1. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa vô thần trước M¸cLịch sử của chủ nghĩa vô thần nói chung, của chủ nghĩa vô thần khoa học nói riêng, theo quan điểm mácxít, là lịch sử phát sinh, hình thành và phát triển của các quan điểm, tư tưởng vô thần khác nhau, trong sự phụ thuộc, suy đến cùng, vào sự phát triển của tồn tại xã hội.Sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử phát triển của chủ nghĩa vô thần là cuộc đấu tranh của nó với tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm. Qua đó thấy rõ sự biến đổi của những hình thái khác nhau của chủ nghĩa vô thần. Cùng với nó là sự biến đổi của tôn giáo dưới các hình thức khác nhau, các khuynh hướng khác nhau. Chỉ có thể tìm hiểu sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa vô thần khoa học một cách đầy đủ khi nghiên cứu kỹ cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa vô thần và tôn giáo trong lịch sử.
Trang 1LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN từ chủ nghĩa vô thần đến chủ nghĩa
vô thần khoa học
1 Sự ra đời và phỏt triển của chủ nghĩa vụ thần trước Mác
Lịch sử của chủ nghĩa vụ thần núi chung, của chủ nghĩa vụ thần khoa học núiriờng, theo quan điểm mỏcxớt, là lịch sử phỏt sinh, hỡnh thành và phỏt triển của cỏcquan điểm, tư tưởng vụ thần khỏc nhau, trong sự phụ thuộc, suy đến cựng, vào sựphỏt triển của tồn tại xó hội
Sợi chỉ đỏ xuyờn suốt lịch sử phỏt triển của chủ nghĩa vụ thần là cuộc đấutranh của nú với tụn giỏo và chủ nghĩa duy tõm Qua đú thấy rừ sự biến đổi củanhững hỡnh thỏi khỏc nhau của chủ nghĩa vụ thần Cựng với nú là sự biến đổi củatụn giỏo dưới cỏc hỡnh thức khỏc nhau, cỏc khuynh hướng khỏc nhau Chỉ cú thểtỡm hiểu sự ra đời và phỏt triển của chủ nghĩa vụ thần khoa học một cỏch đầy đủkhi nghiờn cứu kỹ cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa vụ thần và tụn giỏo trong lịchsử
Chủ nghĩa vụ thần khoa học cho rằng, tương ứng với mỗi hỡnh thỏi kinh
tế-xó hội là một thời kỳ lịch sử tư tưởng vụ thần: chủ nghĩa vụ thần của tế-xó hội chiếmhữu nụ lệ, chủ nghĩa vụ thần của xó hội phong kiến, chủ nghĩa vụ thần của thời kỳhỡnh thành, phỏt triển chủ nghĩa tư bản Đú là sự phỏt triển của chủ nghĩa vụ thầntrước khi xuất hiện chủ nghĩa vụ thần khoa học- chủ nghĩa vụ thần Mỏc- Lờnin
Tư tưởng vụ thần được phỏt triển khụng chỉ trong triết học mà cũn trong cỏc lĩnhvực khỏc như văn học, nghệ thuật, đạo đức, chớnh trị, phỏp quyền
Nhỡn chung, chủ nghĩa vụ thần trước Mỏc hỡnh thành và phỏt triển trong điềukiện chế độ búc lột, ngoài những điểm tớch cực, ưu điểm là cơ bản, nú cũng cúnhững hạn chế nhất định Chỉ đến khi chủ nghĩa vụ thần khoa học ra đời mới thật
sự tạo nờn bước ngoặt cỏch mạng trong lịch sử tư tưởng vụ thần
1.1 Tư tưởng vụ thần thời kỳ cổ đại
Trang 2Chủ nghĩa vô thần xuất hiện đồng thời ở Hy Lạp, Babilon, Ên §ộ, TrungQuốc Sự xuất hiện tư tưởng vô thần đánh dấu một bước sự phát triển của tư tưởngnhân loại; là sự giải thích khác về thế giới, đối lập với quan điểm tôn giáo và chủnghĩa duy tâm Tuy chưa trực tiếp phủ định tôn giáo, nhưng tư tưởng vô thần củathời kỳ này đã góp phần lên án việc sử dụng tôn giáo để mê hoặc nhân dân, trái vớiđạo đức con người, phản nhân đạo Tuy nhiên, thái độ phủ định tôn giáo còn dèdặt, mới biểu hiện ở những tư tưởng tự do.
Tư tưởng vô thần thể hiện khá rõ nét trong các hệ thống tư tưởng chínhthống và tà giáo của triết học Ân §ộ Những người theo phái Mimansa khôngthừa nhận sự tồn tại của thần Lập luận để gạt bỏ thần của họ thật đơn giản: thiếuchứng cứ về sự tồn tại của thần; cảm giác không nhận ra thần; còn các nguồn kháccủa tri thức suy cho cùng là dựa trên cảm giác Phái Mimansa không những chốnglại chủ nghĩa hữu thần mà còn chống cả chủ nghĩa duy tâm triết học
Là một trong những trường phái triết học chính thống thừa nhận tính đúngđắn tuyệt đối của Vêđa, những người thuộc phái SµmKhya lại cương quyết gạt bỏBrahman - tinh thần vũ trụ và phủ nhận sự tồn tại của thần Họ đưa ra học thuyếttồn tại của kết quả trong nguyên nhân, thừa nhận sự chuyển hoá nhân quả Từ tínhchất nhân quả, họ giải thích thế giới theo lập trường duy vật và vô thần Họ chorằng, nếu thế giới là vật chất thì nguyên nhân của nó phải là vật chất Tuy nhiên,SµmKhya hậu kỳ đã thừa nhận có thần bên cạnh thế giới vật chất
Tư tưởng vô thần thể hiện rõ nét hơn trong các hệ thống tà giáo: Jaina,Lokµyata và Phật giáo Nếu những người theo các phái chính thống cố gắng biệnminh, bảo vệ thần, luận giải sự đúng đắn của Vêđa, thì ngược lại, những ngườitheo phái tà giáo kiên quyết chống lại Vêđa, bác bỏ thần Tiêu biểu hơn cả là tưtưởng vô thần Phật giáo Phật giáo bác bỏ thần Brahman và thần Atman, cho rằng,thế giới được cấu tạo do nhóm hợp của các yếu tố vật chất( sắc), gồm có địa ( đất,các chất khoáng); thuỷ( nước, các chất lỏng); hoả ( lửa, nhiệt); phong ( gió, không
Trang 3khí, thở); không (không khí) và tinh thần( danh) ; ý thức, tư duy Danh và sắc chỉhội tụ lại với nhau trong một thời gian ngắn rồi lại chuyển sang trạng thái khác.
Do vậy, không có cái tôi ( vô ngã) Bản chất sự tồn tại thế giới là một dòngchuyển biến liên tục( vô thường), không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên Do vậy,không có ai tạo ra thế giới và cũng không có cái gì là vĩnh hằng Tóm lại, Phậtgiáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần, phủ nhận đấng sáng thế tối cao (vô ngã, vôtạo giả) và có tư tưởng biện chứng (vô thường, thuyết duyên khởi)
Tư tưởng vô thần xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc trong các trường pháitiêu biểu như Âm dương- Ngũ hành, Nho gia, Đạo gia, Pháp gia Trâu Diễn - đạibiểu tiêu biểu của phái ¢m dương - Ngũ hành đã dựa trên lập trường chất phác về
tự nhiên để phủ nhận thần Ông cho rằng, nguån gèc của vạn vật, của mọi sinhthành, biến hoá là âm và dương Âm và dương là hai thế lực đối chọi nhau nhưnglại thống nhất với nhau trong vạn vật, là điều kiện tồn tại của nhau, động lực củamọi vận động, phát triển
Cũng như thuyết "bốn yếu tố" của người Hy Lạp cổ đại hay thuyết" nămyếu tố" của người Ên §ộ, những người theo thuyết Ngũ hành cho rằng, vạn vật là
do năm yếu tố: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ tạo nên Các yếu tố này không ở trạngthái tĩnh mà là luôn vận động, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, cáinày chuyển hoá thành cái kia Như vậy, thuyết ¢m D¬ng, Ngũ hành đã thừanhận tính vật chất của thế giới, giải thích thế giới từ quy luật phát triển của chính
nó Tuy còn chất phác, máy móc nhưng nó có tác dụng chống lại chủ nghĩa duytâm và mục đích luận trong quan niệm về tự nhiên
Khổng Tử- Người sáng lập trường phái Nho gia, tuy chưa bác bỏ dứt khoát
sự tồn tại của thần, nhưng ông không hoàn toàn tin có thần nên rất ít bàn chuyệnquỷ thần Ông ít bàn đến chuyện quỷ thần, nên khi ông có nói đến Trời, Mệnh trờichỉ là để bày tỏ ý kiến của mình
Trang 4Trời đối với Khổng Tử có chỗ như là một quy luật, là trật tự của vạn vật(Trời có nói gì đâu, bốn mùa vẫn thay đổi, trăm vật vẫn sinh trưởng); có chỗKhổng Tử khẳng định: Trời có ý chí ( than ôi! trời làm mất đạo ta ) ý của Trời làThiên mệnh nhưng Khổng Tử lại chủ trương: ở mỗi cá nhân, sự sống, cái chết,phú quý hay nghèo hèn đều là do sự nỗ lực chủ quan Phú quý không cầu mà có.
Do vậy, không cần phải cầu, phải xin thần Rõ ràng, Khổng Tử hoài nghi sự tồntại của thần, cho nên một mặt, ông chủ trương tôn kính thần, mặt khác, lánh xa vàcảnh giác thần Ông nói: kẻ mê tín thần là kẻ ngu! Tin thần xem như là có thần
Có thần hay không là do mình Quỷ thần không đáng tế mà tế là nịnh Điều đócho thấy, quan niệm của Khổng Tử về Trời, Mệnh trời đã có một bước tiến bộ, đã
có sự đổi mới về nội dung, quyền uy của Trời đã bị hạn chế một phần
Những người theo Đạo gia, Pháp gia cũng có tư tưởng vô thần Họ đều xuấtphát từ lập trường duy vật để khẳng định nguồn gốc vật chất của thế giới; từ đóbác bỏ quan điểm duy tâm thừa nhận quyền uy của thần Tuy nhiên, quan điểm vôthần ở Ân §ộ và Trung Quốc mới chỉ là sơ khai, mộc mạc, chất phác
Tư tưởng vô thần theo khuynh hướng tự do đạt đến đỉnh cao ở Hy Lạp và
La Mã cổ đại, phản ánh ở chừng mực nhất định ý thức phản kháng của một bộphận nhân dân chống lại quan niệm sai lÇm bản chất ảo tưởng, tính phi lý, hoangđường của tôn giáo, giúp con người thoát ra khỏi sự mê hoặc của thánh thần
Cùng với sự xuất hiện quan điểm triết học duy vật tự phát, quan điểm vôthần ra đời từ nhu cầu phản kháng sự hoang tưởng của tôn giáo, sự giải thích đờisống hiện thực, đề cao sức mạnh của con người
Mặc dù còn thể hiện dưới hình thức ngây thơ, phù hợp với nhận thức củacon người thời cổ, nhưng quan niệm vô thần đã đề cập một khía cạnh rất sâu sắc
là đặt ra cách nhìn duy vật về thế giới, bác bỏ vai trò sáng tạo thế giới của thánhthần; bước đầu khẳng định sức mạnh nhận thức và cải tạo thế giới của con người;ủng hộ triết học duy vật và khoa học tự nhiên Những khám phá của khoa học tựnhiên thời đó đã cho thấy sự giả dối của bức tranh vũ trụ quan và nhân sinh quan
Trang 5của các tôn giáo và thần thoại, đòi hỏi con người đứng vững trên lập trường, quanđiểm vô thần để lý giải các hiện tượng của thế giới xung quanh và vai trò củamình trong thế giới đó Giá trị của tư tưởng vô thần cổ đại thể hiện ở chỗ: lần đầutiên nó lên tiếng phản đối thần thánh, sự phi lý, hoang đường của tôn giáo, đemlại cho con người cách lý giải đúng đắn những vấn đề do chính cuộc sống của conngười đặt ra, giúp con người có niềm tin ở sức mạnh của chính mình, đứng vữngtrong cuộc sống Các nhà vô thần cổ đại đã có cái nhìn về tự nhiên trong sáng, rõràng Tuy có lúc còn thừa nhận thần thánh, nhưng họ đã loại bỏ được mọi cái siêunhiên của thần thánh.
Hêracơlít (khoảng 540-480 tr.CN), cho r»ng thế giới không phải do thánhthần tạo ra mà do ngọn lửa “nó mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh viễn đangkhông ngừng bùng cháy và tàn lụi” Chính ngọn lửa là cơ sở của mọi vật, là khởinguyên sinh ra thế giới
Linh hồn con người, theo Hêracơlít, cũng chỉ là một biểu hiện của ngọn lửa.Người nào càng nhiều lửa bao nhiêu thì người đó càng tốt bấy nhiêu vì tâm hồnkhô ráo Lênin đã đánh giá cao quan điểm vô thần của Hêracơlít
Đêmôcơrít (460-370 tr.CN) đã xây dựng học thuyết nguyên tử luËn về thế giới.Theo ông, khởi nguyên của thế giới không phải là thần thánh như tôn giáo quan niệm,
mà là các nguyên tử Nguyên tử là các hạt vật chất nhỏ nhất, không thể phân chiađược, chúng tồn tại vĩnh viễn Mọi sự vật trong thế giới đều được tái tạo từ cácnguyên tử và khoảng không Sự xuất hiện hay mất đi của vật này hay vật khác là kếtquả của sự kết hợp hay phân tán của các nguyên tử
Phê phán quan điểm duy tâm, tôn giáo thừa nhận thánh thần, lực lượng siêunhiên thống trị, điều khiển thế giới, Đêmôcơrít khẳng định tính quy luật trong sựhình thành, phát triển của thế giới vật chất Theo ông, các sự vật, con người và kể
cả linh hồn anh ta đều được cấu tạo từ nguyên tử và khoảng không Linh hồn conngười về thực chất chỉ là tổng thể các nguyên tử Tuy quan niệm của ông còn ngây
Trang 6thơ, thiên về cảm tính song ông đã đúng khi phủ nhận sự bất tử của linh hồn Ôngcho rằng, linh hồn con người cũng chết cùng thể xác Vì thế, mọi quan niệm về thếgiới bên kia, về thiên đường của con người chỉ là bịa đặt Đêmôcơrít cho rằng,trên thực tế chẳng có Thượng đế, cũng không có vị thần linh nào cả mà chỉ có cáchình ảnh của chúng ta là những thứ có được do trí tưởng tượng của con người tạora.
Êpiquya (341-270 tr.CN) là một trong những nhà triết học lớn, có tư tưởng
vô thần của thời kỳ Hy Lạp hoá Người mà Mác, Ăngghen coi là nhà khai sángcấp tiến chân chính của thời kỳ cổ đại, là người công khai tấn công vào tôn giáo
cổ đại và là người đặt cơ sở đầu tiên cho sự tồn tại của chủ nghĩa vô thần củanhững người La Mã Dựa vào thuyết nguyên tử luận của Đêmôcơrít, Êpiqua pháttriển quan điểm vô thần của mình Ông khẳng định dứt khoát rằng, Thượng đế,thánh thần không phải là gì khác mà chính là do sự trừu tượng hoá hình tượng conngười Do vậy, con người không việc gì phải sợ thánh thần, thậm chí không nên
sợ chết, cũng không nên tin vào những điều huyền hoặc của tôn giáo một cáchngây thơ Hiểu biết giới tự nhiên, nắm vững quy luật vận động, phát triển của nó
là vũ khí giúp con người thoát khỏi lo âu, phiền muộn
Tư tưởng vô thần ở Ên §é, Trung Quèc, Hy Lạp và La Mã cổ đại đã tồn tạicách hiÖn nay hơn hai ngàn năm Từ đó đến nay, sự phát triển của xã hội, cũngnhư nhận thức của con người đã trải qua những bước nhảy vọt và đạt được nhữngbước tiến khổng lồ, ngày nay, các di sản quý báu của các nhà vô thần Ên §é,Trung Quèc Hy Lạp vµ La Mã cổ đại vẫn có những ảnh hưởng lớn đối với tiếntrình phát triển tư tưởng và văn hoá nhân loại nói chung, ở phương Tây và ë ViÖtNam nói riêng
1.2 Chủ nghĩa vô thần trong thời kỳ trung cæ vµ thêi kú Phục hưng
Thời trung cổ, chế độ phong kiến đã thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ Đó là
sự thay thế hình thức bóc lột này bằng một hình thức bóc lột khác đối với người
Trang 7lao động Tôn giáo và nhà thờ đã đóng vai trò thống trị trong đời sống tinh thần xãhội Những thành tựu của người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã bị nhà thờ đạo Kitôloại bỏ và thủ tiêu Sự thống trị của các thế lực phản động tôn giáo trong hệ tưtưởng đã bóp nghẹt tư tưởng vô thần Tuy nhiên, từ thế kỷ XIII trở đi, chủ nghĩa
vô thần và tư tưởng tự do xuất hiện trong cuộc đấu tranh của những người duydanh và duy thực Giăng Đơn Xcốt (1265-1308) là nhà duy danh đã lên tiếng phảnđối tôn giáo, chống lại nhà thờ, đòi nhà nước tách khỏi nhà thờ, đồng thời yêu cầutriết học không được phụ thuộc vào giáo lý, kinh thánh
Uyliam Ôccam (1300-1350) phê phán gay gắt nhà thờ, đòi cải cách tôngiáo, hạn chế quyền lực của giáo hoàng Còn Rôgiê Bêcơn (1214-1294) đã phêphán triết học kinh viện, bác bỏ thuyết “hai chân lý”, tuyên truyền tri thức khoahọc tự nhiên, kêu gọi lấy kinh nghiệm để xác nhận chân lý Ông đã bị giáo hộicầm tù 14 năm
Tư tưởng vô thần của Đơnxcốt, Ôccam và Bêcơn đã có tác dụng to lớn làlên án tội ác của nhà thờ, tôn giáo, thức tỉnh con người, mở đường cho quan điểm:
“tự do, bình đẳng, bác ái” của giai cấp tư sản phát triển; đồng thời chống lại hệ tưtưởng phong kiến, tuyên truyền chủ nghĩa nhân đạo Chủ nghĩa vô thần tư sản đã
ra đời bắt đầu từ tinh thần ấy, in đậm dấu ấn thời Phục hưng
Điểm nổi bật của chủ nghĩa vô thần trong thời kỳ Phục hưng là liên hệ chặtchẽ với tư tưởng nhân văn, nhân đạo và gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiênnhằm mục đích bác bỏ tôn giáo
Cùng với sự phục hồi tư tưởng triết học duy vật, tư tưởng vô thần được củng
cố và phát triển; trở thành ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản đang lên, đấu tranhchống thần học và giáo hội nhằm thiết lập sự thống trị của mình Bằng những cơ sở
và luận chứng khoa học, triết học duy vật và chủ nghĩa vô thần đã giúp cho giai cấp
tư sản nhận thấy rõ bộ mặt thật của chế độ phong kiến đang thối nát, xoá bỏ vònghào quang thần thánh mà giáo hội khoác cho chế độ nông nô Tuy nhiên, để phục
Trang 8vụ cho lợi ích của mình giai cấp tư sản vẫn cần đến tôn giáo Do vậy, những cảicách của Luthơ, Canvanh chỉ là sự cải biến lại tôn giáo cho phù hợp với điều kiệnlịch sử mới.
Chủ nghĩa vô thần thời kỳ này gắn liền với vấn đề con người và giải phóngcon người Thời trung cổ, do ảnh hưởng nặng nề của thế giới quan tôn giáo vàtrình độ sản xuất thấp, người ta coi con người là một vật thụ động, do Chúa sinh
ra, chỉ biết thờ phụng Chúa cầu mong được rửa tội Vào thời Phục hưng, khoahọc và sản xuất phát triển đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của con người Giờđây, không phải quan hệ giữa Chúa và thế giới mà chính là mối quan hệ giữa conngười với thế giới trở thành vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh tư tưởng Tuynhiên, việc đề cao con ngưòi mới được đề cập ở khía cạnh cá thể, bản chất xã hộicủa con người chưa được quan tâm
Nicôlai Kuzan 1401-1464) là người đầu tiên dám phê phán mạnh mẽ cácgiáo lý trung cổ Ông không coi Thượng đế như một vật hay cá nhân cụ thể nào
mà là bản chất vô hạn của thế giới Ông cho r»ng, Thượng đế là tất cả trong mọicái, nhưng đồng thời cũng không là gì cả (hư vô) trong mọi cái Ông coi conngười là sản phẩm tối cao và tinh tuý nhất trong sự sáng tạo của Thượng đế, vìcon người như Thượng đế- con người đang cải tạo giới tự nhiên
Nhìn chung, quan điểm vô thần của Kuzan còn nặng tính thần luận Song,lần đầu tiên ông đã hạ thần thánh, Thượng đế xuống ngang hàng con người Tạiđây, ông đặt mốc giới cho chủ nghĩa vô thần tư sản phát triển
Nicôlai Côpécních (1473-1543) là người đưa ra thuyết nhật tâm, coi mặttrời là trung tâm của vũ trụ để bác bỏ thuyết địa tâm của Ptôlêmê - chỗ dựa củathần học và giáo hội Thuyết Nhật tân của Côpécních đã giáng một đòn chí tử vàotôn giáo và chủ nghĩa duy tâm, Ăngghen cho rằng, hành vi cách mạng củaCôpécních đã thách thức quyền uy của giáo hội Từ đó trở đi, khoa học tự nhiêntừng bước được giải phóng khỏi thần học
Trang 9Lêôna Đờ Vanhxi (1452-1519) phê phán gay gắt thần học và giáo hội, ông
đã xây dựng hệ thống thế giới quan khoa học của mình dựa trên cơ sở kinhnghiệm và thực nghiệm Với luận điểm: “sự thông thái là con gái của kinhnghiệm”, ông đề cao vai trò của kinh nghiệm trong nhận thức, bác bỏ các tín điềutôn giáo, coi chúng là bịa đặt, hoang đường, không đáng tin cậy Là nhà danh hoạnổi tiếng, ông coi trọng hoạt động của con người, đưa Thượng đế vào nghệ thuật
và coi nghệ thuật là phương thức biểu hiện của Thượng đế, ông kêu gọi mọi ngườisống lạc quan, chống lại chủ nghĩa bi quan tôn giáo
G.Brunô (1548-1600) là người bảo vệ thuyết nhật tâm của Côpécních, quanđiểm vô thần của ông thiên về tự nhiên thần luận Ông coi Thượng đế chính làgiới tự nhiên, tồn tại độc lập, không do ai sáng tạo ra Mặc dù đồng nhất Thượng
đế với tự nhiên, nhưng trên thực tế, Brunô chỉ thừa nhận Thượng đế trên danhnghĩa, ông chống lại quyền uy của giáo hội Quan niệm cách mạng, tiến bộ củaông đã làm giáo hội căm tức Giáo hội đã bắt và thiêu sống ông trên giàn hoảthiêu
Galilêô Galilê (1564-1642) người mở đầu cho sự phát triển khoa học thựcnghiệm và toán học cận đại Nhờ các phát minh khoa học, ông đã chứng minh tínhthống nhất vật chất của toàn vũ trụ và khẳng định tính chân lý của giả thuyếtCôpecnich, Galilê đã nâng khoa học lên ngang tầm tôn giáo, cho rằng kinh thánhkhông thể chiếm địa vị độc tôn, với sự ra đời của khoa học, nó chỉ còn có ý nghĩagiá trị tinh thần Ông khuyên mọi người hãy trang bị kiến thức khoa học Có trithức khoa học, họ sẽ tự tin hơn, sống có ích hơn
Tóm lại, chủ nghĩa vô thần tư sản thời kỳ Phục hưng có vị trí đặc biệt quantrọng, nó đã góp phần làm cho nền chuyên chính tinh thần của nhà thờ bị sụp đổvào cuối thời kỳ trung cổ, là cơ sở vững chắc để triết học duy vật và khoa học tựnhiên phát triển
Trang 101.3 Chủ nghĩa vô thần trong thời kỳ cách mạng tư sản thế kỷ XVIII
XVII-Bước sang thời cận đại, tri thức khoa học tự nhiên gắn chặt với chủ nghĩaduy vật có bước phát triển mới Điều đó rất thuận lợi cho việc củng cố vững chắchơn chủ nghĩa vô thần.Giai cấp tư sản ngày càng khẳng định vai trò của mìnhtrong tập hợp lực lượng chống lại chế độ phong kiến, nhà thờ, giáo hội đã lỗi thời.Cuộc cách mạng tư sản Anh (1642-1648) làm rung chuyển cả châu Âu, báo hiệumột thời kỳ lịch sử mới bắt đầu
Chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII đã có ảnh hưởng tốt đến sự phát triểncủa chủ nghĩa vô thần F.Bêcơn (1561-1626) là đại biểu tiêu biểu cho xu hướng đó.Tuy không phải là nhà vô thần triệt để nhưng khi lý giải phương pháp khoa họckinh nghiệm của mình, ông đã chống lại nền triết học kinh viện tôn giáo Bêcơnnhìn thấy vai trò đặc biệt của khoa học và triết học, ông coi đó là nền tảng lý luận
để đổi mới, phát triển kinh tế, mở mang đất nước; đồng thời là phương tiện cơ bản
để xoá bỏ mọi bất công, tệ nạn xã hội, tước bỏ quyền uy của giáo hội Con người,theo Bêcơn, là sản phẩm của tạo hoá, do vậy khoa học về con người cũng chính làkhoa học về tự nhiên Bêcơn cho rằng, bên cạnh các hoạt động chính trị, khoa học,nghệ thuật con người còn cần đến tôn giáo để vượt qua những lúc yếu mềm, bấtlực Cùng với khoa học, tôn giáo đem lại cho con người niềm tin Nhưng mặt khác,ông yêu cầu nhà thờ không được phép dùng các biện pháp chống lại các nhà vôthần, cũng như không được cản trở các hoạt động khoa học của con người
Hốpxơ (1583-1679) là người kế tục Bêcơn, ông tích cực đấu tranh cho việcgiải phóng hoàn toàn khoa học và triết học khỏi tôn giáo Hốpxơ khẳng định, “trithức là sức mạnh” Khác với Bêcơn, ông coi thần học hoàn toàn thuộc về lĩnh vựctôn giáo, cần phải hạn chế, phê phán tiến tới loại bỏ, còn triết học là hoạt động trítuệ của con người nhằm khám phá ra bản chất, quy luật cña thế giới khách quannên cần phải phát triển mạnh mẽ Đối với ông, tri thức khoa học cần cho con
Trang 11người như cơm ăn, nước uống hàng ngày, còn kinh thánh, không có nó con ngườivẫn sống khoẻ mạnh.
B.Xpinôda (1632-1677) là nhà triết học lớn, ông có nhiều đóng góp đưa chủnghĩa vô thần phát triển đến đỉnh cao của thời kỳ này Quan điểm triết học duy vậtcủa ông gắn chặt với chủ nghĩa vô thần Khác với Đềcáctơ, Xpinôda không xuấtphát từ con người để giải thích thế giới, mà ngược lại, đi từ thế giới để giải thíchcon người Ông không coi thế giới tự nhiên là do Thượng đế sinh ra, mà trái lại,coi Thượng đế chính là thuộc thế giới tự nhiên, chứ không phải đứng trên giới tựnhiên như một lực lượng siêu nhiên, thần bí nào khác Vì vậy, cần hiểu cho đúng
là giới tự nhiên như một thực thể hoàn toàn độc lập, tự nó sản sinh ra nó Do vậy,
để lý giải giới tự nhiên phải xuất phát từ chính bản thân nó
Xpinôda cho rằng, con người là sản phẩm của tự nhiên Vì thế mọi hoạt độngcủa con người phải tuân theo quy luật của tự nhiên, chứ không phải tin vào giáo lý,kinh thánh Trong con người, thể xác và linh hồn gắn bó chặt chẽ với nhau, khôngthể tách rời nhau, ông đã đứng trên lập trường duy vật, vô thần để bác bỏ thuyếtlinh hồn bất tử Xpinôda khẳng định, mọi tệ nạn xã hội đều sinh ra từ sự dốt nát củacon người, từ sự mê hoặc của tôn giáo Con người chỉ có thể giải thoát mình khỏiđau khổ, mê muội, khi nào họ tin vào tri thức khoa học, hiểu biết bản chất, quy luậtcủa thế giới khách quan Vì những hoạt ®ộng chống tôn giáo, tuyên truyền chủnghĩa vô thần, Xpinôda đã bị xứ đạo Dothái ở Amxtécđam lên án, kết tội, bắt vàgiam hãm ông
Sang thế kỷ XVIII, Chủ nghĩa vô thần vµ chủ nghĩa duy vật chiến đấu đãxuất hiện trên vũ đài lịch sử, góp phần quan trọng trong chuẩn bị tư tưởng lý luậncho cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789-1794)
Trong số những nhà sáng lập chủ nghĩa vô thần Pháp thế kỷ XVIII, trướctiên phải kể đến Sáclơ Đờ Môngtexkiơ (1689-1775) Ông là người nổi tiếng trongviệc phê phán chủ nghĩa kinh viện và giáo hội Theo ông, xã hội và tự nhiên thống
Trang 12nhất chặt chẽ với nhau, đều tuân theo những quy luật khách quan Ông cho rằng, sở
dĩ trong xã hội còn có bất công, đói khổ, dốt nát , là do con người chưa thoát khỏiniềm tin vào thần thánh, lực lượng siêu nhiên Vì thế, để cứu giúp mình, con ngườiphải học tập để có tri thức khoa học, phải lao động, làm ra của cải Con người phải
tự cứu lấy chính mình
Phrăngxoa Mari Vônte (1694-1778) đã giữ một vai trò đặc biệt quan trọngtrong đấu tranh tư tưởng thế kỷ XVIII Ông cầm đầu cuộc đấu tranh trực diệnchống lại nhà thờ Thiên Chúa giáo Theo ông, Thượng đế là đấng tối cao, đồngthời Thượng đế chỉ là sự tưởng tượng của con người Ông yêu cầu tách nhà thờ rakhỏi nhà nước, vì nhà thờ lũng đoạn nhà nước, hoạt động của nó đã thần thánhhoá chế độ phong kiến, cản trở sự hình thành chế độ tư sản Tuy nhiên, Vôntekhông thể trở thành một nhà vô thần triệt để vì ông là nhà tư tưởng của giai cấp tưsản, giai cấp này cũng cần có tôn giáo để bảo vệ sự bóc lột và lợi ích của nó Ôngchỉ đấu tranh loại bỏ tôn giáo của chế độ phong kiến đã lỗi thời để xây dựng tôngiáo mới- tôn giáo của giai cấp tư sản Ông cho rằng, tôn giáo là sự cần thiết đểgiữ gìn trật tự, kỷ cương, bồi bổ đạo đức cho con người
Giăng Giắc Rútxô (1712-1778) nhà tư tưởng vĩ đại, có tư tưởng vô thần sâusắc Ông đứng trên lập trường tự nhiên thần luận để xét đoán vai trò của thầnthánh Theo ông, lịch sử xã hội loài người là kết quả hoạt động của bản thân conngười, chứ không phải do “bàn tay” xếp đặt của Thượng đế Bản chất con ngườivốn là tự do, nhưng do người ta quá sợ Thượng đế nên tự mình “gông cùm mình”
Để thoát khỏi tình cảnh thấp hèn, lạc hậu, tối tăm, sự phụ thuộc vào Thượng đếngười ta cần phải đi theo và tin vào tri thức khoa học
Đêni Điđrô (1713-1784) nhà v« thÇn điển hình của thêi kú Khai sáng Pháp.Ông phê phán gay gắt kinh thánh và quyền uy của giáo hội Với lập tr ường v«thÇn cứng rắn, ông đã bác bỏ thẳng thừng vai trò của đấng sáng thế tối cao “ChúaTrời” Theo ông, đó chỉ là một trò nhảm nhí, nực cười vì chẳng có chứng cứ gì để
Trang 13khẳng định có thần thánh và Chúa Trời trên trái đất này Trên thực tế, trong vũ trụchỉ có một thực thể - cả con người lẫn động vật cũng như các sự vật khác là vậtchất mà bản tính cố hữu của nó là vận động Vận động là đặc tính cố hữu của vậtchất Vì thế, không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người đãsáng tạo ra tôn giáo Chừng nào tôn giáo còn tồn tại thì chừng ấy nó còn đem lạinhững điều ảo tưởng, làm cho con người mềm yếu, sự sống không có sinh khí.Điđrô yêu cầu phá bỏ ngay nền giáo dục đạo đức tôn giáo vì đó chỉ là trò lừa gạt,làm người ta cả tin vào số phận mà hư hỏng con người Vì vậy, cần phải xoá bỏkhoa thần học ở các trường học, tiêu diệt giới tu hành, tích cực phổ biến tri thứckhoa học, trang bị cho con người niềm tin, sức mạnh để xây dựng cuộc sống
Lametri (1709-1751) cho rằng, trong thế giới của chúng ta không có mµchØ cã vật chất đang vận động vĩnh viễn Ông đã phê phán gi¸o lý vµ đạo đứccủa đạo Kitô Theo ông, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm là đồng minh của nhau.Muốn cắt bỏ tôn giáo thì đồng thời phải xoá bỏ chủ nghĩa duy tâm
Tóm lại, các nhà vô thần Pháp thế kỷ XVIII đã sử dụng rộng rãi kết quảkhoa học tự nhiên hiện đại để phê phán các quan điểm tôn giáo Họ đã chứngminh tính vô lý của sự tồn tại thánh thần và thế giới bên kia của mọi lực lượngsiêu nhiên Theo họ, tôn giáo là kết quả của sự lừa dối con người, làm cho conngười ngu dốt, tối tăm Vì vậy, họ tích cực tuyên truyền tri thức khoa học, mởmang giáo dục, coi đó là con đường thoát khỏi tôn giáo, nhà thờ, đưa xã hội tiếnlên
1.4 Chủ nghĩa vô thần tư sản thế kỷ XIX
Sự phát triển của chủ nghĩa vô thần tư sản mang tính chất phức tạp, có ảnhhưởng không nhỏ trong hệ tư tửơng tư sản và sự phát triển của chế độ tư bảntrong thế kỷ này Đáng kể là quan điểm vô thần của Phoiơbắc (1804-1872), nhữngquan điểm của ông xứng đáng được coi là đỉnh cao của chủ nghĩa vô thần trướcMác Ban đầu do chịu ảnh hưởng lớn của Hêghen, ông tin rằng tôn giáo và tinh