1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hạn chế tình trạng đô la hóa tại Việt Nam

216 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 3,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế diễn ra mạnh mẽ, các nền kinh tế đang chuyển đổi đã thu hút một lượng lớn ngoại tệ thông qua nhiều kênh khác nhau. Các nguồn ngoại tệ này là các nguồn lực quan trọng giúp các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi từng bước thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, các quốc gia này đã và đang đối mặt với hiện tượng đô la hóa (ĐLH) trong nền kinh tế. ĐLH thường được xem là sản phẩm tất yếu, một thực thể khách quan gắn với cơ chế hoạt động của mô hình kinh tế mở, vì vậy, bản thân nội dung của hiện tượng này đã thể hiện tính tích cực của nó. Tuy nhiên, khi nền kinh tế bị ĐLH, quá trình điều hòa cung ứng tiền của ngân hàng trung ương gặp nhiều khó khăn, cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự cân bằng của thị trường ngoại hối. Bên cạnh đó, khi những nội dung ĐLH bị lạm dụng bởi những yếu tố chủ quan, tự phát của các thành viên trong xã hội, hoặc khi các cơ quan quản lý kinh tế không có những biện pháp hữu hiệu để kiểm soát được những mặt tiêu cực của nó, ĐLH sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường cho nền kinh tế - xã hội. Cùng cảnh ngộ như hầu hết các quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam có một lịch sử lâu dài về việc sử dụng đồng đô la Mỹ song song với đồng tiền Việt Nam từ những năm 1960. Ở miền Nam, đô la Mỹ đã được cất trữ và sử dụng rộng rãi, ngược lại, ở miền Bắc ngoại tệ bị cấm theo Nghị định 102/CP ngày 06/7/1963. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, nền kinh tế Việt Nam trãi qua một thời kỳ dài đầy khó khăn và thất bại trong chính sách giá – lương – tiền của đồng nội tệ, từ đó, công chúng càng mất niềm tin vào giá trị VND, tâm lý sùng bái vàng và ngoại tệ càng gia tăng, tình trạng ĐLH càng phức tạp. Tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ/M2 được chính thức công bố vào năm 1991 là 41,2% (không có số liệu vàng hóa), và từ đây vấn đề ĐLH bắt đầu được các nhà nghiên cứu quan tâm như: Dodsworth và cộng sự (1996 ) [65]; Nguyễn, Thị Hồng (2002, 2011) [109,11]; Hauskrecht và Nguyễn, Thanh Hải (2004) [79]; Michiael Goujon (2006) [105]; Watanabe Shinichi (2006, CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế diễn ra mạnh mẽ, các nền kinh tế đang chuyển đổi đã thu hút một lượng lớn ngoại tệ thông qua nhiều kênh khác nhau. Các nguồn ngoại tệ này là các nguồn lực quan trọng giúp các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi từng bước thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, các quốc gia này đã và đang đối mặt với hiện tượng đô la hóa (ĐLH) trong nền kinh tế. ĐLH thường được xem là sản phẩm tất yếu, một thực thể khách quan gắn với cơ chế hoạt động của mô hình kinh tế mở, vì vậy, bản thân nội dung của hiện tượng này đã thể hiện tính tích cực của nó. Tuy nhiên, khi nền kinh tế bị ĐLH, quá trình điều hòa cung ứng tiền của ngân hàng trung ương gặp nhiều khó khăn, cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự cân bằng của thị trường ngoại hối. Bên cạnh đó, khi những nội dung ĐLH bị lạm dụng bởi những yếu tố chủ quan, tự phát của các thành viên trong xã hội, hoặc khi các cơ quan quản lý kinh tế không có những biện pháp hữu hiệu để kiểm soát được những mặt tiêu cực của nó, ĐLH sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường cho nền kinh tế - xã hội. Cùng cảnh ngộ như hầu hết các quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam có một lịch sử lâu dài về việc sử dụng đồng đô la Mỹ song song với đồng tiền Việt Nam từ những năm 1960. Ở miền Nam, đô la Mỹ đã được cất trữ và sử dụng rộng rãi, ngược lại, ở miền Bắc ngoại tệ bị cấm theo Nghị định 102/CP ngày 06/7/1963. Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, nền kinh tế Việt Nam trãi qua một thời kỳ dài đầy khó khăn và thất bại trong chính sách giá – lương – tiền của đồng nội tệ, từ đó, công chúng càng mất niềm tin vào giá trị VND, tâm lý sùng bái vàng và ngoại tệ càng gia tăng, tình trạng ĐLH càng phức tạp. Tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ/M2 được chính thức công bố vào năm 1991 là 41,2% (không có số liệu vàng hóa), và từ đây vấn đề ĐLH bắt đầu được các nhà nghiên cứu quan tâm như: Dodsworth và cộng sự (1996 ) [65]; Nguyễn, Thị Hồng (2002, 2011) [109,11]; Hauskrecht và Nguyễn, Thanh Hải (2004) [79]; Michiael Goujon (2006) [105]; Watanabe Shinichi (2006,

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU HIẾU

HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA

TẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CSTT : Chính sách tiền tệ CSLS : Chính sách lãi suất CSTG : Chính sách tỷ giá CCTM : Cán cân thương mại DTNH : Dự trữ ngoại hối DTBB : Dự trữ bắt buộc ĐLH : Đô la hóa FCD : Tiền gửi bằng ngoại tệ

LSCV : Lãi suất cho vay NHNN : Ngân hàng Nhà nước NHTW : Ngân hàng trung ương NHTM : Ngân hàng thương mại NSNN : Ngân sách nhà nước TCTD : Tổ chức tín dụng TPTTT : Tổng phương tiện thanh toán TTCK : Thị trường chứng khoán TTNH : Thị trường ngoại hốiTGHĐ : Tỷ giá hối đoái USD : Đồng đô la Mỹ VND : Đồng Việt Nam

VECM : Mô hình hiệu chỉnh sai số dạng véctơ

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT III MỤC LỤC IVV DANH MỤC BẢNG, BIỂU XX DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ X1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU - 1 -

1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI - 1 -

1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN - 2 - 1.2.1.Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài - 2 -

1.2.2.Tình hình nghiên cứu trong nước - 6 -

1.3 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU - 10 -

1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu - 10 -

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu - 10 -

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU - 10 -

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 11 -

1.6 SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU - 12 -

1.7 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN - 12 -

1.8 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN - 13 -

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA - 14 -

2.1 TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TRONG NỀN KINH TẾ - 14 -

2.1.1 Lý luận chung về đô la hóa và tình trạng đô la hóa - 14 -

2.1.1.1 Đô la hóa - 14 -

2.1.1.2 Tình trạng đô la hóa nền kinh tế - 20 -

Trang 4

2.1.2.1 Tác động tích cực - 22 -

2.1.2.2 Tác động tiêu cực - 23 -

2.1.3 Mối quan hệ giữa tình trạng đô la hóa với các chỉ tiêu

kinh tế vĩ mô - 27 -

2.1.3.1 Lý thuyết về sự lựa chọn tiền tệ - 27 -

2.1.3.2 Tương quan giữa tình trạng đô la hóa với các chỉ tiêu

kinh tế vĩ mô - 29 -

2.2 HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA NỀN KINH TẾ - 36 -

2.2.1 Khái niệm - 36 -

2.2.2 Chính sách và biện pháp hạn chế tình trạng đô la hóa - 36 -

2.3 KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM - 38 -

2.3.1 Thực tiễn đô la hóa ở một số nước trên thế giới - 38 -

2.3.1.1 Các nước đô la hóa chính thức - 38 -

2.3.1.2 Các nước đô la hóa bán chính thức - 42 -

2.3.1.3 Các nước đô la hóa không chính thức - 45 -

2.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với việc hạn chế tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế Việt Nam - 55 -

2.3.2.1 Hạn chế đô la hóa không có nghĩa là loại bỏ hoàn toàn - 55 -

2.3.2.2 Đô la hóa chính thức không phải là lựa chọn tốt khi xảy ra khủng hoảng - 56 -

2.3.2.3 Hạn chế đô la hóa cần kết hợp các biện pháp mang tính chất hành chính với công cụ kinh tế thị trường - 57 -

2.3.2.4 Nhất quán quan điểm lưu hành duy nhất nội tệ trong nền kinh tế - 57 -

2.3.2.5 Củng cố niềm tin vào nội tệ bằng một nền kinh tế vĩ mô ổn định - 58 -

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 - 59 -

Trang 5

CHƯƠNG 3 TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1992-2017 - 60 -

3.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ - 60 -

3.1.1.Tăng trưởng kinh tế - 60 -

3.1.2 Cán cân thương mại - 61 -

3.1.3 Dòng vốn nước ngoài - 63 -

3.1.4 Dự trữ ngoại hối - 63 -

3.2 THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM - 65 -

3.2.1 Đô la hóa tiền gởi - 65 -

3.2.2 Đô la hóa tiền vay - 68 -

3.2.3 Đô la hóa tiền mặt - 70 -

3.2.4 Đô la hóa định giá, niêm yết - 73 -

3.3 NGUYÊN NHÂN TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM - 75 -

3.3.1 Tỷ lệ lạm phát cao và diễn biến phức tạp - 75 -

3.3.2 Tỷ giá hối đoái USD/VND có xu hướng tăng thường xuyên - 77 -

3.3.3 Lợi ích khi gởi và vay tiền đồng chưa cao - 83 -

3.3.4 Chính sách quản lý ngoại hối còn nhiều bất cập - 87 -

3.3.5 Sự tồn tại của thị trường ngoại hối không chính thức - 91 -

3.3.6 Chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và thị trường tự do - 92 - 3.3.7 Tâm lý xem ngoại tệ như là một phương tiện thanh toán bình thường và có khả năng cất trữ - 93 -

3.3.8 Kênh ngoại tệ chuyển vào Việt Nam ngày càng nhiều - 94 -

3.4 CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA

ĐÃ ĐƯỢC CHÍNH PHỦ SỬ DỤNG TRONG THỜI GIAN QUA - 95 -

3.4.1 Nhóm biện pháp trực tiếp tác động đến tình trạng đô la hóa - 95 -

3.4.1.1 Đối với tình trạng đô la hóa tiền gởi - 95 -

3.4.1.2 Đối với tình trạng đô la hóa tiền vay - 97 -

Trang 6

3.4.1.3 Đối với tình trạng đô la hóa tiền mặt và đô la hóa định giá,

niêm yết - 99 -

3.4.2 Nhóm biện pháp gián tiếp tác động đến tình trạng đô la hóa - 99 -

3.4.2.1 Giảm trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng - 99 -

3.4.2.2 Ổn định tỷ giá bằng cơ chế can thiệp trên thị trường ngoại tệ và công bố tỷ giá trung tâm - 100 -

3.4.2.4 Thực hiện các biện pháp chống vàng hóa, ổn định thị trường vàng trong nước - 100 -

3.4.2.3 Xây dựng cơ chế quản lý dự trữ ngoại hối phù hợp với xu thế hội nhập - 102 -

3.4.3 Thành công và hạn chế từ những biện pháp khắc phục tình trạng đô la hóa của Chính phủ - 102 -

3.4.3.1 Thành công - 102 -

3.4.3.2 Hạn chế - 104 -

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 - 107 -

CHƯƠNG 4 BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ

GIỮA TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA VỚI CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ - 108 -

4.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU - 108 -

4.1.1 Lý do lựa chọn mô hình VECM - 108 -

4.1.2 Lý thuyết về mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số VECM - 109 -

4.2 BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA

TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA VỚI CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ- 112 - 4.2.1 Mối quan hệ giữa tình trạng đô la hóa tiền gởi với các biến

số tiền tệ dưới tác động của chính sách trần lãi suất huy động (Mô hình DDI) - 112 -

4.2.1.1 Xây dựng mô hình - 112 -

4.2.1.2 Kết quả nghiên cứu - 115 -

Trang 7

4.2.2 Mối quan hệ giữa tình trạng đô la hóa tiền vay với tăng trưởng

kinh tế và xuất khẩu (Mô hình LDI) - 128 -

4.2.2.1 Xây dựng mô hình - 128 -

4.2.2.2 Kết quả nghiên cứu - 130 -

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 - 132 -

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG

ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM - 133 -

5.1 KẾT LUẬN - 133 -

5.1.1 Kết luận chung về tình trạng đô la hóa tại Việt Nam - 133 -

5.1.2 Kết luận về những nhân tố tác động đến tình trạng đô la hóa

tiền gởi - 134 -

5.1.3 Kết luận về những nhân tố tác động đến tình trạng đô la hóa

tiền vay - 134 -

5.1.4 Kết luận về những nhân tố tác động đến tình trạng đô la hóa

tiền mặt và đô la hóa định giá, niêm yết - 135 -

5.2 ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU CỦA NHÀ NƯỚC VỀ HẠN CHẾ

TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA - 135 -

5.3 CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA

TẠI VIỆT NAM - 136 -

5.3.1 Nhóm giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô - 137 -

5.3.1.1 Chính sách tiền tệ - 137 -

5.3.1.2 Chính sách tài khóa và quản lý nợ công - 139 -

5.3.2 Nhóm giải pháp mang tính thị trường - 140 -

5.3.2.1.Phát triển thị trường ngoại hối theo hướng hiện đại,

phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu - 140 -

5.3.2.2 Hỗ trợ lãi suất vay VND phục vụ xuất khẩu, chuyển hoàn toàn quan hệ vay – mượn ngoại tệ sang mua – bán ngoại tệ- 141 - 5.3.2.3 Tăng cường dự trữ ngoại hối - 143 -

Trang 8

5.3.3 Nhóm giải pháp mang tính hành chính bắt buộc - 143 -

5.3.3.1 Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý ngoại hối - 144 -

5.3.3.2 Khai báo nguồn gốc ngoại tệ - 144 -

5.3.3.3 Nhất quán chủ trương quản lý lưu hành ngoại tệ theo hướng “ Trên đất nước Việt Nam chỉ thanh toán bằng đồng Việt Nam” - 145 -

5.4 KIẾN NGHỊ - 145 -

5.4.1 Ngân hàng Nhà nước - 145 -

5.4.2 Bộ Tài chính - 145 -

5.4.3 Bộ Thương mại - 145 -

5.4.4 Bộ Công an - 146 -

5.4.5 Bộ Văn hoá - Thông tin - 146 -

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 - 146 -

TÀI LIỆU THAM KHẢO XIII TIẾNG VIỆT xiii

TIẾNG NƯỚC NGOÀI xv

PHỤ LỤC A XXV PHỤ LỤC B XLIV PHỤ LỤC C LXIV PHỤ LỤC D LXV

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 3.1: Ước lượng tiền mặt ngoại tệ trong lưu thông dựa vào nguồn kiều hối giai

đoạn 1992-2017 - 71 -

Bảng 3.2: Ước lượng tiền mặt ngoại tệ trong lưu thông dựa vào mục lỗi và sai sót trong cán cân thanh toán quốc tế giai đoạn 1992-2017 - 72 -

Bảng 3.3: Diễn biến tỷ giá USD/VND giai đoạn 1989 – 1991 - 79 -

Bảng 3.4: Hiện tượng phá giá mạnh VND vào năm 1998 - 79 -

Bảng 3.5: Biến động tỷ giá USD/VND giai đoạn 2002-2007 - 80 -

Bảng 3.6: Thay đổi biên độ tỷ giá USD/VND giai đoạn 2008-2011 - 81 -

Bảng 3.7: Thay đổi biên độ tỷ giá USD/VND giai đoạn T2/2011-T12/2017 - 82 -

Bảng 3.8: Trần lãi suất huy động VND và USD giai đoạn 2008 - 2017 - 96 -

Bảng 3.9: Các văn bản pháp luật quy định cho vay ngoại tệ ngắn hạn - 97 -

Bảng 3.10: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc VND và ngoại tệ giai đoạn 2008-2017 - 98 -

Bảng 3.11: Nhóm giải pháp chống vàng hóa, quản lý thị trường vàng

giai đoạn 2000 - 2017 - 101 -

Bảng 4.1: Biến số và nguồn dữ liệu mô hình DDI - 114 -

Bảng 4.2: Hệ số ước lượng các vectơ đồng liên kết mô hình DDI - 117 -

Bảng 4.3: Kết quả kiểm định loại bỏ biến không có tác động dài hạn - 118 -

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định loại bỏ biến không có tác động ngắn hạn - 119 -

Bảng 4.5: Kết quả ước lượng VECM giai đoạn tháng 01/2008 – 03/2011 - 120 -

Bảng 4.6: Kết quả ước lượng VECM giai đoạn 04/2011-12/2017 - 121 -

Bảng 4.7: Phân rã phương sai của DDI - 123 -

Bảng 4.8: Biến số và nguồn dữ liệu mô hình LDI - 129 -

Bảng 4.9: Kết quả ước lượng phương trình đồng liên kết - 130 -

Bảng 4.10: Kết quả ước lượng phương trình ngắn hạn - 130 -

Trang 10

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ

Hình 2.1: Tỷ lệ dự trữ các đồng tiền trên thế giới - 16 -

Hình 2.2 : Mối tương quan giữa tình trạng đô la hóa và lạm phát - 30 -

Hình 2.3: Các chỉ số kinh tế của Ecuador trước và sau khi ĐLH chính thức - 39 -

Hình 2.4: Các chỉ số kinh tế của El Salvador trước và sau khi ĐLH chính thức - 41 - Hình 2.5: Tăng trưởng, lạm phát và tình trạng ĐLH nền kinh tế Campuchia - 43 -

Hình 2.6: Tăng trưởng, lạm phát và tình trạng ĐLH nền kinh tế của Lào - 44 -

Hình 2.7: Tăng trưởng, lạm phát và xuất nhập khẩu của Trung Quốc - 47 -

Hình 2.8: Dự trữ ngoại hối và tình trạng ĐLH của Trung Quốc - 49 -

Hình 3.1: Tăng trưởng GDP và tình trạng ĐLH giai đoạn 1992-2017 - 61 -

Hình 3.2: Cán cân thương mại và tình trạng ĐLH giai đoạn 1992-2017 - 62 -

Hình 3.3: Dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 1992 – 2017 - 63 -

Hình 3.4: Dự trữ ngoại hối và tình trạng ĐLH giai đoạn 1992-2017 - 64 -

Hình 3.5: Tình trạng ĐLH tiền gởi giai đoạn 1992-2017 - 66 -

Hình 3.6: Huy động và cho vay ngoại tệ giai đoạn 1992-2017 - 68 -

Hình 3.7: Tình trạng ĐLH tiền vay giai đoạn 1992-2017 - 69 -

Hình 3.8: ĐLH tiền mặt và tiền mặt trong lưu thông giai đoạn 1992-2017 - 73 -

Hình 3.9: Tình trạng ĐLH tiền gởi và lạm phát giai đoạn 1992-2017 - 77 -

Hình 3.10: ĐLH tiền gởi, ĐLH tiền vay và tỷ giá USD/VND

giai đoạn 1992-2017 - 78 -

Hình 3.11: Diễn biến tỷ giá USD/VND giai đoạn 2008-2017 - 82 -

Hình 3.12: Tình trạng ĐLH tiền gởi và lãi suất huy động giai đoạn 1992-2017 - 86 - Hình 3.13: Tình trạng ĐLH tiền vay và chênh lệch chi phí phải trả giữa vay VND và USD giai đoạn 1992-2017 - 87 -

Hình 3.14: Tình trạng ĐLH và chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chính thức và

thị trường tự do giai đoạn 1992-2017 - 93 -

Hình 3.15: Khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2017 - 94 -

Trang 11

Hình 3.16: Tình trạng ĐLH tiền mặt, tăng trưởng tiền gởi ngoại tệ

và kiều hối giai đoạn 1992-2017 - 94 -

Hình 3.17: ĐLH tiền gởi và chênh lệch lợi tức tiền gởi giữa VND và USD

giai đoạn 1992-2017 - 97 -

Hình 3.18: Trần lãi suất cho vay VND giai đoạn từ 2012-2017 - 98 -

Hình 4.1: Các chuỗi biến số thời gian mô hình DDI - 115 -

Hình 4.2: Phản ứng của ĐLH tiền gởi trước sốc 1% của các biến số giai đoạn tháng 01/2008 đến 03/2011 - 122 -

Hình 4.3: Phản ứng của ĐLH tiền gởi trước sốc 1% của các biến số giai đoạn tháng 04/2011 đến 12/2017 - 122 -

Hình 4.4: Phản ứng tích lũy của DDI do cú sốc RES - 124 -

Hình 4.5: Phản ứng tích lũy của DDI do cú sốc DIF_CE - 125 -

Hình 4.6: Phản ứng tích lũy của DDI do cú sốc 1% R_USD - 127 -

Hình 4.7: Phản ứng tích lũy của GDP và EX do sốc 1% của LDI - 131 -

Hình 4.8: Phản ứng tích lũy của LDI do sốc 1% của DDI và IRD - 132 -

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế diễn ra mạnh mẽ, các nền kinh tế đang chuyển đổi đã thu hút một lượng lớn ngoại tệ thông qua nhiều kênh khác nhau Các nguồn ngoại tệ này là các nguồn lực quan trọng giúp các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi từng bước thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, các quốc gia này đã và đang đối mặt với hiện tượng đô la hóa (ĐLH) trong nền kinh tế ĐLH thường được xem là sản phẩm tất yếu, một thực thể khách quan gắn với cơ chế hoạt động của mô hình kinh tế mở, vì vậy, bản thân nội dung của hiện tượng này đã thể hiện tính tích cực của nó Tuy nhiên, khi nền kinh tế bị ĐLH, quá trình điều hòa cung ứng tiền của ngân hàng trung ương gặp nhiều khó khăn, cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự cân bằng của thị trường ngoại hối Bên cạnh đó, khi những nội dung ĐLH bị lạm dụng bởi những yếu tố chủ quan, tự phát của các thành viên trong

xã hội, hoặc khi các cơ quan quản lý kinh tế không có những biện pháp hữu hiệu để kiểm soát được những mặt tiêu cực của nó, ĐLH sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường cho nền kinh tế - xã hội

Cùng cảnh ngộ như hầu hết các quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam có một lịch sử lâu dài về việc sử dụng đồng đô la Mỹ song song với đồng tiền Việt Nam từ những năm 1960 Ở miền Nam, đô la Mỹ đã được cất trữ và sử dụng rộng rãi, ngược lại, ở miền Bắc ngoại tệ bị cấm theo Nghị định 102/CP ngày 06/7/1963 Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, nền kinh tế Việt Nam trãi qua một thời kỳ dài đầy khó khăn và thất bại trong chính sách giá – lương – tiền của đồng nội tệ, từ

đó, công chúng càng mất niềm tin vào giá trị VND, tâm lý sùng bái vàng và ngoại tệ càng gia tăng, tình trạng ĐLH càng phức tạp Tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ/M2 được chính thức công bố vào năm 1991 là 41,2% (không có số liệu vàng hóa), và từ đây vấn đề ĐLH bắt đầu được các nhà nghiên cứu quan tâm như: Dodsworth và cộng sự (1996 ) [65]; Nguyễn, Thị Hồng (2002, 2011) [109,11]; Hauskrecht và Nguyễn, Thanh Hải (2004) [79]; Michiael Goujon (2006) [105]; Watanabe Shinichi (2006,

Trang 13

2007) [132,133]; Nguyễn, Thanh Bình (2009) [10]; Nguyễn, Anh Tuấn (2009) [9];… Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào phân tích và đánh giá tình trạng ĐLH dựa trên lý thuyết ĐLH thông thường bao gồm (i) thay thế tài sản dưới dạng tài sản bằng ngoại tệ và (ii) thay thế tiền tệ trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau bao gồm

hộ gia đình, doanh nghiệp và các ngân hàng thương mại Sau đó tìm mọi biện pháp

để trả lời cho câu hỏi: Làm sao hạn chế hiện tượng này ở mức độ chấp nhận được trong khi khai thác được những ảnh hưởng tích cực của ĐLH? Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, trong nền kinh tế - xã hội Việt Nam, đã và đang tồn tại tình trạng ĐLH ở một mức độ nhất định, với những diễn biến khá phức tạp trong những năm qua, ảnh hưởng đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế trong tiến trình hội nhập

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về ĐLH trên thế giới cũng như ở Việt Nam, song thực tiễn cho thấy tình trạng ĐLH vẫn còn tiếp diễn khá phức tạp, ảnh hưởng đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế trong tiến trình hội nhập và vẫn chưa có một phương thức giải quyết hiệu quả đối với nền kinh tế Việt Nam Vì vậy,

tác giả chọn đề tài: “Hạn chế tình trạng đô la hóa tại Việt Nam” làm đề tài nghiên

cứu cho luận án tiến sĩ

1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1.2.1.Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Đô la hóa (ĐLH) là một vấn đề được rất nhiều nhà kinh tế quan tâm, nghiên cứu, trong đó có một số nghiên cứu đề cập đến quá trình ĐLH nền kinh tế của Việt Nam tiêu biểu như:

- Nghiên cứu của Andreas Hauskrecht và Nguyễn Thanh Hải (2004), “Đô la hóa ở Việt Nam” (Dollarization in Vietnam) Sử dụng phương pháp phân tích định

tính để đánh giá tình trạng ĐLH ở Việt Nam dựa trên tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ so với tổng tiền gởi Nghiên cứu chỉ ra rằng, có 2 nguyên nhân chính gây ra ĐLH ở Việt

Nam: thứ nhất, sự mất tín nhiệm của CSTT do tỷ lệ lạm phát cao và rất ổn định

trong thời gian dài kết hợp với tỷ giá hối đoái suy giảm dẫn đến giá của rủi ro trên

các tài sản danh nghĩa bằng tiền đồng tăng lên; thứ hai, mức tiết kiệm dưới hình

thức các tài sản bằng nội tệ thấp và tương đối ngắn hạn Đồng thời, nghiên cứu cũng

Trang 14

nhận định rằng, ĐLH làm tăng độ sâu tài chính của nền kinh tế (M2/GDP) Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ mới đánh giá tình trạng ĐLH ở Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2003, đây là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước thềm của WTO, chưa hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, cũng như chưa đối mặt với các nguồn ngoại tệ chuyển vào trong nước [79]

- Nghiên cứu của Michiael Goujon (2006), “Chống lạm phát trong nền kinh

tế bị ĐLH: trường hợp của Việt Nam”(Fighting inflation in a dollarizated economy:

The case of Vietnam) Nghiên cứu chứng minh rằng, giai đoạn 1991-1999, nền kinh

tế Việt Nam bị ĐLH, muốn kiểm soát lạm phát thì cần kiểm soát tỷ giá hối đoái và cung tiền M2 Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ giải thích mối quan hệ giữa lạm phát với biến động tỷ giá hối đoái và cung tiền M2 trong nền kinh tế bị ĐLH, không nghiên cứu mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH với lạm phát cũng như biến động tỷ giá hối đoái [105]

- Hai nghiên cứu của Watanabe Shinichi (2006, 2007) về hiện tượng ĐLH

theo nhóm nước trong đó có đề cập đến Việt Nam như: “Đô la hóa không chính thức và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển kinh tế và tài chính của Campuchia, Lào

và Việt Nam” (Defacto dollarization and its effect on financial development and economic growth of Cambodia, Lao PDR and Vietnam) và “Đô la hóa, kiều hối và chính sách tiền tệ của Campuchia, Lào và Việt Nam” (Dollarization, Remittances

and Monetary Policies in Cambodia, Lao PDR and Vietnam) Nghiên cứu đã xác định nguồn gốc của ĐLH từ nguồn kiều hối, chỉ ra vai trò quan trọng của kiều hối đối với thị trường ngoại hối Ngoài ra, nghiên cứu đã chứng minh được ở những quốc gia có TTNH không chính thức hoạt động hiệu quả và quy mô lớn thì xu hướng bị ĐLH càng cao Đặc biệt, nghiên cứu đánh giá cao những thay đổi của Chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện Pháp luật ngoại hối giai đoạn 1996-2005 Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa giải thích được tại sao khi có ngoại tệ từ kiều hối, người dân của 3 nước Campuchia, Lào và Việt Nam có xu hướng nắm giữ ngoại tệ [132],[133]

Trang 15

- Nghiên cứu của Jayant Menon (2007), “Đối phó với ĐLH: Lựa chọn nào cho các nền kinh kế chuyển đổi ở Đông Nam Á?” (Dealing with Dollarization:

What Options for the Transitional Economies of Southeast Asia?) cho rằng đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi ở Đông Nam Á như Campuchia, Lào và Việt Nam, không nên lựa chọn ĐLH chính thức vì liên quan đến yếu tố chính trị, nhưng cũng không nên loại bỏ hoàn toàn ĐLH ra khỏi nền kinh tế, nghiên cứu phân tích thất bại của Chính phủ Lào khi cố gắng áp đặt nhiều biện pháp hành chính để loại bỏ ĐLH vào tháng 6 năm 1997, đồng thời nhấn mạnh nên xem ĐLH là “triệu chứng” từ sự bất ổn kinh tế vĩ mô, bất ổn chính trị, hệ thống tài chính và tiền tệ kém phát triển, hệ thống pháp luật quản lý ngoại hối lỏng lẻo Vì vậy, muốn loại bỏ ĐLH thì phải giải quyết những vấn đề trên và đánh giá cao kết quả giảm nhanh tình trạng ĐLH của Việt Nam giai đoạn 1996-2005 Tuy nhiên, bối cảnh của nghiên cứu là trước khi Việt Nam gia nhập WTO, độ mở cửa nền kinh tế chưa cao, nền kinh tế chưa trải qua nhiều biến động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, do đó chưa phản ánh hết diễn biến và mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH và các chỉ số kinh tế vĩ mô [92]

- Nghiên cứu của Patricia và Alicia (2008), “Đô la hóa và chống đô la hóa:

hệ quả đối với chính sách tiền tệ” (To dollarize or de-dollarize: Consequences for

Monetary) Nghiên cứu phân loại tình trạng ĐLH cao, trung bình và thấp ở một số quốc gia Châu Á, Châu Mỹ Latinh, Isarel và Nga Dựa vào chuỗi dữ liệu từ quý 4/1986 đến quý 3/2006 đối với các nước: Argentina, Bolivia, Chile, Trung Quốc, Ecuador, Israel, Hàn Quốc, Malaysia, Peru, Philippin, Nga, Thái Lan, Uruguay và chuỗi dữ liệu ngắn hơn từ quý 1/1993 đến quý 3/2006 đối với các nước: Campuchia, Lào, Việt Nam, bằng mô hình VAR, nghiên cứu đã chứng minh những nước có tình trạng ĐLH càng cao thì phản ứng tích lũy của lạm phát do cú sốc tỷ giá càng lớn và ngược lại Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đánh giá tác động giữa lạm phát và tỷ giá trong bối cảnh nền kinh tế có tình trạng ĐLH cao, chưa giải thích mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH và lạm phát cũng như tỷ giá [118]

- Nghiên cứu của Luis Carranza và cộng sự (2009), “Tỷ giá hối đối và lạm phát trong các nền kinh tế đô la hóa” (Exchange rate and Inflation Dynamics in

Trang 16

Dollarized Economies) sử dụng dữ liệu ở 124 quốc gia (trong đó có Việt Nam) để phân tích thực nghiệm về cơ chế dẫn truyền của tỷ giá hối đoái trong các nền kinh tế

bị ĐLH Kết quả cho thấy, các quốc gia có tình trạng ĐLH cao, tác động dẫn truyền của biến động tỷ giá hối đoái đến lạm phát càng lớn Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu là cơ chế dẫn truyền của tỷ giá ở các nền kinh tế bị ĐLH, không nghiên cứu mối liên hệ giữa tình trạng ĐLH và biến động tỷ giá [102]

- Ngoài ra các kết luận nghiên cứu thực nghiệm về ĐLH đăng trên các tạp chi kinh tế quốc tế của các tác giả như: Balino và cộng sự (1999) lập luận rằng ĐLH được xác định bởi tỷ suất lợi nhuận giữa tài sản bằng nội tệ ngoại tệ [45]; Irfan Civcir (2003) đã phát hiện rằng lãi suất và kỳ vọng của tỷ giá là các biến chủ yếu trong việc xác định tình trạng ĐLH ở Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 1986–1999 [86]; Edwards (2001&2003) cung cấp bằng chứng thực nghiệm ở các nền kinh tế ĐLH chính thức thì tỷ lệ lạm phát thấp hơn, tốc độ tăng trưởng GDP thấp hơn và có sự biến đổi lớn hơn về sản lượng đầu ra so với các nền kinh tế sử dụng nội tệ [68&69]; Nicolo và đồng sự (2003) cho rằng ĐLH tiền gửi và ĐLH tiền vay gây nhiều rủi ro cho hệ thống NHTM, đồng thời cũng chứng minh ĐLH làm cho hệ thống tài chính phát triển sâu hơn trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát cao [111]; Galindo - Leiderman (2005) cho rằng nợ công cao là nguyên nhân gây ra hiện tượng ĐLH [76]; Calvo, Izquierdo và Mejia (2004) cung cấp bằng chứng thực nghiệm ĐLH nợ phải trả là nguyên nhân hàng đầu gây ra khủng hoảng tài chính nếu dòng vốn vào dừng đột ngột [56]; Domac và Martiner Peria (2003) tìm thấy mối quan hệ giữa ĐLH và bất ổn tài chính [66]; Reinhat và các đồng sự (2003) chứng minh rằng ĐLH một phần có thể kiềm chế lạm phát nhưng nó có thể tạo ra sự mất cân đối tiền tệ ở các nước đang phát triển [123]; Arteta (2002) dẫn chứng ĐLH tiền gởi ít gây nguy hại cho hệ thống NHTM hơn ĐLH tiền vay [40]; Edurado Levy Yeyati (2003) cho rằng cách duy nhất để hạn chế ĐLH là không khuyến khích sử dụng đồng USD và tăng cường sức hấp dẫn của đồng nội tệ [99];Neanidis và Savva (2009) đã sử dụng

số liệu hàng tháng cho 11 nền kinh tế chuyển tiếp ở Trung và Đông Âu (Armenia, Bulgaria, Séc, Estonia, Georgia, Kyrgyz, Lativia, Ba Lan, Romania, Nga và

Trang 17

Ukraina) để đánh giá các yếu tố quyết định tiền gửi ngoại tệ và cho vay ngoại tệ, họ thấy rằng cả hai chỉ số này bị ảnh hưởng bởi chênh lệch lãi suất giữa nội tệ và ngoại

tệ [108]; các nghiên cứu: Kamin và Ericsson (2003) cho Argentina [94], Clements

và Schwartz (1993) cho Bolivia [60]; Mueller (1994) cho Lebanon [106] đều cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng nhu cầu nắm giữ ngoại tệ sẽ cao khi lạm phát cao

và kéo dài,…

1.2.2.Tình hình nghiên cứu trong nước

- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng (2002), “ĐLH tài sản nợ và tài sản có tài chính của hộ gia đình, doanh nghiệp và các ngân hàng ở Việt Nam”, sử dụng

phương pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp, tác giả đã hệ thống bức tranh ĐLH ở Việt Nam giai đoạn 1991-2001, chỉ ra những nguyên nhân như: hội nhập thương mại và tài chính quốc tế; sự phối hợp không hiệu quả giữa chính sách tỷ giá và chính sách lãi suất Tuy nhiên, giai đoạn nghiên cứu đã lâu, Việt Nam chưa gia nhập WTO cũng như chưa chịu ảnh hưởng mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu [109]

- Đề án “Nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, khắc phục tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế”, ban hành kèm theo Quyết định số 98/2007/QĐ-

TTg ngày 04 tháng 7 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ Nội dung đề án đi sâu phân tích tính chuyển đổi của VND và đánh giá tình trạng ĐLH trong nền kinh tế, đồng thời đưa ra lộ trình và giải pháp khắc phục tình trạng ĐLH Tuy nhiên, các giải pháp Đề án đưa ra có tính chất giải quyết tình thế trong giai đoạn 2007-2010, chưa xuất phát từ việc phân tích mối quan giữa tình trạng ĐLH với các biến số kinh

tế vĩ mô để đề xuất giải pháp mang tầm dài hạn hơn [13]

- Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thanh Bình (2009), “Các giải pháp thúc đẩy tiến trình phi đô la hóa ở Việt Nam”, luận án đi sâu vào phân tích lý luận về ĐLH,

đánh giá thực trạng và tác động của ĐLH đối với nền kinh tế, tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng ĐLH trong khu vực dân cư, doanh nghiệp và hệ thống NHTM, đưa ra các giải pháp thúc đẩy tiến trình phi ĐLH tại Việt Nam Với chuỗi dữ liệu từ năm

1992 đến 2007, tần suất năm, chọn biến giả định là môi trường kinh tế, biến phụ

Trang 18

thuộc là: tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ/M2, tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ dân cư/M2 và tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ doanh nghiệp/M2 để giải thích 3 phương trình hồi quy: (i) lạm phát năm trước và môi trường kinh tế bất ổn có ảnh hưởng đến tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ/M2 của năm sau, (ii) lãi suất huy động VND tăng làm giảm mức độ ĐLH khu vực dân

cư và môi trường kinh tế bất ổn sẽ làm gia tăng mức độ ĐLH khu vực dân cư, (iii) ngược lại với khu vực dân cư, khi môi trường kinh tế bất ổn sẽ làm giảm mức độ ĐLH của doanh nghiệp và khi lạm phát cao doanh nghiệp có xu hướng nắm giữ ngoại tệ Tuy nhiên, các giả định để chọn biến giải thích của luận án còn quá ít bởi

vì tình trạng ĐLH nói chung và tình trạng ĐLH khu vực dân cư và doanh nghiệp nói riêng không chỉ do lạm phát của năm trước và môi trường kinh tế bất ổn, mà còn phụ thuộc vào biến động tỷ giá hối đoái, do lợi tức mà đồng tiền đó mang lại, nhu cầu nhập khẩu của doanh nghiệp,… Giai đoạn nghiên cứu của luận án đến năm

2007 là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam mới gia nhập WTO, chưa chịu nhiều ảnh hưởng từ nền kinh tế thế giới [10]

- Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Anh Tuấn (2009), “Hiện tượng đô la hóa và tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”,

luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để đi sâu phân tích lý luận chung về ĐLH, thực trạng và nguyên nhân ĐLH tài sản, ĐLH tiền tệ và ĐLH hệ thống NHTM, đề xuất các giải pháp hạn chế ĐLH tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, cũng như Luận án của Nguyễn Thanh Bình, giai đoạn nghiên cứu của luận án đến năm 2007, thời điểm nền kinh tế Việt Nam mới gia nhập WTO, chưa chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới [9]

- Ngoài ra, một số bài viết đăng trên các tạp chí của các tác giả như: Nguyễn

Thị Hồng (2011)“Đô la hóa và điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam”[11]; Đặng Ngọc Đức (2012)“Hạn chế huy động tiết kiệm ngoại tệ góp phần bình ổn thị trường ngoại hối và thực hiện cắt giảm tín dụng ngoại tệ ở Việt Nam”[3], Chu Khánh Lân (2014)“Điều hành chính sách tỷ giá nhằm giảm tình trạng đô la hóa tại Việt Nam”[1], Trần thị Thúy (2016)“Chống đô la hóa nền kinh tế: nhìn từ lãi suất tiền gửi USD/năm”[16], Bùi Thị Quỳnh Trang (2016)“Chống đô la hóa nền kinh tế:

Trang 19

Thực trạng và một số kiến nghị”[17],… Các nghiên cứu này có đề cập đến tình

trạng ĐLH ở Việt Nam dưới nhiều gốc độ khác nhau, tuy nhiên, các bài viết này chỉ dừng ở quy mô các bài tham luận hội thảo, tạp chí, đánh giá ĐLH trên khía cạnh nhỏ, riêng biệt

Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đồng quan điểm về tính hai mặt của ĐLH, tùy vào điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội khác nhau, mỗi quốc gia có sự lựa chọn riêng cho mình về quyết định ĐLH hoàn toàn hay tìm cách hạn chế hoặc loại bỏ nó ra khỏi nền kinh tế Hầu hết, các nghiên cứu đều cố gắng tìm thấy các yếu tố quyết định ĐLH hoặc lý do đằng sau việc sử dụng ngoại tệ thay vì nội tệ, từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp để hạn chế tình trạng ĐLH trong nền kinh tế

Các nghiên cứu về ĐLH tại Việt Nam đã đề cập đến quá trình ĐLH ở Việt Nam trên các khía cạnh nguyên nhân, tác động và đề xuất các giải pháp trong từng giai đoạn cụ thể, tuy nhiên vẫn còn các khoảng trống khoa học như sau:

Thứ nhất, về đối tượng nghiên cứu, theo thống kê chưa đầy đủ của tác giả,

hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung phân tích thực trạng, nguyên nhân ĐLH, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ mối tương quan giữa tình trạng ĐLH với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Tác giả cho rằng, các chính sách hạn chế tình trạng ĐLH

ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều phải sử dụng các công cụ thị trường phối hợp với các biện pháp hành chính bắt buộc trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô, vì vậy việc xác định chiều hướng và mức độ tác động giữa tình trạng ĐLH với các chỉ tiêu vĩ mô như: lạm phát, tỷ giá, lãi suất,… là cơ sở thực tiễn

để đề xuất các giải pháp hạn chế tình trạng ĐLH phù hợp với bối cảnh nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Thứ hai, về phạm vi nghiên cứu, các nghiên cứu đánh giá tình trạng ĐLH

trong phạm vi hộ gia đình, trong doanh nghiệp và trong hệ thống NHTM nhưng lại

sử dụng số liệu tiền gởi ngoại tệ trong tổng tiền gởi hoặc tổng phương tiện thanh toán (trừ Nguyễn Thanh Bình (2009) [10] và Nguyễn Anh Tuấn (2009) [9]) Hai nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2009) và Nguyễn Anh Tuấn (2009) đều sử

Trang 20

dụng tiêu thức tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ của hộ gia đình/doanh nghiệp trên tổng tiền gởi

để đánh giá tình trạng ĐLH tài sản của hộ gia đình/doanh nghiệp và mức chênh lệch giữa tài sản Nợ và tài sản Có bằng ngoại tệ trong bảng cân đối kế toán của các ngân hàng để đánh giá tình trạng ĐLH các NHTM, theo tác giả các tiêu thức này phản ánh đúng thực trạng tình trạng ĐLH theo từng phạm vi cụ thể Tuy nhiên, theo tác giả, tình trạng ĐLH nền kinh tế cần phải được đánh giá dựa trên các tiêu chí: ĐLH tiền gởi (tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ trong tổng tiền gởi), ĐLH tiền vay (tỷ lệ cho vay ngoại tệ trong tổng cho vay) sẽ phù hợp với các tiêu thức lượng hóa được sử dụng phổ biến trong các công trình nghiên cứu và trong các báo cáo tiền tệ của IMF và của Việt Nam Mặt khác, thời gian nghiên cứu của hai luận án đều đến năm 2007 đã lạc hậu về số liệu, do đó chưa xem xét nhiều đến những tác động của ĐLH đến nền kinh tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO cũng như cuộc khủng hoảng tài chính năm

2008 đã dẫn đến một loạt những thay đổi trong môi trường và chính sách vĩ mô

Thứ ba, về phương pháp nghiên cứu, theo khả năng tiếp cận dữ diệu còn

hạn chế của tác giả, hầu hết các nghiên cứu về ĐLH ở Việt Nam đều sử dụng phương pháp phân tích định tính để đánh giá tình trạng ĐLH nền kinh tế, trong đó nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2009) sử dụng kết hợp phương pháp phân tích định tính và phân tích định lượng Tuy nhiên, mô hình hồi quy mà Nguyễn Thanh Bình (2009) sử dụng là phương trình hồi quy đơn biến, chưa xem xét mối tương quan trong các chuỗi dữ liệu thời gian của các chỉ số kinh tế, thường tồn tại mối quan hệ đồng liên kết cùng tác động lên một biến số trong không gian ngắn hạn cũng như dài hạn

Từ những phân tích trên chứng tỏ còn có những khoảng trống khoa học về đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu so với các nghiên cứu trong và ngoài nước Bên cạnh đó, hiện nay Chính phủ đang xây dựng nhiều giải pháp hạn chế tình trạng ĐLH trong nền kinh tế, do đó các nghiên cứu liên quan đến ĐLH tại Việt Nam vẫn là những công trình rất cần thiết và cần sự đánh giá sâu, rộng trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam phục hồi nhưng chưa bền vững, tiềm ẩn nhiều nguy

cơ ảnh hưởng đến việc khôi phục niềm tin vào giá trị VND

Trang 21

1.3 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: nghiên cứu tình trạng ĐLH trong nền kinh tế Việt Nam, xác định mối tương quan giữa tình trạng ĐLH với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô,

từ đó gợi ý một số chính sách để hạn chế tình trạng ĐLH tại Việt Nam

+ Đề xuất các giải pháp hạn chế tình trạng ĐLH trong nền kinh tế Việt Nam

1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, câu hỏi đặt ra khi nghiên cứu luận án:

Câu hỏi 1: ĐLH ở Việt Nam qua các giai đoạn diễn ra như thế nào? Nguyên

nhân nào gây ra tình trạng này? Nó ảnh hưởng như thế nào đối với nền kinh tế của

Việt Nam? Những biện pháp nào đã được Chính phủ sử dụng để khắc phục tình

trạng ĐLH?

Câu hỏi 2: Có tồn tại hay không mối tương quan giữa tình trạng ĐLH với

các biến số kinh tế vĩ mô như: lạm phát, tỷ giá, lãi suất, dự trữ ngoại hối,…? Nếu

có, chiều hướng và mức độ tác động như thế nào?

Câu hỏi 3: Giải pháp nào để hạn chế tình trạng ĐLH nền kinh tế Việt Nam

trong bối cảnh hội nhập?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: thực trạng ĐLH, nguyên nhân gây ra tình trạng ĐLH, mối tương quan giữa tình trạng ĐLH với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Tình trạng ĐLH được đánh giá dựa trên tiêu chí: ĐLH tiền gởi, ĐLH tiền vay, ĐLH tiền mặt và ĐLH định giá, niêm yết Trong đó, luận án tập trung vào ĐLH tiền gởi được tính bằng tiền gởi ngoại tệ/tổng tiền gởi và ĐLH tiền vay được tính bằng cho vay

Trang 22

ngoại tệ/tổng cho vay Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô bao gồm: lạm phát, tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng GDP, dự trữ ngoại hối và giá trị xuất nhập khẩu

- Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian: Tiền gởi ngoại tệ và cho vay ngoại tệ trên tổng tiền gởi và cho vay của cá nhân và doanh nghiệp trong hệ thống NHTM ở Việt Nam

+ Về thời gian: giai đoạn nghiên cứu từ năm 1992 đến 2017, vì dữ liệu thống

kê về tiền gởi và cho vay bằng ngoại tệ trên trang web của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước chỉ công bố trong giai đoạn trên Mặt khác, trong giai đoạn này, Việt Nam chính thức mở cửa nền kinh tế

và bắt đầu đối mặt với những tác động của tình trạng ĐLH

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp sau: Luận án sử dụng cách tiếp cận hệ thống và phương pháp luận duy vật biện chứng Trong khuôn khổ các phương pháp luận này, phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp kết hợp với phân tích so sánh, diễn dịch để lý giải cho các vấn

đề nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của luận án

Ngoài ra, luận án sử dụng phương pháp định lượng hồi quy mô hình hiệu chỉnh sai số dạng véctơ (Vector Error Correlation Model - VECM) được xử lý qua phần mềm Eviews 8.0 để giải quyết câu hỏi nghiên cứu số 2

Trang 23

1.6 SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU

1.7 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN

Luận án có những điểm mới như sau:

Thứ nhất, trên cơ sở hệ thống hóa những lý luận chung về ĐLH, luận án

đánh giá toàn diện về tình trạng ĐLH trong nền kinh tế Việt Nam từ khi bắt đầu mở cửa cho đến nay (từ 1992 - 2017) Đồng thời, xác định nguyên nhân gây ra tình trạng ĐLH, cũng như phân tích đánh giá những thành công và hạn chế từ các biện pháp khắc phục tình trạng ĐLH đã được Chính phủ triển khai trong thời gian nghiên cứu

VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH TÍNH

Trang 24

Thứ hai, trong giai đoạn nghiên cứu, luận án đã cung cấp bằng chứng thực

nghiệm về mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH tiền gởi và một số biến số vĩ mô dưới tác động của chính sách trần lãi suất huy động Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1)Dự trữ ngoại hối và lãi suất huy động nội tệ có tác động tiêu cực đến tình trạng ĐLH tiền gởi; (2) Lợi nhuận thị trường song song, lãi suất huy động ngoại tệ, tỷ giá và lạm phát có tác động tích cực đến tình trạng ĐLH tiền gởi; (3) Chính sách 2 trần lãi suất huy động với trần lãi suất huy động USD bằng 0% phát huy hiệu quả rất tốt, làm giảm tình trạng ĐLH tiền gởi trong điều kiện nền kinh tế vĩ mô ổn định

Thứ ba, trong giai đoạn nghiên cứu, luận án kiểm định mối quan hệ giữa tình

trạng ĐLH tiền vay với tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu Kết quả tình trạng ĐLH tiền vay tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế; tác động tích cực đến xuất khẩu trong ngắn hạn; tác động tích cực với tình trạng ĐLH tiền gởi và chênh lệch chi phí phải trả khi vay VND so với vay USD

1.8 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Luận án gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tình trạng đô la hóa

Chương 3: Tình trạng đô la hóa tại Việt Nam giai đoạn 1992-2017

Chương 4: Bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa tình trạng đô la hóa với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô

Chương 5: Kết luận và giải pháp hạn chế tình trạng đô la hóa tại Việt Nam

Trang 25

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA

2.1 TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TRONG NỀN KINH TẾ

2.1.1 Lý luận chung về đô la hóa và tình trạng đô la hóa

2.1.1.1 Đô la hóa

Kha ́ i niê ̣m

Mỗi quốc gia trên thế giới đều có lịch sử riêng, đều có những điều kiện kinh

tế - xã hội – chính trị riêng, vì vậy, nhà nước của mỗi quốc gia đều phát hành đồng tiền riêng của mình để nắm giữ quyền quản lý lưu thông tiền tệ trong phạm vi đất nước đó Tuy nhiên, xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới diễn ra mạnh mẽ,

sự hội nhập, giao lưu thương mại đã xảy ra một hiện tượng kinh tế khách quan là nước này sử dụng đồng tiền của nước khác Đặc biệt hiện tượng này phổ biến ở các nền kinh tế đang chuyển đổi và được gọi chung là hiện tượng đô la hóa

(dollarazation)

Thực tiễn cho thấy, đô la hoá (ĐLH) đã tồn tại ở nhiều quốc gia trong một thời gian dài trước khi khái niệm ĐLH thật sự thu hút được sự quan tâm của thế giới Cho đến nay, thuật ngữ “ĐLH” mặc dù được sử dụng phổ biến trong các công trình nghiên cứu nhưng hiện tại vẫn có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiện tượng ĐLH

Theo Hausmann và cộng sự (2001): “ĐLH dùng để chỉ hiện tượng cá nhân nắm giữ và sử dụng các tài sản (asset) và khoản nợ (liabilities) được định giá bằng bất cứ ngoại tệ nào không chỉ là đô la.” [81]

Theo Fischer (1982): “Khi có sự chuyển hướng từ đồng nội tệ sang đồng ngoại tệ để thực hiện các chức năng cất trữ, đơn vị tính toán và thanh toán thì quá trình này gọi là đô la hóa” [71]

McKinnon (2004) phân tích rất kỹ: “ĐLH là việc đồng ngoại tệ chiếm lĩnh các chức năng sau của đồng nội tệ:

Trang 26

- Phương tiện trao đổi: Khi đồng đôla được lưu hành song song với đồng nội

tệ dưới dạng tiền mặt và các khoản tiền gửi

- Cất trữ giá trị: Khi những tài sản cá nhân và nhà nước dưới dạng ngoại tệ thay thế các tài sản bằng nội tệ

- Đơn vị tính toán: Khi lương và những hợp đồng nội địa ngắn hạn được tính toán trực tiếp hoặc gián tiếp gắn với tỷ giá đôla

- Tiêu chuẩn cho những khoản thanh toán kỳ hạn: Những khoản vay nước ngoài ngắn hạn như tín dụng thương mại, vay liên ngân hàng cũng như việc phát hành trái phiếu chính phủ cho người nước ngoài được thực hiện bằng ngoại tệ.”[104]

Ở Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách cũng đồng quan điểm với hai tác

giả trên nên cho rằng: “Khi ngoại tệ được sử dụng rộng rãi trong một quốc gia để thay thế một hay nhiều chức năng của nội tệ thì nền kinh tế đó gọi là bị ĐLH.”[5]

Trong các khái niệm trên, chúng ta đều nhận thấy, các tác giả sử dụng thuật ngữ ĐLH nhưng không phải chỉ nói đến USD mà bất kỳ ngoại tệ nào được sử dụng thay thế các chức năng của nội tệ đều được gọi là hiện tượng ĐLH Thuật ngữ ĐLH

sử dụng ở đây đồng nghĩa với “ngoại tệ hóa” Sở dĩ có vấn đề này là do trong hầu hết các hoạt động thương mại, tài chính trên thế giới hiện nay, USD là đồng tiền được ưa chuộng và sử dụng nhiều nhất nên thuật ngữ “đô la hóa” đã ra đời và về bản chất nó được coi là đồng nghĩa với “ngoại tệ hóa” Cho đến nay, USD vẫn chiếm giữ vị trí cao nhất (62,7% vào năm 2017) trong dự trữ, thanh toán của các nước trên thế giới (Hình 2.1)

Trong nền kinh tế Việt Nam, bên cạnh việc người dân ưa chuộng USD, EUR, hay một số ngoại tệ mạnh khác, vẫn còn không nhỏ một bộ phận dân chúng cất trữ, giao dịch với nhau bằng đồng tiền “cổ điển”, đó là vàng Thời gian trước đây, ngoài sở thích cất trữ vàng (vẫn còn tồn tại cho đến tận hôm nay), khi trao đổi mua bán một số tài sản có giá trị như: đất đai, nhà cửa, người dân thường thanh toán bằng vàng Một số nhà nghiên cứu cho rằng hiện tượng này được gọi là “vàng hóa” Tương tự như ĐLH, “vàng hóa” cũng gây không ít khó khăn trong việc điều hành nền kinh tế của Chính phủ Chính vì vậy, khi nghiên cứu khái niệm ĐLH,

Trang 27

chúng ta không thể bỏ qua hiện tượng “vàng hóa” trong nền kinh tế Tuy nhiên,

vàng khác ngoa ̣i tê ̣ ở chỗ khả năng phát hành, do đó, tác đô ̣ng của hiê ̣n tượng “vàng

hóa” đối với nền kinh tế cũng hoàn toàn khác với hiê ̣n tượng ĐLH, “vàng hóa” không gây khó khăn nhiều trong điều hành CSTT như ĐLH vì vàng không nằm trong thành phần của tổng phương tiện thanh toán (M2) mà chỉ được xem là tài sản

tài chính có tính thanh khoản cao Do đó, trong luận án này, khi phân tích tác động của ĐLH, tác giả không đề cập đến “vàng hóa”

Hình 2.1: Tỷ lệ dự trữ các đồng tiền trên thế giới

Năm 1992

Khác ANG

CNY JPY GBP

Nguồn: International Financial Statistics, IMF

Từ những phân tích trên, theo tác giả, khái niệm về ĐLH có thể được hiểu như sau:

“ĐLH là hiện tượng một đồng tiền của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới xuất hiê ̣n trong nền kinh tế của một quốc gia khác dưới mọi hình thức, bất chấp viê ̣c châ ́p nhận hay không chấp nhận của Chính phủ nước đó hay nói cách khác ĐLH là hiê ̣n tượng dân chúng sử dụng đồng tiền không phải do Chính phủ nước đó phát

ha ̀ nh ra”

Để làm rõ hơn về ĐLH, luận án trình bày mô ̣t số khái niê ̣m liên quan đến hiện tượng ĐLH như sau:

- Đô ̀ng tiền ĐLH: là đồng tiền của quốc gia này nhưng được sử du ̣ng như là

nội tê ̣ ở mô ̣t quốc gia khác Thông thường, đồng tiền ĐLH là những đồng tiền

mạnh, có tính chuyển đổi cao, được sử du ̣ng nhiều trong các hoa ̣t đô ̣ng thương ma ̣i,

Trang 28

đầu tư quốc tế Hiê ̣n nay, mức độ sử dụng các đồng tiền được Quỹ tiền tê ̣ quốc tế (IMF) tổng hợp, đánh giá dựa vào tỷ lê ̣ các đồng tiền trong DTNH của các nước

- Đô ̀ng tiền bi ̣ ĐLH: là đồng tiền của mô ̣t quốc gia nhưng đang bi ̣ các đồng

ngoại tê ̣ thay thế dần các chức năng tiền tê ̣ trong pha ̣m vi lãnh thổ quốc gia đó Đồng tiền bi ̣ ĐLH thường có đă ̣c điểm giá tri ̣ không ổn đi ̣nh và gần như chúng chỉ lưu hành trong pha ̣m vi quốc gia đó Đồng tiền bi ̣ ĐLH thường là đồng tiền của các nước có nền kinh tế đang phát triển

- Quô ́c gia phát hành đồng tiền ĐLH: là quốc gia sử dụng đồng tiền của

mình để thực hiện hoạt động ĐLH nền kinh tế tại quốc gia khác Các quốc gia này thường là các cường quốc, có vi ̣ thế và ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế thế giới

- Quô ́c gia bi ̣ ĐLH: Là quốc gia mà ở đó đồng tiền do mình phát hành ra bi ̣

các đồng tiền khác lấn át, thay thế dần các chức năng tiền tê ̣ Trước đây, các quốc gia này thường là các quốc gia đang phát triển, tăng trưởng thấp, la ̣m phát cao Tuy nhiên, hiện nay các quốc gia có tốc đô ̣ tăng trưởng kinh tế cao, la ̣m phát tương đối ổn đi ̣nh nhưng cũng chủ đô ̣ng ĐLH nền kinh tế

❖ Phân loại đô la hóa

• Căn cứ vào tính hợp pháp của ngoại tệ

Theo Berg & Borensztein (2000) [49]; Baliño (2003) [44]; Gulde et al (2004) [78], ĐLH được phân ra làm 3 loại: ĐLH chính thức (official dollarization), ĐLH không chính thức (unofficial dollarization) và một hình thái trung gian của hai loại ĐLH này là ĐLH bán chính thức (semi-official dollarization)

- ĐLH chính thức hay ĐLH toàn phần: là việc ngoại tệ được người cư trú sử

dụng để thực hiện các chức năng của tiền tệ và được sự cho phép hoặc công nhận của luật pháp nước đó Khi đó, toàn bộ tài sản Có, tài sản Nợ, giá cả hàng hóa và dịch vụ, tiền lương của người lao động, các hợp đồng giữa các bên tư nhân hay của Chính phủ đều sẽ được công khai niêm yết, thanh toán bằng ngoại tệ Nếu nội tệ còn tồn tại thì nó chỉ có vai trò thứ yếu và thường chỉ là những đồng tiền xu hay các đồng tiền mệnh giá nhỏ và có giá trị tương đương ngoại tệ nhằm tạo thuận lợi cho người dân trong những giao dịch mua bán nhỏ, lẻ hằng ngày Thông thường các

Trang 29

nước chỉ áp dụng ĐLH chính thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chương trình ổn định kinh tế

ĐLH chính thức không có nghĩa là chỉ có một hoặc hai ngoại tệ được lưu hành hợp pháp Tuy nhiên, các nước ĐLH chính thức thường chỉ chọn một ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp

- ĐLH không chính thức hay ĐLH từng phần: là việc ngoại tệ được dân cư

của một nước sử dụng để thực hiện các chức năng của tiền tệ nhưng không được phép hoặc không được công nhận là đồng tiền hợp pháp Tuy nhiên, một số quốc gia vẫn cho phép người dân nắm giữ ngoại tệ dưới dạng tài khoản tiền gởi ngoại tệ

ở các ngân hàng trong nước hoặc cũng có trường hợp cho phép gởi ở ngân hàng nước ngoài Trong nền kinh tế bị ĐLH không chính thức, người dân nắm giữ ngoại

tệ dưới các dạng sau: các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài; tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài; tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước; ngoại tệ tiền mặt,

- ĐLH bán chính thức: là sự tồn tại đan xen cả hai hình thức ĐLH chính thức

và ĐLH không chính thức

Ở những nước ĐLH bán chính thức, ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp pháp

và thậm chí chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng, nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và những chi tiêu hàng ngày Khác với trường hợp ĐLH chính thức, các nước ĐLH bán chính thức vẫn duy trì NHTW hoặc một dạng cơ quan điều hành tiền tệ khác, có trách nhiệm thực hiện CSTT riêng của họ

• Căn cứ vào chức năng tiền tệ

De Nicolo et al (2003) [111] và Edgar L Feige (2003) [70] phân loại ĐLH theo các chức năng tiền tệ như sau:

- ĐLH thay thế tài sản: là việc người dân cất trữ ngoại tệ chứ không phải nội

tệ, nghĩa là chức năng dự trữ giá trị của nội tệ đã bị thay thế bằng ngoại tệ Điều này thể hiện qua việc cá nhân và tổ chức nắm giữ ngoại tệ tiền mặt và duy trì tài khoản ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng Vì việc thống kê lượng tiền mặt do người dân nắm

Trang 30

giữ gặp nhiều khó khăn, do đó hiện nay ĐLH thay thế tài sản thường được đánh giá bằng tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán (M2)

- ĐLH thay thế thanh toán hay còn gọi là ĐLH tiền tệ: là việc người dân sử

dụng ngoại tệ làm phương tiện thanh toán ngay trong nền kinh tế nội địa Để đánh giá mức độ của dạng ĐLH này, phải căn cứ vào tỷ lệ ngoại tệ được dùng để thanh toán trong các giao dịch nội địa Tuy nhiên, việc xác định được tỷ lệ này rất khó nếu các giao dịch được tiến hành thanh toán bằng tiền mặt hoặc không thông qua hệ thống ngân hàng Nếu ngoại tệ được tự do thanh toán trong nền kinh tế nội địa thì

có thể nói lúc này tình trạng ĐLH rất trầm trọng

- ĐLH định giá, niêm yết giá: là tất cả những việc quảng cảo, niêm yết, định

giá hàng hóa và dịch vụ đều bằng ngoại tệ Thực chất, đây là việc ngoại tệ thay thế chức năng đơn vị tính toán của nội tệ Có thể nói, dạng ĐLH này rất nguy hiểm, khi một quốc gia xuất hiện ĐLH dạng này một cách công khai thì ngoại tệ đã ăn sâu vào trong tư duy của dân chúng, tình trạng rất trầm trọng và có nguy cơ xảy ra ĐLH toàn phần

- ĐLH tài chính: là việc người dân sở hữu các tài sản sinh lời bằng ngoại tệ

và các nghĩa vụ tài chính liên quan đến ngoại tệ Trước đây, các nhà nghiên cứu thường tập trung vào ĐLH tài sản và ĐLH tiền tệ nhằm tìm hiểu tác động của nó đến việc điều hành CSTT, CSTG hay việc thay đổi lượng cung tiền trong nước thì ĐLH tài chính tập trung nghiên cứu những rủi ro trong kinh doanh thương mại cũng như rủi ro tài chính của những người nắm giữ những tài sản hoặc các nghĩa vụ tài chính bằng ngoại tệ khi có sự biến động tỷ giá

• Căn cứ vào cơ chế xuất hiện ngoại tệ

Các nghiên cứu của De Nicolo et al (2003) [111]; Levy Yeyati (2006) [100]; Neanidis & Savva (2009) [108] đã phân ĐLH thành ĐLH tiền gởi và ĐLH tiền vay; Edgar L Feige (2003) [70] và Watanabe (2007) [133] đã xem xét thêm ngoại tệ tiền mặt trong lưu thông và chỉ số thay thế tiền tệ Dựa trên cách phân loại của các nghiên cứu trên đồng thời bám sát cơ chế xuất hiện ngoại tệ trong nền kinh tế, luận

án phân ĐLH thành các loại:

Trang 31

- ĐLH tiền gởi: là hiện tượng ngoại tệ xuất hiện trong các tài khoản tiền gởi

tại các NHTM dưới bất kỳ hình thức nào

- ĐLH tiền vay: là hình thức các NHTM cho doanh nghiệp vay vốn bằng

ngoại tệ

- ĐLH tiền mặt: là hiện tượng dân chúng sử dụng ngoại tệ để thanh toán và

cất trữ không qua hệ thống các tổ chức tài chính hợp pháp

- ĐLH định giá, niêm yết: là hiện tượng giá các loại hàng hóa, dịch vụ trong

nước đều được tính toán bằng ngoại tệ

2.1.1.2 Tình trạng đô la hóa nền kinh tế

Tình trạng ĐLH nền kinh tế phản ánh mức độ sử dụng ngoại tệ để thực hiện các chức năng tiền tệ bất chấp sự chấp nhận hay không chấp nhận của Chính phủ nước đó Tùy vào tiêu chí phân loại, tình trạng ĐLH thường được lượng hóa theo nhiều tiêu thức khác nhau

Đầu tiên Agenor & Kahn (1996) [33]; Balino et al (1999) [45]; Sahay & Vegh (1995) [126] sử dụng tỷ lệ tiền gởi ngoại tệ so với tổng phương tiện thanh toán hay lượng tiền cung ứng mở rộng để lượng hóa chỉ số thay thế tài sản

Edgar L Feige (2003) [70] kết hợp hai chỉ số thay thế tiền tệ (tỷ lệ ngoại tệ tiền mặt được sử dụng trong tổng số tiền mặt được lưu hành) và chỉ số thay thế tài sản (tỷ lệ tiền gởi bằng ngoại tệ trên tổng tiền gởi của hệ thống ngân hàng), để tính chỉ số ĐLH không chính thức Chỉ số này được tính bằng tỷ lệ ngoại tệ trong nền kinh tế (tiền mặt ngoại tệ và tiền gửi ngoại tệ) trên lượng tiền cơ sở mở rộng Trong

đó lượng tiền mặt ngoại tệ mà Edgar L Feige (2003) ước lượng trong các chỉ số trên từ số lượng đô la Mỹ lớn hơn hoặc bằng 10.000 USD được mang vào và mang

ra khỏi nước Mỹ dựa trên việc tổng hợp từ bản khai báo bắt buộc của Hải quan Mỹ Phương pháp này có thể xác định được lượng tiền mặt ra khỏi nước Mỹ đã đi đến quốc gia nào Tuy nhiên, phương pháp bỏ qua trường hợp lượng tiền mang theo nhỏ hơn 10.000USD và các luồng tiền được chuyển đến nước thứ ba

Trang 32

Levy Yeyati (2006) [100] sử dụng chỉ số ĐLH tiền gởi (tỷ lệ tiền gởi ngoại

tệ trên tổng tiền gởi) và chỉ số ĐLH trách nhiệm (ĐLH tiền vay) (tỷ lệ vay nợ bằng ngoại tệ trên tổng cho vay của hệ thống ngân hàng)

Nhìn chung, hạn chế trong các phương pháp trên là việc đo lường lượng ngoại tệ trong lưu thông thường không được biết đến, không quan sát được, trừ Edgar L Feige (2003) Tuy nhiên, các chỉ số được xây dựng bởi Edgar L Feige (2003) chưa phù hợp đối với các nước đang phát triển, vì tại các quốc gia này, hệ thống thông tin và thống kê còn yếu kém và chưa công khai minh bạch, việc thống

kê lượng ngoại tệ tiền mặt đang lưu hành trong nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn

Do đó, các nghiên cứu về ĐLH thường sử dụng hai chỉ số ĐLH tiền gởi và ĐLH tiền vay của Levy Yeyati (2006), các chỉ số này hiện nay được thể hiện trong các báo cáo của IMF, cụ thể:

Chỉ số ĐLH tiền gởi: DDI FCD

DDI: Deposit Dollarization Index (ĐLH tiền gởi)

FCD: Foreign Currency Deposit (tiền gởi ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng) TD: Total Deposits (Tổng tiền gởi trong hệ thống ngân hàng)

M2: Tổng phương tiện thanh toán

LDI: Loan Dollarization Index (ĐLH tiền vay)

TL: Total Loans (Tổng cho vay)

Từ kết quả tính toán, tình trạng ĐLH của một quốc gia sẽ được đánh giá theo

3 cấp: cao, trung bình và thấp Theo Balino et al (1999) [45], các nước có các chỉ số ĐLH lớn hơn 30% là những nước có tình trạng ĐLH cao, nằm trong khoảng từ 10% đến 30% là những nước có tình trạng ĐLH trung bình và nhỏ hơn 10% là những nước có tình trạng ĐLH thấp

Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển, hệ thống dữ liệu thống kê còn yếu kém, hơn nữa Việt Nam không nằm trong danh sách các nước trong báo cáo

Trang 33

của cơ quan Hải quan Mỹ, do đó không thể thống kê lượng tiền mặt ngoại tệ theo Edgar L Feige (2003) Vì vậy, trong luận án này, tác giả đánh giá tình trạng ĐLH tại Việt Nam dựa trên tiêu chí cơ chế xuất hiện ngoại tệ trong nền kinh tế, đó là tình trạng ĐLH tiền gởi, tình trạng ĐLH tiền vay, tình trạng ĐLH tiền mặt và tình trạng ĐLH định giá, niêm yết Trong đó, luận án tập trung phân tích, đánh giá tình trạng ĐLH tiền gởi và tình trạng ĐLH tiền vay được lượng hóa theo cách tính của IMF Đối với tình trạng ĐLH tiền mặt, luận án ước lượng lượng tiền mặt ngoại tệ trong lưu thông dựa vào sự chênh lệch của kiều hối và thay đổi tiền gởi ngoại tệ theo Nguyen Thi Hong (2002) [109] và cuối cùng là tình trạng ĐLH định giá, niêm yết cũng được luận án đề cập đến theo phương pháp quan sát, thống kê, mô tả với mục đích bổ sung một cách toàn diện tình trạng ĐLH trong nền kinh tế Việt Nam

2.1.2 Tác động của tình trạng đô la hóa đối với nền kinh tế

Cho dù ở trong tình trạng cao, trung bình hay thấp thì tình trạng ĐLH đều có những tác động tích cực cũng như tiêu cực, cụ thể:

2.1.2.1 Tác động tích cực

❖ Giảm chi phí giao dịch và xóa bỏ rủi ro tỷ giá

Dornbusch (2001) [67] cho rằng, bằng cách dùng ngoại tệ thay thế nội tệ, giá của rủi ro của đồng tiền sẽ biến mất bởi vì tỷ giá hối đoái không tồn tại Mặt khác, việc nắm giữ ngoại tệ của người dân và doanh nghiệp sẽ giúp được họ giảm chi phí giao dịch khi thanh toán trong hoạt động thương mại quốc tế, vì họ không cần chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác mà có thể sử dụng lượng ngoại tệ đang nắm giữ để thanh toán trực tiếp cho các đối tác nước ngoài (Fischer (1982)

[71] và De Grauwe (2000) [63]) Các nhà đầu tư sẽ không còn trích lập dự phòng

rủi ro tỷ giá, chi phí giao dịch cũng như chi phí kinh doanh Lợi ích từ chi phí giao dịch thấp hơn có thể thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế

❖ Thúc đẩy thương mại quốc tế và hội nhập kinh tế thế giới

Balino et al (1999) [45] khẳng định ĐLH là một dấu hiệu của sự hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, là kết quả tự nhiên của việc mở cửa nền kinh tế và tự do hóa thị trường tài chính Lợi ích từ việc giảm thiểu rủi ro tỷ giá,

Trang 34

giảm chi phí giao dịch, góp phần gia tăng niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài,

từ đó thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế Sự cho phép nhận tiền gửi ngoại tệ giúp gia tăng vốn cho các NHTM Cho vay bằng ngoại tệ góp phần thúc đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế của doanh nghiệp

❖ Kiềm chế siêu lạm phát, nền kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng hoảng

Ilan và Olivares (2000) [85]; Perez (2012) [120] cho rằng khi người dân không còn tin tưởng vào sự điều hành các chính sách kinh tế của Chính phủ, NHTW không thể kiềm giữ lạm phát thấp như cam kết thì ĐLH nền kinh tế sẽ thúc đẩy sự ổn định kinh tế vĩ mô Mặt khác, Chang và Velasco (2001) [59] cho rằng ĐLH đóng vai trò là một thiết bị cam kết mang lại sự tin cậy cho chính sách, và loại

bỏ những kỳ vọng bất lợi của lạm phát

Lịch sử cũng đã chứng minh, khi siêu lạm phát xảy ra ở các quốc gia như Đức, Áo vào năm 1922-1923 hay Zimbabwe vào năm 2008, NHTW của các nước này đã tận dụng cỗ máy in tiền, kết quả làm cho nền kinh tế càng thêm trầm trọng hơn Để thoát khỏi siêu lạm phát, Đức, Áo chọn giải pháp cải cách tiền tệ, còn mới đây Zimbabwe quyết định chọn ĐLH chính thức để cứu nền kinh tế

Ở một số quốc gia khác như Argentina, Panama và một số quốc gia ở châu

Mỹ Latinh, ĐLH chính thức giúp nền kinh tế của các quốc gia này thoát khỏi tình trạng khủng hoảng nặng nề, Chính phủ không còn lạm dụng việc in tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách, do đó sẽ thắt chặt được kỷ luật về tiền tệ và hoạt động của ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn

2.1.2.2 Tác động tiêu cực

Mặc dù có những tác động tích cực đến nền kinh tế như kể trên, nhưng có thể nói, ĐLH cũng có những ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế, nổi bật như:

❖ Giảm hiệu quả điều hành CSTT của NHTW

Hiệu quả điều hành CSTT của NHTW được thể hiện rất rõ thông qua thực hiện hệ thống các mục tiêu mà chủ đích là mục tiêu cuối cùng, với nhiệm vụ quan trọng là tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông Một nền kinh tế bị ĐLH, tức

Trang 35

là tồn tại ít nhất hai đồng tiền trong lưu thông, NHTW khó dự đoán được diễn biến TPTTT vì không thể kiểm soát được số ngoại tệ trôi nổi trong nền kinh tế (Ize & Yeyati (2006) [89]) Trong khi đó, cầu nội tệ cũng không ổn định, chỉ cần một biến động, dân chúng dễ dàng chuyển cất trữ ngoại tệ, hoặc một thay đổi về lãi suất trong nước hay nước ngoài chắc chắn sẽ tạo ra một sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác Điều này dẫn đến các quyết định tăng, giảm lượng tiền trong lưu thông trở nên kém hiệu quả và không kịp thời, và đây là một trong những nguyên nhân xảy ra lạm phát, tạo ra những bất ổn trong nền kinh tế, dân chúng lại càng lo sợ giá trị tài sản bằng nội tệ của mình bị mất đi, đổ xô chuyển đổi sang ngoại tệ, việc điều hành CSTT càng khó khăn, hiệu quả càng kém, lạm phát càng gia tăng,… Việc điều hành CSTT của NHTW càng bị cuốn xoáy vào “vòng luẩn quẩn”, rất dễ rơi vào bế tắc, khủng hoảng trầm trọng

❖ Hạn chế chức năng là người cho vay cuối cùng của NHTW

Mặc dù ĐLH toàn phần loại bỏ được rủi ro về phá giá nội tệ gây ảnh hưởng xấu tới hệ thống ngân hàng nhưng nó không loại bỏ được hoàn toàn các nguyên nhân có thể gây nên khủng hoảng Khi khủng hoảng xảy ra thì chính ĐLH toàn phần lại tước đi khả năng là người cho vay cuối cùng của NHTW (Ford (2001) [72];

Chang và Velasco (2001) [59]; Perez (2012) [120]) và làm giảm khả năng phản ứng

của NHTW trong các tình huống khẩn cấp của hệ thống tài chính Trong trường hợp

có biến động, mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có thể làm cho nội tệ mất giá

và bắt đầu một chu kỳ lạm phát, những thay đổi về lãi suất trong nước hay nước ngoài có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác (hoạt động đầu cơ tỷ giá) Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho NHTW trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong nước và có thể gây bất ổn trong hệ thống ngân hàng

Ở các nước đang phát triển chưa bị ĐLH hoàn toàn, mặc dù các NHTM có vốn tự có thấp, song dân chúng vẫn tin tưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của họ tại đây Nguyên nhân là do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối với các khoản tiền này Điều này chỉ có thể làm được đối với nội tệ, chứ không thể áp dụng được đối với đô la Mỹ vì NHTW không có chức năng phát hành đồng tiền

Trang 36

này Một nền kinh tế bị ĐLH chính thức hay hoàn toàn, khu vực ngân hàng sẽ trở nên bất ổn hơn trong trường hợp NHTM bị phá sản và sẽ phải đóng cửa khi chức năng là người cho vay cuối cùng của NHTW đã bị mất

❖ Thị phần xuất khẩu bị thu hẹp

Xuất khẩu có vai trò quan cùng quan trọng đối với sự phát triển, do đó việc tăng cường mở rộng thị trường cũng như thúc đẩy hoạt động xuất khẩu là trách nhiệm hàng đầu của mỗi quốc gia Ngoài những yếu tố quan trọng như chất lượng sản phẩm, giá cả hàng hóa thì việc phá giá nội tệ thông qua điều chỉnh tỷ giá cũng là một yếu tố quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp thị trường xuất khẩu của quốc gia đó Đối với một nước bị ĐLH không chính thức, các quyết định điều chỉnh tỷ giá vô cùng nhạy cảm Nếu mặt bằng giá cả trong nước tăng nhanh hơn Mỹ thì khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu bị giảm sút vì lúc đó USD tăng giá trị thực, còn nếu Mỹ và các nước phát hành đồng tiền ĐLH là đối thủ cạnh tranh trên thị trường thế giới thực hiện phá giá đồng tiền của mình, thì lúc đó quốc gia bị ĐLH sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của thị trường xuất khẩu thông qua việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái Đối với một nước bị ĐLH chính thức, khả năng này bị mất hẳn vì Chính phủ nước này bị tước quyền phá giá đồng tiền Lịch sử đã chứng minh trường hợp này đối với Argentina vào năm 1999, khi Braxin thực hiện phá giá mạnh đồng Real và hệ quả là hàng xuất khẩu của Argentina sang Braxin đã giảm đáng kể

và hàng hóa của Braxin lại có khả năng cạnh tranh hơn một cách rõ rệt tại Argentina Việc lầm tưởng khi tiếp nhận USD có lợi thế thương mại vì giá trị ổn định chỉ thực sự diễn ra trong trường hợp Mỹ là đối tác thương mại quan trọng nhất

Do đó, các nước bị ĐLH luôn đối mặt với nguy cơ thị trường xuất khẩu ngày càng

bị thu hẹp dần

❖ Nguy cơ khủng hoảng tài chính dễ xảy ra

ĐLH càng cao, tức là tiền gởi bằng ngoại tệ trong hệ thống NHTM càng tăng lên Vì lợi nhuận, các NHTM buộc phải cho các doanh nghiệp trong nước vay bằng ngoại tệ, trong khi hầu hết doanh thu của các doanh nghiệp này lại bằng nội tệ Như vậy, về phía doanh nghiệp, họ phải đối mặt với rủi ro mất khả năng thanh toán khi

Trang 37

có sự biến động tỷ giá, lúc này lợi nhuận bán hàng chỉ đủ trang trải khoản lãi vay đang ngày càng lớn dần do tỷ giá tăng, thậm chí thua lỗ, nợ nần chồng chất Về phía người gửi tiền, họ biết chắc chắn rằng ngoại tệ của họ sau khi gởi sẽ được NHTM cho vay lại, vì thế khi thấy tỷ giá càng tăng, họ lo sợ rằng các NHTM mà họ gởi tiền đang có vấn đề với những khoản cho vay mất khả năng thu hồi, họ sẽ thi nhau rút tiền Về phía các NHTM, họ đang đối mặt với hai loại rủi ro đó là rủi ro tín dụng và rủi ro về khả năng chi trả, vì đáp ứng nhu cầu rút tiền của dân chúng là việc cần phải giải quyết trước mắt và kịp thời trong khi thu hồi các khoản tín dụng thì cần có thời gian, đòi hỏi NHTM phải có một khối tài sản bằng ngoại tệ có tính thanh khoản cao đủ lớn hoặc phải đi vay NHTW và các ngân hàng khác Trong bối cảnh đó, nguồn ngoại tệ của các NHTM khác cũng cạn kiệt và ngay cả NHTW cũng vậy, vì đây không phải là nội tệ nên không thể sử dụng cỗ máy in tiền để cứu giúp các NHTM Kết cục là khả năng sụp đổ cả hệ thống ngân hàng đang diễn ra trước mắt

và một cuộc khủng hoảng tài chính sắp bắt đầu

❖ Mất quyền kiểm soát tiền tệ, ảnh hưởng đến uy tín chính trị của quốc gia

Khi một nước bị ĐLH đồng nghĩa với việc tồn tại ít nhất hai đồng tiền trong lưu thông tiền tệ Nội tệ sẽ mất đi vai trò chủ đạo và luôn chịu sự cạnh tranh về thị phần trong lưu thông, nội tệ bị thu hẹp chỉ còn trong các giao dịch nhỏ, lẻ hằng ngày, còn các giao dịch lớn và cất trữ giá trị người dân lại ưu tiên chọn ngoại tệ Keely & Adam (2013) [95] chứng minh rằng, cho dù nền kinh tế bị ĐLH chính thức hay không chính thức, Chính phủ của quốc gia đó cũng bị mất một phần hay toàn

bộ quyền kiểm soát tiền tệ, làm suy giảm uy tín chính trị của quốc gia đó Bởi vì, đồng tiền quốc gia là một biểu tượng chính trị quan trọng nhằm tăng cường bản sắc văn hóa dân tộc, là một đặc điểm để phân biệt quốc gia này với quốc gia khác bên

cạnh những biểu tượng đặc trưng như quốc kỳ, quốc ca, kiến trúc,…

❖ Dễ xảy ra bất ổn vĩ mô và hàng loạt các vấn đề xã hội khác

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, bất kỳ quốc gia nào cũng chịu tác động bởi những cú sốc từ bên ngoài như sự dịch chuyển các luồng vốn, khủng hoảng, nhập khẩu lạm phát,… Với một nước bị ĐLH thì khả năng đối mặt, chống

Trang 38

chịu với các cú sốc càng yếu kém, chẳng hạn, ở các nước bị ĐLH có quan hệ xuất nhập khẩu chính là thị trường Mỹ, khi kinh tế Mỹ đang bị lạm phát, chỉ số lạm phát trong nước cũng tăng lên nhanh chóng do hiện tượng nhập khẩu lạm phát, mặt khác, khi chỉ số lạm phát trong nước tăng cao, dân chúng lại bắt đầu lo sợ nội tệ bị mất giá, chuyển sang cất trữ ngoại tệ, cầu ngoại tệ trong nước tăng nhanh, tỷ giá càng biến động Nhu cầu ngoại tệ tăng cao mà các nguồn cung cấp hợp pháp không đảm bảo thì dễ xảy ra hàng loạt các vấn đề xã hội khác như nạn buôn lậu ngoại tệ, rửa tiền, giao dịch thanh toán ngoại tệ tràn lan,… gây rối loạn môi trường kinh tế của quốc gia đó Ngoài ra, có một điều rất trớ trêu là USD mất giá trên chính quê hương mình nhưng lại khan hiếm, tăng giá trên đất nước bị ĐLH

2.1.3 Mối quan hệ giữa tình trạng đô la hóa với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô

Cho đến nay, rất nhiều nghiên cứu giải thích cho các câu hỏi tại sao lại có hiện tượng ĐLH và tại sao nó lại tồn tại bền bỉ trong nền kinh tế? Gốc, rễ của vấn

đề nằm ở những quy luật lựa chọn tiền tệ và các mối tương quan giữa tình trạng ĐLH với các chỉ tiêu vĩ mô trong nền kinh tế

2.1.3.1 Lý thuyết về sự lựa chọn tiền tệ

ĐLH là một trong những vấn đề tiền tệ, vì vậy lý do thay thế tiền tệ trong nền kinh tế xuất phát từ các lý thuyết như:

❖ Luật Gresham, ông cho rằng:“tiền xấu sẽ đuổi tiền tốt ra khỏi lưu thông”

Điều này có nghĩa là những đồng tiền tốt sẽ không còn tham gia lưu thông mà được người dân chuyển sang cất trữ

Trên cơ sở cách phân biệt đồng tiền tốt –xấu của Gresham, trong nền kinh tế

- tiền tệ hiện đại, Calvo & Vegh (1992) [55] đã định nghĩa: tiền tệ “cứng” là một loại tiền tệ được quốc tế chấp nhận, có danh tiếng tốt, là đồng tiền đáng tin cậy và

ổn định, như USD hoặc EUR Mueller (1999) [107] cho rằng, trong trường hợp không có hạn chế về tiền tệ, thì ĐLH có thể coi là kết quả của một quá trình cạnh tranh của các đồng tiền, nếu ngoại tệ dự kiến sẽ thực hiện tốt các chức năng phương tiện thanh toán, cất trữ giá trị hoặc đơn vị tính toán thì các chủ thể kinh tế trong nước có thể từ bỏ nội tệ để sử dụng ngoại tệ

Trang 39

❖ Lý thuyết lượng cầu tài sản

Năm 1956, Friedman đã phát triển lý thuyết cầu tiền của Keynes trên một bài

báo nổi tiếng: “The Quantity theory of money: A Restatement”[75], ông cho rằng

các chủ thể kinh tế có nhu cầu nắm giữ một lượng tiền (bao gồm tiền mặt và tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, tức khối tiền M1) Nhu cầu này là một hàm của (a) các nguồn tài nguyên khả dụng (của cải) của các chủ thể và (b) khả năng sinh lợi của tiền so với khả năng sinh lợi của các tài sản khác Trên cơ sở lập luận đó, Friedman

đã xác định: cầu tiền có tương quan thuận với thu nhập thường xuyên (của cải) và tương quan nghịch với 3 nhân tố: (i) chênh lệch giữa lợi tức dự tính của trái phiếu

so với lợi tức dự tính về tiền, (ii) chênh lệch giữa lợi tức dự tính của cổ phiếu so với lợi tức dự tính về tiền và (iii) chênh lệch giữa tỷ lệ lạm phát dự tính so với lợi tức

dự tính về tiền

Lý thuyết lượng cầu tài sản của Mishkin [73] cho rằng, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, lượng cầu tài sản (cổ phiếu, trái phiếu) tỷ lệ thuận với 3 yếu tố: (i) Của cải, (ii) Lợi tức dự kiến của tài sản này so với tài sản khác, (iii) Độ thanh khoản của tài sản này so với tài sản khác và tỷ lệ nghịch với mức rủi ro của tài sản này so với tài sản khác

Như vậy, cả Friedman và Mishkin đều cho rằng, để xác định nhu cầu về một tài sản cần phải so sánh lợi ích của việc nắm giữ tài sản đó so với lợi ích nắm giữ tài sản khác Trong một nền kinh tế, nếu lợi ích nắm giữ nội tệ thấp và có nhiều rủi ro (lạm phát, khả năng chuyển đổi, yếu tố chính trị,…) hơn việc nắm giữ ngoại tệ thì nhu cầu về ngoại tệ sẽ cao hơn nội tệ

❖ Các quan hệ ngang bằng trong thị trường tài chính quốc tế

• Lý thuyết ngang bằng lãi suất: Trong môi trường thị trường tài chính hoàn

hảo, các chứng khoán cùng kỳ hạn và cùng độ rủi ro, thì chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền phải ngang bằng với điểm kỳ hạn tương ứng của kỳ hạn hoặc ngang bằng

tỷ lệ biến động kỳ vọng của tỷ giá giao ngay Quan hệ ngang bằng lãi suất có 2 dạng: ngang bằng lãi suất có bảo hiểm (CIP) và ngang bằng lãi suất không bảo hiểm (UIP), công thức xác định ngang bằng lãi suất như sau:

Trang 40

Trong đó: r là lãi suất đồng định giá (nội tệ), r* là lãi suất đồng yết giá (ngoại tệ), F là tỷ giá kỳ hạn và E là tỷ giá giao ngay, ∆E là biến động kỳ vọng của tỷ giá

• Hiệu ứng Fisher quốc tế phát biểu: Trong một nền kinh tế mở, lãi suất thực

giữa các đồng tiền khác nhau luôn có xu hướng ngang bằng nhau Hiệu ứng Fisher quốc tế là sự kết hợp các giả thiết từ hiệu ứng Fisher, quy luật ngang bằng lãi suất không có bảo hiểm (UIP) và quy luật ngang giá sức mua dạng kỳ vọng (PPP)

Hiệu ứng Fisher cho rằng: lãi suất danh nghĩa ở mỗi quốc gia (r) bao hàm lãi suất thực kỳ vọng (re) cộng với mức lạm phát dự kiến (pe):

Biểu thức Fisher: e e

r= +r p (1) Theo UIP:  = − E r r * (2)

 =  −  (3) Kết hợp (1), (2) và (3) ta có : e *e

r = rNhư vậy, theo các lý thuyết về quan hệ ngang bằng, trong điều kiện thị trường hoàn hảo thì mức lãi suất của các đồng tiền luôn có khuynh hướng cân bằng với sự biến động của tỷ giá, nghĩa là nhà đầu tư chọn lựa đồng tiền quốc gia nào cũng không ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của họ Điều này cũng đồng nghĩa sẽ không xảy ra tình trạng ĐLH Tuy nhiên, trong thực tế, mỗi chủ thể sẽ không đồng nhất trong việc tiếp cận thông tin, từ đó có những dự báo sai lệch nhau về các chỉ số như tỷ giá, lạm phát dẫn đến hành vi lựa chọn nắm giữ đồng tiền cũng khác nhau Mặt khác, mức độ rủi ro, tính thanh khoản và kỳ hạn của các đồng tiền cũng khác nhau, do đó tuy có cùng mức lãi suất nhưng nhà đầu tư thường có khuynh hướng lựa chọn đồng tiền có tính chuyển đổi cao và mức độ rủi ro thấp hơn

2.1.3.2 Tương quan giữa tình trạng đô la hóa với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô

Trong nền kinh tế mở có sự luân chuyển ngoại tệ tự do thì những người có nhu cầu vay vốn kinh doanh hoặc thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng luôn tìm kiếm cơ hội vay vốn với chi phí phải trả thấp trong khi những người cho vay luôn muốn thu

Ngày đăng: 25/04/2019, 21:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w