1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thử nghiệm nhân giống vô tính và gây trồng cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr) bằng phương pháp giâm hom tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường Đại Học Nông lâm Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)

68 92 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thử nghiệm nhân giống vô tính và gây trồng cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr) bằng phương pháp giâm hom tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường Đại Học Nông lâm Thái NguyênThử nghiệm nhân giống vô tính và gây trồng cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr) bằng phương pháp giâm hom tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường Đại Học Nông lâm Thái NguyênThử nghiệm nhân giống vô tính và gây trồng cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr) bằng phương pháp giâm hom tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường Đại Học Nông lâm Thái NguyênThử nghiệm nhân giống vô tính và gây trồng cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr) bằng phương pháp giâm hom tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường Đại Học Nông lâm Thái NguyênThử nghiệm nhân giống vô tính và gây trồng cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr) bằng phương pháp giâm hom tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường Đại Học Nông lâm Thái NguyênThử nghiệm nhân giống vô tính và gây trồng cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr) bằng phương pháp giâm hom tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường Đại Học Nông lâm Thái NguyênThử nghiệm nhân giống vô tính và gây trồng cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr) bằng phương pháp giâm hom tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường Đại Học Nông lâm Thái Nguyên

Trang 1

NGUYỄN THÚY NGA

THỬ NGHIỆM NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH VÀ GÂY TRỒNG CÂY

RÂU MÈO (ORTHOSIPHON SPIRALIS (LOUR.) MERR)

BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO,

NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN THỦY SẢN VÙNG ĐÔNG BẮC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Khóa học : 2014 - 2018

Thái Nguyên – Năm 2018

Trang 2

NGUYỄN THÚY NGA

THỬ NGHIỆM NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH VÀ GÂY TRỒNG CÂY

RÂU MÈO (ORTHOSIPHON SPIRALIS (LOUR.) MERR)

BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN THỦY SẢN VÙNG ĐÔNG BẮC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Lớp : K46 - QLTNR – N01

Giáo viên hướng dẫn : TS Dương Văn Thảo

Thái Nguyên – Năm 2018

Trang 3

Được sự đồng ý của Khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên tôi đã tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Thử nghiệm nhân

giống vô tính và gây trồng cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis (Lour.)

Merr) bằng phương pháp giâm hom tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và

phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường Đại Học Nông lâm Thái Nguyên” Sau thời gian thực tập là tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát

triển thủy sản vùng Đông Bắc trường Đại Học Nông lâm Thái Nguyên đến nay tôi đã hoàn thành đề tài này ngoài sự nỗ lực của bản thân còn có sự giúp

đỡ của các thầy cô giáo Khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái

Nguyên và đặc biệt là thầy giáo, TS Dương Văn Thảo đã tận tình hướng dẫn

tôi trong suốt thời gian thực tập của mình

Do mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ và thời gian có hạn nên không tránh khỏi những sai sót vì vậy tôi kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thúy Nga

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Thử nghiệm nhân giống vô

tính và gây trồng cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr) bằng phương pháp giâm hom tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường Đại Học Nông lâm Thái Nguyên” là công

trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự

hướng dẫn của TS Dương Văn Thảo Những phần sử dụng tài liệu tham

khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình điều tra thực địa hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

và chịu mọi hình thức kỉ luật của khoa và nhà trường đề ra

Thái Nguyên, ngày… tháng … năm 2018

XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan

TS Dương Văn Thảo Nguyễn Thúy Nga

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình diễn biến thời tiết khí hậu tỉnh Thái Nguyên năm 2017 14

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 20

Bảng 3.2 Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA 24

Bảng 4.1: Tỷ lệ mô sẹo hom cây Râu mèo ở các công thức thí nghiệm 26

Bảng 4.2 Tỷ lệ ra rễ hom cây Râu mèo trong các công thức thí nghiệm qua định kỳ theo dõi 28

Bảng 4.3 Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA hom Râu mèo 29

Bảng 4.4 Kết quả chỉ tiêu ra rễ của hom cây Râu mèo 31

Bảng 4.5 Kết quả động thái lá cây Râu mèo 33

Bảng 4.6 Tỷ lệ hom sống cây Râu mèo sau giâm hom 34

Bảng 4.7: Tỷ lệ hom sống cây Râu mèo sau khi chuyển ra trồng 35

Bảng 4.8 Kết quả chiều cao vút ngọn trung bình và đường kính trung bình cây Râu mèo sau khi chuyển ra trồng 37

Bảng 4.9 Kết quả tỷ lệ cây ra chồi, lá mới sau khi chuyển ra trồng 39

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Chuẩn bị giá thể cát và làm vòm che 18

Hình 3.2 Sau khi tiến hành cắm hom 19

Hình 4.1: Công thức 1 sau giâm hom 15 ngày 30

Hình 4.2: Công thức 2 sau giâm hom 15 ngày 30

Hình 4.3: Công thức 3 sau giâm hom 15 ngày 30

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ mô sẹo của cây hom Râu mèo ở các công thức thí nghiệm 26

Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ ra rễ cây Râu mèo ở các công thức thí nghiệm qua định kỳ theo dõi 28

Biểu đồ 4.3: Biểu diễn số rễ trung bình/ hom 31

Biểu đồ 4.4: Biểu diễn chiều dài rễ trung bình 32

Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ hom sống cây râu mèo khi giâm hom 34

Biểu đồ 4.6: Tỷ lệ hom sống cây Râu mèo sau khi đem ra trồng qua định kỳ theo dõi 35

Biểu đồ 4.7: Chiều cao trung bình của cây Râu mèo sau khi chuyển ra trồng 37

Biểu đồ 4.8: Đường kính trung bình của cây Râu mèo sau khi chuyển ra trồng 38 Biểu đồ 4.9: Tỷ lệ cây ra chồi, lá mới của cây Râu mèo sau khi chuyển ra trồng 40

Biểu đồ 4.10: Chiều dài chồi của cây Râu mèo sau khi chuyển ra trồng 41

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CT1: CÔNG THỨC 1

CT2: CÔNG THỨC 2

CT3: CÔNG THỨC 3

H: CHIỀU CAO VÚT NGỌN TRUNG BÌNH

Doo: ĐƯỜNG KÍNH GỐC TRUNG BÌNH

Trang 9

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

MỤC LỤC vii

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1.Đặt vấn đề 1

1.2.Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất của đề tài 3

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài 4

2.1.1 Cơ sở khoa học 4

2.1.2 Cơ sở thực tiễn 5

2.2 Những nghiên cứu ngoài nước và trong nước 6

2.2.1 Những nghiên cứu trên Thế giới 6

2.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 10

2.2 Đặc điểm chung của cây Râu mèo 12

2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu đề tài 13

2.3.1 Vị trí địa lý, địa hình 13

2.3.2 Đặc điểm đất đai 13

2.3.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 13

Trang 10

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

3.2 Địa điểm và nội dung nghiên cứu 15

3.3 Nội dung nghiên cứu 15

3.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của loại hom cây Râu mèo đến tỷ lệ ra mô sẹo, khả năng sống và động thái ra lá của cây Râu mèo 15

3.3.2 Nghiên cứu sinh trưởng của cây hom sau khi chuyển ra trồng 15

3.4 Phương pháp nghiên cứu 16

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 16

3.4.2 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 16

3.4.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu điều tra 17

3.4.4 Phương pháp kế thừa và chọn lọc số liệu 17

3.5 Các bước tiến hành 17

3.5.1 Công tác ngoại nghiệp 17

3.5.2 Công tác nội nghiệp 22

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 26

4.1 Kết quả giâm hom cây Râu mèo 26

4.1.1 Tỷ lệ mô sẹo cây Râu mèo ở các công thức thí nghiệm theo định kỳ theo dõi 26

4.1.2 Tỷ lệ ra rễ của cây Râu mèo ở các công thức thí nghiệm qua định kỳ theo dõi 27

4.1.3 Kết quả chỉ tiêu ra rễ hom cây Râu mèo ở các công thức thí nghiệm 31

4.1.4 Kết quả động thái lá hom cây Râu mèo qua các công thức thí nghiệm qua định kỳ theo dõi 32

4.1.5.Tỷ lệ hom sống cây Râu mèo lần đo cuối ở các công thức thí nghiệm 33 4.2 Kết quả gây trồng cây Râu mèo 34

4.2.1 Tỷ lệ hom sống của Râu mèo sau khi chuyển ra trồng 34

4.2.2 Kết quả về sinh trưởng của hom Râu mèo sau khi chuyển ra trồng 36

Trang 11

4.2.2.1 Chiều cao vút ngọn trung bình và đường kính trung bình hom Râu mèo 36

4.2.2.2 Tỷ lệ cây ra chồi, lá mới sau khi chuyển ra trồng 39

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

5.1 Kết luận 43

5.2 Kiến nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 12

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1.Đặt vấn đề

Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm cho nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của Việt Nam đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng, trong đó có loài cây Râu mèo Trong những năm gần đây nhu cầu về thảo dược trong điều trị bệnh, làm đẹp, nâng cao sức khoẻ cho con người ngày càng cao, các hoạt động mưu cầu cuộc sống của con người đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn và phát triển của các loài cây thuốc trong tự nhiên Để đáp ứng yêu cầu đó, ngành dược liệu đã và đang phấn đấu không ngừng tìm hiểu thêm những dược liệu mới, công dụng mới giúp điều trị và nâng cao sức khoẻ cho cộng đồng Cho nên, thúc đẩy và không ngừng phát triển công tác nhân giống cây thuốc là một yêu cầu cấp bách hiện nay

Các loài cây có nguy cơ tuyệt chủng cao và có nhiều lợi ích cho nghiên cứu khoa học và cuộc sống của con người có phân bố trong tự nhiên ngày một

bị thu hẹp, số lượng cá thể bị suy giảm nghiêm trọng do con người khai thác

sử dụng một cách quá mức đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao Chính

vì vậy việc bảo tồn đa dạng sinh học là nhiệm vụ hàng đầu trong nghiên cứu

đa dạng sinh học trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới các loài cây lá kim được nhiều nước tập trung nghiên cứu, ứng dụng giâm hom được phục vụ cho chương trình trồng rừng, dòng vô tính

đã được tuyển chọn và đã thu được những kết quả đáng kể nhất là ở các nước Châu Âu và ở nước ta cũng thế công tác nghiên cứu và giâm hom một số loài cây phục vụ cho công tác trồng, cải tạo rừng đang được chú trọng nhiều hơn

Từ lâu, cây Râu mèo đã được dân gian đã lưu truyền về tác dụng thanh nhiệt, chữa bệnh sỏi thận, sỏi túi mật, sốt ban, cúm thấp, viêm thận cấp và mãn, viêm bàng quang, sỏi đường niệu, thấp khớp, tạng khớp, viêm thận phù thũng, bệnh đường tiết niệu

Trang 13

Trong chiến lược phát triển ngành dược của Bộ Y tế, cây Râu mèo được xếp vào loại cây hiếm cần được bảo vệ và phát triển nguồn gen

Với mục đích nhằm khôi phục lại quần thể loài cây, trong đó có loài

cây Râu mèo có tên khoa học là (Orthosiphon stamineus) hiện nay đang bị

khai thác nghiêm trọng và chỉ còn lại một số quần thể rất nhỏ tại một số khu

vực nghiên cứu bằng phương pháp giâm hom

Phương pháp giâm hom (Cutting propagation): Là phương pháp dùng

một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là cây hom, cây hom có đặc tính di truyền được giữ nguyên từ cây mẹ Nhân giống bằng hom là phương pháp nhân giống nhanh và có hệ số nhân giống cao nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả

Nguồn dược liệu hoang dại ngày càng trở nên khó khăn hơn do khai thác không hợp lý làm hạn chế khả năng tái sinh của cây Mặt khác chất lượng dược liệu khai thác hoang dại không ổn định do sự sinh trưởng của cây không đồng đều, điều đó đã ảnh hưởng đến chất lượng dược liệu và kết quả không cao trong điều trị bệnh nghiên cứu đưa cây Râu mèo vào nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom sẽ góp phần chủ động sản xuất dược liệu cây Râu mèo dần đi vào ổn định về số lượng và chất lượng Xuất phát từ nhu cầu thực tế muốn phát triển cây Râu mèo rộng rãi, tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc và chủ động được nguồn giống cho sản xuất lâu dài, chúng tôi nghiên

cứu:“Thử nghiệm nhân giống vô tính và gây trồng cây Râu mèo (Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr) bằng phương pháp giâm hom tại trung

tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường Đại Học Nông lâm Thái Nguyên”

1.2.Mục tiêu của đề tài

- Xác định được khả năng ra rễ của cây hom Râu mèo ở các vị trí khác nhau

Trang 14

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Nghiên cứu phương thức nhân giống vô tính giống cây Râu mèo và các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu chọn tạo giống và nghiên cứu các các biện pháp kỹ thuật khác cũng như

là cơ sở khoa học trong điều trị và chữa bệnh dựa vào cây Râu mèo có trên khu vực nghiên cứu

- Là tài liệu trong học tập, cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan

- Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã học biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, và có thể tích lũy được những kiến thức thực tiễn quý giá phục vụ cho quá trình công tác trong tương lai

- Nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng kiến thức đã được học trong trường vào công tác nghiên cứu khoa học, áp dụng tiến bộ khoa học vào nhân giống cây, bảo tồn loài

- Biết được tầm quan trọng của loài thực vật có giá trị dược liệu như cây Râu mèo nói riêng

- Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất của đề tài

- Kết quả của đề tài bước đầu đã phân biệt đặc điểm hình thái, khả năng nhân giống của giống Râu mèo nhằm góp phần hoàn thiện quy trình tuyển chọn giống cây Râu mèo năng suất chất lượng cao cho vùng Thái Nguyên

- Nghiên cứu đề tài sẽ đánh giá được vai trò của các yếu tố ngoại cảnh, các yếu tố khác trong việc nhân giống bằng phương pháp giâm hom tại vườn ươm

Trang 15

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài

2.1.1 Cơ sở khoa học

Ở Việt Nam, Râu mèo phân bố rải rác ở một số tỉnh miền núi như Cao Bằng, Thanh Hoá (Vĩnh Lộc), Hà Tây (Ba Vì), Lâm Đồng, Phú Yên (Tuy Hoà), Vũng Tàu – Côn Đảo (Bà Rịa), Ninh Thuận (Phan Rang), Kiên Giang (Phú Quốc) Cây ưu ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc trên đất giàu chất mùn ở ven rừng, gần bờ nước hoặc trong thung lũng Độ cao phân bố của cây từ khoảng 10m (ở Phú Yên) đến 600m (ở Cao Bằng) Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân hè, mùa đông có hiện tượng bán tán lụi ở phần thân cành trên mặt đất Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt, nhưng tỷ lệ hạt nẩy mầm thường rất thấp Râu mèo tái sinh chồi khoẻ, nhất là từ những phần còn lại sau khi cắt

Trên cơ sở phân bố và điều kiện tự nhiên của cây Râu mèo Việt Nam như vậy, chúng tôi thấy rằng nghiên cứu đặc điểm thực vật, phương thức nhân giống cho vùng Thái Nguyên cho năng suất cao và chất lượng phù hợp là rất cần thiết cho việc chủ động cung cấp nguồn dược liệu thay thế nguồn dược

liệu sẵn có trong tự nhiên

Cây Râu mèo có tên như vậy vì nhị và nhuỵ của hoa thò ra giống như râu con mèo Cây nhỏ, sống lâu năm, cao 50cm - 100cm Thân cây có cạnh vuông, mang nhiều cành Lá mọc đối, cặp lá trước mọc thành chữ thập đối với cặp lá sau Cuống lá rất ngắn, chừng 2mm - 5mm Cụm hoa tận cùng thẳng, mọc thành chùm, lúc non màu trắng lúc già ngả màu xanh tím, hoa nở suốt mùa hè

Thành phần hoạt chất chính của Râu mèo gồm các chất thuộc nhóm flavonoid, terpenoid và dẫn xuất của acid caffeic… Trong đó, sinensetin, acid ursolic và acid rosmarinic là các thành phần hoạt chất chính của Râu mèo

Trang 16

Ngày nay ở Việt Nam, tiến bộ khoa học ngày một phát triển, kỹ thuật nhân giống của các cây nông nghiệp, công nghiệp và lâm nghiệp, cây dược liệu ngày một nâng cao cả về chất lượng và số lượng

Cơ sở khoa học của phương pháp nhân giống vô tính

Giâm cành là một phương pháp nhân giống vô tính mà trong đó người

ta tách các cơ quan dinh dưỡng như cành, thân, thân ngầm, thân rễ và tác động các biện pháp kỹ thuật để tạo ra rễ bất định để có cây con có khả năng sống độc lập với cây mẹ, sinh trưởng phát triển tốt mà vẫn giữ được những đặc tính ban đầu của giống điều này đặc biệt quan trọng đối với cây thuốc

Phương pháp này dựa vào hiện tượng cực tính, khả năng tái sinh của thực vật và đặc tính độc lập từ một bộ phận dinh dưỡng ngay cả một tế bào nhỏ bé cũng có thể tái sinh, phân chia tạo cơ thể hoàn chính đó chính là nhờ tính toàn năng của tế bào Như vậy, phương pháp giâm cành là phương pháp nhân giống thực vật bằng cơ quan dinh dưỡng

Khi đặt cơ quan dinh dưỡng trong điều kiện thích hợp (giá thể, độ ẩm, ánh sáng, dinh dưỡng…) thì chúng sẽ phân chia tế bào khôi phục những bộ phận còn thiếu trở thành một cơ thể hoàn chỉnh Khả năng này phụ thuộc vào tính toàn năng và sự phản phân hóa

2.1.2 Cơ sở thực tiễn

Nguồn trữ lượng Râu mèo của tự nhiên ở Việt Nam là không nhiều Cây Râu mèo mọc tự nhiên ở Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philipin các nước Đông Dương và cả ở Châu Phi Trên thế giới, Inđônêxia là nước trồng nhiều Râu mèo nhất Ngoài khối lượng dược liệu sử dụng nhiều trong nước, năm 1991 – 1995 nước này xuất khẩu sang thị trường Châu Âu mỗi năm từ

170 tấn – 200 tấn Râu mèo khô

Trong y học cổ truyền Việt Nam, Cây Râu mèo được sử dụng làm thuốc lợi tiểu trong điều trị bệnh viêm thận, sỏi thận, tê thấp, phù thũng, viêm gan

Bộ phận dùng của Râu mèo là phần trên mặt đất Theo Dược điển Việt Nam

Trang 17

III đã quy định Herba Othosiphonis spiralis là thân, cành mang lá, hoa đã

phơi hay sấy khô của cây Râu mèo

2.2 Những nghiên cứu ngoài nước và trong nước

2.2.1 Những nghiên cứu trên Thế giới

Cây Râu mèo mọc tự nhiên ở Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philipin các nước Đông Dương và cả ở châu Phi

Theo các tác giả Chow S.Y.Liao J F (Đài Loan), dịch chiết từ Râu mèo trên chó thí nghiệm bằng đường tiêm truyền tĩnh mạch với liều 18,8 mg/kg/phút có tác dụng tăng cường bài tiết nước tiểu và các chất dịch giải

NA+ K+ Cl- Trên chuột nhắt trắng, Râu mèo bằng đường tiêm xoang bụng với liều 2 - 4g/kg làm giảm hoạt động vận động cua chuột Trên chó, bằng đường tiêm tĩnh mạch với liều 0,179g/kg có tác dụng hạ huyết áp và làm giảm tần số hô hấp Dịch chiết bằng cồn của Râu mèo trên chuột nhắt trắng bằng đường tiêm xoang bụng có LD50 = 196 g/kg

Râu mèo có ích cho điều trị bệnh thận và phù thũng Trên bệnh nhân, Râu mèo có tác dụng làm kiềm hoá máu, sự có mặt của hoạt chất orthosiphonin và muối kali trong dược liệu có tác dụng giữ cho axit uric và muối urat ở dạng hoà tan, do đó phòng ngừa được sự lắng đọng của chúng để tạo thành sỏi thận (Awale S & cs, 2003) [15]

Râu mèo tác dụng lợi tiểu của 2 flavon sinensetin và 3’- hydroxy - 3, 6,

7, 4` tetramethoxyflavon của Râu mèo Thí nghiệm trên chuột nhắt trắng Chất 3’- hydroxy - 3, 6, 7, 4’ tetramethoxyflavon bằng đường tiêm tĩnh mạch với liều 10mg/kg, lượng nước tiểu thu được sau 140 phút là 410 mg, còn sinensetin dùng cùng liều trên, lượng nước tiểu thu được sau 160 phút là 614

mg, trong khi đó ở lô chuột đối chứng, sau 120 phút, không thu được một lượng nước tiểu nào Hai flavon trên dùng với liều 1 mg/kg có so sánh với tác dụng của hydrochlorothiazid thấy tác dụng lợi tiểu yếu hơn và xuất hiện chậm Đồng thời, các tác giả cũng khẳng định 2 flavon trên với liều 10mg/kg

Trang 18

trên chuột cống trắng, không thể hiện tác dụng lợi mật tuy trong y học cổ có ghi nhận là Râu mèo có tác dụng lợi mật Xuất phát từ tác dụng điều trị viêm thận của Râu mèo, hai tác giả trên đã tiến hành nghiên cứu tác dụng chống viêm

và tác dụng kháng khuẩn của các flavon chiết tách từ Râu mèo Kết quả cho thấy trên thí nghiệm gây viêm bằng phương pháp cấy viên bông (cotton-pellet), sinensetin không thể hiện tác dung chống viêm (Chin JH & cs, 2008) [17]

Theo tài liệu scialert.net cỏ Râu mèo có tên khoa học là Orthosiphon stamineus Benth (OS) được sử dụng rộng rãi tại nhiều nước ở Đông Nam Á như Malaysia, Indonesia và Thái Lan, để điều trị bệnh thận và bàng quang bệnh liên quan (Jaganth và Ng, 2000) OS chứa một số thành phần hoạt động như terpenoids và polyphenol (Tezuka et al, 2002.) Phần lớn các tác dụng điều trị và lợi ích sức khỏe của hệ điều hành là chủ yếu góp của polyphenolic nội dung của nó Tuy nhiên, cơ chế chính xác là không biết đến nhưng dữ liệu

mô hình phân tử và phân tích immunohistochemical lộ rằng hoạt động này dụng lợi tiểu của 2 flavon sinensetin và 3’- hydroxy - 3, 6, 7, 4` tetramethoxyflavon của Râu mèo Thí nghiệm trên chuột nhắt trắng Chất 3’- hydroxy - 3, 6, 7, 4’ tetramethoxyflavon bằng đường tiêm tĩnh mạch với liều 10mg/kg, lượng nước tiểu thu được sau 140 phút là 410 mg, còn sinensetin dùng cùng liều trên, lượng nước tiểu thu được sau 160 phút là 614 mg, trong khi đó ở lô chuột đối chứng, sau 120 phút, không thu được một lượng nước tiểu nào Hai flavon trên dùng với liều 1 mg/kg có so sánh với tác dụng của hydrochlorothiazid thấy tác dụng lợi tiểu yếu hơn và xuất hiện chậm Đồng thời, các tác giả cũng khẳng định 2 flavon trên với liều 10mg/kg trên chuột cống trắng, không thể hiện tác dụng lợi mật tuy trong y học cổ có ghi nhận là Râu mèo có tác dụng lợi mật Xuất phát từ tác dụng điều trị viêm thận của Râu mèo, hai tác giả trên đã tiến hành nghiên cứu tác dụng chống viêm và tác dụng kháng khuẩn của các flavon chiết tách từ Râu mèo Kết quả cho thấy trên thí nghiệm gây viêm bằng phương pháp cấy viên bông (cotton-pellet),

Trang 19

sinensetin không thể hiện tác dung chống viêm

Ở Thái Lan, thí nghiệm trên những người tình nguyện khoẻ mạnh, dịch chiết Râu mèo có tác dụng làm tăng sự bài tiết citrat và oxalat; Oxalat với hàm lượng cao có thể tăng nguy cơ hình thành sỏi thận, sự bài tiết citrat được tăng cường giúp ngăn ngừa sự hình thành sỏi thận (Sriplang K & cs, 2007) [20] Theo tài liệu scialert.net cỏ Râu mèo có tên khoa học là Orthosiphon stamineus Benth (OS) được sử dụng rộng rãi tại nhiều nước ở Đông Nam Á như Malaysia, Indonesia và Thái Lan, để điều trị bệnh thận và bàng quang bệnh liên quan (Jaganth và Ng, 2000) OS chứa một số thành phần hoạt động như terpenoids và polyphenol (Tezuka et al, 2002.) Phần lớn các tác dụng điều trị và lợi ích sức khỏe của hệ điều hành là chủ yếu góp của polyphenolic nội dung của nó Tuy nhiên, cơ chế chính xác là không biết đến nhưng dữ liệu

mô hình phân tử và phân tích immunohistochemical lộ rằng hoạt động này xảy ra do sự ức chế trực tiếp của receptor VEGF Nghiên cứu trước đây đã chỉ

ra rằng VEGFR là hiện nay trên bề mặt của nội tiết tố nhạy cảm dòng tế bào ung thư vú MCF-7 (Amin et al, 2000.) Lâm sàng gần đây kết quả của một số điều trị ung thư sử dụng đồng quản trị của các đại lý antiangiogenic với đại lý chemotherapeutic cổ điển như: TMX, có hiển thị được thành công đáng kể (Lee et al, 2008.) Nghiên cứu này nhằm thực hiện theo mô hình tương tự như điều trị cho bệnh ung thư vú phụ thuộc nội tiết tố nhưng bằng cách sử dụng một chiết xuất thực vật antiangiogenic với TMX thay vào đó là một cách tiếp cận khác

Theo Awale S, Tezuka Y và cộng sự, dược liệu Râu mèo đã được sử dụng trong y học cổ truyền cho các thế kỷ để nâng cao sức khỏe của con người Râu mèo là một loại thực vật truyền thống phổ biến rộng rãi được sử dụng trong khu vực Đông Nam Á Chúng có tác dụng làm giảm tiểu đường, tăng huyết áp, tonsillitis, epilepsy, kinh rối loạn, gonorrhea, syphilis, sỏi thận, sốt, bệnh viêm gan, và jaundice Ở Nhật Bản dược liệu Râu mèo được làm

Trang 20

thành trà và được tiêu thụ trên thị trường (Awale S & cs, 2003) [15]

Theo Beaux D, Fleurentin J, Mortier F, sỏi thận được phát hiện thông qua chụp X - quang Loại sỏi này khó được điều trị thành công bằng phương pháp tây y nhưng một số loại thuốc có thể giúp ngăn ngừa sỏi thận nếu họ đã

có một propensity để tái diễn Sỏi thận cũng có thể được gây ra bởi disordered uric acid metabolism Uric acid là một yếu tố phổ biến của urinary và thận calculi (thận đá) và các gouty concretions Diuretic là một yếu tố quan trọng trong điều trị bệnh sỏi thận Tăng khối lượng chất lỏng chảy qua thận sẽ giúp hòa tan các sỏi, thông qua việc hỗ trợ của họ để tránh tiếp tục duy trì và phát triển (Beaux D & cs, 1999) [16]

Theo Yuliana ND, Khatib A và cs, nghiên cứu gần đây cung cấp một nền tảng khoa học sử dụng Râu mèo trong điều trị bệnh thận và gout (Yam

Năm 2007 một nghiên cứu cho thấy rằng Râu mèo có thể được bảo vệ cho gan, vì nó cho thận Không giống như một số dược phẩm khác, dịch chiết

từ cây Râu mèo có thể thật sự duy trì lượng đường trong máu cấp Khi đã được trích cho bình thường và bệnh tiểu đường Rats, nó đã giảm đáng kể plasma glucose tập trung trong một liều - phụ thuộc vào cách thức Sau khi

Trang 21

lặp đi lặp lại hàng ngày uống quản lý của các trích cho 14 ngày, các trích plasma glucose giảm mạnh tập trung trong bệnh tiểu đường tại Rats ngày 7 và

14 Đến cuối nghiên cứu, plasma Triglyceride tập trung đã được trích thấp hơn trong điều trị bệnh tiểu đường - Rats untreated hơn những người thân Hơn nữa, plasma-HDL cholesterol tập trung đã được tăng lên đáng kể trong điều trị bệnh tiểu đường Rats với extract (Sriplang K & cs, 2007) [20]

Trong một nghiên cứu 2008, các nhà nghiên cứu quản lý thực vật bằng miệng để Rats cho 14 ngày và so sánh nó với một nhóm kiểm soát nhận được distilled nước Bốn nhóm thử nghiệm đã được điều trị bằng 0,5 g / kg, 1

g / kg, 3 g / kg và 5 g / kg trọng lượng cơ thể của Râu mèo tương ứng Không

có bất lethality hoặc dấu hiệu độc hại đã được nhìn thấy trong thời gian thử nghiệm period (Chin JH & cs, 2008) [17]

2.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Các tài liệu về nghiên cứu cây Râu mèo ở trong nước còn rất ít

Theo Võ Văn Chi thì cây Râu mèo là cây thân thảo, sống lâu năm Thân cây cũng có cạnh vuông và có màu nâu tím Lá có mép khía răng cưa to, đầu lá có chóp nhọn Cụm hoa là chùm xim có ở ngọn thân và đầu cành (Võ Văn Chi , 1997) [5]

Theo tài liệu ybacsy.com Râu mèo là cây thân thảo sống nhiều năm, cao 0,30 – 0,50cm (có thể đến 1m), thân vuông, nhiều cành Lá mọc đối chéo chữ thập, mép lá có răng cưa to Cuống lá ngắn Cụm hoa tận cùng, mọc thành xim co, cánh hoa màu trắng, sau ngả màu xanh tím Chỉ nhị và vòi nhụy dài thò

ra ngoài bao hoa trông như râu con mèo (Đỗ Huy Bích & cs, 2003) [3]

Theo Đỗ Tất Lợi thành phần hoá học trong cây Râu mèo có 1 glucid đắng gọi là orthosiphonin, ít tan trong rượu, tan nhiều trong nước Ngoài ra còn một ít tinh dầu, một ít chất béo, tanin (5 - 6%), đường và một tỷ lệ khá cao muối vô cơ trong đó chủ yếu là muối kali Có tác giả nói còn lấy được một chất saponin tritecpenic gọi là sapophonin Chất này thủy phân sẽ được

Trang 22

sapogenin, arabinoza và hexoza Nhưng gần đây có người không công nhận chất này Tác dụng dược lý nước sắc hay nước pha lá Râu mèo làm tăng lượng nước tiểu, đồng thời tăng lượng clorua, urê và lượng axit uric, còn có tác dụng chữa xung huyết gan, đường mật Công dụng: Dùng thuốc thông tiểu tiện chữa sỏi thận, sỏi túi mật, cúm, sốt ban, phù tê thấp Ngoài ra, dịch chiết

lá Râu mèo có tác dụng hạ đường huyết ở những bệnh nhân tiểu đường, nhưng tác dụng này không khẳng định, cơ chế tác dụng có thể là do kích thích

sự hình thành glycogen ở gan

Cây Râu mèo làm tăng lượng tiết nước tiểu, tăng thải trừ ure, axit uric, clorua, sắc tố mật; còn có tác dụng giảm đường huyết, kháng khuẩn, chống viêm và đặc biệt là tác dụng chống oxy hóa Không độc, có thể dùng lâu dài không gây tác dụng phụ Ở Indonexia nhân dân dùng cây Râu mèo uống hằng ngày thay trà Được dùng làm thuốc lợi tiểu, giải độc trong các bệnh đường tiết niệu, sỏi niệu, giúp tiêu hóa, giúp giải độc trong các bệnh gan mật và bệnh ngoài da

Dạng thường dùng là trà, nước sắc lá tươi hoặc khô Liều dùng 10-20g được liệu khô mỗi ngày (Đỗ Huy Bích & cs, 2003) [3]

Y sĩ Phan Thị Xuân Anh - Khoa Y học cổ truyền, Trường đại học Y - Dược TP Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đào Đại Cường đã nghiên cứu và phát hiện nhiều tác dụng khác của cây Râu mèo trước nay chưa được biết đến như:

Chống lão hóa: Trong Râu mèo có chứa saponin, chất này thường tương tác với hệ cytochrom P - 450 tham gia vào quá trình chống lão hóa tế bào Qua thử nghiệm bằng cách gây ngộ độc phá vỡ tế bào gan chuột cho thấy: chuột ở nhóm không uống thuốc chết hết, chuột ở nhóm uống Râu mèo đã loại được độc tố khỏi cơ thể, tế bào gan được hồi sinh

Lợi mật: Giúp nhũ hóa lipid, nhờ đó tránh tình trạng tích tụ lipid, nguyên nhân gây béo phì

Lợi tiểu: Khi uống cây Râu mèo, nước tiểu mang theo nhiều cặn Râu

Trang 23

mèo giúp cơ thể thải hồi các loại sỏi ở bàng quang, thận, đường tiết niệu, mật (Phạm Thanh Huyền & cs, 2006) [7]

Theo kinh nghiệm dân gian, Râu mèo được dùng làm thuốc lợi tiểu trong điều trị bệnh viêm thận, sỏi thận, sỏi mật, tê thấp, phù thũng, viêm gan (Đỗ Huy Bích & cs, 2003) [3]

Trồng bằng giâm cành, cắt đọan 2 mắt lá, bỏ bớt lá, cắm ngập vào đất một mắt lá, giữ đất ẩm, sau 15 - 20 ngày ra chồi mới

Cây Râu mèo ưa đất ẩm nhưng không chịu úng Thu họach khi cây vừa

ra hoa, cắt cả lá và ngọn có hoa, cách gốc 10cm Cây tái sinh mạnh, 60-75 ngày một vụ cắt Dược liệu thu xong phơi khô ngay để giữ được màu xanh lá Bảo quản khô ráo, tránh ánh sáng (Đỗ Huy Bích & cs, 2003) [3]

2.2 Đặc điểm chung của cây Râu mèo

- Đặc điểm cây Râu mèo: Thân thảo lâu năm, thân có cạnh vuông mang nhiều cành, mọc thẳng cao khoảng 40-100cm, thân già màu nâu hoặc màu tím thân non màu xanh, có long

- Lá cây Râu mèo: là lá đơn, mọc đối, thuôn nhọn, có răng cưa, có lông, nhám, gân nổi rõ Cây Râu mèo ra hoa thành từng cụm ở gần ngọn, xếp lớp

- Hoa Râu mèo: là hoa lưỡng tính, màu trắng; ống tràng nhỏ, mảnh; nhị

và nhụy dài, nhỏ, vảnh lên như râu mèo cụm hoa là chùm xim co thường mọc thẳng ở ngọn thân và đầu cành, lá bắc nhỏ rụng sớm Chiều dài cụm hoa 9,7

cm, mỗi cụm hoa có 15 vòng, mỗi vòng có 6 hoa Hoa màu trắng sau ngả sang màu phớt tím Đài hình chuông có 5 răng, răng trên rộng, toẽ ra ngoài, tràng hình ống hẹp, thẳng hoặc hơi cong có chiều dài 2cm Chiều dài của họng hoa dài từ 0,5cm – 0,6cm Nhị và nhụy mọc thò ra ngoài, nhìn giống như râu con mèo Số cánh hoa gồm 2 chiếc, có một môi trên và một môi dưới, môi trên xẻ làm 3 thuỳ, môi dưới nguyên Nhị hoa gồm 4 nhị, chiều dài nhị hoa dài 3,4cm, chỉ nhị mảnh, nhẵn Hoa có 1 nhụy, vòi nhụy dài hơn nhị, chiều dài nhụy hoa dài 4,6cm

Trang 24

- Quả bế tư nhỏ nhẵn, tỷ lệ đậu quả rất thấp, mỗi quả có từ 1- 2 hạt Hạt

có hình dạng thoi dẹt và có màu nâu xám

- Cây Râu mèo ưa sáng, dễ trồng, dễ chăm sóc, phát triển trong điều kiện khí hậu bình thường Cây Râu mèo có thể trồng bằng cách gieo hạt hoặc giâm cành

- Cây hoa Râu mèo được người xưa sử dụng làm thuốc lợi tiểu, mát gan,

hạ huyết áp, trị sỏi thận, sỏi mật

2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu đề tài

Địa điểm tiến hành tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc – Đại học Nông Lâm Thái Nguyên- xã Quyết Thắng- Thành phố Thái Nguyên

2.3.1 Vị trí địa lý, địa hình

- Phía Bắc giáp phường quán Triều

- Phía Nam giáp phường Thịnh Đán

- Phía Tây giáp xã Phúc Hà

- Phía Đông giáp khu dân cư Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

- Địa hình chủ yếu là đồi bát úp không có đồi cao, độ dốc trung bình từ 24 -

25° độ cao trung bình từ 50-70m, địa hình thấp hướng Tây Bắc – Đông Nam

2.3.2 Đặc điểm đất đai

- Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc nghiên

cứu thuỷ sản ở khu chân đồi, hầu hết là đất feralit phát triển trên đá sa thạch

2.3.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết

- Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc

nằm trong khu vực xã Quyết Thắng thành phố Thái Nguyên nên có đầy đủ các đặc điểm của Thành phố Thái Nguyên Khí hậu nhiệt đới gió mùa có 2 mùa rõ rệt là nóng ẩm và khô lạnh

Trang 25

Bảng 2.1 Tình hình diễn biến thời tiết khí hậu tỉnh Thái Nguyên năm 2017 Yếu tố

Tháng

Nhiệt độ trung bình (°C)

Độ ẩm không khí trung bình (%)

Tổng lượng mưa (mm)

Tổng số giờ nắng (giờ)

Trang 26

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Loài cây Râu mèo (Osthosiphon spiralis) (Lour.) Merr

- Phạm vi nghiên cứu: Nhân giống vô tính và gây trồng cây Râu mèo

bằng phương pháp giâm hom trên các vị trí khác nhau (hom gốc, hom giữa, hom ngọn)

3.2 Địa điểm và nội dung nghiên cứu

- Đề tài được tiến hành từ tháng 8/2017 đến tháng 12/2017

- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - xã Quyết Thắng

- Thành phố Thái Nguyên

3.3 Nội dung nghiên cứu

Để đáp ứng được đối tượng và mục tiêu tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:

3.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của loại hom cây Râu mèo đến tỷ lệ ra mô sẹo, khả năng sống và động thái ra lá của cây Râu mèo

- Tỷ lệ ra mô sẹo

- Tỷ lệ ra rễ của hom ở các công thức thí nghiệm (%)

- Các chỉ tiêu ra rễ của cây Râu mèo

3.3.2 Nghiên cứu sinh trưởng của cây hom sau khi chuyển ra trồng

- Tỷ lệ hom sống của cây Râu mèo sau khi chuyển ra trồng

- Sinh trưởng của cây hom sau khi chuyển ra trồng

Trang 27

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu có liên quan, tài liệu

có liên quan, tài liệu tham khảo

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên, so sánh ảnh hưởng của các công thức đến khả năng ra rễ của hom cây Râu mèo bằng phương pháp phân tích phương sai 1 nhân tố

Phương pháp bố trí thí nghiệm:

Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên với 3 lần lặp, dung lượng

10 hom/lần lặp, tổng số hom của thí nghiệm là: Số công thức *3 lần lặp *10 hom/công thức, tuỳ theo thí nghiệm Đồng nhất các yếu tố không quan sát, thay đổi có định lượng các nhân tố cần quan sát

- Công tác chuẩn bị:

+ Khảo sát thông tin, tìm tài liệu liên quan đến cây Râu mèo và phương pháp giâm hom

+ Chuẩn bị hom giống và khu vực để bố trí thí nghiệm

+ Chuẩn bị dụng cụ: Thước, dao cắt hom, kéo, chậu nhựa, chai nhựa để đựng, bình phun sương, cọc tiêu đánh dấu lô thí nghiệm,…

3.4.2 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

- Tiến hành theo dõi trực tiếp ở tại khu giâm theo các chỉ tiêu đã định Định kỳ 15 ngày theo dõi một lần Quan sát bằng mắt thường đo đếm số liệu cần theo dõi thông qua chỉ tiêu sinh trưởng:

Trang 28

- Động thái lá

- Tỷ lệ hom sống khi giâm hom

- Tỷ lệ hom sống sau khi chuyển ra trồng

- Sinh trưởng của hom sau khi chuyển ra trồng (chiều cao và đường kính)

3.4.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu điều tra

Từ những số liệu thu thập qua mẫu biểu điều tra ngoại nghiệp, tiến hành tổng hợp và phân tích kết quả thí nghiệm bằng phương pháp thống kê toán học Lâm nghiệp

3.4.4 Phương pháp kế thừa và chọn lọc số liệu

Kế thừa những tài liệu có sẵn về địa điểm nghiên cứu (điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa hình….), một số đặc điểm nghiên cứu và phương pháp

nghiên cứu có liên quan đến đề tài

+ Làm vòm che: Trên luống cát làm khung vòm bằng tre chiều cao vòm

là 1m trên mặt luống, hai đầu vòm che cắm xuống luống cát, khoảng cách giữa các que 60 - 70cm Khung được uốn theo hình vòng cung để phủ nilông gọi là giàn giâm hom luống giâm chứa cát vàng mịn, sạch và được khử trùng bằng dung dịch diệt nấm và được bao phủ bởi mái che bằng túi PE trắng và có lưới đen che phủ để đảm bảo cho cành sau khi giâm hom không bị thoát hơi nước, tránh ánh sáng trực xạ, tránh nóng

+ Chuẩn bị giá thể: Cát mịn, rửa sạch và loại bỏ những tạp bẩn, được làm thành luống Kích thước luống: Chiều rộng 90 cm, chiều dài 2-4 m

Trang 29

Hình 3.1 Chuẩn bị giá thể cát và làm vòm che Bước 2: Chọn và xử lý hom

Việc thực hiện giâm hom trên Râu mèo được tiến hành thu hái hom tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc – Đại học Nông Lâm Thái Nguyên- xã Quyết Thắng- Thành phố Thái Nguyên, ở độ cao 40 mét so với mặt nước biển

- Tiêu chuẩn hom giâm:

Hom giống là những đoạn được cắt ra từ cành của cây trưởng thành Cây cắt hom có chiều cao Hvn = 0,8 - 1m Khi ta cắt cành cây mẹ ra làm giống giâm hom ta phải bỏ vào túi nilông rồi buộc kín để tránh sự thoát hơi nước và luồn thêm một cái bao tải ở bên ngoài để tránh cho túi không bị rách, bảo quản thật tốt để vận chuyển về nơi tiến hành thí nghiệm Các loại hom được cắt ở các vị trí khác nhau:

+ Hom gốc lấy ở vị trí sát gốc có chiều dài 14-15 cm

+ Hom giữa lấy ở vị trí thân cây có chiều dài 14-15 cm

+ Hom ngọn lấy ở đỉnh có chiều dài 14-15 cm

- Cắt hom: Kích thước hom giâm 14 - 15 cm, mỗi hom có 4 - 6 lá, dùng dao thật sắc cắt vát 45° để tránh dập nát và tạo mô sẹo để tạo điều kiện tối đa cho hom ra rễ Cắt bớt 2/3 diện tích các phiến lá đã thành thục

Trang 30

và cắt bỏ toàn bộ phiến lá đầu tiên và phân nhánh phụ từ dưới gốc hom chỉ

để lại 1 thân chính để tạo điều kiện cho trục thân chính phát triển tốt

- Cắm hom: Lấy hom đã được cắt lấy ra cấy vào giá thể đã chuẩn bị trước, trước khi giâm hom tiến hành tưới qua luống bằng nước lã sạch và bổ sung độ ẩm cho giá thể cát trước khi giâm hom, hom được cắm sâu 3 – 4 cm với khoảng cách là 3 x 3 cm, sau khi cắm hom xong tưới qua luống bằng bình phun sương làm chặt gốc và làm cho hom đủ ẩm Do hom cắm trên giá thể là cát nên cắm hom với góc nghiêng 45° để tiện cho việc kiểm tra sự ra rễ và sau khi ra rễ lấy hom chuyển sang bầu được dễ dàng hơn là cắm hom thẳng

Hình 3.2 Sau khi tiến hành cắm hom

Sau khi giâm hom xong, toàn bộ hom giâm được phủ bằng nilon trên

vòm bên trên mái vòm có lưới đen 50% che phủ bên ngoài nhà lưới tại Trung

tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc – Đại học

Nông Lâm Thái Nguyên- xã Quyết Thắng- Thành phố Thái Nguyên

Bước 3: Bố trí thí nghiệm

Bố trí thí nghiệm theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ nghĩa là các công thức thí nghiệm ở mỗi khối (nhắc lại) được bố trí một cách ngẫu nhiên, với quy định mỗi công thức xuất hiện 3 lần trong khối

Hom gốc: CT1

Hom giữa: CT2

Hom ngọn: CT3

Trang 31

Bước 4: Chăm sóc và thu thập thông tin

Chăm sóc hom: Chăm sóc quan trọng nhất là làm sao duy trì được độ

ẩm thích hợp cho luống giâm hom và toàn bộ hom giâm Không được khô, mất nước, giúp cho hom giâm có được độ ẩm cần thiết cho việc hình thành

mô sẹo, nhằm đảm bảo độ ẩm cho hom sau khi cắm hom xong tiến hành tưới nước sạch ngay cho hom giâm dưới dạng phun sương mù, tưới xong phủ kín vòm che bằng nilon để đảm bảo ẩm độ chống sự thoát hơi nước cho hom, phủ lưới che râm lại 50% ánh sáng Tiến hành phun nước cho cây với khoảng thời gian phụ thuộc vào điều kiện khí hậu thời tiết Thời tiết nắng, nóng tăng thêm lượng nước phun nhưng phải tránh phun vào thời điểm nắng nóng trong ngày như thời gian vào giữa trưa hay đầu giờ chiều, thời tiết mát khoảng cách phun được giãn cách Hom giâm được chăm sóc và thường xuyên phun sương hằng ngày Số lần phun, khoảng cách giữa hai lần phun sương phụ thuộc vào thời tiết hằng ngày và giai đoạn giâm hom Nếu thời tiết nắng nóng, nhiệt độ không khí cao, cường độ ánh sáng lớn thì hom giâm yêu cầu độ ẩm cao hơn lúc hom đã ra rễ Vì vậy sau khi tiến hành giâm hom nên phun nhiều lần hơn

so với lúc hom đã xuất hiện rễ, tránh hiện tượng mất cân bằng giữa cung cấp nước và thoát nước của hom Tiến hành phun sương 3 lần trong một ngày, tưới liên tục như vậy trong ngay ngày đầu Những ngày tiếp theo có thể tưới giảm xuống 2 lần/ngày (sáng và chiều) kiểm tra sự ra rễ của hom giâm định

kỳ 3 ngày/1 lần

- Thu thập số liệu: Quá trình làm thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của các chất kích thích đến sự hình thành rễ, tại mỗi công thức tiến hành theo dõi

Trang 32

trực tiếp ở tại khu giâm theo các chỉ tiêu đã định Quan sát bằng mắt thường

đo đếm số liệu cần theo dõi thông qua chỉ tiêu sinh trưởng:

+ Tỷ lệ hom sống khi giâm hom(%)

+ Tỷ lệ hom sống sau khi chuyển ra trồng (%)

+ Sinh trưởng của cây sau khi chuyển ra trồng

Bước 5: Kỹ thuật chuyển hom sang trồng

+ Chuẩn bị đất trồng

- Chọn đất: Chọn đất có thành phần cơ giới nhẹ, có độ phì trung bình, đảm bảo giữ được độ ẩm, thoát nước tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng và hạn chế bệnh hại

- Làm đất, lên luống: Đất được cày sâu 20 - 25 cm, bừa ải, bừa kỹ, làm

nhỏ đất, nhặt sạch cỏ dại, chia luống bón toàn bộ phân lót, vét thành luống cao

20 - 25 cm, rộng 70 - 80 cm, rãnh rộng 30 - 40 cm, độ dài tuỳ thuộc địa hình

- Từ khi trồng đến khi cây ra rễ (hoặc ra lá mới sau thu hoạch các lứa) 7

- 10 ngày, phải giữ ẩm thường xuyên 80 % (mỗi ngày tưới một lần), trong thời gian này loại bỏ những cây chết, dị dạng, bị sâu bệnh, dặm cây mới

Trang 33

- Chăm sóc: Khi râu mèo vào giai đoạn phát triển mạnh (thường sau trồng hoặc cắt dược liệu 45 - 60 ngày) luôn giữ ẩm 50 - 60 % Trước khi bón thúc kết hợp làm cỏ, xới xáo nếu không đủ ẩm phải tưới bổ xung Khi cây bắt đầu ra hoa có thể thu hoạch

3.5.2 Công tác nội nghiệp

- Phương pháp xử lý số liệu

Các phương pháp phân tích số liệu trong quá trình nghiên cứu bao gồm phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh và phương pháp đánh giá

có sự tham gia, ý kiến của các nhà quản lý, nhà chuyên môn

Quá trình xử lí số liệu được thực hiện trên phần mềm Excel cài đặt sẵn trên máy tính

-Tiến hành

Bước 1 Nhập số liệu vào máy vi tính

Bước 2 Phân tính và xử lý số liệu :

- Các chỉ tiêu được theo dõi là:

+ Tỷ lệ mô sẹo = Tổng số hom ra mô sẹo x 100%

+ Chiều dài rễ trung bình =

 (Số rễ x Chiều dài rễ Tb hom)

x 100% Tổng số hom thí nghiệm ra rễ

+ Số rễ trung bình/hom= Tổng số rễ

Tổng số hom ra rễ

Trang 34

+ Chỉ số ra rễ = (Số rễ trung bình/hom × Chiều dài rễ trung bình)

- Để kiểm tra xem mức độ ảnh hưởng của mỗi công thức khả năng ra rễ của hom cây Râu mèo như thế nào tôi dùng phương pháp phân tích phương

sai 1 nhân tố để kiểm tra kết quả thí nghiệm

Trong đó tôi coi:

- Nhân tố A là công thức thí nghiệm (CTTN)

 So sánh và tìm ra công thức trội nhất

Số lần lặp lại ở các công thức là bằng nhaub1 = b2…….= bi = b

Ta sử dụng chỉ tiêu sai dị bảo đảm nhỏ nhất LSD (Least significant diference), được tính theo công thức sau:

Giá trị của LSD thay đổi phụ thuộc vào mức có ý nghĩa tương ứng

với mức ý nghĩa khác nhau thì có LSD khác nhau Thông thường người ta tính LSD ở độ tin cậy 95% hay 99% tức là  =0,05 hay 0,01

Ngày đăng: 25/04/2019, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm