-Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD phần "Công dân với đạo đức" ở Trung tâm GDTX Giồng Riềng-Kiên GiangKhái niệm về phương pháp dạy học nêu vấn
Trang 1CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG
PHÁP NÊU VẤN ĐỀ
TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN PHẦN "CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC" TẠI TRUNG
TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
GIỒNG RIỀNG
Trang 2-Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD phần "Công dân với đạo đức" ở Trung tâm GDTX Giồng Riềng-Kiên Giang
Khái niệm về phương pháp dạy học nêu vấn đề
Theo nhóm tác giả Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga:
"PPDH nêu vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra các tình huốngmâu thuận, đưa HS vào trạng thái tâm lí tìm tòi, khám phá, từ
đó hướng dẫn, khích lệ HS tìm cách giải quyết để năm đượckiến thức, phát triển trí tuệ và thái độ học tập" [16,tr152]
Dạy học nêu vấn đề cũng không chỉ hạn chế ở phạm trùphương pháp dạy học, việc áp dụng tiếp cận này đòi hỏi phảicải tạo cả nội dung, cả cách tổ chức dạy và học trong mối liên
hệ thống nhất Riêng trong phạm vi phương pháp dạy học, nó
có khả năng thâm nhập vào hầu hết các phương pháp dạy họckhác và làm cho tính chất của chúng tích cực hơn Chẳng hạn,phương pháp thuyết trình thông báo tái hiện, phương phápđàm thoại, nếu quán triệt tiếp cận mới sẽ trở thành thuyếttrình nêu vấn đề và đàm thoại nêu vấn đề Phương pháp dạyhọc nêu vấn đề còn được gọi là phương pháp dạy học giải
Trang 3quyết tình huống có vấn đề hoặc phương pháp giải quyết vấnđề.
Hiện nay có nhiều cách giải thích, quan niệm khác nhau
về dạy học nêu vấn đề
Trong cuốn “Dạy học nêu vấn đề”, I.Ia.Leenes cho rằng
dạy học nêu vấn đề là một quá trình học tập mà “học sinh
giải quyết một cách sáng tạo các vấn đề và các bài toán có vấn đề trong một hệ thống nhất định, thì diễn ra sự lĩnh hội sáng tạo các tri thức và kỹ năng, nắm vững những kinh nghiệm và hoạt động sáng tạo mà xã hội tích lũy được, hình thành nhân cách có tính tích cực của công dân” [33,tr95].
Đối với nhà giáo dục học người Ba Lan V.Okon: “Dạy
học nêu vấn đề là toàn bộ các hoạt động như tính chất tình huống có vấn đề, diễn đạt các vấn đề, chú ý giúp đỡ cho học sinh những vấn đề cần thiết để giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải quyết đó và cuối cùng là quá trình hệ thống hóa và củng cố các kiến thức tiếp thu được” [34,tr103].
PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo: “Dạy học nêu vấn đề là
hình thức dạy học dựa trên những quy luật của sự lĩnh hội tri thức và cách hoạt động một cách sáng tạo, bao gồm sự kết
Trang 4hợp các phương pháp dạy và học có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học Nhờ vậy, nó bảo đảm cho sự lĩnh hội vững chắc những cơ sở khoa học, phát triển tính tích cực, tính tự lực và năng lực sáng tạo và hình thành cơ sở thế giới quan khoa học cho họ” [1,tr11].
GS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Trong dạy học nêu
vấn đề, người học tự mình tìm ra kiến thức, phát hiện những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh nhận dạng vấn đề, trình bày và bảo vệ cách giải quyết vấn đề của mình, tranh luận đúng sai với bạn
bè, và giáo viên là người đưa ra kết luận Từ đó học sinh tự điều chỉnh, tự đánh giá và rút ra kết luận, bổ sung kho tri thức của mình” [28,tr59].
Theo nhóm tác giả Đinh Văn Đức, Dương Thị ThúyNga, Nguyễn Như Hải, trong giáo trình Phương pháp dạy
học môn GDCD ở trường trung học phổ thông: "Phương pháp
dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học, trong đó giáo viên tạo ra các tình huống mâu thuẩn, đưa học sinh vào trạng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn, khích lệ học sinh tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và thái độ học tập" [16tr152].
Trang 5Như vậy, hầu hết tác giả đều coi PPDH nên vấn đề đề làviệc người dạy tạo ra các tình huống có vấn đề, định hướngcho HS nhu cầu phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinhlàm cho học sinh phát huy tính độc lập, phát triển tư duy nhậnthức.
Như vậy, “Phương pháp dạy học nêu vấn đề là hệ thốngphương pháp dạy học, đặt học sinh trước một nhiệm vụ nhậnthức, thông qua việc giáo viên tạo ra một chuỗi tình huống cóvấn đề, học sinh ý thức được vấn đề đó và kích thích học sinh
tự lực giải quyết một cách sáng tạo hoặc dưới sự hướng dẫn vàđịnh hướng của giáo viên, học sinh giải quyết vấn đề, kiểm tra,kết luận rút ra nhằm thực hiện tối ưu các nhiệm vụ dạy học”[36tr110]
- Đặc điểm và quy trình của phương pháp dạy học nêu vấn đề.
- Đặc điểm của phương pháp dạy học nêu vấn đề.
Dạy học nêu vấn đề bao gồm một hệ thống những tácđộng của giáo viên và học sinh và sử dụng nguyên tắc dạy học
để thực hiện mục đích và nhiệm vụ dạy học
Trang 6Tình huống có vấn đề được coi là phương tiện điềukhiển hoạt động nhận thức của học sinh Học sinh tiếp nhậnvấn đề và tự lực hoặc dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáoviên mà giải quyết vấn đề.
Thế nào là tình huống có vấn đề.
Theo quyển “Dạy học nêu vấn đề”, I.Ia Leenes cho rằng:
“tình huống có vấn đề là khó khăn được chủ thể ý thức rõ ràng hay mơ hồ, mà muốn khắc phục phải tìm tòi những tri thức mới, những phương thức hành động mới… Muốn có tình huống
có vấn đề đảm bảo chức năng là kích thích tư duy thì nó phải được chủ thể tiếp nhận để giải quyết Tình huống có vấn đề chỉ xảy ra khi nào chủ thể sẵn có những tri thức ban đầu nào đó, đáp ứng nội dung cụ thể của tình huống, sẵn có phương tiện trí
óc để xử sự với nội dung cụ thể đó” [33,tr32].
Còn PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo: “Tình huống có vấn đề
là trạng thái tâm lý của sự khó khăn về trí tuệ xuất hiện ở con người khi họ trong tình huống có vấn đề mà họ giải quyết chứ không thể giải thích một sự kiện mới bằng tri thức đã có trước đây mà họ phải tìm một cách thức hoạt động mới” [1, tr43].
Trang 7Theo M.I Macmutov: “tình huống có vấn đề là trở ngại
về trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh ta chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt được mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc Tình huống này kích thích con người tìm tòi cách giải thích hay hành động mới Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành động tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu vấn đề và giải quyết các vấn đề” [22,tr30].
Còn có những ý kiến khác nhau về tình huống có vấn đề,nhưng chung quy lại các tác giả đều gặp nhau ở chỗ họ chorằng: “Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý độc đáo, khókhăn về mặt trí tuệ nãy sinh ở con người trong những tìnhhuống khách quan, mâu thuẫn giữa những điều đã biết vànhững điều chưa biết, đòi hỏi phải giải quyết không phải bằngtri thức đã có hoặc bằng cách thức đã biết trước đây mà phảitìm tri thức hoặc cách thức hoạt động mới”
Tình huống có vấn đề là vấn đề trung tâm, là điểm khởiđầu để hình thành kiểu dạy học nêu vấn đề V.OKon cho rằng:
“Nét bản chất của dạy học nêu vấn đề không phải là đặt nhữngcâu hỏi mà là tạo ra những tình huống có vấn đề”
Trang 8Điều kiện để có tình huống có vấn đề.
Thứ nhất: Điều kiện về mặt tâm lý.
Qua bài giảng có thể do tính mới lạ của sự kiện, do tínhchất mâu thuẫn trong diễn biến của quá trình phát triển, mỗi
sự vật, hiện tượng, hoặc tính “có vấn đề” của các câu hỏimang tính chất bài tập nhận thức… học sinh chưa hiểu được,tạo ra ở học sinh một trạng thái tâm lý đặc biệt Theo đó, ởhọc sinh xuất hiện nhu cầu nhận thức cái chưa biết nhưng cầnphải biết trong tình huống có vấn đề Đây chính là điều kiệnbên trong của tư duy, là nhân tố có ý nghĩa cực kỳ quan trọng,mang tính quyết định đối với quá trình nhận thức
Thứ hai: Điều kiện về mặt nội dung.
Nội dung của điều chưa biết nhưng cần phải biết lànhững kiến thức có tính trừu tượng, khái quát, tức là nhữngkhái niệm, quy luật, bài học lịch sử chứ không phải là những
sự kiện cụ thể, lẻ tẻ, rời rạc, mặc dù kiến thức cụ thể tạo cơ sở
để đi đến kiến thức trừu tượng, khái quát
Thứ ba: Điều kiện về mặt sư phạm.
Trang 9Vấn đề trong tình huống có vấn đề không phải quá dễ,cũng không quá khó, quá phức tạp đối với trình độ học sinh.
Ở đây, những điều chưa biết nhưng cần phải biết phải có mức
độ khó nhất định so với vốn kiến thức sẵn có của học sinh.Mặt khác tình huống có vấn đề cũng phải chứa đựng trong đómột yếu tố nào đó làm điểm xuất phát cho sự suy nghĩ, tìm tòisáng tạo của học sinh và mức độ khó, phức tạp phải đượcnâng cao dần trong quá trình nhận thức của học sinh
Biểu đạt tình huống có vấn đề trong bài giảng của giáo viên.
Trong bài giảng khi có tình huống có vấn đề, giáo viênphải tìm cách biểu đạt như thế nào để quá trình dạy học nêuvấn đề diễn ra có hiệu quả
Trước hết, trình bày của giáo viên phải đặt học sinh vàotrạng thái tâm lý đặc biệt, một trong các điều kiện để có dạyhọc nêu vấn đề Lúc đó ở học sinh xuất hiện thắc mắc, hoàinghi, mâu thuẫn trong nhận thức cái chưa biết Vì thế học sinh
tò mò, nhu cầu nhận thức cái chưa biết nhưng cần phải biếtxuất hiện Điều quan trọng là giáo viên phải khéo léo đặt ravấn đề và phải khéo léo gợi ra được sự hứng thú nghe thầy
Trang 10giảng khi bài học cung cấp những tri thức mới, khi thầy cóphương pháp dạy học sinh động, lôi cuốn, kích thích các emtìm tòi, học hỏi thêm ngoài những điều đã lĩnh hội trên lớp.
Cũng qua trình bày bài giảng, giáo viên phải nêu được vấn
đề trong tình huống có vấn đề, tức là những kiến thức có tính trừutượng, khái quát nhất định Những vấn đề này học sinh chưa biếtnhưng do yêu cầu nhận thức, bắt buộc các em phải biết Trong
DH NVĐ, giáo viên có thể đặt ra những tình huống có vấn đề cơbản và những tình huống phụ trợ để giải quyết các tình huống cóvấn đề cơ bản
Nội dung trình bày của GV khi gợi ra những tình huống
có vấn đề phải tạo ra được bầu không khí sáng tạo, sinh độngtrong lớp học Từ đó các em sẽ hứng thú, say mê trong việctìm tòi, tiếp thu kiến thức Khi giảng dạy, tình huống có vấn
đề được tạo nên từ các cơ sở như: từ bản thân nội dung bàigiảng, từ cách giáo viên trình bày bài giảng và hướng dẫn họcsinh tìm cách lập luận mới cho các vấn đề được đặt ra
Hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề.
Ở bước này được coi là khâu quan trọng trong dạy họcnêu vấn đề Hoạt động chủ yếu của giáo viên là tạo những
Trang 11tình huống có vấn đề, trong tình huống có vấn đề chứa đựngnhững vấn đề nhận thức, từ đó hướng dẫn học sinh nhận thức
ra vấn đề cần giải quyết và tìm cách giải quyết một cách tựlực bằng cách dựa vào kiến thức đã có, học sinh nêu lên cácgiả thuyết, đề xuất các phương hướng giải quyết để chứngminh giả thuyết đó, thông qua thảo luận để đi đến những kiếnthức mới Bằng cách đó, học sinh đã được đưa vào sự chủđộng không những có được kiến thức, rút ra nhận thức màcòn phát triển năng lực tư duy, nắm được cách thức hànhđộng Việc hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề khôngngừng rèn luyện cho các em phát hiện kịp thời vấn đề cần giảiquyết trong những tình huống gặp phải mà còn rèn cho họcsinh giải quyết và giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra, đó
là những năng lực rất cần cho cuộc sống sau này Vì vậy, việcdẫn dắt HS giải quyết vấn đề không phải chỉ ở tầm phươngtiện để nắm vững kiến thức mà còn là tầm mục tiêu đào tạo
Để giải quyết vấn đề hiệu quả cần tiến hành:
Giáo viên tạo tình huống có vấn đề và phát biểu vấn đề
Giáo viên và học sinh cùng nhau đưa giả thuyết và phương
án giải quyết
Trang 12Học sinh tiến hành kế hoạch giải quyết vấn đề, đối chiếu
so sánh qua các biện pháp thích hợp
Thảo luận các kết quả thu được để xác nhận hoặc bác bỏcác giả thuyết đã nêu ra và kết luận
Các hình thức của dạy học nêu vấn đề.
Căn cứ vào mức độ nhận thức, khả năng tự giải quyết vấn
đề của học sinh và tri thức cần truyền đạt mà quyết định kiểu dạyhọc nêu vấn đề phù hợp
Trình bày nêu vấn đề.
Đây là mức độ thấp nhất trong DH NVĐ Bản chất củatrình bày nêu vấn đề là thủ thuật người giáo viên tạo tìnhhuống có vấn đề nhằm lôi cuốn sự chú ý của học sinh bằngcách kết hợp giữa phương pháp nêu vấn đề và phương phápthuyết trình Giáo viên sử dụng phương pháp thuyết trìnhnhằm gợi mở vấn đề nghiên cứu, những tri thức học sinh đãbiết và từ đó đưa ra những nghi vấn hoặc những câu hỏi tìnhhuống để tạo nên nhu cầu nhận thức của học sinh, khêu gợi ởhọc sinh nhu cầu “không chủ định” theo dõi lôgíc của bài dạy.Sau khi tạo ra tình huống có vấn đề, người giáo viên tự mình
Trang 13giải quyết vấn đề đó thay vì học sinh giải quyết Mức độ nàyphù hợp với dạy học những bài khó, những vấn đề phức tạp
mà học sinh chưa thể tự lực giải quyết đầy đủ được Cũng cóthể vận dụng vào giai đoạn mà học sinh mới làm quen vớiphương pháp dạy học mới, chưa chủ động giải quyết vấn đề
Nêu vấn đề tìm tòi bộ phận.
Trong một bài giảng hoặc trong một phần giảng màkhông thể thực hiện được phương pháp nêu vấn đề toàn phầnthì giáo viên có thể sử dụng mức độ nêu vấn đề một phần.Trong bài giảng có nhiều nội dung liên quan với nhau nhưng
có những phần học sinh không thể tự lực giải quyết được, cónhững phần học sinh có thể tự giải quyết được thì giáo viênvận dụng nêu vấn đề một phần Các phần khác giáo viên cóthể sử dụng các phương pháp khác để trang bị cho học sinh trithức để giải quyết vấn đề còn lại bằng cách nêu vấn đề
Nêu vấn đề toàn phần.
“Đây chính là mức độ cao nhất trong phương pháp dạy học nêu vấn đề Ở hình thức này dưới sự hướng dẫn, dẫn dắt khéo léo của giáo viên, học sinh tự mình giải quyết toàn bộ những vấn đề nêu ra trong bài giảng Mức độ này đảm bảo
Trang 14phát huy tới mức cao nhất sự phát triển khả năng tư duy sáng tạo của học sinh, hình thành nên ở học sinh những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, tiếp thêm sự hứng thú, niềm say mê của sự tìm tòi, phát hiện và lĩnh hội” [22,tr15]
Như vậy, khi sử dụng hình thức này đòi hỏi người giáoviên phải thiết kế nội dung, PP kỹ lưỡng, sử dụng và khia tháccác loại câu hỏi (chính, phụ, gợi mở) sao cho phù hợp và đểcho HS chủ động, độc lập trong việc giải quyết vấn đề và rút
ra được kết luận của mính
Nêu vấn đề có tính giả thuyết.
Kiểu dạy học này góp phần tạo nên một thế hệ ngườiViệt Nam có lập trường tư tưởng vững vàng, có khả năngphân tích và phê phán các quan điểm và việc làm sai trái, chủđộng giải quyết các vấn đề nãy sinh trong cuộc sống Trongquá trình dạy học, GV phải tạo ra được các tình huống giảthuyết, phát sinh Qua đó, đòi hỏi học sinh phải biết lập luậnquan điểm đúng, sai để kết luận được vấn đề có tính giảthuyết
- Quy trình tiến hành phương pháp dạy học nêu vấn đề.
Trang 15Xây dựng tình huống có vấn đề.
Bước này bao gồm các nội dung: Tạo tình huống có vấnđề,; phát hiện, nhận dạng vấn đề phát sinh; phát hiện vấn đề cầngiải quyết
Tiến hành việc nghiên cứu, giải quyết vấn đề đặt ra
Ở bước này bao gồm các nội dung: Đề xuất cách giảiquyết vấn đề; Lập kế hoạch giải quyết; Thực hiện kế hoạchgiải quyết
Từ vấn đề vừa nêu, giáo viên gợi ý cho hệ thống lại kiếnthức đã có của mình, bằng các PP GV có tạo ra sự xác thựcnhững tri thức HS đã có, từ đó dẫn dắt học sinh tìm hiểunhững điều chưa biết hoặc biết chưa đầy đủ bằng hệ thống câuhỏi phù hợp
Kết luận vấn đề
Trong bước này giáo viên cần thực hiện cá nội dung:Thảo luận kết quả và đánh giá; Khẳng định hoặc bác bỏ giảthuyết nêu ra; phát biểu kết luận; Đề xuất vấn đề mới
Các mức độ của dạy học nêu vấn đề.
Trang 16Có thể khái quát 4 mức độ giải quyết vấn đề như sau:
GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề; HS tìm cáchgiải quyết theo hướng dẫn của GV, và đánh giá kết quả
GV nêu vấn đề, gợi ý cho HS tìm ra cách giải quyết sau đó
GV và HS cùng đánh giá kết quả đã thực hiện được
GV tạo tình huống có vấn đề, HS phát hiện và xác địnhvấn đề và HS tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn biện phápthực hiện
Mức độ mà HS tự bản thân phát hiện vấn đề, lựa chọnvấn đề giải quyết; HS tự đánh giá và giáo viên bổ sung ý kiến
- Những ưu điểm điểm và hạn chế của phương pháp nêu vấn đề:
- Ưu điểm:
Nêu vấn đề là một lối dạy học vận dụng khả năng sáng tạocủa học sinh, qua dẫn dắt của GV, HS tự mính nghiên cứu, khámphá, lĩnh hộ trí thức mới
Phát triển tính chủ động và khả năng độc lập, phát triển
tư duy sáng tạo, kỹ năng vận dụng kinh nghiệm vào việc
Trang 17giải quyết các vấn đề trong học tập và tạo ra vốn sống; nângcao ý thức của bản thân trong việc giải quyết tình huống.
Tăng cường sự hợp tác và sự hiểu biết thông qua hợp tác
để xạy dựng và giải quyết tình huống được đặt ra
- Hạn chế:
Phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải kiến thức sâurộng đến những vấn đề liên quan đến môn học GDCD mànhất là phải xây dựng vấn đề mang tính tình huống gắn vớithực tiễn
Giáo viên phải có nhiều thời gian để thực hiện các bước
và rút ra kết luận, đúc kết bài học kinh nghiệm, kiến thức chohọc sinh
Học sinh dễ nản chí khi gặp các vấn để khó khi đóthường thể hiện tính bị động nếu như GV không khéo léo dẫndắt HS tìm hiếu vấn đề
- Vai trò của phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD ở trung học phổ thông
Tri thức môn Giáo dục công dân mang tính đa dạng,gồm nhiều loại tri thức khác nhau như triết học, kinh tế giáo
Trang 18dục công dân, chủ nghĩa xã hội khoa học, pháp luật, đạo đức,
… cùng với sự phát triển đa dạng và nhiều chiều của xã hội,những tri thức này ngày càng trở nên phong phú Với yêu cầungày càng cao, việc trang bị lượng tri thức khổng lồ đó chohọc sinh không thể hoàn thành trong thời gian học tập trênlớp, như vậy sẽ trở nên quá tải đối với chương trình môn học.Hơn nữa, trong dạy học môn Giáo dục công dân, giáo viênthường mô tả và giải thích các hiện tượng, sự vật, … chiếmmột thời gian rất lớn Qua bài giảng, giáo viên phải góp phầntừng bước hình thành ở học sinh thói quen tích cực học tập,biết cách vận dụng các quy luật khách quan, biết sử dụng cáctri thức đã tiếp thu được vào hoạt động thực tiễn, học sinhphải biết đặt ra và giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn củagiáo viên hoặc do bản thân học sinh tự thực hiện
Môn học GDCD là môn học trang bị cho học sinh nhữngtri thức cơ bản, về thế giới quan theo chủ nghĩa Mác-Lênin,kiến thức về đạo đức, nhân cách sống; những kiến thức vềđường lối kinh tế theo chủ trương của Đảng,…vì vậy trongquá trình dạy học giáo viên phải kết hợp nhiều phương phápdạy học, trong đó phương pháp dạy học nêu vấn đề nhằm hình
Trang 19thành những phẩm chất tốt đẹp cho người học sinh trong thời
kì mới
PPNVĐ không chỉ nhằm mục đích đem lại kiến thức chongười học mà còn thông qua đó xây dựng phương pháp tư duykhoa học, hình thành, phát triển thói quen và năng lực nắm bắtkịp tri thức theo thời đại và xu thế phát triển của đất nướctrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
và hội nhập quốc tế thì việc đào tạo con người mới xã hội chủnghĩa càng trở nên cấp thiết, môn Giáo dục công dân càng có
vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển con người củaĐảng và Nhà nước ta Để đạt được kết quả tốt, bản thân ngườihọc phải chủ động thu nhận, rèn luyện và củng cố phươngpháp tư duy khoa học trong quá trình học tập, phải có sự kếthợp chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh trong dạy - học, trong
đó giáo viên đóng vai trò định hướng, tổ chức; học sinh làngười chủ động trong tiếp nhận tri thức
Đối tượng học tập môn Giáo dục công dân trong bậc họctrung học phổ thông là học sinh lứa tuổi từ 15 đến 18, lứa tuổivới biết bao ước mơ, khát khao hiểu biết, lứa tuổi của sự tìmtòi, sáng tạo và khẳng định bản thân Vì vậy đối với pươngpháp dạy học nêu vấn đề trong môn GDCD nhằm phát huy
Trang 20những ưu điểm của học sinh trong quá trình tiếp cận tri thứcmới.
- Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn Giáo dục công dân phần "Công dân với đạo đức" tại Trung tâm GDTX Giồng Riềng
- Khái quát về Trung tâm GDTX Giồng Riềng
Trung tâm Giáo dục Thường xuyên Giồng Riềng tiềnthân trước đây là Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp-Hướngnghiệp Giồng Riềng được thành lập vào năm 1994 trực thuộc
Ủy ban nhân dân huyện Giồng Riềng quản lý Khi mới thànhlập, chức năng của trung tâm là giảng dạy nghề phổ thông chohọc sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông và dạy chứngchỉ Tin học, tiếng Anh trình độ A, B
Năm 2000 được Ủy ban nhân dân huyện giao thêmnhiệm vụ giảng dạy bổ túc văn hóa trung học phổ thôngcho cán bộ ở xã và thị trấn với qui mô trung bình 4 lớp/nămhọc; trong những năm đầu, môn học Giáo dục công dânchưa đưa vào giảng dạy Đến năm 2010 đã hết nguồn đàotạo cho cán bộ xã và thị trấn và với đối tượng là học là học
Trang 21sinh tham gia học tập ngày càng đông nên môn Giáo dụccông dân bắt đầu được đưa vào giảng dạy.
Trung tâm tọa lạc tại khu phố 3 thị trấn Giồng Riềnghuyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang, diện tích 4.100m2 có 02hội trường, 15 phòng và chức năng phục vụ công tác giảngdạy
Hiện nay, trung tâm có 11 lớp bao gồm cả 3 khối lớp với
số lượng HS là 539 HS Trong những năm vừa qua, Trungtâm luôn đạt được những kết quả cao trong các phong trào của
Sở GD&ĐT Kiên Giang tổ chức và tỷ lệ học sinh tốt nghiệp
kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia với tỷ lệ trên 95% hàng năm
Giáo viên giảng dạy tại Trung tâm đều có trình độ đạihọc chuyên ngành, nhiệt huyết với nghề, có tinh thần đoàn kết
và hỗ trợ nhau trong công tác chuyên môn Luôn yêu thương
và giúp đỡ học sinh trong học tập và đạc biệt luôn xem trọngviệc giáo dục đạo đức của các em, hướng các em có lối sốnglành mạnh, tránh xa các tệ nạn xã hội, có tính phấn đấu vươnlên trong học tập
Tổng số nhân sự 16 cán bộ, giáo viên, nhân viên, trongđó:
Trang 22Ban giám đốc: 03; Giáo viên: 10 (trong đó có 03 giáoviên dạy môn GDCD); nhân viên: 03.
Trình độ chuyên môn
Thạc sĩ 02, Đại học: 12 ; Trung cấp: 02 Đạt chuẩnnghiệp vụ: 14
Thâm niên giảng dạy của giáo viên từ 8-24 năm
100% giáo viên giảng dạy môn GDCD đều có trình độ
Cử nhân Giáo dục Chính trị và đạt chuẩn dạy học theo quyđịnh của Bộ GD&ĐT
Nhiệm vụ của Trung tâm GDTX Giồng Riềng:
Dạy văn hóa khối THPT hệ GDTX
Tổ chức các lớp dạy chứng chỉ A, B tiếng Anh quốc gia
và chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản cho mọiđối tượng trong và ngoài huyện có nhu cầu học tập
Thực hiện dạy và quản lý công tác dạy nghề phổ thôngtại trung tâm và tại các trường THCS, THPT trong huyện vớicác môn: Tin học, Điện dân dụng, Sửa Xe gắn máy, Thêu taycho học sinh khối lớp 8 và 11 tạo điều kiện để các em được
Trang 23cộng điểm khuyến khích khi thi đầu vào lớp 10 và thi tốtnghiệp THPT Ngoài ra, Trung tâm thực hiện công tác liên kếtvới các đơn vị trường trong và ngoài tỉnh để tổ chức các lớptrung cấp, cao đẳng phục vụ nhu cầu học tập của công chức,viên chức và quần chúng nhân dân.
Đặc điểm của học sinh học tại Trung tâm đa số xuất phátvới trình độ thấp và ý thức học tập và chấp hành nội quykhông cao Các em đa số là đối tượng: không thi đỗ đầu vàolớp 10, bị lưu ban, bỏ học từ các trường THPT trong địa bànhuyện Chính vì vậy trong việc giảng dạy, giáo dục các em làrất vất vã đối với giáo viên
- Đặc điểm, nội dung chương trình, tri thức môn GDCD lớp 10 và phần “Công dân với đạo đức”
- Đặc điểm, nội dung chương trình môn GDCD lớp 10
và phần “Công dân với đạo đức”
Kể từ năm học 2006-2007 Bộ Giáo dục và Đào tạo bắtđầu thực hiện chương trình cải cách sách giáo khoa ở bậcTHPT Theo chương trình cải cách sách giáo khoa GDCD 10
do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành từ năm học 2006-2007đến nay được chia làm hai phần với những nội dung như sau:
Trang 24Phần thứ nhất: Phần này có tổng số 09 bài Nội dung:
Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương phápluận khoa học Gồm kiến thức về triết học trang bị cho HS vềthế giới quan, PP luận làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho họcsinh
Phần thứ hai: Phần này có tổng số 07 bài Nội dung:
Công dân với đạo đức Bao gồm nội dung một số giá trị đạođức của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, giúphọc sinh giải quyết các mối quan hệ xã hội trong thời kì mớixây dựng CNXH và công nghiệp hóa, hiện đại hóa Theo phânphối chương trình của Bộ GD&ĐT Trong phần “Công dânvới đạo đức” được sắp xếp thành 07 bài Cụ thể:
Bài 10 (1 tiết) Bài : Quan niệm về đạo đức
Mục tiêu
Về kiến thức
Nêu được thế nào là “Đạo đức”
Học sinh nhận biết được vai trò của đạo đức trong đờisống xã hội
Về kỹ năng
Trang 25Phân biệt được sự giống và khác nhau giữa đạo đức,pháp luật và phong tục tập quán.
Lý giải được một số vấn đề đạo đức trong lịch sử xã hộiViệt Nam
Về thái độ
Có ý thức điều chỉnh hành vi của bản thân phù hợp vớicác chuẩn mực đạo đức
Nội dung
Khái niệm về Đạo đức
Nội dung về Vai trò của đạo đức trong sự phát triển của
cá nhân, gia đình và xã hội
Bài 11 (2 tiết) Bài : Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học
Mục tiêu
Về kiến thức
Nhằm trang bị cho HS biết được thế nào là nghĩa vụ,lương tâm, nhân phẩm, danh dự và hạnh phúc
Trang 27Học sinh tìm hiểu các khái niệm: Tình yêu; hôn nhân,gia đình.
Biết được tình yêu và tình yêu chân chính là gì, vai tròcủa gia đình đối với xã hội
Về kỹ năng
Phân biệt được tình yêu trong sáng với tình yêu vụ lợi
Thực hiện được vai trò cá nhân của mình đối với giađình
Về thái độ
Đồng tình ủng hộ những quan niệm, những hành độngđúng và tiến bộ
Phê phán những nhận thức và hành vi lệch lạc, sai trái vềcác mối quan hệ (tình yêu, hôn nhân và gia đình)
Trang 28Mục tiêu
Về kiến thức
Biết được cộng đồng là gì và vai trò của cộng đồng đốivới đời sống của con người
Nêu được thế nào là nhân nghĩa, hoà nhập, hợp tác
Nêu được các biểu hiện đặc trưng của nhân nghĩa, hoànhập, hợp tác
Hiểu được nhân nghĩa, hoà nhập, hợp tác là những yêucầu đạo đức của bản thân trong mối quan hệ với nơi ở và tậpthể lớp học, trường học