùy từng loại cây mà mức độ yêu cầu ánh sáng là khác nhau Mức độ này còn phụ thuộc vào chất dinh dưỡng có trong hom
- Nhiệt độ:
Nhiệt độ ảnh hưởng tới quá trình quang hợp, hô hấp và quá trình vận chuyển chất Vì thế nhiệt độ không khí là một yếu tố quyết định đến tốc độ phát triển và hình thành nên rễ của hom Các loài cây nhiệt đới thường có yêu cầu cao hơn các loài cây ôn đới Đối với cây nhiệt đới:
Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp: Nhiệt độ tối thấp từ 5 7°C cây bắt đầu quang hợp, nhiệt độ tối ưu mà cây đạt hiệu quả quang hợp tốt nhất là 25 - 30°C và nếu duy trì nhiệt độ tối cao lâu thì cây sẽ bị chết
Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hô hấp: Nhiệt độ tối thấp từ 10 0°C cây bắt đầu hô hấp, nhiệt độ tối ưu là 35 - 40°C và nhiệt độ tối cao 45 - 55°C cây sẽ bị phá hủy
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, vận chuyển các chất trong cây: Nhiệt độ thấp làm tăng độ nhớt của các sợi protein, cản trở tốc độ dòng vận chuyển chất và làm giảm hô hấp của mô libe đặc biệt của tế bào kèm làm thiếu năng lượng cung cấp cho sự vận chuyển; nhiệt độ quá cao làm cho quá trình thoát hơi nước ở lá diễn ra mạnh dẫn đến mất nước gây ra héo; nhiệt độ tối ưu 25 - 30°C
Vì vậy nhiệt độ là nhân tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm Ở nhiệt độ quá thấp hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không ra rễ, ở nhiệt độ quá
Trang 17cao tăng cường hô hấp và hom bị hỏng từ đó làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom giâm Nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp cho ra rễ là từ 28 - 33°C và nhiệt độ giá thể thích hợp là 25 - 30°C Nhiệt độ trên 35°C làm tăng
tỷ lệ héo của cành giâm hom Nhiệt độ không khí trong nhà trong nhà giâm hom nên cao hơn nhiệt độ giá thể là 2 - 3°C
Cũng như nhân tố ánh sáng, để có khả năng ra rễ cao cần có đầy đủ các điều kiện thích hợp như sau:
- Độ ẩm:
Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố hết sức quan trọng trong giâm hom Các hoạt động quang hợp, hô hấp, phân chia tế bào và chuyển hóa các chất cần đến nước Thiếu nước thì hom bị héo, thừa nước thì hoạt động của men thủy phân tăng lên, quá tŕnh quang hợp bị ngừng trệ Khi giâm hom mỗi loài cây đều cần một độ ẩm thích hợp, làm mất độ ẩm của hom khoảng 15 – 20% thì cây hoàn toàn mất khả năng ra rễ Đối với nhiều loài cây, độ ẩm thích hợp cho giâm hom là 50 – 70% Nếu tăng lên 100% thì hầu hết các hom giâm giảm khả năng ra rễ
Yêu cầu độ ẩm của hom giâm thay đổi theo loài, theo mức độ hóa gỗ của hom Phun sương là yêu cầu bắt buộc khi tiến hành giâm hom, giúp làm tăng độ ẩm, giảm nhiệt độ không khí và giảm sự thoát hơi nước ở lá Vào từng thời điểm mà mức độ phun khác nhau: Trong mùa nóng thời gian phun sương và thời gian ngắt quãng có thể ngắn hơn trong mùa lạnh
Để duy trì độ ẩm của giá thể thích hợp cho hom ra rễ cần lựa chon vật liệu làm giá thể có khả năng thông thoáng tốt, thoát nước song phải giữ được
độ ẩm thích hợp
- Giá thể và môi trường giâm hom
Giá thể cũng góp phần quan trọng vào thành công của giâm hom, giá thể không phải là nơi cung cấp chất dinh dưỡng mà phần dinh dưỡng đó từ
Trang 18ngay trong chính bản thân cành được giâm hom vì thế nó chỉ cần đáp ứng yêu cầu về nhiệt đô, độ ẩm, ánh sáng thích hợp rất nhiều giá thể được sử dụng trong giâm hom hiện nay tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, điều kiện, thời
vụ, khí hậu và loài cây mà thành phần giá thể có thể là khác nhau Các giá thể thường được dùng hiện nay là cát tinh, mùn cưa, xơ dừa, bầu đất hay đất vườn Khi giâm hom chỉ tạo ra rễ sau đó mới cho cây vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, cát tinh, xơ dừa băm nhỏ hoặc đất vườn ươm trộn lẫn với nhau
Một giá thể giâm hom tốt là một giá thể có độ thoáng khí tốt và duy trì
độ ẩm trong một thời gian dài mà không ứ nước, không bị nhiễm nấm bệnh
Giá thể cắm hom là nơi cắm hom sau khi đã xử lí chất kích thích ra rễ Giá thể được dùng làm thí nghiệm này là đất trong vườn ươm Một giá thể cắm hom tốt là thoát khí tốt và duy trì được độ ẩm trong thời gian dài mà không ứ nước, tọa điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời làm sạch không bị nhiễm nấm, không có nguồn sâu bệnh, độ pH thích hợp
* Nhân tố nội sinh:
- Đặc điểm di truyền của loài
Các nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các loài đều có khả năng ra
rễ như nhau Nanda (1970) đã dựa theo khả năng ra rễ để chia các loài cây thành 3 nhóm chính:
+ Nhóm dễ ra rễ gồm 29 loài Các loài này không cần sử lý bằng chất kích
thích ra rễ mà vẫn ra rễ với tỉ lệ rất cao, gồm các loài thuộc các chi Ficus sp
+ Nhóm khó ra rễ gồm 26 loài Loại này hầu như không ra rễ hoặc là phải sử dụng chất kích thích ra rễ nhưng tỉ lệ ra rễ rất thấp thuộc các chi
Manlus sp, Prunus sp,… thuộc họ Rosaceae và một số chi khác
+ Nhóm có khả năng ra rễ trung bình gồm 65 loài trong đó có các chi
Eucalupus sp, Quercus sp…
Trang 19Tuy vậy sự phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối Vì thế theo khả năng giâm hom có thể chia thành 2 nhóm:
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom cành là nhiều loài cây thuộc họ Dâu tằm (Moraceae): dâu tằm, đa, sung Một số loài thuộc họ Liễu, một số loài nông nghiệp như sắn, mía, khoai lang…Đối với loài cây này thì khi giâm hom không cần xử lý bằng thuốc chúng vẫn ra rễ bình thường
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt thì khả năng ra rễ của hom bị hạn chế bởi các mức độ khác nhau Những loài có khả năng ra rễ cao như Sở đến 35 tuổi
vẫn có khả năng ra rễ 70-90%
- Đặc điểm di truyền và xuất xứ, từng cá thể
Do đặc điểm biến dị mà các xuất xứ và cá thể khác nhau cũng có khả năng ra rễ khác nhau Ngay cả những loài cây có cùng xuất xứ, cùng dòng,
nhưng các cá thể khác nhau cũng cho tỉ lệ ra rễ khác nhau
Tuổi cành cũng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ Thông thường thì cành nửa hóa gỗ có tỷ lệ ra rễ lớn nhất, cành hóa gỗ thường cho tỷ lệ kém hơn
Như vậy cành non và cành nửa hóa gỗ cho tỷ lệ ra rễ cao nhất
- Tuổi cây mẹ lấy cành hom và thời gian lấy hom: Khả năng ra rễ do tính di truyền quy định mà còn phụ thuộc vào tuổi cây mẹ lấy cành Hom lấy
từ cây chưa sinh sản bằng hạt dễ nhân giống bằng hom hơn cây đã sinh sản
Trang 20bằng hạt Hom lấy từ cây tuổi còn non dễ ra rễ hơn cây tuổi già Cây còn non không những ra rễ tốt hơn mà còn ra rễ nhanh hơn
Sự tồn tại của lá trên hom: Lá là cơ quan hấp thụ ánh sáng trong quang phổ tạo ra chất cần thiết cho cây Vì thế khi chuẩn bị hom giâm phải có 1 - 2
lá và phải cắt bớt một phần phiến lá chỉ để lại 1/3 - 1/2 diện tích lá là tốt nhất
- Kích thước hom:
Đường kính và chiều dài hom ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ của hom giâm Tùy từng loài cây kích thước hom có thể khác nhau
- Các chất điều hòa sinh trưởng:
Các chất điều hòa sinh trưởng chia theo hoạt tính sinh lý gồm hai nhóm tác dụng là nhóm kích thích sinh trưởng và nhóm kìm hãm sinh trưởng Một
số chất kích thích sinh trưởng như Auxin, Giberellin và Xytokinin Trong các chất điều hòa sinh trưởng thì Auxin được coi là chất quan trọng nhất trong quá trình ra rễ của cây hom Song nhiều chất tác động cùng Auxin cũng tồn tại một các tự nhiên trong các mô của hom giâm và tác động đến quá trình ra
rễ của chúng, trong đó quan trọng nhất là: Rhizocalin, đồng nhân tố ra rễ và các chất kích thích, kìm hãm ra rễ
Rhizocalin bản chất là axit được coi là chất đặc biệt cần thiết trong quá trình hình thành rễ nhiều loài cây
Một số nhóm chất điều hòa sinh trưởng: Nhóm Auxin gồm NAA (a Naphthalene acetic acid), IBA (Indol-3acetic acid), IBA (Indol butyric acid), IPA (Indol-3yl-Acetonitrile) và một số chất khác; nhóm Cytokinin gồm Zeatin, Kinetin; nhóm Giberellin gồm: GA3 (Giberellic acid), GA8 (Giberellin - Lije Substances) và nhiều chất giống Giberellin khác; nhóm chất có khả năng kìm hãm sinh trưởng hoặc thúc đẩy quá trình già hóa như ABA (Abscisic scid), Ethophone (2-chloroethyl), Phosphonic acid, các phenol, retedant…
Trang 21* Các nhân tố kích thích:
- Loại thuốc: Các chất kích thích điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc
biệt quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm Một số loại chất kích thích sinh trưởng như: Auxin, Giberellin, Cytokinin…
Auxin: Có hai loại Auxin là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp Auxin tự nhiên là IBA (acid ß - indol axetic) và Auxin tổng hợp là các chất có bản chất hóa học khác nhau nhưng có hoạt tính sinh lý tương tự như IBA (acid ß - indol axetic) Các Auxin tổng hợp như: ɑ-NAA (acid ɑ - Naphtylaxetic), 2,4D (acid 2.4 Dichlorophenoxyaxetic), 2.4.5T (Acid 2,4,5 Trichlorophenoxyaxetic), IBA (acid ß-indolbutyric), 2M4C (Acid 2metyl-4 Chlorophenoxyaxetic)… Trong sự hình thành rễ, đặc biệt là rễ bất định phát sinh từ các cơ quan dinh dưỡng Auxin
là hoocmon hình thành rễ
- Nồng độ: Cùng một loại thuốc nhưng nồng độ khác nhau có ảnh
hưởng khác nhau đến khả năng ra rễ của hom giâm Tùy từng loài cây mà hom của chúng thích ứng với một loại chất cũng như nồng độ thích hợp nhất định Nếu nồng độ chất kích thích thấp sẽ không có tác dụng phân hóa tế bào
để hình thành rễ, nếu nồng độ quá cao sẽ ức chế quá trình hình thành rễ làm cho hom thối không ra nữa Khi lựa chọn nồng độ chất kích thích ra rễ cần chú ý đến nhiệt độ không khí và mức độ hóa gỗ của hom Trong quá trình giâm hom khi điều kiện nhiệt độ quá cao cần phải xử lý với nồng độ thấp hơn
và ngược lại khi nhiệt độ môi trường thấp thì cần xử lý lâu hơn Nếu hom quá non (chưa hóa gỗ) phải xử lý với nồng độ thấp và hom hơi già (hom gần hóa
gỗ hoàn toàn) phải xử lý với nồng độ cao hơn
- Thời gian xử lý thuốc: Cùng một loại thuốc, cùng một nồng độ nhưng
thời gian xử lý khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau Khi thực hiện thí nghiệm cần chú ý là giữa thời gian xử lý, nồng độ, nhiệt độ không khí có mối liên quan nhất
Trang 22định Với thuốc kích thích sử dụng với nồng độ cao thì thời gian xử lý ngắn và thuốc kích thích sử dụng với nồng độ thấp thì thời gian xử lý dài hơn
- Phương pháp xử lý hom
Thông thường hom được xử lý bằng cách ngâm hom trong dung dịch chất kích thích ra rễ Chất kích thích ra rễ là hỗn hợp chất tan thì phần gốc của hom được nhúng vào nước và chấm vào thuốc, sao cho thuốc bấm vào gốc hom
Vì vậy để giâm hom thành công thì cần phải thực hiện đầy đủ và đồng
bộ các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ chăm sóc cây mẹ đến cấy hom giâm, tạo điều kiện thích hợp nhất cho hom giâm
Một số nghiên cứu về việc sử dụng chất kích thích trong quá trình giâm hom
Năm 2012, Nguyễn Chí Anh khi nghiên cứu về nhân giống cây Đan Sâm thu được kết quả sử dụng NAA 700ppm cho ra rễ, chất lượng bộ rễ tốt nhất [1]
Năm 2012 khi nghiên cứu về đặc điểm sinh học và khả năng nhân giống bằng hom loài hải đường vàng, Lê Thành Cương (2012) đã thu được kết quả: Công thức tối ưu cho nhân giống hải đường vàng là sử dụng IBA với nồng độ 2% [3]
Năm 2013, La Quang Độ và cs đã thử nghiệm giâm hom cây Bách vàng cho thấy Bách vàng là loài cây rất dễ ra rễ, ngay cả với cành không có chất kích thích cũng cho tỷ lệ ra rễ đạt 84,67% Các chất kích thích ra rễ là a- Naphthalene acetic acid (a-NAA), indole-3-acetic acid (NAA), Indole-3- butyric acid (IBA) sử dụng ở 3 nồng độ khác nhau (50ppm, 1 OOppm, 200ppm) tác động tới tỷ lệ ra rễ là khác nhau Chất kích thích ra rễ NAA, IBA cho tỷ lệ ra rễ 78 - 100% cao hơn so với đối chứng, chất kích thích NAA có
tỷ lệ ra rễ thấp hơn so với đối chứng Việc nhân rộng giâm hom loài cây Bách vàng bằng 2 loại chất kích thích ra rễ NAA ở nồng độ 200ppm và chất IBA ở nồng độ 200ppm và IBA 50ppm là rất khả quan [5]
Trang 232.2 Tổng quan về loài cây Trà hoa vàng
a) Phân loại khoa học
Giới (regnum): Thực vật (Plantate) Bộ (ordo): Thạch nam (Ericales) Họ (familia): Họ chè (Theaceae) Chi (genus): Trà (Camellia)
Loài (species): Trà hoa vàng (Camellia chrysantha )
b) Đặc tính sinh học
Cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, cao từ 2 - 4 m, cành non màu nâu nhạt, có lông mịn, cành già nhẵn Lá có cuống dài 8 - 15mm, xanh đậm và láng ở mặt trên, xanh sáng ở mặt dưới với nhiều điểm tuyến màu đen, cả hai mặt đều không lông, lá dạng da, dày, gốc lá hình nêm hoặc tròn, chóp lá có mũi nhọn, mép lá có răng cưa nhỏ cách đều nhau, hệ gân lõm ở mặt trên và nổi rõ ở mặt dưới, gân bên 12 -16 cặp Hoa màu vàng, mọc ở đầu cành hoặc nách lá, đường kính khi nở khoảng 6-8 cm Cuống hoa dài 1 - 1,2 cm, mang 5 - 6 lá bắc hình móng hoặc hình vẩy đến gần tròn, cao 4 - 6 mm, rộng 7 - 12 mm, mép và mặt trong có lông Tràng hoa gồm 16 - 17 cánh, gần tròn đến bầu dục, dài 2 - 5,3 cm, rộng 2,3 - 3,5 cm, có lông ở mặt trong và thưa dần ở các cánh bên trong Bộ nhị nhiều, cao 4-4,5 cm, các chỉ nhị vòng ngoài, dính nhau 1,4 - 2,1 cm, chỉ nhị bên trong rời, có lông Bộ nhụy gồm 4 hoặc 5 lá naonx hợp thành bầu 4 - 5 ô, không lông, vòi nhụy 4 hoặc 5, rời, dài 3,2 - 3,5 cm, không lông Quả gần dạng cầu, đường kính 5 - 6 cm, cao 4 - 4,5 cm, 3 - 4 hạt trong mỗi ô, vỏ quả dày 4,5 - 6,5 mm Hạt dài 2,2 cm, có lông
Trang 24Hình 2.1 Cây trà hoa vàng tự nhiên
c) Giá trị tiêu thụ
Ở Việt Nam, trong những năm gần tư thương đã thu Trà hoa vàng với giá khoảng trên 1.500.000/1kg hoa tươi, thậm chí thu mua cả cây tươi với giá 20.000đ/kg, Sau đó sẽ được xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch Ngày nay các nhà thực vật thế giới xem các loài trà hoa vàng là nguồn gen quý hiếm cần được bảo vệ nghiêm ngặt, (Nguyễn Thu Phương, 2011) [11]
d) Vùng phân bố
Trà hoa vàng chỉ mới được phát hiện ở vườn Quốc gia Tam Đảo là loài chỉ được tìm thấy ở độ cao dưới 800 m
e) Yêu cầu sinh thái của cây Trà hoa vàng
- Ánh sáng: Trà hoa vàng là loại cây ưa ánh sáng tán xạ từ 30 - 50 %,
thích hợp với điều kiện phát triển dưới tán rừng, kỵ chiếu sáng mạnh, ánh sáng trực xạ sẽ làm cho chức năng quang hợp của lá bị thay đổi dẫn đến hiện tượng héo sinh lý, nhất là khi độ chiếu sáng mạnh của mùa hè nhiệt độ tăng đột ngột quá trình quang hợp sẽ bị ngừng trệ ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý bình thường thậm chí phá hoại chất diệp lục lá chuyển sang màu nâu, xuất hiện hiện tượng lão hoá, Ngô Quang Đê, và cộng sự (2008) [4]
Trang 25- Nhiệt độ: Trà hoa vàng là loài ưa mát không thích hợp với môi trường
ánh sáng, nhiệt độ cao Nhiệt độ thích hợp là 23,50C Nhưng các giai đoạn sinh trưởng phát triển khác nhau yêu cầu đối với nhiệt độ cũng khác nhau, nhiệt độ cao hay thấp đều có liên quan rất mật thiết đối với sinh trưởng phát triển của Trà hoa vàng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình ra chồi hoa và nụ hoa, là nhân tố quan trọng khống chế sự ra hoa Sinh trưởng mạnh nhất của Trà hoa vàng vẫn yêu cầu khí hậu mát mẻ của Mùa khô và những mùa nhiệt
độ cao sinh trưởng rất chậm, trong thời kỳ ra hoa môi trường nhiệt độ cao hoa khó hình thành [6]
- Nước: Nước đóng vai trò quan trọng trong cơ thể thực vật Nước giữ
vai trò quan trọng trong phân chia tế bào, khi có đầy đủ nước và môi trường thích hợp, tế bào phân chia, phát triển thuận lợi cây sinh trưởng nhanh Khi thiếu nước các quá trình sinh lý, sinh hóa trong cây hoa giảm, các hợp chất hữu
cơ được tạo thành ít, cây còi cọc, phát triển kém Nếu sự thiếu nước kéo dài cây có thể khô héo và chết Nhưng, nếu quá nhiều nước, cây bị úng ngập, sinh trưởng phát triển của cây cũng bị ngừng trệ Quá ẩm ướt, sâu bệnh phát triển mạnh, cây cho năng suất thấp, chất lượng kém Mỗi loại Trà hoa vàng yêu cầu
độ ẩm khác nhau Trà hoa vàng thích hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa yêu cầu độ ẩm khoảng 81% Lượng mưa trung bình năm là 1.526 mm, cây phát triển tốt ít sâu bệnh, ra hoa đẹp, chất lượng hoa cao [6]
- Đất: Đất là một yếu tố môi trường quan trọng cơ bản nhất, là nơi
nâng đỡ cây trồng, cung cấp nước, dinh dưỡng cơ bản và không khí cho sự sống của cây hoa Phần lớn các cây hoa yêu cầu đất tốt, nhiều mùn, tơi xốp, thoát nước, có khả năng giữ ẩm, tầng canh tác dày [6]
Nhìn chung Trà hoa vàng thích nghi và phát triển tốt trên những loại đất Feralit phát triển trên đá mẹ Macmaxit kết tinh chua, đất hơi chua pH = 5,17 - 5,63 Đất trồng Trà hoa vàng phải đảm bảo đủ các yếu tố sau: Đất tơi
Trang 26xốp, đủ ẩm nhưng thoát nước, thông thoáng gió, nhiều mùn, đủ phân bón là phù hợp nhất [6]
Hình 2.2 Cây trà hoa vàng tái sinh tự nhiên
2.3 Tình hình nghiên cứu cây Trà hoa vàng trên thế giới và Việt Nam
* Tình hình nghiên cứu cây Trà hoa vàng trên thế giới
Chi Camellia bắt đầu được nghiên cứu từ đầu thế kỷ 17, tên Camellia
do nhà thực vật học nổi tiếng của Thuỵ Điển tên là Line đặt Trong cuốn
"Genera plantarum" để tưởng nhớ vị cha cố kính yêu là "Camellus Job" và
gần 20 năm sau mới có một số loài được nghiên cứu và mô tả Loài đầu tiên
được nghiên cứu và mô tả là Camellia japonica, sau đó là loài Camellia
sinensis Mặc dù những nghiên cứu về các loài thuộc chi này còn ít và chưa sâu Đồng thời lịch sử nghiên cứu về các loài trong chi Camellia có rất nhiều thay đổi và chi Camellia mới thực sự được các nhà thực vật học chú ý nghiên cứu kỹ từ khoảng cuối thế kỷ 17 nhưng nó đã đánh dấu một bước khởi đầu và
là tiền đề cho các nghiên cứu về chi Camellia sau này, Nguyễn Thu Phương (2011) [11]
Từ những năm đầu của thế kỷ XX (1904 - 1931) nhà sưu tập thực vật học G Forest (người Anh) đã đến Vân Nam - Trung Quốc và thu thập các loài