Ở miền Nam, đô la Mỹ đã được cất trữ và sử dụng rộngrãi, ngược lại, ở miền Bắc ngoại tệ bị cấm theo Nghị định 102/CP ngày 06/7/1963.Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, nền kinh tế Việt
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HIẾU
HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐÔ
LA HÓA TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 2-oo0oo -NGUYỄN THỊ THU HIẾU
HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐÔ
LA HÓA TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 62.34.02.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS NGUYỄN THANH TUYỀN
TP Hồ Chí Minh – Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOANTôi tên: Nguyễn Thị Thu Hiếu
Sinh ngày: 13 tháng 05 năm 1979
Hiện công tác tại: Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
Là học viên nghiên cứu sinh khóa 16 của Trường Đại học Ngân hàng Thànhphố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính ngân hàng, mã số: 9.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền
Đề tài luận án: Hạn chế tình trạng đô la hóa tại Việt Nam
Tôi xin cam đoan, Luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kếtquả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất cứ tài liệu nào và chưacông bố toàn bộ nội dung này bất kỳ ở đâu, các số liệu, nguồn trích dẫn trong luận
Trang 4Thầy luôn động viên, hỗ trợ, giúp đỡ những lúc tôi cảm thấy khó khăn nhất, gợi ý
về hướng giải quyết vấn đề trong suốt quá trình nghiên cứu Những nhận xét vàđánh giá của Thầy là những bài học quý giá không chỉ trong quá trình viết luận án
mà cả trong hoạt động nghiên cứu chuyên môn sau này
Tôi xin bày tỏ lời chân thành cảm ơn đến quý Thầy, Cô trong Ban Hội đồng
đã gợi ý bổ sung những định hướng nghiên cứu, góp ý những sai sót để tôi hoànthiện luận án một cách tốt nhất
Tôi xin gởi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, tập thể Khoa Sau đại học củaTrường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi trong quá trìnhhọc tập và nghiên cứu
Ngày tháng năm 2019
Người viết
Nguyễn Thị Thu Hiếu
Trang 5: Cho vay bằng ngoại tệ: Tổng cho vay
: Tiền mặt ngoại tệ trong lưu thông: Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Đầu tư gián tiếp nước ngoài: Lãi suất huy động
: Lãi suất cho vay: Ngân hàng Nhà nước: Ngân hàng trung ương: Ngân hàng thương mại: Ngân sách nhà nước: Tổ chức tín dụng: Tổng phương tiện thanh toán: Thị trường chứng khoán: Thị trường ngoại hối: Tỷ giá hối đoái: Đồng đô la Mỹ: Đồng Việt Nam
: Mô hình hiệu chỉnh sai số dạng véctơ
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT III MỤC LỤC IVV DANH MỤC BẢNG, BIỂU XX DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ X1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2 1.2.1.Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 2
1.2.2.Tình hình nghiên cứu trong nước 6
1.3 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 10
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu 10
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 10
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 10
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
1.6 SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU 12
1.7 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN 12
1.8 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN 13
-CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA 14
2.1 TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TRONG NỀN KINH TẾ 14
2.1.1 Lý luận chung về đô la hóa và tình trạng đô la hóa 14
2.1.1.1 Đô la hóa 14
2.1.1.2 Tình trạng đô la hóa nền kinh tế 20
2.1.2 Tác động của tình trạng đô la hóa đối với nền kinh tế 22
Trang 72.1.2.1 Tác động tích cực 22
2.1.2.2 Tác động tiêu cực 23
-2.1.3 Mối quan hệ giữa tình trạng đô la hóa với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô 27
2.1.3.1 Lý thuyết về sự lựa chọn tiền tệ 27
-2.1.3.2 Tương quan giữa tình trạng đô la hóa với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô 29
2.2 HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA NỀN KINH TẾ 36
2.2.1 Khái niệm 36
2.2.2 Chính sách và biện pháp hạn chế tình trạng đô la hóa 36
-2.3 KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 38
2.3.1 Thực tiễn đô la hóa ở một số nước trên thế giới 38
2.3.1.1 Các nước đô la hóa chính thức 38
2.3.1.2 Các nước đô la hóa bán chính thức 42
2.3.1.3 Các nước đô la hóa không chính thức 45
-2.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với việc hạn chế tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế Việt Nam 55
2.3.2.1 Hạn chế đô la hóa không có nghĩa là loại bỏ hoàn toàn 55
-2.3.2.2 Đô la hóa chính thức không phải là lựa chọn tốt khi xảy ra khủng hoảng 56
-2.3.2.3 Hạn chế đô la hóa cần kết hợp các biện pháp mang tính chất hành chính với công cụ kinh tế thị trường 57
-2.3.2.4 Nhất quán quan điểm lưu hành duy nhất nội tệ trong nền kinh tế 57
-2.3.2.5 Củng cố niềm tin vào nội tệ bằng một nền kinh tế vĩ mô ổn định 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
Trang 8-CHƯƠNG 3 TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1992-2017 60
-3.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 60
3.1.1.Tăng trưởng kinh tế 60
3.1.2 Cán cân thương mại 61
3.1.3 Dòng vốn nước ngoài 63
3.1.4 Dự trữ ngoại hối 63
3.2 THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 65
3.2.1 Đô la hóa tiền gởi 65
3.2.2 Đô la hóa tiền vay 68
3.2.3 Đô la hóa tiền mặt 70
3.2.4 Đô la hóa định giá, niêm yết 73
3.3 NGUYÊN NHÂN TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM 75
3.3.1 Tỷ lệ lạm phát cao và diễn biến phức tạp 75
3.3.2 Tỷ giá hối đoái USD/VND có xu hướng tăng thường xuyên 77
3.3.3 Lợi ích khi gởi và vay tiền đồng chưa cao 83
3.3.4 Chính sách quản lý ngoại hối còn nhiều bất cập 87
3.3.5 Sự tồn tại của thị trường ngoại hối không chính thức 91
3.3.6 Chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và thị trường tự do 92 -3.3.7 Tâm lý xem ngoại tệ như là một phương tiện thanh toán bình thường và có khả năng cất trữ 93
3.3.8 Kênh ngoại tệ chuyển vào Việt Nam ngày càng nhiều 94
-3.4 CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA ĐÃ ĐƯỢC CHÍNH PHỦ SỬ DỤNG TRONG THỜI GIAN QUA 95
3.4.1 Nhóm biện pháp trực tiếp tác động đến tình trạng đô la hóa 95
3.4.1.1 Đối với tình trạng đô la hóa tiền gởi 95
3.4.1.2 Đối với tình trạng đô la hóa tiền vay 97
Trang 9-3.4.1.3 Đối với tình trạng đô la hóa tiền mặt và đô la hóa định giá,
niêm yết 99
3.4.2 Nhóm biện pháp gián tiếp tác động đến tình trạng đô la hóa 99
3.4.2.1 Giảm trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng 99
-3.4.2.2 Ổn định tỷ giá bằng cơ chế can thiệp trên thị trường ngoại tệ và công bố tỷ giá trung tâm 100
-3.4.2.4 Thực hiện các biện pháp chống vàng hóa, ổn định thị trường vàng trong nước 100
-3.4.2.3 Xây dựng cơ chế quản lý dự trữ ngoại hối phù hợp với xu thế hội nhập 102
-3.4.3 Thành công và hạn chế từ những biện pháp khắc phục tình trạng đô la hóa của Chính phủ 102
3.4.3.1 Thành công 102
3.4.3.2 Hạn chế 104
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 107
-CHƯƠNG 4 BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA VỚI CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ 108
4.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 108
4.1.1 Lý do lựa chọn mô hình VECM 108
4.1.2 Lý thuyết về mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số VECM 109
-4.2 BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA VỚI CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ 112 -4.2.1 Mối quan hệ giữa tình trạng đô la hóa tiền gởi với các biến số tiền tệ dưới tác động của chính sách trần lãi suất huy động (Mô hình DDI) 112
4.2.1.1 Xây dựng mô hình 112
4.2.1.2 Kết quả nghiên cứu 115
Trang 10-4.2.2 Mối quan hệ giữa tình trạng đô la hóa tiền vay với tăng trưởng
kinh tế và xuất khẩu (Mô hình LDI) 128
-4.2.2.1 Xây dựng mô hình 128
-4.2.2.2 Kết quả nghiên cứu 130
-KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 132
-CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM 133
5.1 KẾT LUẬN 133
5.1.1 Kết luận chung về tình trạng đô la hóa tại Việt Nam 133
-5.1.2 Kết luận về những nhân tố tác động đến tình trạng đô la hóa tiền gởi 134
-5.1.3 Kết luận về những nhân tố tác động đến tình trạng đô la hóa tiền vay 134
-5.1.4 Kết luận về những nhân tố tác động đến tình trạng đô la hóa tiền mặt và đô la hóa định giá, niêm yết 135
-5.2 ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU CỦA NHÀ NƯỚC VỀ HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA 135
-5.3 CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM 136
5.3.1 Nhóm giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô 137
5.3.1.1 Chính sách tiền tệ 137
5.3.1.2 Chính sách tài khóa và quản lý nợ công 139
5.3.2 Nhóm giải pháp mang tính thị trường 140
-5.3.2.1.Phát triển thị trường ngoại hối theo hướng hiện đại, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu 140
-5.3.2.2 Hỗ trợ lãi suất vay VND phục vụ xuất khẩu, chuyển hoàn toàn quan hệ vay – mượn ngoại tệ sang mua – bán ngoại tệ 141 5.3.2.3 Tăng cường dự trữ ngoại hối 143
Trang 115.3.3 Nhóm giải pháp mang tính hành chính bắt buộc 143
5.3.3.1 Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý ngoại hối 144
5.3.3.2 Khai báo nguồn gốc ngoại tệ 144
-5.3.3.3 Nhất quán chủ trương quản lý lưu hành ngoại tệ theo hướng “ Trên đất nước Việt Nam chỉ thanh toán bằng đồng Việt Nam” 145
5.4 KIẾN NGHỊ 145
5.4.1 Ngân hàng Nhà nước 145
5.4.2 Bộ Tài chính 145
5.4.3 Bộ Thương mại 145
5.4.4 Bộ Công an 146
5.4.5 Bộ Văn hoá Thông tin 146
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 146
-TÀI LIỆU THAM KHẢO XIII TIẾNG VIỆT xiii
TIẾNG NƯỚC NGOÀI xv
PHỤ LỤC A XXV
PHỤ LỤC B XLIV
PHỤ LỤC C LXIV
PHỤ LỤC D LXV
Trang 12DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1: Ước lượng tiền mặt ngoại tệ trong lưu thông dựa vào nguồn kiều hối giai
đoạn 19922017 71
-Bảng 3.2: Ước lượng tiền mặt ngoại tệ trong lưu thông dựa vào mục lỗi và sai sót trong cán cân thanh toán quốc tế giai đoạn 19922017 72
Bảng 3.3: Diễn biến tỷ giá USD/VND giai đoạn 1989 – 1991 79
Bảng 3.4: Hiện tượng phá giá mạnh VND vào năm 1998 79
Bảng 3.5: Biến động tỷ giá USD/VND giai đoạn 20022007 80
Bảng 3.6: Thay đổi biên độ tỷ giá USD/VND giai đoạn 20082011 81
Bảng 3.7: Thay đổi biên độ tỷ giá USD/VND giai đoạn T2/2011T12/2017 82
Bảng 3.8: Trần lãi suất huy động VND và USD giai đoạn 2008 2017 96
Bảng 3.9: Các văn bản pháp luật quy định cho vay ngoại tệ ngắn hạn 97
Bảng 3.10: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc VND và ngoại tệ giai đoạn 20082017 98
-Bảng 3.11: Nhóm giải pháp chống vàng hóa, quản lý thị trường vàng giai đoạn 2000 2017 101
Bảng 4.1: Biến số và nguồn dữ liệu mô hình DDI 114
Bảng 4.2: Hệ số ước lượng các vectơ đồng liên kết mô hình DDI 117
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định loại bỏ biến không có tác động dài hạn 118
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định loại bỏ biến không có tác động ngắn hạn 119
Bảng 4.5: Kết quả ước lượng VECM giai đoạn tháng 01/2008 – 03/2011 120
Bảng 4.6: Kết quả ước lượng VECM giai đoạn 04/201112/2017 121
Bảng 4.7: Phân rã phương sai của DDI 123
Bảng 4.8: Biến số và nguồn dữ liệu mô hình LDI 129
Bảng 4.9: Kết quả ước lượng phương trình đồng liên kết 130
Bảng 4.10: Kết quả ước lượng phương trình ngắn hạn 130
Trang 13-DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Tỷ lệ dự trữ các đồng tiền trên thế giới 16
Hình 2.2 : Mối tương quan giữa tình trạng đô la hóa và lạm phát 30
Hình 2.3: Các chỉ số kinh tế của Ecuador trước và sau khi ĐLH chính thức 39
Hình 2.4: Các chỉ số kinh tế của El Salvador trước và sau khi ĐLH chính thức 41 Hình 2.5: Tăng trưởng, lạm phát và tình trạng ĐLH nền kinh tế Campuchia 43
Hình 2.6: Tăng trưởng, lạm phát và tình trạng ĐLH nền kinh tế của Lào 44
Hình 2.7: Tăng trưởng, lạm phát và xuất nhập khẩu của Trung Quốc 47
Hình 2.8: Dự trữ ngoại hối và tình trạng ĐLH của Trung Quốc 49
Hình 3.1: Tăng trưởng GDP và tình trạng ĐLH giai đoạn 19922017 61
Hình 3.2: Cán cân thương mại và tình trạng ĐLH giai đoạn 19922017 62
Hình 3.3: Dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 1992 – 2017 63
Hình 3.4: Dự trữ ngoại hối và tình trạng ĐLH giai đoạn 19922017 64
Hình 3.5: Tình trạng ĐLH tiền gởi giai đoạn 19922017 66
Hình 3.6: Huy động và cho vay ngoại tệ giai đoạn 19922017 68
Hình 3.7: Tình trạng ĐLH tiền vay giai đoạn 19922017 69
Hình 3.8: ĐLH tiền mặt và tiền mặt trong lưu thông giai đoạn 19922017 73
Hình 3.9: Tình trạng ĐLH tiền gởi và lạm phát giai đoạn 19922017 77
-Hình 3.10: ĐLH tiền gởi, ĐLH tiền vay và tỷ giá USD/VND giai đoạn 19922017 78
Hình 3.11: Diễn biến tỷ giá USD/VND giai đoạn 20082017 82
Hình 3.12: Tình trạng ĐLH tiền gởi và lãi suất huy động giai đoạn 19922017 86 -Hình 3.13: Tình trạng ĐLH tiền vay và chênh lệch chi phí phải trả giữa vay VND và USD giai đoạn 19922017 87
-Hình 3.14: Tình trạng ĐLH và chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và thị trường tự do giai đoạn 19922017 93
Hình 3.15: Khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 19952017 94
Trang 14-Hình 3.16: Tình trạng ĐLH tiền mặt, tăng trưởng tiền gởi ngoại tệ
và kiều hối giai đoạn 19922017 94
-Hình 3.17: ĐLH tiền gởi và chênh lệch lợi tức tiền gởi giữa VND và USD giai đoạn 19922017 97
Hình 3.18: Trần lãi suất cho vay VND giai đoạn từ 20122017 98
Hình 4.1: Các chuỗi biến số thời gian mô hình DDI 115
-Hình 4.2: Phản ứng của ĐLH tiền gởi trước sốc 1% của các biến số giai đoạn tháng 01/2008 đến 03/2011 122
-Hình 4.3: Phản ứng của ĐLH tiền gởi trước sốc 1% của các biến số giai đoạn tháng 04/2011 đến 12/2017 122
Hình 4.4: Phản ứng tích lũy của DDI do cú sốc RES 124
Hình 4.5: Phản ứng tích lũy của DDI do cú sốc DIF_CE 125
Hình 4.6: Phản ứng tích lũy của DDI do cú sốc 1% R_USD 127
Hình 4.7: Phản ứng tích lũy của GDP và EX do sốc 1% của LDI 131
Hình 4.8: Phản ứng tích lũy của LDI do sốc 1% của DDI và IRD 132
Trang 15-CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế diễn ra mạnh mẽ, các nền kinh tế đangchuyển đổi đã thu hút một lượng lớn ngoại tệ thông qua nhiều kênh khác nhau Cácnguồn ngoại tệ này là các nguồn lực quan trọng giúp các quốc gia đang trong quátrình chuyển đổi từng bước thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, các quốc gianày đã và đang đối mặt với hiện tượng đô la hóa (ĐLH) trong nền kinh tế ĐLHthường được xem là sản phẩm tất yếu, một thực thể khách quan gắn với cơ chế hoạtđộng của mô hình kinh tế mở, vì vậy, bản thân nội dung của hiện tượng này đã thểhiện tính tích cực của nó Tuy nhiên, khi nền kinh tế bị ĐLH, quá trình điều hòacung ứng tiền của ngân hàng trung ương gặp nhiều khó khăn, cũng như ảnh hưởngnghiêm trọng đến sự cân bằng của thị trường ngoại hối Bên cạnh đó, khi những nộidung ĐLH bị lạm dụng bởi những yếu tố chủ quan, tự phát của các thành viên trong
xã hội, hoặc khi các cơ quan quản lý kinh tế không có những biện pháp hữu hiệu đểkiểm soát được những mặt tiêu cực của nó, ĐLH sẽ dẫn đến những hậu quả khólường cho nền kinh tế - xã hội
Cùng cảnh ngộ như hầu hết các quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam cómột lịch sử lâu dài về việc sử dụng đồng đô la Mỹ song song với đồng tiền ViệtNam từ những năm 1960 Ở miền Nam, đô la Mỹ đã được cất trữ và sử dụng rộngrãi, ngược lại, ở miền Bắc ngoại tệ bị cấm theo Nghị định 102/CP ngày 06/7/1963.Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, nền kinh tế Việt Nam trãi qua một thời kỳdài đầy khó khăn và thất bại trong chính sách giá – lương – tiền của đồng nội tệ, từ
đó, công chúng càng mất niềm tin vào giá trị VND, tâm lý sùng bái vàng và ngoại tệcàng gia tăng, tình trạng ĐLH càng phức tạp Tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ/M2 được chínhthức công bố vào năm 1991 là 41,2% (không có số liệu vàng hóa), và từ đây vấn đềĐLH bắt đầu được các nhà nghiên cứu quan tâm như: Dodsworth và cộng sự (1996
) [65]; Nguyễn, Thị Hồng (2002, 2011) [109,11]; Hauskrecht và Nguyễn, Thanh Hải
Trang 162007) [132,133]; Nguyễn, Thanh Bình (2009) [10]; Nguyễn, Anh Tuấn (2009) [9];
… Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào phân tích và đánh giá tình trạng ĐLH dựatrên lý thuyết ĐLH thông thường bao gồm (i) thay thế tài sản dưới dạng tài sản bằngngoại tệ và (ii) thay thế tiền tệ trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau bao gồm hộ giađình, doanh nghiệp và các ngân hàng thương mại Sau đó tìm mọi biện pháp để trảlời cho câu hỏi: Làm sao hạn chế hiện tượng này ở mức độ chấp nhận được trongkhi khai thác được những ảnh hưởng tích cực của ĐLH? Tuy nhiên, thực tiễn chothấy, trong nền kinh tế - xã hội Việt Nam, đã và đang tồn tại tình trạng ĐLH ở mộtmức độ nhất định, với những diễn biến khá phức tạp trong những năm qua, ảnhhưởng đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế trong tiến trình hội nhập
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về ĐLH trên thế giới cũng như ởViệt Nam, song thực tiễn cho thấy tình trạng ĐLH vẫn còn tiếp diễn khá phức tạp,ảnh hưởng đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế trong tiến trình hội nhập và vẫnchưa có một phương thức giải quyết hiệu quả đối với nền kinh tế Việt Nam Vì vậy,
tác giả chọn đề tài: “Hạn chế tình trạng đô la hóa tại Việt Nam” làm đề tài nghiên
cứu cho luận án tiến sĩ
1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1.2.1.Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Đô la hóa (ĐLH) là một vấn đề được rất nhiều nhà kinh tế quan tâm, nghiêncứu, trong đó có một số nghiên cứu đề cập đến quá trình ĐLH nền kinh tế của ViệtNam tiêu biểu như:
- Nghiên cứu của Andreas Hauskrecht và Nguyễn Thanh Hải (2004), “Đô la
hóa ở Việt Nam” (Dollarization in Vietnam) Sử dụng phương pháp phân tích định
tính để đánh giá tình trạng ĐLH ở Việt Nam dựa trên tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ so vớitổng tiền gởi Nghiên cứu chỉ ra rằng, có 2 nguyên nhân chính gây ra ĐLH ở Việt
Nam: thứ nhất, sự mất tín nhiệm của CSTT do tỷ lệ lạm phát cao và rất ổn định
trong thời gian dài kết hợp với tỷ giá hối đoái suy giảm dẫn đến giá của rủi ro trên
các tài sản danh nghĩa bằng tiền đồng tăng lên; thứ hai, mức tiết kiệm dưới hình
thức các tài sản bằng nội tệ thấp và tương đối ngắn hạn Đồng thời, nghiên cứu cũng
Trang 17nhận định rằng, ĐLH làm tăng độ sâu tài chính của nền kinh tế (M2/GDP) Tuynhiên, nghiên cứu chỉ mới đánh giá tình trạng ĐLH ở Việt Nam từ năm 1988 đếnnăm 2003, đây là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước thềm của WTO,chưa hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, cũng như chưa đối mặt với các nguồnngoại tệ chuyển vào trong nước [79].
- Nghiên cứu của Michiael Goujon (2006), “Chống lạm phát trong nền kinh
tế bị ĐLH: trường hợp của Việt Nam”(Fighting inflation in a dollarizated economy:
The case of Vietnam) Nghiên cứu chứng minh rằng, giai đoạn 1991-1999, nền kinh
tế Việt Nam bị ĐLH, muốn kiểm soát lạm phát thì cần kiểm soát tỷ giá hối đoái vàcung tiền M2 Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ giải thích mối quan hệ giữa lạm phát vớibiến động tỷ giá hối đoái và cung tiền M2 trong nền kinh tế bị ĐLH, không nghiêncứu mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH với lạm phát cũng như biến động tỷ giá hốiđoái [105]
- Hai nghiên cứu của Watanabe Shinichi (2006, 2007) về hiện tượng ĐLH
theo nhóm nước trong đó có đề cập đến Việt Nam như: “Đô la hóa không chính
thức và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển kinh tế và tài chính của Campuchia, Lào
và Việt Nam” (Defacto dollarization and its effect on financial development and
economic growth of Cambodia, Lao PDR and Vietnam) và “Đô la hóa, kiều hối và
chính sách tiền tệ của Campuchia, Lào và Việt Nam” (Dollarization, Remittances
and Monetary Policies in Cambodia, Lao PDR and Vietnam) Nghiên cứu đã xácđịnh nguồn gốc của ĐLH từ nguồn kiều hối, chỉ ra vai trò quan trọng của kiều hốiđối với thị trường ngoại hối Ngoài ra, nghiên cứu đã chứng minh được ở nhữngquốc gia có TTNH không chính thức hoạt động hiệu quả và quy mô lớn thì xuhướng bị ĐLH càng cao Đặc biệt, nghiên cứu đánh giá cao những thay đổi củaChính phủ Việt Nam trong việc thực hiện Pháp luật ngoại hối giai đoạn 1996-2005.Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa giải thích được tại sao khi có ngoại tệ từ kiều hối,người dân của 3 nước Campuchia, Lào và Việt Nam có xu hướng nắm giữ ngoại tệ[132],[133]
Trang 18- Nghiên cứu của Jayant Menon (2007), “Đối phó với ĐLH: Lựa chọn nào
cho các nền kinh kế chuyển đổi ở Đông Nam Á?” (Dealing with Dollarization: What
Options for the Transitional Economies of Southeast Asia?) cho rằng đối với cácnền kinh tế đang chuyển đổi ở Đông Nam Á như Campuchia, Lào và Việt Nam,không nên lựa chọn ĐLH chính thức vì liên quan đến yếu tố chính trị, nhưng cũngkhông nên loại bỏ hoàn toàn ĐLH ra khỏi nền kinh tế, nghiên cứu phân tích thất bạicủa Chính phủ Lào khi cố gắng áp đặt nhiều biện pháp hành chính để loại bỏ ĐLHvào tháng 6 năm 1997, đồng thời nhấn mạnh nên xem ĐLH là “triệu chứng” từ sựbất ổn kinh tế vĩ mô, bất ổn chính trị, hệ thống tài chính và tiền tệ kém phát triển, hệthống pháp luật quản lý ngoại hối lỏng lẻo Vì vậy, muốn loại bỏ ĐLH thì phải giảiquyết những vấn đề trên và đánh giá cao kết quả giảm nhanh tình trạng ĐLH củaViệt Nam giai đoạn 1996-2005 Tuy nhiên, bối cảnh của nghiên cứu là trước khiViệt Nam gia nhập WTO, độ mở cửa nền kinh tế chưa cao, nền kinh tế chưa trải quanhiều biến động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, do đó chưa phản ánh hếtdiễn biến và mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH và các chỉ số kinh tế vĩ mô [92]
- Nghiên cứu của Patricia và Alicia (2008), “Đô la hóa và chống đô la hóa:
hệ quả đối với chính sách tiền tệ” (To dollarize or de-dollarize: Consequences for
Monetary) Nghiên cứu phân loại tình trạng ĐLH cao, trung bình và thấp ở một sốquốc gia Châu Á, Châu Mỹ Latinh, Isarel và Nga Dựa vào chuỗi dữ liệu từ quý4/1986 đến quý 3/2006 đối với các nước: Argentina, Bolivia, Chile, Trung Quốc,Ecuador, Israel, Hàn Quốc, Malaysia, Peru, Philippin, Nga, Thái Lan, Uruguay vàchuỗi dữ liệu ngắn hơn từ quý 1/1993 đến quý 3/2006 đối với các nước: Campuchia,Lào, Việt Nam, bằng mô hình VAR, nghiên cứu đã chứng minh những nước có tìnhtrạng ĐLH càng cao thì phản ứng tích lũy của lạm phát do cú sốc tỷ giá càng lớn vàngược lại Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đánh giá tác động giữa lạm phát và tỷ giátrong bối cảnh nền kinh tế có tình trạng ĐLH cao, chưa giải thích mối quan hệ giữatình trạng ĐLH và lạm phát cũng như tỷ giá [118]
- Nghiên cứu của Luis Carranza và cộng sự (2009), “Tỷ giá hối đối và lạm
phát trong các nền kinh tế đô la hóa” (Exchange rate and Inflation Dynamics in
Trang 19Dollarized Economies) sử dụng dữ liệu ở 124 quốc gia (trong đó có Việt Nam) đểphân tích thực nghiệm về cơ chế dẫn truyền của tỷ giá hối đoái trong các nền kinh tế
bị ĐLH Kết quả cho thấy, các quốc gia có tình trạng ĐLH cao, tác động dẫn truyềncủa biến động tỷ giá hối đoái đến lạm phát càng lớn Tuy nhiên, nội dung nghiêncứu là cơ chế dẫn truyền của tỷ giá ở các nền kinh tế bị ĐLH, không nghiên cứumối liên hệ giữa tình trạng ĐLH và biến động tỷ giá [102]
- Ngoài ra các kết luận nghiên cứu thực nghiệm về ĐLH đăng trên các tạpchi kinh tế quốc tế của các tác giả như: Balino và cộng sự (1999) lập luận rằng ĐLHđược xác định bởi tỷ suất lợi nhuận giữa tài sản bằng nội tệ ngoại tệ [45]; IrfanCivcir (2003) đã phát hiện rằng lãi suất và kỳ vọng của tỷ giá là các biến chủ yếutrong việc xác định tình trạng ĐLH ở Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 1986–1999 [86];Edwards (2001&2003) cung cấp bằng chứng thực nghiệm ở các nền kinh tế ĐLHchính thức thì tỷ lệ lạm phát thấp hơn, tốc độ tăng trưởng GDP thấp hơn và có sựbiến đổi lớn hơn về sản lượng đầu ra so với các nền kinh tế sử dụng nội tệ [68&69];Nicolo và đồng sự (2003) cho rằng ĐLH tiền gửi và ĐLH tiền vay gây nhiều rủi rocho hệ thống NHTM, đồng thời cũng chứng minh ĐLH làm cho hệ thống tài chínhphát triển sâu hơn trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát cao [111]; Galindo -Leiderman (2005) cho rằng nợ công cao là nguyên nhân gây ra hiện tượng ĐLH[76]; Calvo, Izquierdo và Mejia (2004) cung cấp bằng chứng thực nghiệm ĐLH nợphải trả là nguyên nhân hàng đầu gây ra khủng hoảng tài chính nếu dòng vốn vàodừng đột ngột [56]; Domac và Martiner Peria (2003) tìm thấy mối quan hệ giữaĐLH và bất ổn tài chính [66]; Reinhat và các đồng sự (2003) chứng minh rằng ĐLHmột phần có thể kiềm chế lạm phát nhưng nó có thể tạo ra sự mất cân đối tiền tệ ởcác nước đang phát triển [123]; Arteta (2002) dẫn chứng ĐLH tiền gởi ít gây nguyhại cho hệ thống NHTM hơn ĐLH tiền vay [40]; Edurado Levy Yeyati (2003) chorằng cách duy nhất để hạn chế ĐLH là không khuyến khích sử dụng đồng USD vàtăng cường sức hấp dẫn của đồng nội tệ [99]; Neanidis và Savva (2009) đã sử dụng
số liệu hàng tháng cho 11 nền kinh tế chuyển tiếp ở Trung và Đông Âu (Armenia,Bulgaria, Séc, Estonia, Georgia, Kyrgyz, Lativia, Ba Lan, Romania, Nga và
Trang 20Ukraina) để đánh giá các yếu tố quyết định tiền gửi ngoại tệ và cho vay ngoại tệ, họthấy rằng cả hai chỉ số này bị ảnh hưởng bởi chênh lệch lãi suất giữa nội tệ và ngoại
tệ [108]; các nghiên cứu: Kamin và Ericsson (2003) cho Argentina [94], Clements
và Schwartz (1993) cho Bolivia [60]; Mueller (1994) cho Lebanon [106] đều cungcấp bằng chứng thực nghiệm rằng nhu cầu nắm giữ ngoại tệ sẽ cao khi lạm phát cao
và kéo dài,…
1.2.2.Tình hình nghiên cứu trong nước
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng (2002), “ĐLH tài sản nợ và tài sản có
tài chính của hộ gia đình, doanh nghiệp và các ngân hàng ở Việt Nam”, sử dụng
phương pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp, tác giả đã hệ thống bức tranh ĐLH ởViệt Nam giai đoạn 1991-2001, chỉ ra những nguyên nhân như: hội nhập thươngmại và tài chính quốc tế; sự phối hợp không hiệu quả giữa chính sách tỷ giá vàchính sách lãi suất Tuy nhiên, giai đoạn nghiên cứu đã lâu, Việt Nam chưa gia nhậpWTO cũng như chưa chịu ảnh hưởng mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu[109]
- Đề án “Nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, khắc phục tình
trạng đô la hóa trong nền kinh tế”, ban hành kèm theo Quyết định số
98/2007/QĐ-TTg ngày 04 tháng 7 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ Nội dung đề án đi sâuphân tích tính chuyển đổi của VND và đánh giá tình trạng ĐLH trong nền kinh tế,đồng thời đưa ra lộ trình và giải pháp khắc phục tình trạng ĐLH Tuy nhiên, các giảipháp Đề án đưa ra có tính chất giải quyết tình thế trong giai đoạn 2007-2010, chưaxuất phát từ việc phân tích mối quan giữa tình trạng ĐLH với các biến số kinh tế vĩ
mô để đề xuất giải pháp mang tầm dài hạn hơn [13]
- Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thanh Bình (2009), “Các giải pháp thúc đẩy
tiến trình phi đô la hóa ở Việt Nam”, luận án đi sâu vào phân tích lý luận về ĐLH,
đánh giá thực trạng và tác động của ĐLH đối với nền kinh tế, tìm hiểu nguyên nhâncủa tình trạng ĐLH trong khu vực dân cư, doanh nghiệp và hệ thống NHTM, đưa racác giải pháp thúc đẩy tiến trình phi ĐLH tại Việt Nam Với chuỗi dữ liệu từ năm
1992 đến 2007, tần suất năm, chọn biến giả định là môi trường kinh tế, biến phụ
Trang 21thuộc là: tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ/M2, tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ dân cư/M2 và tỷ lệ tiềngởi ngoại tệ doanh nghiệp/M2 để giải thích 3 phương trình hồi quy: (i) lạm phátnăm trước và môi trường kinh tế bất ổn có ảnh hưởng đến tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ/M2của năm sau, (ii) lãi suất huy động VND tăng làm giảm mức độ ĐLH khu vực dân
cư và môi trường kinh tế bất ổn sẽ làm gia tăng mức độ ĐLH khu vực dân cư, (iii)ngược lại với khu vực dân cư, khi môi trường kinh tế bất ổn sẽ làm giảm mức độĐLH của doanh nghiệp và khi lạm phát cao doanh nghiệp có xu hướng nắm giữngoại tệ Tuy nhiên, các giả định để chọn biến giải thích của luận án còn quá ít bởi
vì tình trạng ĐLH nói chung và tình trạng ĐLH khu vực dân cư và doanh nghiệp nóiriêng không chỉ do lạm phát của năm trước và môi trường kinh tế bất ổn, mà cònphụ thuộc vào biến động tỷ giá hối đoái, do lợi tức mà đồng tiền đó mang lại, nhucầu nhập khẩu của doanh nghiệp,… Giai đoạn nghiên cứu của luận án đến năm
2007 là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam mới gia nhập WTO, chưa chịu nhiều ảnhhưởng từ nền kinh tế thế giới [10]
- Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Anh Tuấn (2009), “Hiện tượng đô la hóa và
tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”,
luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để đi sâu phân tích lý luậnchung về ĐLH, thực trạng và nguyên nhân ĐLH tài sản, ĐLH tiền tệ và ĐLH hệthống NHTM, đề xuất các giải pháp hạn chế ĐLH tại Việt Nam trong bối cảnh hộinhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, cũng như Luận án của Nguyễn Thanh Bình, giaiđoạn nghiên cứu của luận án đến năm 2007, thời điểm nền kinh tế Việt Nam mớigia nhập WTO, chưa chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới [9]
- Ngoài ra, một số bài viết đăng trên các tạp chí của các tác giả như: Nguyễn
Thị Hồng (2011)“Đô la hóa và điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam”[11]; Đặng Ngọc Đức (2012)“Hạn chế huy động tiết kiệm ngoại tệ góp phần bình ổn thị trường
ngoại hối và thực hiện cắt giảm tín dụng ngoại tệ ở Việt Nam”[3], Chu Khánh Lân
(2014)“Điều hành chính sách tỷ giá nhằm giảm tình trạng đô la hóa tại Việt
Nam”[1], Trần thị Thúy (2016)“Chống đô la hóa nền kinh tế: nhìn từ lãi suất tiền gửi USD/năm”[16], Bùi Thị Quỳnh Trang (2016)“Chống đô la hóa nền kinh tế:
Trang 22Thực trạng và một số kiến nghị”[17],… Các nghiên cứu này có đề cập đến tình
trạng ĐLH ở Việt Nam dưới nhiều gốc độ khác nhau, tuy nhiên, các bài viết này chỉdừng ở quy mô các bài tham luận hội thảo, tạp chí, đánh giá ĐLH trên khía cạnhnhỏ, riêng biệt
Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêngđồng quan điểm về tính hai mặt của ĐLH, tùy vào điều kiện chính trị, kinh tế - xãhội khác nhau, mỗi quốc gia có sự lựa chọn riêng cho mình về quyết định ĐLHhoàn toàn hay tìm cách hạn chế hoặc loại bỏ nó ra khỏi nền kinh tế Hầu hết, cácnghiên cứu đều cố gắng tìm thấy các yếu tố quyết định ĐLH hoặc lý do đằng sauviệc sử dụng ngoại tệ thay vì nội tệ, từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp để hạnchế tình trạng ĐLH trong nền kinh tế
Các nghiên cứu về ĐLH tại Việt Nam đã đề cập đến quá trình ĐLH ở ViệtNam trên các khía cạnh nguyên nhân, tác động và đề xuất các giải pháp trong từnggiai đoạn cụ thể, tuy nhiên vẫn còn các khoảng trống khoa học như sau:
Thứ nhất, về đối tượng nghiên cứu, theo thống kê chưa đầy đủ của tác giả,
hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung phân tích thực trạng, nguyên nhân ĐLH, vẫnchưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ mối tương quan giữa tình trạng ĐLH vớicác chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Tác giả cho rằng, các chính sách hạn chế tình trạng ĐLH
ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều phải sử dụng cáccông cụ thị trường phối hợp với các biện pháp hành chính bắt buộc trên cơ sở ổnđịnh kinh tế vĩ mô, vì vậy việc xác định chiều hướng và mức độ tác động giữa tìnhtrạng ĐLH với các chỉ tiêu vĩ mô như: lạm phát, tỷ giá, lãi suất,… là cơ sở thực tiễn
để đề xuất các giải pháp hạn chế tình trạng ĐLH phù hợp với bối cảnh nền kinh tếViệt Nam trong giai đoạn hiện nay
Thứ hai, về phạm vi nghiên cứu, các nghiên cứu đánh giá tình trạng ĐLH
trong phạm vi hộ gia đình, trong doanh nghiệp và trong hệ thống NHTM nhưng lại
sử dụng số liệu tiền gởi ngoại tệ trong tổng tiền gởi hoặc tổng phương tiện thanhtoán (trừ Nguyễn Thanh Bình (2009) [10] và Nguyễn Anh Tuấn (2009) [9]) Hainghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2009) và Nguyễn Anh Tuấn (2009) đều sử
Trang 23dụng tiêu thức tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ của hộ gia đình/doanh nghiệp trên tổng tiền gởi
để đánh giá tình trạng ĐLH tài sản của hộ gia đình/doanh nghiệp và mức chênh lệchgiữa tài sản Nợ và tài sản Có bằng ngoại tệ trong bảng cân đối kế toán của các ngânhàng để đánh giá tình trạng ĐLH các NHTM, theo tác giả các tiêu thức này phảnánh đúng thực trạng tình trạng ĐLH theo từng phạm vi cụ thể Tuy nhiên, theo tácgiả, tình trạng ĐLH nền kinh tế cần phải được đánh giá dựa trên các tiêu chí: ĐLHtiền gởi (tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ trong tổng tiền gởi), ĐLH tiền vay (tỷ lệ cho vayngoại tệ trong tổng cho vay) sẽ phù hợp với các tiêu thức lượng hóa được sử dụngphổ biến trong các công trình nghiên cứu và trong các báo cáo tiền tệ của IMF vàcủa Việt Nam Mặt khác, thời gian nghiên cứu của hai luận án đều đến năm 2007 đãlạc hậu về số liệu, do đó chưa xem xét nhiều đến những tác động của ĐLH đến nềnkinh tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO cũng như cuộc khủng hoảng tài chính năm
2008 đã dẫn đến một loạt những thay đổi trong môi trường và chính sách vĩ mô
Thứ ba, về phương pháp nghiên cứu, theo khả năng tiếp cận dữ diệu còn
hạn chế của tác giả, hầu hết các nghiên cứu về ĐLH ở Việt Nam đều sử dụngphương pháp phân tích định tính để đánh giá tình trạng ĐLH nền kinh tế, trong đónghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2009) sử dụng kết hợp phương pháp phân tíchđịnh tính và phân tích định lượng Tuy nhiên, mô hình hồi quy mà Nguyễn ThanhBình (2009) sử dụng là phương trình hồi quy đơn biến, chưa xem xét mối tươngquan trong các chuỗi dữ liệu thời gian của các chỉ số kinh tế, thường tồn tại mốiquan hệ đồng liên kết cùng tác động lên một biến số trong không gian ngắn hạncũng như dài hạn
Từ những phân tích trên chứng tỏ còn có những khoảng trống khoa học vềđối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu so với các nghiên cứu trong vàngoài nước Bên cạnh đó, hiện nay Chính phủ đang xây dựng nhiều giải pháp hạnchế tình trạng ĐLH trong nền kinh tế, do đó các nghiên cứu liên quan đến ĐLH tạiViệt Nam vẫn là những công trình rất cần thiết và cần sự đánh giá sâu, rộng trongbối cảnh nền kinh tế Việt Nam phục hồi nhưng chưa bền vững, tiềm ẩn nhiều nguy
cơ ảnh hưởng đến việc khôi phục niềm tin vào giá trị VND
Trang 241.3 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: nghiên cứu tình trạng ĐLH trong nền kinh tế ViệtNam, xác định mối tương quan giữa tình trạng ĐLH với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô,
từ đó gợi ý một số chính sách để hạn chế tình trạng ĐLH tại Việt Nam
- Mục tiêu cụ thể:
+ Nghiên cứu tình trạng ĐLH: phân tích thực trạng ĐLH, xác định nguyênnhân cũng tác động của tình trạng ĐLH đến nền kinh tế giai đoạn từ 1992 đến 2017
+ Xác định mối tương quan giữa tình trạng ĐLH với các chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô như: tăng trưởng kinh tế, dự trữ ngoại hối, tỷ giá, lạm phát, lãi suất,…
+ Đề xuất các giải pháp hạn chế tình trạng ĐLH trong nền kinh tế Việt Nam
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, câu hỏi đặt ra khi nghiên cứu luận án:
Câu hỏi 1: ĐLH ở Việt Nam qua các giai đoạn diễn ra như thế nào? Nguyên
nhân nào gây ra tình trạng này? Nó ảnh hưởng như thế nào đối với nền kinh tế củaViệt Nam? Những biện pháp nào đã được Chính phủ sử dụng để khắc phục tìnhtrạng ĐLH?
Câu hỏi 2: Có tồn tại hay không mối tương quan giữa tình trạng ĐLH với
các biến số kinh tế vĩ mô như: lạm phát, tỷ giá, lãi suất, dự trữ ngoại hối,…? Nếu
có, chiều hướng và mức độ tác động như thế nào?
Câu hỏi 3: Giải pháp nào để hạn chế tình trạng ĐLH nền kinh tế Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: thực trạng ĐLH, nguyên nhân gây ra tình trạngĐLH, mối tương quan giữa tình trạng ĐLH với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Tìnhtrạng ĐLH được đánh giá dựa trên tiêu chí: ĐLH tiền gởi, ĐLH tiền vay, ĐLH tiềnmặt và ĐLH định giá, niêm yết Trong đó, luận án tập trung vào ĐLH tiền gởi đượctính bằng tiền gởi ngoại tệ/tổng tiền gởi và ĐLH tiền vay được tính bằng cho vay
Trang 25ngoại tệ/tổng cho vay Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô bao gồm: lạm phát, tỷ giá, lãi suất,tăng trưởng GDP, dự trữ ngoại hối và giá trị xuất nhập khẩu.
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Tiền gởi ngoại tệ và cho vay ngoại tệ trên tổng tiền gởi và cho vay của cá nhân và doanh nghiệp trong hệ thống NHTM ở Việt Nam
+ Về thời gian: giai đoạn nghiên cứu từ năm 1992 đến 2017, vì dữ liệu thống
kê về tiền gởi và cho vay bằng ngoại tệ trên trang web của Quỹ Tiền tệ Quốc tế(IMF) và các Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước chỉ công bố trong giaiđoạn trên Mặt khác, trong giai đoạn này, Việt Nam chính thức mở cửa nền kinh tế
và bắt đầu đối mặt với những tác động của tình trạng ĐLH
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp sau: Luận
án sử dụng cách tiếp cận hệ thống và phương pháp luận duy vật biện chứng Trongkhuôn khổ các phương pháp luận này, phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng
hợp kết hợp với phân tích so sánh, diễn dịch để lý giải cho các vấn
đề nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của luận án
Ngoài ra, luận án sử dụng phương pháp định lượng hồi quy mô hình hiệuchỉnh sai số dạng véctơ (Vector Error Correlation Model - VECM) được xử lý quaphần mềm Eviews 8.0 để giải quyết câu hỏi nghiên cứu số 2
Trang 261.6 SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.7 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
Luận án có những điểm mới như sau:
Thứ nhất, trên cơ sở hệ thống hóa những lý luận chung về ĐLH, luận án
đánh giá toàn diện về tình trạng ĐLH trong nền kinh tế Việt Nam từ khi bắt đầu mởcửa cho đến nay (từ 1992 - 2017) Đồng thời, xác định nguyên nhân gây ra tìnhtrạng ĐLH, cũng như phân tích đánh giá những thành công và hạn chế từ các biệnpháp khắc phục tình trạng ĐLH đã được Chính phủ triển khai trong thời gian nghiêncứu
Trang 27Thứ hai, trong giai đoạn nghiên cứu, luận án đã cung cấp bằng chứng thực
nghiệm về mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH tiền gởi và một số biến số vĩ mô dướitác động của chính sách trần lãi suất huy động Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1)Dựtrữ ngoại hối và lãi suất huy động nội tệ có tác động tiêu cực đến tình trạng ĐLHtiền gởi; (2) Lợi nhuận thị trường song song, lãi suất huy động ngoại tệ, tỷ giá vàlạm phát có tác động tích cực đến tình trạng ĐLH tiền gởi; (3) Chính sách 2 trần lãisuất huy động với trần lãi suất huy động USD bằng 0% phát huy hiệu quả rất tốt,làm giảm tình trạng ĐLH tiền gởi trong điều kiện nền kinh tế vĩ mô ổn định
Thứ ba, trong giai đoạn nghiên cứu, luận án kiểm định mối quan hệ giữa tình
trạng ĐLH tiền vay với tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu Kết quả tình trạng ĐLHtiền vay tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế; tác động tích cực đến xuất khẩutrong ngắn hạn; tác động tích cực với tình trạng ĐLH tiền gởi và chênh lệch chi phíphải trả khi vay VND so với vay USD
1.8 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tình trạng đô la hóa
Chương 3: Tình trạng đô la hóa tại Việt Nam giai đoạn 1992-2017
Chương 4: Bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa tình trạng đô lahóa với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
Chương 5: Kết luận và giải pháp hạn chế tình trạng đô la hóa tại Việt Nam
Trang 28CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA
2.1 TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TRONG NỀN KINH TẾ
2.1.1 Lý luận chung về đô la hóa và tình trạng đô la hóa
2.1.1.1 Đô la hóa
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có lịch sử riêng, đều có những điều kiện kinh
tế - xã hội – chính trị riêng, vì vậy, nhà nước của mỗi quốc gia đều phát hành đồngtiền riêng của mình để nắm giữ quyền quản lý lưu thông tiền tệ trong phạm vi đấtnước đó Tuy nhiên, xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới diễn ra mạnh mẽ,
sự hội nhập, giao lưu thương mại đã xảy ra một hiện tượng kinh tế khách quan lànước này sử dụng đồng tiền của nước khác Đặc biệt hiện tượng này phổ biến ở cácnền kinh tế đang chuyển đổi và được gọi chung là hiện tượng đô la hóa(dollarazation)
Thực tiễn cho thấy, đô la hoá (ĐLH) đã tồn tại ở nhiều quốc gia trong mộtthời gian dài trước khi khái niệm ĐLH thật sự thu hút được sự quan tâm của thếgiới Cho đến nay, thuật ngữ “ĐLH” mặc dù được sử dụng phổ biến trong các côngtrình nghiên cứu nhưng hiện tại vẫn có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệntượng ĐLH
Theo Hausmann và cộng sự (2001): “ĐLH dùng để chỉ hiện tượng cá nhân
nắm giữ và sử dụng các tài sản (asset) và khoản nợ (liabilities) được định giá bằng bất cứ ngoại tệ nào không chỉ là đô la.” [81]
Theo Fischer (1982): “Khi có sự chuyển hướng từ đồng nội tệ sang đồng
ngoại tệ để thực hiện các chức năng cất trữ, đơn vị tính toán và thanh toán thì quá trình này gọi là đô la hóa” [71]
McKinnon (2004) phân tích rất kỹ: “ĐLH là việc đồng ngoại tệ chiếm lĩnh
các chức năng sau của đồng nội tệ:
Trang 29-Phương tiện trao đổi: Khi đồng đôla được lưu hành song song với đồng nội tệ dưới dạng tiền mặt và các khoản tiền gửi.
- Cất trữ giá trị: Khi những tài sản cá nhân và nhà nước dưới dạng ngoại tệ thay thế các tài sản bằng nội tệ.
-Đơn vị tính toán: Khi lương và những hợp đồng nội địa ngắn hạn được tính toán trực tiếp hoặc gián tiếp gắn với tỷ giá đôla.
- Tiêu chuẩn cho những khoản thanh toán kỳ hạn: Những khoản vay nước ngoài
ngắn hạn như tín dụng thương mại, vay liên ngân hàng cũng như việc phát hành trái phiếu chính phủ cho người nước ngoài được thực hiện bằng ngoại tệ.”[104]
Ở Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách cũng đồng quan điểm với hai tác
giả trên nên cho rằng: “Khi ngoại tệ được sử dụng rộng rãi trong một quốc gia để
thay thế một hay nhiều chức năng của nội tệ thì nền kinh tế đó gọi là bị ĐLH.”[5]
Trong các khái niệm trên, chúng ta đều nhận thấy, các tác giả sử dụng thuậtngữ ĐLH nhưng không phải chỉ nói đến USD mà bất kỳ ngoại tệ nào được sử dụngthay thế các chức năng của nội tệ đều được gọi là hiện tượng ĐLH Thuật ngữ ĐLH
sử dụng ở đây đồng nghĩa với “ngoại tệ hóa” Sở dĩ có vấn đề này là do trong hầuhết các hoạt động thương mại, tài chính trên thế giới hiện nay, USD là đồng tiềnđược ưa chuộng và sử dụng nhiều nhất nên thuật ngữ “đô la hóa” đã ra đời và vềbản chất nó được coi là đồng nghĩa với “ngoại tệ hóa” Cho đến nay, USD vẫnchiếm giữ vị trí cao nhất (62,7% vào năm 2017) trong dự trữ, thanh toán của cácnước trên thế giới (Hình 2.1)
Trong nền kinh tế Việt Nam, bên cạnh việc người dân ưa chuộng USD, EUR,hay một số ngoại tệ mạnh khác, vẫn còn không nhỏ một bộ phận dân chúng cất trữ,giao dịch với nhau bằng đồng tiền “cổ điển”, đó là vàng Thời gian trước đây, ngoài
sở thích cất trữ vàng (vẫn còn tồn tại cho đến tận hôm nay), khi trao đổi mua bánmột số tài sản có giá trị như: đất đai, nhà cửa, người dân thường thanh toán bằngvàng Một số nhà nghiên cứu cho rằng hiện tượng này được gọi là “vàng hóa”.Tương tự như ĐLH, “vàng hóa” cũng gây không ít khó khăn trong việc điều hànhnền kinh tế của Chính phủ Chính vì vậy, khi nghiên cứu khái niệm ĐLH,
Trang 30chúng ta không thể bỏ qua hiện tượng “vàng hóa” trong nền kinh tế Tuy nhiên,vàng khác ngoaịtê ̣ởchỗkhảnăng phát hành, do đó, tác đông ̣ của hiêṇ tương ̣ “vànghóa” đối với nền kinh tếcũng hoàn toàn khác với hiêṇ tương ̣ ĐLH, “vàng hóa”không gây khó khăn nhiều trong điều hành CSTT như ĐLH vì vàng không nằmtrong thành phần của tổng phương tiện thanh toán (M2) mà chỉ được xem là tài sản
tài chinh́ cótinh́ thanh khoản cao Do đó, trong luận án này, khi phân tích tác độngcủa ĐLH, tác giả không đề cập đến “vàng hóa”
Hình 2.1: Tỷ lệ dự trữ các đồng tiền trên thế giới
GBP JPY CNY
Nguồn: International Financial Statistics, IMF
phân tích trên, theo tác giả, khái niệm về ĐLH có thể được hiểu
“ĐLH là hiện tượng môṭ đồng tiền của bất kỳquốc gia nào trên thếgiới xuất hiêṇ trong nền kinh tếcủa môṭ quốc gia khác dưới moị hình thức, bất chấp viêc ̣ chấp nhâṇ hay không chấp nhâṇ của Chính phủnước đóhay nói cách khác ĐLH là hiêṇ tương̣ dân chúng sử dung̣ đồng tiền không phải do Chính phủnước đó phát hành ra”.
Đểlàm rõhơn về ĐLH, luận án trình bày môṭ sốkhái niêṃ liên quan đến hiêṇ tương ̣ ĐLH như sau:
- Đồng tiền ĐLH: làđồng tiền của quốc gia này nhưng đươc ̣ sử dung ̣ như là
nôị tê ̣ở môṭ quốc gia khác Thông thường, đồng tiền ĐLH là những đồng tiền manh,̣ cótinh́ chuyển đổi cao, đươc ̣ sử dung ̣ nhiều trong các hoaṭđông ̣ thương mai,̣
Trang 31đầu tư quốc tế Hiêṇ nay, mức đô ̣sử dung ̣ các đồng tiền đươc ̣ Quỹtiền tê ̣quốc tế (IMF) tổng hơp,̣ đánh giádưạ vào tỷlê ̣các đồng tiền trong DTNH của các nước.
- Đồng tiền bi ̣ĐLH: làđồng tiền của môṭquốc gia nhưng đang bi ̣các đồng
ngoaịtê ̣thay thếdần các chức năng tiền tê ̣trong phaṃ vi lanh̃ thổ quốc gia đó Đồngtiền bi ̣ĐLH thường cóđăc ̣ điểm giátri ̣không ổn đinḥ vàgần như chúng chỉ lưu hànhtrong phaṃ vi quốc gia đó Đồng tiền bi ̣ĐLH thường làđồng tiền của các
nước cónền kinh tếđang phát triển
- Quốc gia phát hành đồng tiền ĐLH: là quốc gia sử dụng đồng tiền của
mình để thực hiện hoạt động ĐLH nền kinh tế tại quốc gia khác Các quốc gia nàythường làcác cường quốc, cóvi tḥếvàảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tếthếgiới
- Quốc gia bi ̣ĐLH: Làquốc gia màởđóđồng tiền do minh̀ phát hành ra bi ̣ các
đồng tiền khác lấn át, thay thếdần các chức năng tiền tê.̣Trước đây, các quốc gia này thường làcác quốc gia đang phát triển, tăng trưởng thấp, laṃ phát cao Tuy nhiên, hiêṇ nay các quốc gia cótốc đô ̣tăng trưởng kinh tếcao, laṃ phát tương đối
ổn đinḥ nhưng cũng chủđông ̣ ĐLH nền kinh tế
❖ Phân loại đô la hóa
• Căn cứ vào tính hợp pháp của ngoại tệ
Theo Berg & Borensztein (2000) [49]; Baliño (2003) [44]; Gulde et al (2004)[78], ĐLH được phân ra làm 3 loại: ĐLH chính thức (official dollarization), ĐLHkhông chính thức (unofficial dollarization) và một hình thái trung gian của hai loạiĐLH này là ĐLH bán chính thức (semi-official dollarization)
- ĐLH chính thức hay ĐLH toàn phần: là việc ngoại tệ được người cư trú sử
dụng để thực hiện các chức năng của tiền tệ và được sự cho phép hoặc công nhậncủa luật pháp nước đó Khi đó, toàn bộ tài sản Có, tài sản Nợ, giá cả hàng hóa vàdịch vụ, tiền lương của người lao động, các hợp đồng giữa các bên tư nhân hay củaChính phủ đều sẽ được công khai niêm yết, thanh toán bằng ngoại tệ Nếu nội tệ còntồn tại thì nó chỉ có vai trò thứ yếu và thường chỉ là những đồng tiền xu hay cácđồng tiền mệnh giá nhỏ và có giá trị tương đương ngoại tệ nhằm tạo thuận lợi chongười dân trong những giao dịch mua bán nhỏ, lẻ hằng ngày Thông thường các
Trang 32nước chỉ áp dụng ĐLH chính thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chươngtrình ổn định kinh tế.
ĐLH chính thức không có nghĩa là chỉ có một hoặc hai ngoại tệ được lưuhành hợp pháp Tuy nhiên, các nước ĐLH chính thức thường chỉ chọn một ngoại tệlàm đồng tiền hợp pháp
- ĐLH không chính thức hay ĐLH từng phần: là việc ngoại tệ được dân cư
của một nước sử dụng để thực hiện các chức năng của tiền tệ nhưng không đượcphép hoặc không được công nhận là đồng tiền hợp pháp Tuy nhiên, một số quốcgia vẫn cho phép người dân nắm giữ ngoại tệ dưới dạng tài khoản tiền gởi ngoại tệ
ở các ngân hàng trong nước hoặc cũng có trường hợp cho phép gởi ở ngân hàngnước ngoài Trong nền kinh tế bị ĐLH không chính thức, người dân nắm giữ ngoại
tệ dưới các dạng sau: các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài;tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài; tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước; ngoại tệ tiền mặt,
- ĐLH bán chính thức: là sự tồn tại đan xen cả hai hình thức ĐLH chính thức
và ĐLH không chính thức
Ở những nước ĐLH bán chính thức, ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp pháp
và thậm chí chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng, nhưng đóng vai tròthứ cấp trong việc trả lương, thuế và những chi tiêu hàng ngày Khác với trường hợpĐLH chính thức, các nước ĐLH bán chính thức vẫn duy trì NHTW hoặc một dạng
cơ quan điều hành tiền tệ khác, có trách nhiệm thực hiện CSTT riêng của họ
• Căn cứ vào chức năng tiền tệ
De Nicolo et al (2003) [111] và Edgar L Feige (2003) [70] phân loại ĐLH theo các chức năng tiền tệ như sau:
- ĐLH thay thế tài sản: là việc người dân cất trữ ngoại tệ chứ không phải nội
tệ, nghĩa là chức năng dự trữ giá trị của nội tệ đã bị thay thế bằng ngoại tệ Điều nàythể hiện qua việc cá nhân và tổ chức nắm giữ ngoại tệ tiền mặt và duy trì tài khoảnngoại tệ tại hệ thống ngân hàng Vì việc thống kê lượng tiền mặt do người dân nắm
Trang 33giữ gặp nhiều khó khăn, do đó hiện nay ĐLH thay thế tài sản thường được đánh giá bằng tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán (M2).
- ĐLH thay thế thanh toán hay còn gọi là ĐLH tiền tệ: là việc người dân sử
dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán ngay trong nền kinh tế nội địa Để đánhgiá mức độ của dạng ĐLH này, phải căn cứ vào tỷ lệ ngoại tệ được dùng để thanhtoán trong các giao dịch nội địa Tuy nhiên, việc xác định được tỷ lệ này rất khó nếucác giao dịch được tiến hành thanh toán bằng tiền mặt hoặc không thông qua hệthống ngân hàng Nếu ngoại tệ được tự do thanh toán trong nền kinh tế nội địa thì
có thể nói lúc này tình trạng ĐLH rất trầm trọng
- ĐLH định giá, niêm yết giá: là tất cả những việc quảng cảo, niêm yết, định
giá hàng hóa và dịch vụ đều bằng ngoại tệ Thực chất, đây là việc ngoại tệ thay thếchức năng đơn vị tính toán của nội tệ Có thể nói, dạng ĐLH này rất nguy hiểm, khimột quốc gia xuất hiện ĐLH dạng này một cách công khai thì ngoại tệ đã ăn sâuvào trong tư duy của dân chúng, tình trạng rất trầm trọng và có nguy cơ xảy ra ĐLHtoàn phần
- ĐLH tài chính: là việc người dân sở hữu các tài sản sinh lời bằng ngoại tệ
và các nghĩa vụ tài chính liên quan đến ngoại tệ Trước đây, các nhà nghiên cứuthường tập trung vào ĐLH tài sản và ĐLH tiền tệ nhằm tìm hiểu tác động của nóđến việc điều hành CSTT, CSTG hay việc thay đổi lượng cung tiền trong nước thìĐLH tài chính tập trung nghiên cứu những rủi ro trong kinh doanh thương mại cũngnhư rủi ro tài chính của những người nắm giữ những tài sản hoặc các nghĩa vụ tàichính bằng ngoại tệ khi có sự biến động tỷ giá
• Căn cứ vào cơ chế xuất hiện ngoại tệ
Các nghiên cứu của De Nicolo et al (2003) [111]; Levy Yeyati (2006) [100];Neanidis & Savva (2009) [108] đã phân ĐLH thành ĐLH tiền gởi và ĐLH tiền vay;Edgar L Feige (2003) [70] và Watanabe (2007) [133] đã xem xét thêm ngoại tệ tiềnmặt trong lưu thông và chỉ số thay thế tiền tệ Dựa trên cách phân loại của cácnghiên cứu trên đồng thời bám sát cơ chế xuất hiện ngoại tệ trong nền kinh tế, luận
án phân ĐLH thành các loại:
Trang 34- ĐLH tiền gởi: là hiện tượng ngoại tệ xuất hiện trong các tài khoản tiền gởi
tại các NHTM dưới bất kỳ hình thức nào
- ĐLH tiền vay: là hình thức các NHTM cho doanh nghiệp vay vốn bằng
ngoại tệ
- ĐLH tiền mặt: là hiện tượng dân chúng sử dụng ngoại tệ để thanh toán và
cất trữ không qua hệ thống các tổ chức tài chính hợp pháp
- ĐLH định giá, niêm yết: là hiện tượng giá các loại hàng hóa, dịch vụ trong
nước đều được tính toán bằng ngoại tệ
2.1.1.2 Tình trạng đô la hóa nền kinh tế
Tình trạng ĐLH nền kinh tế phản ánh mức độ sử dụng ngoại tệ để thực hiệncác chức năng tiền tệ bất chấp sự chấp nhận hay không chấp nhận của Chính phủnước đó Tùy vào tiêu chí phân loại, tình trạng ĐLH thường được lượng hóa theonhiều tiêu thức khác nhau
Đầu tiên Agenor & Kahn (1996) [33]; Balino et al (1999) [45]; Sahay &Vegh (1995) [126] sử dụng tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ so với tổng phương tiện thanhtoán hay lượng tiền cung ứng mở rộng để lượng hóa chỉ số thay thế tài sản
Edgar L Feige (2003) [70] kết hợp hai chỉ số thay thế tiền tệ (tỷ lệ ngoại tệtiền mặt được sử dụng trong tổng số tiền mặt được lưu hành) và chỉ số thay thế tàisản (tỷ lệ tiền gởi bằng ngoại tệ trên tổng tiền gởi của hệ thống ngân hàng), để tínhchỉ số ĐLH không chính thức Chỉ số này được tính bằng tỷ lệ ngoại tệ trong nềnkinh tế (tiền mặt ngoại tệ và tiền gửi ngoại tệ) trên lượng tiền cơ sở mở rộng Trong
đó lượng tiền mặt ngoại tệ mà Edgar L Feige (2003) ước lượng trong các chỉ sốtrên từ số lượng đô la Mỹ lớn hơn hoặc bằng 10.000 USD được mang vào và mang
ra khỏi nước Mỹ dựa trên việc tổng hợp từ bản khai báo bắt buộc của Hải quan Mỹ.Phương pháp này có thể xác định được lượng tiền mặt ra khỏi nước Mỹ đã đi đếnquốc gia nào Tuy nhiên, phương pháp bỏ qua trường hợp lượng tiền mang theo nhỏhơn 10.000USD và các luồng tiền được chuyển đến nước thứ ba
Trang 35Levy Yeyati (2006) [100] sử dụng chỉ số ĐLH tiền gởi (tỷ lệ tiền gởi ngoại
tệ trên tổng tiền gởi) và chỉ số ĐLH trách nhiệm (ĐLH tiền vay) (tỷ lệ vay nợ bằngngoại tệ trên tổng cho vay của hệ thống ngân hàng)
Nhìn chung, hạn chế trong các phương pháp trên là việc đo lường lượngngoại tệ trong lưu thông thường không được biết đến, không quan sát được, trừEdgar L Feige (2003) Tuy nhiên, các chỉ số được xây dựng bởi Edgar L Feige(2003) chưa phù hợp đối với các nước đang phát triển, vì tại các quốc gia này, hệthống thông tin và thống kê còn yếu kém và chưa công khai minh bạch, việc thống
kê lượng ngoại tệ tiền mặt đang lưu hành trong nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn
Do đó, các nghiên cứu về ĐLH thường sử dụng hai chỉ số ĐLH tiền gởi và ĐLHtiền vay của Levy Yeyati (2006), các chỉ số này hiện nay được thể hiện trong cácbáo cáo của IMF, cụ thể:
Chỉ số ĐLH tiền gởi:
Chỉ số ĐLH tiền vay:
DDI = FCD
TDLDI = FCL
TL
Trong đó:
DDI: Deposit Dollarization Index (ĐLH tiền gởi)
FCD: Foreign Currency Deposit (tiền gởi ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng)TD: Total Deposits (Tổng tiền gởi trong hệ thống ngân hàng)
M2: Tổng phương tiện thanh toán
LDI: Loan Dollarization Index (ĐLH tiền vay)
TL: Total Loans (Tổng cho vay)
Từ kết quả tính toán, tình trạng ĐLH của một quốc gia sẽ được đánh giá theo
3 cấp: cao, trung bình và thấp Theo Balino et al (1999) [45], các nước có các chỉ sốĐLH lớn hơn 30% là những nước có tình trạng ĐLH cao, nằm trong khoảng từ 10%đến 30% là những nước có tình trạng ĐLH trung bình và nhỏ hơn 10% là nhữngnước có tình trạng ĐLH thấp
Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển, hệ thống dữ liệu thống kê cònyếu kém, hơn nữa Việt Nam không nằm trong danh sách các nước trong báo cáo
Trang 36của cơ quan Hải quan Mỹ, do đó không thể thống kê lượng tiền mặt ngoại tệ theoEdgar L Feige (2003) Vì vậy, trong luận án này, tác giả đánh giá tình trạng ĐLHtại Việt Nam dựa trên tiêu chí cơ chế xuất hiện ngoại tệ trong nền kinh tế, đó là tìnhtrạng ĐLH tiền gởi, tình trạng ĐLH tiền vay, tình trạng ĐLH tiền mặt và tình trạngĐLH định giá, niêm yết Trong đó, luận án tập trung phân tích, đánh giá tình trạngĐLH tiền gởi và tình trạng ĐLH tiền vay được lượng hóa theo cách tính của IMF.Đối với tình trạng ĐLH tiền mặt, luận án ước lượng lượng tiền mặt ngoại tệ tronglưu thông dựa vào sự chênh lệch của kiều hối và thay đổi tiền gởi ngoại tệ theoNguyen Thi Hong (2002) [109] và cuối cùng là tình trạng ĐLH định giá, niêm yếtcũng được luận án đề cập đến theo phương pháp quan sát, thống kê, mô tả với mụcđích bổ sung một cách toàn diện tình trạng ĐLH trong nền kinh tế Việt Nam.
2.1.2 Tác động của tình trạng đô la hóa đối với nền kinh tế
Cho dù ở trong tình trạng cao, trung bình hay thấp thì tình trạng ĐLH đều cónhững tác động tích cực cũng như tiêu cực, cụ thể:
2.1.2.1 Tác động tích cực
Dornbusch (2001) [67] cho rằng, bằng cách dùng ngoại tệ thay thế nội tệ, giácủa rủi ro của đồng tiền sẽ biến mất bởi vì tỷ giá hối đoái không tồn tại Mặt khác,việc nắm giữ ngoại tệ của người dân và doanh nghiệp sẽ giúp được họ giảm chi phígiao dịch khi thanh toán trong hoạt động thương mại quốc tế, vì họ không cầnchuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác mà có thể sử dụng lượng ngoại tệđang nắm giữ để thanh toán trực tiếp cho các đối tác nước ngoài (Fischer (1982)[71] và De Grauwe (2000) [63]) Các nhà đầu tư sẽ không còn trích lập dự phòngrủi ro tỷ giá, chi phí giao dịch cũng như chi phí kinh doanh Lợi ích từ chi phí giaodịch thấp hơn có thể thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế
Balino et al (1999) [45] khẳng định ĐLH là một dấu hiệu của sự hội nhậpngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, là kết quả tự nhiên của việc mở cửa nền kinh
tế và tự do hóa thị trường tài chính Lợi ích từ việc giảm thiểu rủi ro tỷ giá,
Trang 37giảm chi phí giao dịch, góp phần gia tăng niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài,
từ đó thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế Sự cho phép nhận tiền gửi ngoại tệgiúp gia tăng vốn cho các NHTM Cho vay bằng ngoại tệ góp phần thúc đẩy mạnhhoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế củadoanh nghiệp
Ilan và Olivares (2000) [85]; Perez (2012) [120] cho rằng khi người dânkhông còn tin tưởng vào sự điều hành các chính sách kinh tế của Chính phủ, NHTWkhông thể kiềm giữ lạm phát thấp như cam kết thì ĐLH nền kinh tế sẽ thúc đẩy sự
ổn định kinh tế vĩ mô Mặt khác, Chang và Velasco (2001) [59] cho rằng ĐLH đóngvai trò là một thiết bị cam kết mang lại sự tin cậy cho chính sách, và loại bỏ những
kỳ vọng bất lợi của lạm phát
Lịch sử cũng đã chứng minh, khi siêu lạm phát xảy ra ở các quốc gia nhưĐức, Áo vào năm 1922-1923 hay Zimbabwe vào năm 2008, NHTW của các nướcnày đã tận dụng cỗ máy in tiền, kết quả làm cho nền kinh tế càng thêm trầm trọnghơn Để thoát khỏi siêu lạm phát, Đức, Áo chọn giải pháp cải cách tiền tệ, còn mớiđây Zimbabwe quyết định chọn ĐLH chính thức để cứu nền kinh tế
Ở một số quốc gia khác như Argentina, Panama và một số quốc gia ở châu
Mỹ Latinh, ĐLH chính thức giúp nền kinh tế của các quốc gia này thoát khỏi tìnhtrạng khủng hoảng nặng nề, Chính phủ không còn lạm dụng việc in tiền để bù đắpthiếu hụt ngân sách, do đó sẽ thắt chặt được kỷ luật về tiền tệ và hoạt động của ngânsách sẽ mang tính tích cực hơn
2.1.2.2 Tác động tiêu cực
Mặc dù có những tác động tích cực đến nền kinh tế như kể trên, nhưng có thểnói, ĐLH cũng có những ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế, nổi bật như:
Hiệu quả điều hành CSTT của NHTW được thể hiện rất rõ thông qua thựchiện hệ thống các mục tiêu mà chủ đích là mục tiêu cuối cùng, với nhiệm vụ quan trọng là tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông Một nền kinh tế bị ĐLH, tức
Trang 38là tồn tại ít nhất hai đồng tiền trong lưu thông, NHTW khó dự đoán được diễn biếnTPTTT vì không thể kiểm soát được số ngoại tệ trôi nổi trong nền kinh tế (Ize &Yeyati (2006) [89]) Trong khi đó, cầu nội tệ cũng không ổn định, chỉ cần một biếnđộng, dân chúng dễ dàng chuyển cất trữ ngoại tệ, hoặc một thay đổi về lãi suất trongnước hay nước ngoài chắc chắn sẽ tạo ra một sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền nàysang đồng tiền khác Điều này dẫn đến các quyết định tăng, giảm lượng tiền tronglưu thông trở nên kém hiệu quả và không kịp thời, và đây là một trong nhữngnguyên nhân xảy ra lạm phát, tạo ra những bất ổn trong nền kinh tế, dân chúng lạicàng lo sợ giá trị tài sản bằng nội tệ của mình bị mất đi, đổ xô chuyển đổi sangngoại tệ, việc điều hành CSTT càng khó khăn, hiệu quả càng kém, lạm phát cànggia tăng,… Việc điều hành CSTT của NHTW càng bị cuốn xoáy vào “vòng luẩnquẩn”, rất dễ rơi vào bế tắc, khủng hoảng trầm trọng.
Mặc dù ĐLH toàn phần loại bỏ được rủi ro về phá giá nội tệ gây ảnh hưởngxấu tới hệ thống ngân hàng nhưng nó không loại bỏ được hoàn toàn các nguyênnhân có thể gây nên khủng hoảng Khi khủng hoảng xảy ra thì chính ĐLH toànphần lại tước đi khả năng là người cho vay cuối cùng của NHTW (Ford (2001) [72];Chang và Velasco (2001) [59]; Perez (2012) [120]) và làm giảm khả năng phản ứngcủa NHTW trong các tình huống khẩn cấp của hệ thống tài chính Trong trường hợp
có biến động, mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho nội tệ mất giá
và bắt đầu một chu kỳ lạm phát, những thay đổi về lãi suất trong nước hay nướcngoài có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác (hoạtđộng đầu cơ tỷ giá) Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho NHTW trong việc đặtmục tiêu cung tiền trong nước và có thể gây bất ổn trong hệ thống ngân hàng
Ở các nước đang phát triển chưa bị ĐLH hoàn toàn, mặc dù các NHTM cóvốn tự có thấp, song dân chúng vẫn tin tưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiềngửi của họ tại đây Nguyên nhân là do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối vớicác khoản tiền này Điều này chỉ có thể làm được đối với nội tệ, chứ không thể ápdụng được đối với đô la Mỹ vì NHTW không có chức năng phát hành đồng tiền
Trang 39này Một nền kinh tế bị ĐLH chính thức hay hoàn toàn, khu vực ngân hàng sẽ trởnên bất ổn hơn trong trường hợp NHTM bị phá sản và sẽ phải đóng cửa khi chứcnăng là người cho vay cuối cùng của NHTW đã bị mất.
Xuất khẩu có vai trò quan cùng quan trọng đối với sự phát triển, do đó việctăng cường mở rộng thị trường cũng như thúc đẩy hoạt động xuất khẩu là tráchnhiệm hàng đầu của mỗi quốc gia Ngoài những yếu tố quan trọng như chất lượngsản phẩm, giá cả hàng hóa thì việc phá giá nội tệ thông qua điều chỉnh tỷ giá cũng làmột yếu tố quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp thị trường xuất khẩu của quốcgia đó Đối với một nước bị ĐLH không chính thức, các quyết định điều chỉnh tỷgiá vô cùng nhạy cảm Nếu mặt bằng giá cả trong nước tăng nhanh hơn Mỹ thì khảnăng cạnh tranh trong xuất khẩu bị giảm sút vì lúc đó USD tăng giá trị thực, còn nếu
Mỹ và các nước phát hành đồng tiền ĐLH là đối thủ cạnh tranh trên thị trường thếgiới thực hiện phá giá đồng tiền của mình, thì lúc đó quốc gia bị ĐLH sẽ không cònkhả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của thị trường xuất khẩu thông qua việc điềuchỉnh tỷ giá hối đoái Đối với một nước bị ĐLH chính thức, khả năng này bị mấthẳn vì Chính phủ nước này bị tước quyền phá giá đồng tiền Lịch sử đã chứng minhtrường hợp này đối với Argentina vào năm 1999, khi Braxin thực hiện phá giá mạnhđồng Real và hệ quả là hàng xuất khẩu của Argentina sang Braxin đã giảm đáng kể
và hàng hóa của Braxin lại có khả năng cạnh tranh hơn một cách rõ rệt tạiArgentina Việc lầm tưởng khi tiếp nhận USD có lợi thế thương mại vì giá trị ổnđịnh chỉ thực sự diễn ra trong trường hợp Mỹ là đối tác thương mại quan trọng nhất
Do đó, các nước bị ĐLH luôn đối mặt với nguy cơ thị trường xuất khẩu ngày càng
bị thu hẹp dần
ĐLH càng cao, tức là tiền gởi bằng ngoại tệ trong hệ thống NHTM càng tănglên Vì lợi nhuận, các NHTM buộc phải cho các doanh nghiệp trong nước vay bằngngoại tệ, trong khi hầu hết doanh thu của các doanh nghiệp này lại bằng nội tệ Nhưvậy, về phía doanh nghiệp, họ phải đối mặt với rủi ro mất khả năng thanh toán khi
Trang 40có sự biến động tỷ giá, lúc này lợi nhuận bán hàng chỉ đủ trang trải khoản lãi vayđang ngày càng lớn dần do tỷ giá tăng, thậm chí thua lỗ, nợ nần chồng chất Về phíangười gửi tiền, họ biết chắc chắn rằng ngoại tệ của họ sau khi gởi sẽ được NHTMcho vay lại, vì thế khi thấy tỷ giá càng tăng, họ lo sợ rằng các NHTM mà họ gởi tiềnđang có vấn đề với những khoản cho vay mất khả năng thu hồi, họ sẽ thi nhau rúttiền Về phía các NHTM, họ đang đối mặt với hai loại rủi ro đó là rủi ro tín dụng vàrủi ro về khả năng chi trả, vì đáp ứng nhu cầu rút tiền của dân chúng là việc cần phảigiải quyết trước mắt và kịp thời trong khi thu hồi các khoản tín dụng thì cần có thờigian, đòi hỏi NHTM phải có một khối tài sản bằng ngoại tệ có tính thanh khoản cao
đủ lớn hoặc phải đi vay NHTW và các ngân hàng khác Trong bối cảnh đó, nguồnngoại tệ của các NHTM khác cũng cạn kiệt và ngay cả NHTW cũng vậy, vì đâykhông phải là nội tệ nên không thể sử dụng cỗ máy in tiền để cứu giúp các NHTM.Kết cục là khả năng sụp đổ cả hệ thống ngân hàng đang diễn ra trước mắt và mộtcuộc khủng hoảng tài chính sắp bắt đầu
bị ĐLH đồng nghĩa với việc tồn tại ít nhất hai đồng tiền trong
lưu thông tiền tệ Nội tệ sẽ mất đi vai trò chủ đạo và luôn chịu sự cạnh tranh về thịphần trong lưu thông, nội tệ bị thu hẹp chỉ còn trong các giao dịch nhỏ, lẻ hằngngày, còn các giao dịch lớn và cất trữ giá trị người dân lại ưu tiên chọn ngoại tệ.Keely & Adam (2013) [95] chứng minh rằng, cho dù nền kinh tế bị ĐLH chính thứchay không chính thức, Chính phủ của quốc gia đó cũng bị mất một phần hay toàn bộquyền kiểm soát tiền tệ, làm suy giảm uy tín chính trị của quốc gia đó Bởi vì, đồngtiền quốc gia là một biểu tượng chính trị quan trọng nhằm tăng cường bản sắc vănhóa dân tộc, là một đặc điểm để phân biệt quốc gia này với quốc gia khác bên cạnhnhững biểu tượng đặc trưng như quốc kỳ, quốc ca, kiến trúc,…
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, bất kỳ quốc gia nào cũng chịu tácđộng bởi những cú sốc từ bên ngoài như sự dịch chuyển các luồng vốn, khủng hoảng, nhập khẩu lạm phát,… Với một nước bị ĐLH thì khả năng đối mặt, chống