1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động tập thể của sinh viên nội trú ở trường đại học nội vụ hà nội từ góc độ văn hóa tổ chức

141 200 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 5,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 DƯƠNG VĂN NAM QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TẬP THỂ CỦA SINH VIÊN NỘI TRÚ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA TỔ CHỨC LUẬN VĂN THẠC

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

DƯƠNG VĂN NAM

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TẬP THỂ CỦA SINH VIÊN NỘI TRÚ

Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA TỔ CHỨC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

DƯƠNG VĂN NAM

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TẬP THỂ CỦA SINH VIÊN NỘI TRÚ

Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA TỔ CHỨC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 8 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Dục Quang

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Dục Quang, người đã dành nhiều thời gian tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận văn.

Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô và viên chức Phòng Sau Đại học

- trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và những thầy cô đã tham gia giảng dạy lớp Cao học quản lý giáo dục K20 (2016-2018) đã cho em những tri thức, kiến thức mới về khoa học quản lý giúp em hoàn thành khóa học, thực hiện tốt công việc hàng ngày và hoàn thiện bản thân hơn.

Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nội vụ

Hà Nội đã tạo cơ hội, điều kiện cho em được tham gia và hoàn thành khóa học Cao học Quản lý giáo dục tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ, viên chức, giảng viên, nhân viên, các bạn đồng nghiệp, các em sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp số liệu, cho ý kiến trong suốt quá trình khảo sát thực tế giúp tôi hoàn thành luận văn của mình.

Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã luôn luôn ở bên cạnh, động viên, khuyến khích tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý kiến của các thầy cô, các bạn đồng nghiệp và những người cùng quan tâm tới vấn đề được nghiên cứu trong luận văn.

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Quản lý hoạt động tập thể

của sinh viên nội trú ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội từ góc độ văn hóa

tổ chức” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố

trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2018

Tác giả

Dương Văn Nam

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TẬP THỂ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC TỪ GÓC ĐỘ VĂN HOÁ TỔ CHỨC 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Nghiên cứu về hoạt động tập thể và quản lý hoạt động tập thể của sinh viên đại học 5

1.1.2 Các nghiên cứu về văn hoá tổ chức 10

1.1.3 Nghiên cứu về quản lý sinh viên đại học 13

1.2 Các khái niệm liên quan 14

1.2.1 Quản lý, quản lý nhà trường 14

1.2.2 Hoạt động tập thể, quản lý hoạt động tập thể 23

1.2.3 Văn hoá, văn hóa tổ chức 25

1.3 Về văn hoá tổ chức 37

1.4 Quản lý hoạt động tập thể của sinh viên đại học 44

1.4.1 Tiếp cận lý thuyết quản lý chất lượng tổng thể trong quản lý hoạt động của tổ chức 44

1.4.2 Đặc điểm hoạt động tập thể của sinh viên nội trú ở trường đại học 46

1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động tập thể của sinh viên 49

1.4.4 Đặc điểm quản lý hoạt động tập thể của sinh viên nội trú 51

Kết luận chương 1 53

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TẬP THỂ CỦA SINH VIÊN NỘI TRÚ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TỪ GÓC ĐỘ VĂN HOÁ TỔ CHỨC 54

2.1 Khái quát về Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 54

2.1.1 Khái lược về sự hình thành và phát triển của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

54 2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 55

2.1.3 Thực trạng tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị và mục tiêu phát triển 57

Trang 6

2.1.4 Thực trạng đào tạo của Trường 57

2.2 Thực trạng hoạt động tập thể của sinh viên nội trú tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 60

2.2.1 Thực trạng các tổ chức sinh viên nội trú 60

2.2.2 Thực trạng mục tiêu, đối tượng, nội dung, phương thức hoạt động tập thể của sinh viên nội trú 62

2.2.3 Thực trạng quản lý sinh viên trong các hoạt động tập thể 63

2.3.4 Thực trạng kết quả hoạt động tập thể của sinh viên nội trú 63

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động tập thể của sinh viên nội trú ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 64

2.3.1 Thực trạng thành lập các tổ chức sinh viên nội trú 64

2.3.2 Thực trạng quản lý thực hiện các hoạt động nội trú của tập thể 65

2.3.3 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động của tập thể 65

2.3.4 Thực trạng chỉ đạo, đổi mới hoạt động tập thể sinh viên nội trú 66

2.4 Thực trạng nhu cầu hoạt động tập thể của sinh viên nội trú ở trường Đại học Nội vụ Hà Nội 66

3.4.1 Phương pháp đánh giá 66

3.3.2 Kết quả đánh giá 67

2.5 Đánh giá thực trạng 71

2.5.1 Những mặt mạnh và nguyên nhân 71

2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân 73

Kết luận chương 2 77

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TẬP THỂ CỦA SINH VIÊN NỘI TRÚ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TỪ GÓC ĐỘ VĂN HOÁ TỔ CHỨC 78

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 78

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính định hướng phát triển nhà trường 78

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính tự chủ trong hoạt động tập thể của sinh viên nội trú 79

Trang 7

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đổi mới liên tục trong hoạt động tập thể của

sinh viên nội trú 80

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động tập thể của sinh viên nội trú của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội từ góc độ văn hoá tổ chức 80

3.2.1 Hình thành và hoàn thiện các tổ chức tự quản trong tập thể sinh viên nội trú tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 80

3.2.2 Lập kế hoạch hoạt động tập thể cho sinh viên nội trú tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội 85

3.2.3 Tổ chức triển khai kế hoạch phát triển văn hoá tổ chức trong tập thể sinh viên nội trú tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội 88

3.2.4 Xác lập các hoạt động và tổ chức các hoạt động tập thể của sinh viên nội trú từ góc độ văn hoá tổ chức 96

3.2.5 Kiểm tra, giám sát các hoạt động và tổ chức các hoạt động tập thể của sinh viên nội trú từ góc độ văn hoá tổ chức 101

3.2.6 Đổi mới, điều chỉnh hệ thống các hoạt động tập thể của sinh viên nội trú từ góc độ văn hoá tổ chức 103

3.3 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 105

3.3.1 Phương pháp khảo sát 105

3.3.2 Kết quả khảo sát 105

Kết luận chương 3 108

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 8

ĐHVLVH : Đại học vừa làm vừa họcGD&ĐT : Giáo dục & Đào tạo

KTX : Ký túc xá

QLSV : Quản lý sinh viên

SV : Sinh viên

SVNT : Sinh viên nội trú

TCCN : Trung cấp chuyên nghiệpTDTT : Thể dục thể thao

TPHCM : Thành phố Hồ Chí

Minh TT : Tập thể

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

QLNN : Quản lý nhà nước

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH,

BẢNG

Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý 16

Sơ đồ 1.2: Quan hệ các chức năng quản lý 17 Hình 1.2: Mô hình văn hoá tổ chức 43 Hình 3.1 Mô hình hình thành văn hóa tổ chức trong tập thể sinh viên nội trú

của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 93 Bảng 1.2 Đối tượng đào tạo của Trường ĐH Nội vụ Hà Nội 58 Bảng 2.1 Bảng Tổng hợp các năng lực mong muốn đạt được của SV thông

qua hoạt động TT của SVNT tại trường ĐHNVHN 67 Bảng 2.2 Bảng Tổng hợp các hình thức tổ chức hoạt động TT mà SV mong

muốn có được tại trường ĐHNVHN 69 Bảng 2.3 Bảng tổng hợp nhu cầu về các điều kiện đảm bảo tổ chức hoạt động

TT mà SVNT mong muốn có được tại trường ĐHNVHN 70

Trang 10

Trong những năm gần đây, cùng với uy tín của Nhà trường, số lượngngành nghề đại học và sau đại học của Nhà trường phát triển, số lượng sinhviên (SV) của Trưởng ngày càng gia tăng Trung bình nhà trường quản lý lưulượng khoảng 8000 SV/Năm Điều này đặt ra vấn đề quản lý công tác sinhviên trong nhà trường Công tác này không chỉ đảm bảo về mặt số lượng vàcác vấn đề có tính an ninh, chính trị, trật tự, an toàn mà còn phải phát triểnnăng lực cho họ thông qua các hoạt động đa dạng và khác biệt.

Sinh viên nội trú (SVNT) là một phần quan trọng trong công tác sinhviên của nhà trường Việc tổ chức các hoạt động trong tập thể (TT) SVNT củaTrường có ý nghĩa to lớn và sâu sắc cả về mặt xã hội và mặt phát triển nănglực cho SV sau khi ra trường Hoạt động trong khu nội trú (ký túc xá) trởthành một môi trường tốt để bổ sung và phát triển, hoàn thiện những năng lựccần thiết mà Trường đại học mong muốn

Trước yêu cầu phát triển chung cũng như nhu cầu hoàn thiện nănglực của SV để lập nghiệp; đặc biệt là năng lực hạn chế của sinh viên ratrường và tình trạng thất nghiệp trong nhưng năm gần đây cho thấy nguyênnhân là SV và phía nhà trường chưa tổ chức tối ưu và khoa học các hoạt độngtrong quá trình học tập đại học Rất nhiều hoạt động lãng phí và lệch hướng,kết quả

Trang 11

không đạt được mục tiêu đào tạo và học tập đề ra Đã đến lúc cần tìm ra cơ sở

lý luận để làm nền tảng cho việc hình thành các hoạt động TT này Muốn vậy,

TT này phải trở thành một TT văn hoá, trong đó văn hoá tổ chức là nền tảngquan trọng để phát triển hoạt động Chính văn hoá tổ chức cũng là mục tiêu

mà hoạt động TT đưa đến

Từ thực tiễn tham gia công tác quản lý SV của Trường ĐHNVHN, tôinhận thấy rằng cần phải hoàn thiện năng lực cho SV thông qua việc bổ sungcác năng lực cần thiết Điều này có thể được bổ sung thông qua hoạt động TTcủa SVNT ở trường Điều này cần phải bắt đầu và được thực hiện thông quađổi mới công tác quản lý sinh viên nội trú

Với thực tiễn vấn đề đặt ra, và với mong muốn nâng cao chất lượnghoạt động TT của SVNT, tôi mạnh dạn đề xuất đề tài trong luận văn thạc

sĩ:“Quản lý hoạt động tập thể của sinh viên nội trú ở Trường Đại học Nội vụ

Hà Nội từ góc độ văn hoá tổ chức”

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động tập thể của sinh viên nội trú ở Trường ĐH từ góc độvăn hóa tổ chức

Trang 12

4 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu các biện pháp quản lý hoạt động TT của sinh viên nội trú ở TrườngĐHNVHN từ góc độ văn hoá tổ chức dựa trên tiếp cận quản lý chất lượngtổng thể thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý hoạt động tập thể của sinh viên nộitrú ở Trường Đại học từ góc độ văn hóa tổ chức

- Thực trạng quản lý hoạt động tập thể của sinh viên nội trú ở TrườngĐại học Nội vụ Hà Nội từ góc độ văn hóa tổ chức

- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tập thể của sinh viên nộitrú ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội từ góc độ văn hóa tổ chức

7 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

+ Phương pháp quan sát

+ Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu thu được

8 Đóng góp của đề tài

- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về quản lý hoạt động tập thể của sinhviên nội trú ở trường đại học từ góc độ văn hoá tổ chức;

Trang 13

- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tập thể của sinh viên nội trú ởTrường Đại học Nội vụ Hà Nội từ góc độ văn hóa tổ chức;

- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tập thể của sinh viên nội trú

ở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội từ góc độ văn hóa tổ chức

Trang 14

Nghiên cứu của tác giả Phạm Lăng khi tìm hiểu hoạt động giáo dụcngoài giờ lên lớp ở trường trung học Chu Văn An Hà Nội đã xác định nhiềuhình thức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và nhấn mạnh: Nếu tổ chứchoạt động này một cách khoa học sẽ không làm giảm đi chất lượng các mônhọc Trong khi đó, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chất lượng giáo dục SV

ở nhà trường giảm sút có nguyên nhân từ việc tổ chức các hoạt động giáo dụcngoài giờ lên lớp bị buông lỏng

Hay chẳng hạn như nghiên cứu tại trường phổ thông Dân tộc Nội trú Tỉnh Lai Châu do tác giả Đinh Xuân Huy từng thực hiện cũng đã khẳng địnhvai trò quan trọng của tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đốivới việc nâng cao chất lượng giáo dục của trường Phổ thông Dân tộc nội trú,xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động này của người hiệu trưởng, trong

-đó có hoạt động ngoại khoá

Các tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong cuốn Giáo dục học cũngnhấn mạnh vai trò và tác dụng của hình thức hoạt động ngoại khoá, coi đây làmột trong những hình thức dạy học có khả năng tạo hứng thú cho SV, giúpcác em mở rộng, nâng cao, khắc sâu kiến thức được tốt hơn

Trang 15

Một trong những nghiên cứu khác là Đề tài luận văn thạc sĩ Quản lý giáodục của tác giả Đặng Thị Diệp Linh với chủ đề “Quản lý hoạt động ngoạikhoá của Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội”,Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011 Trên cơ sở đánhgiá tầm quan trọng của hoạt động tổ chức ngoại khoá cho SV, tác giả đãnghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý và tổ chức các hoạt động ngoạikhoá bổ trợ cho SV khoa Ngoại ngữ tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội từnăm 2006 đến năm 2010 Đồng thời, nghiên cứu thực trạng tổ chức và quản lýcác hoạt động ngoại khoá Từ đó, đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả hoạtđộng ngoại khoá tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội và thử nghiệm một sốbiện pháp[15]

Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục của tác giả Đinh Thị Tuyết Mai với

chủ đề“Các biện pháp tăng cường quản lý đời sống sinh viên nội trú Đại học Quốc gia Hà Nội” năm 2003 Đề tài đã đưa ra một số hoạt động đặc thù của

SV trong KTX, những yêu cầu và nội dung quản lý đời sống SV trong KTX,đồng thời đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý đời sống SV nội trúĐại học Quốc gia Hà Nội [20]

Hoặc có thể đề cập đến đề tài “Các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống ma tuý trong tập thể SV Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định”

của tác giả Trịnh Văn Hải, bảo vệ thành công tại Khoa Sư phạm Đại họcQuốc gia Hà Nội, chuyên ngành Quản lý giáo dục, năm 2006 Trong côngtrình này, trên cơ sở nghiên cứu lý luận về công tác quản lý các hoạt độngphòng chống ma tuý trong tập thể SV của Trường, tác giả đã đề xuất các biệnpháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phòng chống ma tuý trongtập thể SV ở Trường Các biện pháp được tác giả đưa ra gồm: Nâng cao nhậnthức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, công nhân viên nhàtrường trong việc phòng chống ma tuý cho SV; Đẩy mạnh giáo dục toàn diện

Trang 16

để đưa SV vào các hoạt động bổ ích, lành mạnh nhằm phát triển năng lực SVtheo mục tiêu đào tạo; Xây dựng tập thể SV tự quản phòng chống ma tuý.Đây là biện pháp đáng chú ý nhằm giúp SV phát huy năng lực độc lập, sángtạo, ý thức tự giác và tinh thần đấu tranh phê phán những biểu hiện xấu, tiêucực trong nhà trường và đặc biệt trong phong trào phòng chống ma tuý Cácthành viên trong đội tự quản là những SV được lựa chọn có phẩm chất đạođức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, năng lực quản lý tốt và tham gia vớitinh thần tự nguyện [11]

Hay như đề tài nghiên cứu việc quản lý SV nội trú của tác giả Bùi Sĩ

Đức với chủ đề “Biện pháp quản lý học sinh nội trú ở Trường Trung cấp kỹ thuật nghiệp vụ Hải Phòng”, chuyên ngành Quản lý giáo dục năm 2011, qua

đó đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý trường Trung cấp chuyênnghiệp và quản lý học sinh nội trú, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý cáchoạt động của học sinh nội trú và đề xuất một số biện pháp nhằm quản lý họcsinh nội trú góp phần nâng cao chất lượng học tập và r n luyện của học sinhtrường trung cấp K thuật - Nghiệp vụ Hải Phòng

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Biện pháp quản lý nề nếp sinh hoạt của sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng Cộng Đồng Bắc Kạn” của Lý Quang

Vịnh, năm 2011 Đề tài đã nêu lên nội dung công tác quản lý SV nội trú; thựctrạng công tác quản lý nề nếp sinh hoạt của SV nội trú, những thuận lợi vàkhó khăn; đồng thời đề xuất một số biện pháp quản lý nề nếp sinh hoạt của SVnội trú trường Cao đẳng Cộng Đồng Bắc Kạn” như nhóm biện pháp quản lý,giáo dục SV nội trú trong quá trình đào tạo ở trường hay nhóm biện pháp vềđiều kiện đáp ứng yêu cầu học tập, r n luyện, sinh hoạt của SV nội trú ở ký túcxá

Đó là ở Việt Nam, còn trên phạm vi quốc tế, quản lý hoạt động tập thểcủa SV cũng được nhiều quốc gia trên thế giới coi trọng, và một trong nhữnghình thức được đề cập đến nhiều nhất bên cạnh việc tổ chức học tập tại trường

Trang 17

là hoạt động ngoài giờ lên lớp và hoạt động ngoại khoá Đây được coi là mộtphần quan trọng trong chương trình giáo dục ở hầu hết tất cả các nước trên thếgiới Hoạt động này được chú trọng nghiên cứu và thực hiện như là một công

cụ hữu ích để giúp SV - SV học tập có kết quả hơn và phát triển toàn diệnhơn nhân cách của bản thân, chẳng hạn:

- Cần cam kết rằng tất cả mọi - SV phải có cơ hội tham gia một cách cóchất lượng các hoạt động ngoài giờ lên lớp, học tập các kinh nghiệm sống;

- Khuyến khích các trường học liên kết với nhau trong việc tổ chức cáchoạt động này;

- Đưa ra các hỗ trợ và các lời khuyên;

- Cung cấp thông tin và các hướng dẫn thực hành;

- Đặt mục tiêu ưu tiên cho việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp

Trang 18

+ Tại Mỹ:

Các công trình nghiên cứu gần đây của các nhà giáo dục M cũng chothấy tác dụng to lớn của các hoạt động ngoại giờ lên lớp nói chung và ngoạikhoá nói riêng sau đây đối với đời sống của SV: có 49% SV không tham giavào các hoạt động ngoài giờ lên lớp sử dụng ma tuý, 37% trong độ tuổi từ13-19 phải làm bố mẹ sớm hơn những em khác có tham gia từ 1 đến 4 giờ vàocác hoạt động ngoại khoá Gần 8/10 em có tham gia các hoạt động ngoại khoáđạt được kết quả học tập cao [35]

Những SV thường xuyên tham gia vào các chương trình hoạt động ngoàigiờ lên lớp có chất lượng thường đạt được thành tích học tập cao hơn, có hành

vi đạo đức tốt hơn trong nhà trường, có mối quan hệ và xúc cảm tốt hơn, pháttriển tốt hơn và không có các hiện tượng sử dụng ma tuý, bạo lực

+ Tại Nhật Bản:

Các nhà giáo dục Nhật Bản nhấn mạnh tầm quan trọng của các hoạtđộng ngoài giờ lên lớp và hoạt động ngoại khoá SV Nhật Bản dành khá nhiềuthời gian cho các hoạt động này vì hầu hết các trường học ở Nhật Bản là cáctrường bán trú [34] Tuy nhiên, các hoạt động ngoài giờ lên lớp này tập trungchủ yếu vào việc giáo dục đạo đức và giáo dục truyền thống cho SV như dạycác nghi thức giao tiếp theo tập tục của người Nhật, dạy cách pha trà, nấunướng, các nghề truyền thống của Nhật Bản

Tại các hoạt động ngoại khoá, các môn học chủ yếu tổ chức qua cáccuộc thi, các trò chơi ở trường và trên ti vi Chương trình cải cách giáo dụccủa Nhật Bản giảm bớt thời lượng các giờ lên lớp để tăng cường nhiều hơncác hoạt động ngoài giờ lên lớp cho SV Nghiên cứu so sánh của các nhà giáodục M năm 2002 giữa chất lượng giáo dục của M và 8 nước trong khối G8cho rằng, hoạt động ngoài giờ lên lớp và ngoại khoá là một trong những điềukiện đem lại chất lượng giáo dục cao ở các nước

Trang 19

Các hình thức hoạt động ngoại khoá của các trường Cao đẳng ở cácnước chủ yếu tập trung vào: các trò chơi trí tuệ, dạ hội, câu lạc bộ nhạc,kịch, thể thao, hội hoạ Nhiều nhà giáo dục học đã rất coi trọng hoạt độngngoại khoá khi cho SV tham gia biểu diễn sân khấu để giúp các em ghi nhớsâu sắc những nội dung cần thiết Ông thấy rằng những chàng trai thườngngày so ro, rụt r nay ra trước công chúng với vẻ tự tin, xử sự điềmtĩnh Những con người mới mấy tuần lễ trước còn đọc câu ngắc ngứ, bây giờ

đã có thể nói một đoạn độc thoại dài mà không phạm lỗi hoặc giải thíchnhững khái niệm một cách hùng hồn đầy tính thuyết phục Nhiều nhà giáodục học đã áp dụng phương pháp dạy học mới, đặc biệt là việc mở rộngcác hình thức học tập ngoài lớp, nhằm khơi dậy và phát huy những khảnăng tiềm ẩn, nhằm r n luyện cá tính cho SV, đã chứng minh cho quanđiểm giáo dục mới đầy tính thuyết phục [15;13]

Như vậy, qua tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc

tế, có thể thấy, lĩnh vực quản lý SV và quản lý văn hoá tổ chức là chủ đề hiệnđang thu hút được sự quan tâm đông đảo của các nhà quản lý, các học giả.Tuy nhiên, liên quan trực tiếp đến quản lý hoạt động tập thể của SV đại học,đặc biệt lại là dưới góc độ tiếp cận của xã hội học và văn hoá tổ chức thìdường như chưa có công trình nào đề cập, dù bên cạnh đó đã có những côngtrình nghiên cứu về một số khía cạnh của quản lý hoạt động tập thể của SVđại học

1.1.2 Các nghiên cứu về văn hoá tổ chức

Văn hoá tổ chức là lĩnh vực còn khá mới mẻ ở nước ta, song đã thu hút

sự quan tâm tham gia nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và các nhà quản lý

Số lượng các công trình nghiên cứu đã được công bố ngày càng nhiều Liênquan đến chủ đề này, có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:

Đề tài khoa học cấp Học viện với chủ đề “Văn hoá tổ chức - Lý thuyết,

Trang 20

thực trạng và giải pháp trong phát triển văn hóa tổ chức ở Việt nam”, năm

2004 Ðây là công trình nghiên cứu được thực hiện tại Học viện Hành chínhQuốc gia, theo đó, nghiên cứu đã nêu khá đầy đủ về văn hoá tổ chức cũng như

đề xuất các giải pháp phát triển văn hóa tổ chức ở Việt Nam trong thời giantới [16]

Bài báo khoa học „„Văn hoá tổ chức ở Việt Nam trong thời kỳ hội

nhập”của tác giả Ðinh Công Tuấn, đăng tải trên Tạp chí cộng sản, số

10/2012 Bài báo đã đề cập và làm rõ về các nội dung cơ bản như: Khái niệmvăn hoá, văn hoá tổ chức, văn hoá tổ chức Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Tác giả cũng đã cung cấp cách tiếp cận mới theo quan điểm cá nhân về vănhoá tổ chức, đây cũng là những gợi mở hướng nghiên cứu về chủ đề này chonhiều học giả [30]

Đề tài nghiên cứu về „„Văn hoá tổ chức trong nhà trường và phươnghướng xây dựng‟‟ của tác giả Phạm Quang Huân, Viện Nghiên cứu sư phạm,Trường ÐHSP Hà Nội Công trình đã đề cập đến các vấn đề như: văn hoá tổchức - hình thái cốt lõi của văn hoá nhà trường, những hình thái cấp độ thểhiện văn hoá tổ chức, tầm quan trọng của văn hoá tổ chức nhà trường và đềxuất một số phương hướng xây dựng văn hoá tổ chức nhà trường [13]

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị nhân lực với chủ đề “Phát triểnvăn hoá tổ chức tại Đài Tiếng nói Việt Nam” của tác giả Nguyễn Kim Ngân,Trường Đại học Lao động - xã hội, năm 2015 Trong công trình này, trên cơ

sở phân tích đối chiếu lý luận với thực tiễn theo các yếu tố cấu thành văn hoá

tổ chức; phân tích những khái niệm liên quan; những biểu hiện của văn hoá tổchức ở cả phương diện trực quan và phi trực quan; quan điểm và quy trìnhphát triển văn hoá tổ chức; Ðánh giá thực trạng duy trì và phát triển văn hoá

tổ chức tại Ðài tiếng nói Việt Nam, nhận rõ những thành tựu, những giá trị đãđạt được và phân tích chỉ ra những hạn chế tồn tại và nguyên nhân Từ đó, tác

Trang 21

giả cũng phân tích những đặc thù hiện hữu của cơ sở và gợi mở những hướngphát triển văn hoá tổ chức cho đơn vị cơ sở, đưa ra phương pháp và tiến trìnhxây dựng phù hợp, những biện pháp có sức thuyết phục, có tính khả thi vànhững kiến nghị có căn cứ khoa học nhằm phát triển văn hoá tổ chức cho đơn

vị cơ sở là Đài Tiếng nói Việt Nam [24]

Hay như nghiên cứu với chủ đề “Văn hoá tổ chức Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, của tác giả Nguyễn Viết Lộc, đăng

trên Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên san Kinh tế và kinhdoanh số 25, năm 2009 Qua nghiên cứu, tác giả nhấn mạnh tới vị trí, vai tròcủa văn hoá tổ chức trong việc tạo nên sự phát triển đột phá và bền vững cho

tổ chức nhờ phát huy được nguồn lực nội sinh và tìm kiếm, dung nạp cácnguồn lực ngoại sinh Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng ở Đại họcQuốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) - một tổ chức đặc thù gồm các tổ chức con vớinhững khác biệt về văn hoá (các trường thành viên, đơn vị trực thuộc) tạothành một tổ chức lớn, tác giả cho rằng, vấn đề xây dựng văn hoá tổ chứcĐHQGHN có vai trò rất quan trọng trong việc phát huy tính liên thông, liênkết, chia sẻ nguồn lực giữa các tổ chức con và đồng thời khắc phục những tồntại, xung đột làm ảnh hưởng, cản trở quá trình phát triển bền vững củaĐHQGHN Trên cơ sở phân tích các khái niệm và các yếu tố cấu thành vănhoá tổ chức, văn hoá tổ chức của một trường đại học, tác giả bài viết đã kháiquát được các đặc trưng cơ bản của văn hoá tổ chức ĐHQGHN để đưa ranhững vấn đề cần đặc biệt quan tâm và mô hình tham khảo cho quá trình xâydựng văn hoá tổ chức ĐHQGHN trong bối cảnh đổi mới và hội nhập [17].Hoặc có thể đề cập thêm tới đề tài Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục,Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011 của tác giả Trịnh

Ngọc Toàn, Biện pháp quản lý văn hoá tổ chức Trường Trung cấp công nghệ Hải Phòng Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý văn hoá tổ chức nói

Trang 22

chung và của nhà trường nói riêng, tác giả đã phân tích, đánh giá về thựctrạng văn hoá tổ chức và quản lý văn hoá tổ chức của Trường Trung cấp Côngnghệ Hải Phòng, từ đó, đề xuất được các biện pháp quản lý văn hoá tổ chứcTrường Trung cấp Công nghệ Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay, cụ thể: Xâydựng Quy chế văn hoá Nhà trường theo mô hình văn hoá tổ chức tích cực làmnền tảng cho sự phát triển bền vững; Đầu tư cơ sở vật chất phù hợp với môhình văn hoá tổ chức Nhà trường; Xây dựng hình ảnh Người lãnh đạo trởthành tấm gương mẫu mực về văn hoá tổ chức của Nhà trường; Thống nhấtnhận thức về văn hoá tổ chức cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và họcsinh Nhà trường; rà soát, hoàn chỉnh quy trình thủ tục làm việc của các bộphận trong trường; Tổ chức học tập nghiên cứu và huấn luyện đội ngũ cán bộ,giáo viên, nhân viên Nhà trường về nội dung và cách thức xây dựng văn hoá

tổ chức của Nhà trường; Đánh giá và thưởng, phạt công minh góp phần xâydựng và thực hiện hiệu quả văn hoá tổ chức của Nhà trường [29]

1.1.3 Nghiên cứu về quản lý sinh viên đại học

Quản lý SV đại học là chủ đề được quan tâm tương đối nhiều Liên quanđến khía cạnh này, có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:

Đề tài của tác giả Phan Thị Minh Chung với chủ đề “Biện pháp quản lý sinh viên tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp” Đề

tài đã Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề quản lý SV Khảo sát, phân tích,đánh giá thực trạng công tác quản lý SV nhằm giúp SV có cơ hội tìm kiếmviệc làm phù hợp sau tốt nghiệp Đề xuất một số biện pháp quản lý SV nhằmgiúp SV có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp [1]

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục của tác giả Phạm Đình

Lượng với chủ đề “Quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ” năm 2010 Trên

Trang 23

cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý SV ở bậc đại học và phương thức đào tạotheo tín chỉ, tác giả đã nghiên cứu thực trạng quản lý SV ở Trường Đại họcNgoại ngữ - ĐHQGHN hiện nay khi thực hiện phương thức đào tạo theo tínchỉ, đồng thời đề xuất một số biện pháp quản lý SV ở Trường Đại học Ngoạingữ - ĐHQGHN trong phương thức đào tạo theo tín chỉ [18]

Đề tài “Xây dựng và Thử nghiệm Bộ chỉ số đánh giá chất lượng hoạtđộng quản lý sinh viên tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốcgia Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hoa Qua đề tài, tác giả trình bày

cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về đánh giáchất lượng hoạt động quản lý công tác SV Đồng thời, tiến hành nghiên cứuthực trạng chất lượng hoạt động quản lý SV tại trường Đại học Khoa học Tựnhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, làm rõ những điểm mạnh và những yếu kémcòn tồn tại Từ đó, đề xuất xây dựng và khảo sát bộ tiêu chí đánh giá chấtlượng hoạt động quản lý công tác SV tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

và tiến hành thực nghiệm Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng hoạtđộng quản lý công tác SV của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và đánhgiá các kết quả đạt được [12]

Tổng hợp các nghiên cứu trên chúng ta thấy rằng, hiện nay chưa có một

đề tài nào nghiên cứu cụ thể về quản lý hoạt động tập thể của SV nội trú ởtrường Đại học từ góc độ văn hoá tổ chức Từ cơ sở này chúng tôi tập trungvào vấn đề nghiên cứu mà đề tài đã lựa chọn

1.2 Các khái niệm liên quan

1.2.1 Quản lý, quản lý nhà trường

1.2.1.1 Quản lý

Từ khi xuất hiện xã hội loài người, trước nhu cầu sinh tồn và phát triển,con người đã biết quy tụ thành bầy, thành nhóm để tồn tại và phát triển Từ

Trang 24

lao động đơn lẻ đến lao động phối hợp, phức tạp, con người đã biết phâncông, hợp tác với nhau trong cộng đồng nhằm đạt được năng suất lao độngcao hơn

Sự phân công, hợp tác đó đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điềuhành… đó chính là hoạt động quản lý Xã hội phát triển ngày càng cao thì vaitrò quản lý càng quan trọng, nội dung quản lý ngày càng phong phú và phứctạp Các Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao độngchung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần có sự chỉđạo, điều hoà những hoạt động cá nhân nhằm thực hiện những chức năngchung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận độngcủa những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiểnlấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [2, tr 480]

Với nhiều cách tiếp cận ở các góc độ kinh tế, xã hội, giáo dục các nhàkhoa học trong và ngoài nước đã đưa ra những định nghĩa tương đối đồngnhất về khái niệm về quản lý ở một số khía cạnh như sau:

- Quản lý là sự bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có biếnđổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng tháimới thích ứng với hoàn cảnh mới

- Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhânlàm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mụctiêu đã định

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, của chủ thểquản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) trên khách thể quản lý (đốitượng) Quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thốngcác luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp các biện pháp cụthể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng

Theo nhà khoa học người M W.Taylor (1856 - 1915) người được hậuthế coi là “cha đẻ của thuyết quản lý khoa học” thì “Quản lý là nghệ thuật biết

Trang 25

rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốtnhất và rẻ nhất” [3; 9]

Henry Fayol, nhà nghiên cứu người Pháp (1841 - 1925) cho rằng: “Quản

lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạtđộng: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” Ông cònkhẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cầnphải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cánhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức” [3; 9]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị M Lộc, "Quản lý là quátrình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý)đến khách thể (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vậnhành và đạt được mục đích của mình [4]

Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của ngườiquản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Tronggiáo dục nhà trường nói chung và giáo dục đại học nói riêng, đó là tác độngcủa người quản lý đến tập thể giảng viên, học sinh, SV và các lực lượng khácnhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục Bản chất của hoạt động quản

lý có thể mô hình hoá qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý

Trang 26

Trong đó:

Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức

Khách thể (đối tượng) quản lý là những con người cụ thể và sự hìnhthành tự nhiên các quan hệ giữa những con người, giữa các nhóm ngườikhác nhau

Công cụ quản lý và phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới kháchthể quản lý như: Mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ…

Phương pháp quản lý được xác định theo nhiều cách khác nhau Nó cóthể là do nhà quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và kháchthể quản lý

* Các chức năng cơ bản của quản lý

Từ những khái niệm trên, ta có thể rút ra kết luận chung về quản lý như

sau: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có mục đích, có tổ chức và

có lựa chọn của chủ thể quản lý đến đối tượng (khách thể) quản lý nhằm giữ cho sự vận hành của tổ chức được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất.

Mối liên hệ các chức năng quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:

Trang 27

Chức năng quản lý là các hoạt động xác định được chuyên môn hoá, nhờ

đó chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý Hay nói cách khác, chứcnăng quản lý là một dạng hoạt động quản lý đặc biệt thông qua đó chủ thểquản lý tác động vào khách thể (đối tượng) quản lý nhằm đạt được mục tiêunhất định Quản lý có bốn chức năng chính như sau:

- Chức năng tổ chức;

- Chức năng kế hoạch hoá;

- Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo);

- Chức năng kiểm tra

Các chức năng chính của hoạt động quản lý luôn được thực hiện liêntiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trìnhquản lý Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giaiđoạn, nó vừa là điều kiện, vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thựchiện chức năng quản lý và ra quyết định quản lý

1.2.1.2 Nhà trường

* Quan niệm:

Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt và đặc thù của xã hội, được hìnhthành do nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội nhằm thực hiện chức năngtruyền thụ các tri thức và thực hiện các nhu cầu xã hội cần thiết cho mỗi cánhân, cho từng nhóm dân cư nhất định trong cộng đồng và xã hội

Việc tổ chức và hoạt động truyền thụ và lĩnh hội tri thức được thông quaquá trình sư phạm (quá trình giáo dục được dần dần tổ chức một cách khoahọc) nhằm xây dựng và hoàn thiện nhân cách người học, đáp ứng được cácyêu cầu phát triển KT-XH trong từng giai đoạn và thời kỳ cụ thể, mà khôngmột dạng tổ chức nào trong xã hội khác với tổ chức nhà trường có thể thay thếđược nó

Trang 28

Hoạt động nhà trường có sự điều chỉnh bởi các quy định của các chếđịnh xã hội; có tính chất và nguyên lý hoạt động; có mục đích hoạt động rõràng và nhiệm vụ cụ thể; có nội dung và chương trình giáo dục được chọn lọcmột cách khoa học; có tổ chức bộ máy quản lý và đội ngũ được đào tạo; cóphương thức và phương pháp giáo dục luôn luôn được đổi mới; được cungứng các nguồn lực vật chất cần thiết; có kế hoạch hoạt động và được hoạtđộng trong môi trường (tự nhiên và xã hội) nhất định; có sự đầu tư của ngườihọc, cộng đồng, Nhà nước và xã hội; quản lý vi mô, vĩ mô của các cơ quanquản lý các cấp trong xã hội, và đặc biệt vận hành trong môi trường văn hóa(hay còn gọi là văn hóa nhà trường)

Tóm lại, có thể hiểu, nhà trường là một thiết chế chuyên biệt trong một

hệ thống tổ chức xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội loài người.

* Chức năng:

Trong bối cảnh hiện nay, nhà trường không đơn thuần chỉ là thiết chế sưphạm mà công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hìnhthành “nhân cách và nhân lực” phục vụ cho sự phát triển cộng đồng, làm giatăng hài hòa ba nguồn vốn: Vốn con người, vốn tổ chức và vốn xã hội của đấtnước Nhà trường là cầu nối của giáo dục vĩ mô (nền giáo dục, hệ thống giáodục quốc dân) với nền giáo dục vi mô (quá trình dạy học, sự phát triển nhâncách học sinh) Nó cũng là cầu nối làm cho trẻ em đi từ thế giới tình cảm củagia đình đến thế giới công việc của xã hội gặp nhiều thuận lợi, tránh đi các sựhụt hẫng căng thẳng

Nhà trường luôn nằm trong khung cảnh xã hội đầy biến động phứctạp, bị hạn chế bởi các nguồn cung cấp có hạn, lại phải giao thoa vớinhiều đối tượng: các cơ quan giáo dục, các quan chức của nhà trường,

Trang 29

các giáo viên, học sinh, SV, các bậc phụ huynh, các nhà giáo dục vàtoàn thể xã hội Mỗi đối tượng đó lại luôn có những kỳ vọng khác nhau

rõ rệt đối với chức năng và mục tiêu của nhà trường tùy thuộc vào từng

vị trí của các thành viên trong xã hội Nhưng cho dù dưới những góc độnào thì việc khai thác tính hiệu quả nhà trường đều phải dựa vào chứcnăng của nhà trường

Tuy nhiên, dù theo tiếp cận theo phương diện nào thì mục đích cơ bản của giáo dục trong nhà trường cũng đều được nhận thức chung là: Phát triển tiềm năng cho học sinh, làm cho họ trở thành những người trưởng thành có tư duy độc lập và quan tâm đến xã hội, có tri thức k năng, biết cách cư xử chín chắn, cuộc sống đầy đủ và có cống hiến tích cực cho xã hội Hay nói cách khác, chức năng của nhà trường được thể hiện qua vai trò của nó đối với mỗi cá nhân nói riêng và đối với xã hội nói chung, trong đó:

- Đối với mỗi cá nhân: nhà trường giúp mỗi cá nhân phát triển cho dù

năng lực của họ ra sao Mỗi người học được hưởng sự giáo dục đặc biệt, pháttriển những tiềm năng trong và ngoài việc học tập, bao gồm: năng lực đọchiểu, năng lực toán lý, k thuật công nghệ ứng dụng, chính trị xã hội và ýthức công dân, trong đó có cả sự trưởng thành của cá nhân và phát triển sinh

lý, văn hóa, thể thao, m thuật

- Đối với xã hội: thông qua sự giáo dục của nhà trường, các cá nhân được

bồi dưỡng thành những con người có công hiến cho xã hội, vì sự phát triển xãhội và phát triển kinh tế của đất nước

Theo góc độ khác cũng có thể chia các chức năng của nhà trườngthành 5 loại như: chức năng kinh tế, chức năng xã hội, chức năng chính trị,chức năng văn hóa và chức năng giáo dục Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài

Trang 30

này, chúng tôi không có điều kiện được đề cập và phân tích sâu về từngchức năng trên những phương diện cụ thể đó mà chỉ khái quát chức năng

cơ bản của nhà trường trên góc độ tổng thể nhất, làm cơ sở cho việc tiếp cận

về quản lý nhà trường

1.2.1.3 Quản lý nhà trường

Khi bàn về quản lý trường học, tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra địnhnghĩa về quản lý nhà trường như sau: “Quản lý nhà trường là thực hiện đườnglối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa trường vận hànhtheo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đốivới ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [8,tr.1-3]

Bản chất của quản lý trường học là quản lý những tổ chức có chức năng

tổ chức và thực hiện các hoạt động giáo dục nhằm đạt tới mục đích giáo dục

và được hiểu trên hai phương diện:

- Quản lý các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đối với các nhàtrường (bao hàm ý nghĩa nhà trường là một trong những hệ con của hệ thốnggiáo dục quốc dân) Hay còn gọi là 1uân lý một tổ chức trong xã hội và cụ thể

do cấp trên trường thực hiện và đó là lý do ra đời Mô hình quản lý dựa vàonhà trường

Trang 31

Tuy nhiên, mỗi nhà trường còn được quản lý bởi bộ máy bên trongtrường do hiệu trưởng đứng đầu Đó là quản lý nhà trường tại cấp trường, hayquản lý bên trong trường Thông thường, quản lý nhà trường thường đượchiểu theo nghĩa này nhưng trên thực tế, quản lý trường học tại cấp trường vừa

có tính chủ động, độc lập tương đối tùy theo cơ chế phân cấp cụ thể, songchính nó vẫn chịu sự chi phối tác động quản lý từ các cấp trên trường Cả bộmáy quản lý cấp trường hoàn toàn do các cấp trên trường bổ nhiệm hoặc bãimiễn Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường về bản chất là một

Cho nên nội dung quản lý giáo dục nói chung và nội dung quản lý nhàtrường nói riêng nhìn chung đều như nhau, chỉ khác về quy mô Bao gồm:

1 Quản lý tài chính giáo dục

2 Quản lý cơ sở vật chất, hạ tầng k thuật (tài sản vật chất)

3 Quản lý nhân sự (cán bộ, công chức, nhân viên, giáo viên, học sinh, SV)

4 Quản lý chuyên môn (chương trình, hoạt động giảng dạy, hoạt độnghọc tập, phát triển nguồn nhân lực giảng day và quản lý, các hoạt động nghiêncứu và phát triển khác)

5 Quản lý môi trường (tự nhiên, văn hóa-xã hội)

6 Quản lý các quan hệ giáo dục của ngành giáo dục với các thiết chế xãhội khác (Đoàn, Đội, Công đoàn, các hội nghề nghiệp, các hội chính trị-xãhội, gia đình, học sinh, cộng đồng dân cư)

Trong mỗi một nội dung quản lý đều luôn có hai mặt gắn liền với nhau làquản lý hành chính sự vụ (Administration) và quản lý chất lượng(Quality Management)

Theo nghĩa một tổ chức,nhà trường được quản lý giống như mọi tổ chứckhác nhưng có đặc điểm chuyên môn của mình là giáo dục Bản chất của quản

lý nhà trường lúc này gây ảnh hưởng, định hướng và phát triển tổ chức trườngtheo mục tiêu và giá trị đã định, dựa trên việc xác định tầm nhìn, sứ mệnh,

Trang 32

nhiệm vụ chiến lược, huy động và sử dụng các nguồn lực tạo dựng tên tuổi(thương hiệu ) và quản lý văn hóa nhà trường.

Từ những phân tích trên, có thể khái quát chung quan niệm về quản lý

nhà trường, như sau: Quản lý nhà trường là quản lý giáo dục tại cấp cơ sở trong đó chủ thể quản lý là các cấp chính quyền và chuyên môn trên trường, các nhà quản lý trong trường do hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lý chính là nhà trường như một tổ chức chuyên môn - nghiệp vụ, nguồn lực quản

lý là con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính, đầu tư khoa học - công nghệ và thông tin bên trong trường và được huy động từ bên ngoài trường dựa vào các quy định của pháp luật, chính sách, cơ chế và tiêu chuẩn hiện có.

1.2.2 Hoạt động tập thể, quản lý hoạt động tập thể

1.2.2.1 Hoạt động tập thể

Hoạt động là phương thức tồn tại của con người với nhiều loại hình như:Hoạt động xã hội, hoạt động gia đình, hoạt động vui chơi, giải trí, hoạt độnghọc tập, hoạt động lao động, hoạt động nghỉ ngơi Bằng các hoạt động này

và trong các hoạt động tập thể này, mỗi cá nhân có điều kiện hình thành vàphát triển năng lực, tính cách, đạo đức của bản thân Hay nói cách khác, bằnghoạt động tập thể và trong hoạt động với tập thể, mỗi cá thể người tự sinh ramình và tự tạo ra nhân cách của mình

Hoạt động là quá trình con người thực hiện các mối quan hệ giữa mìnhvới thế giới tự nhiên và thế giới xã hội, giữa mình và người khác, giữa mìnhvới bản thân Trong quá trình đó, con người bộc lộ tâm lý năng lực, ý chí,mong muốn, tính nết ra bên ngoài Trong lao động thì đó là quá trình chuyểnnăng lực người thành sản phẩm lao động Trong quan hệ xã hội thì con ngườichuyển quan hệ với người khác vào thế giới nội tâm, tạo nên tâm lý, nhâncách của bản thân

Trang 33

Trong lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục ở các trường đại học nóiriêng, hoạt động tập thể có thể được hiểu là những hoạt động do tập thể côngđoàn, nhà trường, đoàn thanh niên, hội SV, các hội nhóm và cũng có thể lànhững hoạt động do chính quyền tổ chức, phát động mà SV hưởng ứng thamgia Tuỳ thuộc vào từng hoạt động mà chủ thể được phân cấp khác nhau tronglãnh đạo và quản lý; nó có thể là cấp Ban Giám hiệu (hiệu trưởng), cấpphòng, ban, khoa; hoặc các cấp trung gian khác Cuối cùng là cấp cá nhân docác cá nhân tự quản lý hoạt động của mình.

Các hoạt động tập thể này cũng được thể hiện ở nhiều hình thức đa dạngkhác nhau, có thể là các hoạt động tập thể có tầm ảnh hưởng rộng như: cácphong trào xây dựng và bảo vệ tổ quốc, giữ gìn trật tự, cứu trợ đồng bào bịảnh hưởng bởi thiên tai, phòng chống ma tuý, bảo vệ môi trường và cácphong trào thi đua yêu nước, Hoặc có thể là các hoạt động tập thể mang tínhhội, nhóm như: các hội, học tập, hội tình nguyện giúp đỡ các đối tượng bịthiệt thòi, yếu thế, vùng khó khăn, Đặc biệt, hoạt động tập thể trong môitrường giáo dục còn là các hoạt động tập thể đặc trưng với mục đích tổ chứchọc tập ở các nhóm, khối, lớp

Ở một phương diện khác, hoạt động tập thể của SV có thể được phânloại ở các dạng hoạt động cơ bản như sau:

(1) Hoạt động tập thể do các tổ chức thuộc nhà trường (như: nhà trường,công đoàn, đoàn thanh niên, hội SV, lớp, tổ, nhóm học tập, hội ) tổ chức:Các hoạt động này chủ yếu diễn ra trong nội bộ trường học, cũng có thể cócác hoạt động diễn ra ngoài phạm vi nhà trường nhưng mục đích chính vẫn lànhằm phục vụ mục đích học tập và phát triển k năng cho SV)

(2) Hoạt động tập thể do các tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội

và các tổ chức bên ngoài nhà trường phát động hoặc phối hợp với nhà trường

tổ chức: Các hoạt động tập thể này là các hoạt động mang ý nghĩa chính trị,

xã hội giúp nâng cao ý thức trách nhiệm của công dân (cá nhân), góp phần

Trang 34

xây dựng quan hệ xã hội tốt đẹp do các tổ chức đó hướng tới Nội dung củacác hoạt động tập thể này có thể tập trung vào xây dựng phong trào bảo vệ tổquốc, xây dựng và phát triển kinh tế, giữ gìn an ninh trật tự, cứu trợ đồng bào,xây dựng tình đồng hương, ngăn chặn các tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường,

Trên cơ sở các lập luận trên, chúng tôi cho rằng: “Hoạt động tập thể là quá trình tổ chức tác động có chủ đích giữa chủ thể đến đối tượng là các thành viên tham gia tập thể thông qua hệ thống phương tiện hoạt động nhằm đạt được mục đích hoạt động đề ra”.

Việc tham gia vào các hoạt động tập thể một cách tích cực sẽ giúp các cánhân mở rộng hiểu biết về xã hội, r n luyện được các k năng cần thiết chobản thân và góp phần xây dựng được một tập thể lành mạnh, đoàn kết và pháttriển

1.2.3 Văn hoá, văn hóa tổ chức

1.2.3.1 Văn hoá

Thuật ngữ “văn hoá” là một danh từ có ý nghĩa chuyên môn trong khoahọc xã hội, nhưng trong thực tế thường được dùng với những ý nghĩa khôngchuyên môn Trong tiếng Việt, thuật ngữ “văn hoá” cũng được sử dụng vớinhiều nghĩa, có lúc nó dùng để chỉ những phong cách ứng xử giữa các cánhân mà tương ứng với các chuẩn mực, giá trị của xã hội Khi khác, nó chỉnhững người có học Trong trường hợp này, văn hoá được hiểu như trình độhọc vấn Hoặc văn hoá còn được sử dụng để chỉ các loại hình nghệ thuật nhưhội hoạ, điêu khắc, phim ảnh và các loại hình mang tính giải trí khác

Trang 35

Về mặt thuật ngữ khoa học, “văn hoá” được bắt nguồn từ chữ Anh

"Cultus" mà nghĩa gốc là gieo trồng được dùng theo nghĩa Latinh Cultus Agri

là "gieo trồng ruộng đất" và Culus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sựgiáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người Hoặc theo nhà triết học người AnhThomas Hobbes (1588 - 1679): Lao động dành cho đất gọi là sự gieo trồng và

sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh thần"[7, tr.243-244]

Dần sự gieo trồng nhân ý nghĩa là sự văn hoá hay cái văn hoá mà trongquá khứ thường được đặc trưng bởi hải quan niệm truyền thống khác biệtnhau Trong khi truyền thống Đức coi văn hoá là "môi trường nhân tạo" là

"bản chất thứ hai" thì truyền thống Pháp coi văn hoá bao gồm những thànhquả cao nhất của con người trong lĩnh vực hoạt động chế tạo - k thuật, giáodục - đào tạo, khoa học và nghệ thuật

Ngày nay, có nhiều tác giả đã thống kê được hàng trăm cách xác địnhkhoa học khác nhau về văn hoá và hầu hết những xác định này xuất hiện vàonhững năm 20 của thế kỷ XX Điều đó cho thấy, các học giả đã quan tâm rấtnhiều đến vấn đề văn hoá và văn hoá được tiếp cận từ rất nhiều các lĩnh vựckhoa học, lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, chẳng hạn:

Các nhà tâm lý học xem xét văn hoá từ góc độ tác động của nó đến cánhân trong quá trình xã hội hoá và "văn hoá là toàn thể những thần học chophép cá nhân trong một xã hội nhất định đạt tới sự phát triển nào đó về cảmnăng, về ý thức phê phán và các năng lực nhận thức, các khả năng sáng tạo "(Jean Ladiere, UNESCO, 1977)

Còn theo các nhà triết học thì "văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất,tinh thần do con người tạo ra trong quá trình thực tiễn lịch sử xã hội và đặctrưng cho trình độ đạt được trong sự phát triển lịch sử của xã hội" (Từ điểnTriết học, tiếng Bungari, 1986) [7, tr 244]

Trang 36

Hơn một thế kỷ trước một học giả người Anh là E.B.Tylor đã định nghĩa:

“văn hoá là toàn bộ phức hợp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạođức, luật pháp, phong tục và các khả năng khác cùng tập quán do con ngườithu thập được với tư cách là tập đoàn xã hội” Theo cách định nghĩa này thìnơi nào có dân chúng, có các tập đoàn xã hội là có văn hoá [7, tr 244]

Dưới gốc độ xã hội học thì “văn hoá là sản phẩm của con người, là cáchquan niệm cuộc sống, tổ chức cuộc sống và sống cuộc sống ấy Văn hoá là đểđáp ứng những nhu cầu nhất định của con người, là con người hoá" chính bảnthân mình và tự nhiên Theo cách này, văn hoá đặc trưng cho một xã hội nhấtđịnh và đem lại diện mạo, bản sắc riêng của nó

Tuy nhiên, văn hoá cũng có những đặc trưng phổ quát cho toàn loại Conngười sống trong một xã hội nhất định và có chung một nền văn hoá Văn hoá

là cái mà xã hội tạo ra và sử dụng Theo cách nhìn nhận này thì văn hoákhông phải là đoàn thể, cũng không phải là xã hội Những con người sốngthành đoàn thể đều có hệ thống những tác phong, những định chế, họ có mộtnền văn hoá

Văn hoá là hệ thống di sản chung của xã hội Mọi người thể hiện văn hoácủa mình trong trang phục, ăn uống, công việc và trong hàng loạt các hoạtđộng khác

Văn hoá bao gồm tất cả những sản phẩm của con người và như vậy, vănhoá bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ,

tư tưởng, giá trị …và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phươngtiện Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của vănhoá

Như vậy, trong xã hội học, văn hoá có thể được xem xét như hệ thống

"các giá trị, chân lý, mục tiêu và chuẩn mực mà con người cùng thống nhất với nhau trong quá trình tương tác và trải qua thời gian" [7, tr.245].

Trang 37

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng khái niệm văn hoá được tiếpcận từ xã hội học và với định nghĩa nêu trên làm cơ sở để nghiên cứu cácvấn đề liên quan.

Khi nói đến văn hóa, chúng ta thường đề cập đến cơ cấu của văn hoá.Đây là hệ thống mà chứa đựng trong đó hàng loạt các thành tố tạo nên mộtnền văn hoá Giữa các thành tố tạo nên một nền văn hoá này có liên kết chặtchẽ với nhau và sự thay đổi một trong các thành tố đó đều kéo theo sự thay đổicác thành tố khác Về các thành tố tạo nên một nền văn theo ý kiến của một sốtác giả, thì bao gồm chân lý, giá trị, mục tiêu và chuẩn mực [7, tr.248], trongđó:

(1) Chân lý: Là tri thức phù hợp với hiện thực khách quan và được thực

tế kiểm nghiệm Từ khía cạnh xã hội học, chân lý là những quan niệm về cáithật và cái đúng Chính vì lẽ đó mà xã hội, mỗi nền văn hoá có những cái thật,cái đúng khác nhau Điều này có nghĩa có những cái mà nền văn hoá này coi

là chân lý thì có thể ở nền văn hoá khác lại bị phủ nhận

Một cá nhân không thể xây dựng được chân lý Chân lý chỉ có thể đượchình thành thông qua nhóm người Cá nhân qua tiếp xúc, tương tác với nhómnhỏ, nhóm lớn hình thành những ý kiến cho là đúng, là thật ngày càng có tínhkhách quan hơn, càng gần với hiện thực hơn Như vậy, văn hoá là toàn bộ cácchân lý

Chân lý luôn luôn là cụ thể vì cái khách quan hiện thực luôn là nguồngốc của nó Những sự vật, những quá trình cụ thể của xã hội, con người luôntồn tại không tách rời những điều kiện khách quan lịch sử cụ thể Những điềukiện khách quan thay đổi thì chân lý khách quan thay đổi

Mỗi dân tộc đều có những hoàn cảnh lịch sử khác nhau và vì vậy trongnền văn hoá của họ có các bộ phận chân lý khác nhau Ngay với một dân tộc

ở các thời điểm lịch sử khác nhau thì cũng có các chân lý khác nhau

(2) Giá trị: Là cái mà ta cho là đáng có, mà ta thích, ta cho là quan

trọng để hướng dẫn cho hành động của ta

Trang 38

Cũng giống như văn hoá, khó có một xác định nào mô tả đầy đủ phạm vi

và tính đa dạng của những hiện tượng giá trị được thừa nhận Và với tư cách

là sản phẩm của văn hoá và thuật ngữ giá trị có thể quy vào những mối quantâm, thích thú, những ưa thích, những sở thích, những bổn phận, những tráchnhiệm, những ước muốn, những nhu cầu, những ác cảm, những lôi cuốn vànhiều hình thái khác nữa của định hướng lựa chọn

Một trong những định nghĩa khác được chấp nhận rộng rãi trong khoahọc xã hội là coi giá trị như những quan niệm về cái đáng mong muốn ảnhhưởng tới hành vi lựa chọn Trong cách nhìn rộng rãi hơn thì bất cứ cái gì tốt,xấu đều là giá trị hay giá trị là điều quan tâm của chủ thể

Như vậy, mọi giá trị dường như chứa đựng một số yếu tố nhận thức.Chúng có tính chất hướng dẫn và lựa chọn Chúng cũng gồm những yếu tốtình cảm, vì chúng thể hiện những gì mà chúng ta thấy cần bảo vệ Khi đượcnhận thức một cách công khai, đầy đủ giá trị trở thành tiêu chuẩn cho sự ưathích, lựa chọn và phán xét

Phần lớn các giá trị căn bản của xã hội được con người tiếp nhận ngaykhi còn nhỏ thông qua gia đình, nhà trường, bạn b , thông qua các nguồnkhác nhau của xã hội Những giá trị này trở thành một phần của nhân cáchcon người Một số người có những tập hợp giá trị duy nhất và các giá trị đóđược chia sẻ, củng cố bởi những người khác có quan hệ với họ Vì giá trị chỉ

ra cái gì là phù hợp, cái gì không phù hợp với cá nhân, với cộng đồng và xãhội, nên chúng đồng thời chấp nhận những kiểu hành vi nào đó phủ nhậnnhững hành vi khác

Giá trị ảnh hưởng đến động cơ và hướng dẫn cho hành động của conngười, vì thế có thể nhìn người ta hành động mà đoán được giá trị của người

ta Tuy nhiên trong một số trường hợp, giá trị và hành động không nhất quánvới nhau

Trang 39

Giá trị là cái có thực và tồn tại trong hiện thực Giá trị phụ thuộc trựctiếp vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng xã hội, vì vậy phải xem xét giá trịtrong những điều kiện xã hội cụ thể Mỗi xã hội, mỗi nền văn hoá có các hệgiá trị khác nhau Một xã hội có thể đề cao giá trị độc lập tự chủ, xã hội khácthì có thể lại đề cao giá trị của sự tuân thủ và phục tùng Hệ giá trị của một xãhội là phương hướng phấn đấu cho toàn xã hội.

Ở mỗi cá nhân thường có các hệ giá trị ưu tiên và luôn nhấn mạnh cácloại giá trị này hơn giá trị khác Luôn luôn có mâu thuẫn giá trị Khi các giátrị căn bản mâu thuẫn thì người ta thường xếp chúng theo thứ bậc của mức độquan trọng và hành động theo những giá trị quan trọng nhất

(3) Mục tiêu: Là một trong những yếu tố cơ bản của hành vi và sự hành

động có ý thức của con người Mục tiêu được coi như sự dự đoán trước kếtquả của hành động Đó là cái đích thực tế cần phải hoàn thành

Con người tổ chức mọi hành động của mình xoay quanh những cái đíchthực tế đó Mục tiêu có khả năng hợp tác những hành động khác nhau của conngười vào trong một hệ thống, kích thích đến sự xây dựng phương án cho cáchành động Thực tế, tồn tại mục tiêu cá nhân và mục tiêu chung (cộng đồng

xã hội)

Mục tiêu chung sinh ra bằng hai con đường: qua sự đồng ý lẫn nhau củacác mục tiêu cá nhân trong nhóm, qua sự trùng nhau của một vài mục tiêu cánhân của các thành viên trong nhóm Mục tiêu là một bộ phận của văn hoá vàphản ánh văn hoá của một dân tộc

Mục tiêu chịu sự ảnh hưởng mạnh của giá trị Giá trị thế nào thì dễ sinh

ra mục tiêu như thế, không có giá trị thì cũng không có mục tiêu, giá trị gắn bóvới mục tiêu Tuy nhiên mục tiêu là khác với giá trị Trong khi giá trị cũngnhằm vào một cái gì đó nhưng nặng về mục đích tư tưởng, có hướng dẫn thìthì mục tiêu lại nhằm vào cái gì đó nhưng phải là cái cụ thể mà con người tổchức hành động

Trang 40

Các tổ chức xã hội tồn tại được là do sự tương tác của các thành viên khicùng nhau chia sẻ những mục tiêu và giá trị chung Mục tiêu và giá trị tạo racon người hành động, tạo ra sự tồn tại của tổ chức xã hội Đến lượt mình tổchức xã hội tập hợp các cá nhân, biến mục tiêu, giá trị cá nhân trở thành mụctiêu, giá trị của tổ chức Khi giá trị và mục tiêu không thống nhất thì tổ chức

xã hội suy yếu Vì vậy, muốn củng cố tổ chức xã hội phải củng cố giá trị vàmục tiêu

(4) Chuẩn mực: Là tổng số những mong đợi, những yêu cầu, những quy

tắc của xã hội được ghi nhận bằng lời, bằng ký hiệu hay bằng các biểu trưngcho hướng cơ bản đối với các hành vi của thành viên trong xã hội Nhữngmong đợi, những yêu cầu, những quy tắc xã hội đó là xác định rõ cho mọingười những việc nào nên làm và những việc nào không nên làm và cần phải

xử sự như thế nào cho đúng trong các tình huống xã hội khác nhau

Chuẩn mực được đưa ra với sự cân nhắc của cơ cấu xã hội, của quyền lợinhóm, của hệ thống các mối quan hệ giữa các thành viên của xã hội về cáikhông mong muốn và không được phép Chuẩn mực thực hiện chức năng liênkết, điều chỉnh, duy trì quá trình hoạt động của xã hội như là hệ thống của cácmối quan hệ tác động lẫn nhau của các cá nhân và các nhóm xã hội

Phạm vi của chuẩn mực là rất rộng, gồm những đạo luật, những quy tắcchặt chẽ nhất cho đến những quy định lỏng lẻo giữa một số người với nhau.Tuy nhiên, giữa chuẩn mực và giá trị có sự phân biệt đáng kể Nếu giá trị lànhững quan niệm khá trừu tượng về cái quan trọng, cái đáng giá thì chuẩnmực là các tiêu chuẩn, quy ước, hướng dẫn và chờ đợi đối với hành vi thực tếcủa con người Giá trị ít bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh hơn, có tính khái quáthơn, còn chuẩn mực thường liên kết các giá trị với các sự kiện thực tế

Ví dụ, "trung thực" là giá trị xã hội chung thì không gian lận trong thi cửđối với SV, không trốn thuế đối với giới kinh doanh là các chuẩn mực

Ngày đăng: 24/04/2019, 09:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thị Minh Chung (2010),“Biện pháp quản lý sinh viên tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp”, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Biện pháp quản lý sinh viên tạiTrường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm giúpsinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp”
Tác giả: Phan Thị Minh Chung
Năm: 2010
4. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị M Lộc (1996), Lý luận đại cương về quản lý, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận đại cương vềquản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị M Lộc
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
6. Đoàn Trung Dung (2011), Các giải pháp quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của sinh viên nội trú trường đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc s khoa học giáo dục Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp quản lý hoạt động ngoài giờlên lớp của sinh viên nội trú trường đại học Khoa học tự nhiên - Đại họcQuốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đoàn Trung Dung
Năm: 2011
8. Phạm Minh Hạc (2010), “Nhà trường Việt Nam trong một nền giáo dục mang đậm bản sắc dân tộc”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, Số 52/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà trường Việt Nam trong một nền giáodục mang đậm bản sắc dân tộc”, "Tạp chí Khoa học Giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Năm: 2010
9. Hoàng Văn Hải chủ biên (2010), “Quản trị chiến lược”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị chiến lược
Tác giả: Hoàng Văn Hải chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bảnĐại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
10. Tạ Ngọc Hải (2017), Khái niệm, phân loại và các đặc trưng cơ bản của tổ chức từ giác độ khoa học tổ chức nhà nước, Trang thông tin Viện Khoa học tổ chức nhà nước, h t tp : / / is os . g o v . v n , ngày 23/6/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm, phân loại và các đặc trưng cơ bảncủa tổ chức từ giác độ khoa học tổ chức nhà nước
Tác giả: Tạ Ngọc Hải
Năm: 2017
11. Trịnh Văn Hải (2006), “Các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống ma tuý trong tập thể SV Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định”, chuyên ngành Quản lý giáo dục, Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp quản lý hoạt động phòngchống ma tuý trong tập thể SV Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật NamĐịnh
Tác giả: Trịnh Văn Hải
Năm: 2006
12. Nguyễn Thị Hồng Hoa (2013), Xây dựng và Thử nghiệm Bộ chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động quản lý sinh viên tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Đo lường và đánh giá trong giáo dục - Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và Thử nghiệm Bộ chỉ sốđánh giá chất lượng hoạt động quản lý sinh viên tại Trường Đại học Khoahọc Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hoa
Năm: 2013
13. Phạm Quang Huân, Văn hoá tổ chức trong nhà trường và phương hướng xây dựng, Viện Nghiên cứu sư phạm, Trường ÐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá tổ chức trong nhà trường và phươnghướng xây dựng
14. Nguyễn Việt Hùng (2014), Quản lý sinh viên nội trú tại Trung tâm hỗ trợ sinh viên - Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh hiện nay, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sinh viên nội trú tại Trung tâmhỗ trợ sinh viên - Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh hiện nay
Tác giả: Nguyễn Việt Hùng
Năm: 2014
15. Đặng Thị Diệp Linh (2011), Quản lý hoạt động ngoại khoá của Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, Luận văn thạc sĩ thạc sĩ quản lý giáo dục, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động ngoại khoácủa Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Tác giả: Đặng Thị Diệp Linh
Năm: 2011
16. Nguyễn Thu Linh (2004), Văn hoá tổ chức - Lý thuyết, thực trạng và biện pháp phát triển văn hoá tổ chức ở Việt Nam, Đề tài khoa học Học viện Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá tổ chức - Lý thuyết, thực trạng vàbiện pháp phát triển văn hoá tổ chức ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thu Linh
Năm: 2004
17. Nguyễn Viết Lộc (2009), “Văn hoá tổ chức Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới và hội nhập”, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và kinh doanh 25, tr.230-238 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá tổ chức Đại học Quốc gia Hà Nộitrong bối cảnh đổi mới và hội nhập”, "Tạp chí Khoa học
Tác giả: Nguyễn Viết Lộc
Năm: 2009
18. Phạm Đình Lượng (2010), Quản lý sinh viên ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sinh viên ở Trường Đại họcNgoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với yêu cầu đào tạo theo tínchỉ
Tác giả: Phạm Đình Lượng
Năm: 2010
19. Phạm Thị Ly (2015), Văn hoá tổ chức nền tảng của sự thay đổi, Bản tin Đại học Quốc gia, Số 291 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá tổ chức nền tảng của sự thay đổi
Tác giả: Phạm Thị Ly
Năm: 2015
20. Đinh Thị Tuyết Mai (2003) Các biện pháp tăng cường quản lý đời sống sinh viên nội trú Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp tăng cường quản lý đờisống sinh viên nội trú Đại học Quốc gia Hà Nội
21. Đặng Thị Minh (2014), Chính sách phát triển trường đại học tư thục ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, tr.37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển trường đại học tư thụcở Việt Nam
Tác giả: Đặng Thị Minh
Năm: 2014
22. Nguyễn Tuấn Minh (2017), “Vận dụng lý thuyết quản lý chất lượng toàn bộ để nâng cao hiệu quả điều hành hành chính và cung ứng dịch vụ công”, Tạp chí QLNN, số tháng 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lý thuyết quản lý chất lượngtoàn bộ để nâng cao hiệu quả điều hành hành chính và cung ứng dịch vụcông”", Tạp chí QLNN
Tác giả: Nguyễn Tuấn Minh
Năm: 2017
23. Tạ Minh (2015), Giáo trình xã hội học Đại cương, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học Đại cương
Tác giả: Tạ Minh
Nhà XB: NXB Đại họcQuốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
24. Nguyễn Kim Ngân (2015), Phát triển văn hoá tổ chức tại Đài Tiếng nói Việt Nam, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị nhân lực, Trường Đại học Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hoá tổ chức tại Đài Tiếngnói Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Kim Ngân
Năm: 2015

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w