1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO TRÌNH dieu duong tham hoa 1

145 171 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 3,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu10:Anhchịhãytrìnhbàytómtắtcáckỹthuậtđánhgiáthểchấtcầncótrongđiềudưỡngthảmhoạ ?1.Kiểmtratìnhtrạnghôhấp:Saukhipháthiệnnạnnhân, trướctiêntiếnhànhquansátxemnạnnhâncònhôhấp hay không. Cáchquansátlàcúisátmặtnạnnhân, tiếnhànhđồngthờithaotác “nhìn” chuyểnđộnglồngngực, “nghe” âmthanhthở, “cảmnhận” hơithởbằngmá (Hình 7). Nếunạnnhânkhôngcònthở, dùngthủthuậtngửađầunângcằmđểmởđườngthởchonạnnhân, kiểmtralạitìnhtrạnghôhấplầnnữa.NếuđườngthởđượcmởmànạnnhânvẫnkhôngcódấuhiệuhôhấpthìđeothẻĐen

Trang 1

International Cooperation Initiative Programme Ministry of Education, Culture, Sports, Science and Technology, Japan

Disaster Nursing

The Japanese Red Cross Kyushu International College of

Nursing in cooperation with The Nam Dinh University of Nursing

Trang 3

Chương 1:

Quản lý thảm hoạ

Tomoko Uemura, Etsuko Kita Japanese Red Cross Kyushu International College of Nursing

Trang 5

Quản lý thảm hoạ là quá trình mang tính

hệ thống, tận dụng nguồn lực có được từ chính

sách gồm cả khả năng thích ứng của khu vực

và từng cá nhân, kể cả mọi hoạt động có thể

có để giảm thiểu thiệt hại

Ngay từ đầu quản lý thảm hoạ vốn dĩ là lĩnh

vực thuộc phạm vi rộng nhưng tiêu điểm trong

cuốn sách này chúng tôi đề cập chủ yếu vào việc

điều trị, điều dưỡng trong thảm hoạ Để hiểu rõ

vai trò của điều dưỡng khi thảm hoạ và và hoàn

tất vai trò đó thì việc biết và lường trước được

đặc tính cuả thảm hoạ rất quan trọng

I Thảm hoạ là gì?

1 Định nghĩa về thảm hoạ

Hễ nói đến thảm hoạ thì nhiều người nghĩ

ngay đến các thảm hoạ thiên nhiên như động

đất, bão tố … nhưng không phải hiện tượng

thiên nhiên = thảm hoạ Không hẳn cứ động

đất xảy ra là phát sinh thảm hoạ Các hiện

tượng thiên nhiên như động đất … là nguyên

nhân gây ra thảm hoạ còn bản thân nó không

phải là thảm hoạ Người ta gọi các hiện tượng,

tình trạng trở thành nguyên nhân của thảm hoạ

là hiểm hoạ (Hazard) Ngoài các hiện tượng

thiên nhiên như động đất, bão kèm theo mưa

lớn thì thảm hoạ còn bao gồm cả các vụ hoả

hoạn ở quy mô lớn, tai nạn cháy nổ, tai nạn tàu

hoả, tai nạn máy bay… Ngoài ra, các cuộc

chiến tranh, xung đột, các hành động khủng

bố, cùng với các bệnh truyền nhiễm dẫn tới

các nạn dịch có quy mô toàn cầu HIV- AIDS,

hội chứng hô hấp cấp tính nặng (Sars), cúm

gia cầm xảy ra ở nơi này nơi kia trên thế giới

cũng được coi là hiểm hoạ

Mối hiểm hoạ được Liên hiệp quốc định

nghĩa: “các hiện tượng thiên nhiên bất thường,

hiếm có, tình trạng mang tính hành vi của con

người trở thành nguyên nhân của thảm hoạ làmảnh hưởng xấu đến tính mạng, tài sản, xã hội.”1Còn thảm hoạ được định nghĩa như thếnào? Tại Nhật Bản, trong “Luật căn bản đốisách thảm hoạ” - bộ luật làm nền tảng đối phóvới thảm hoạ - thì thảm hoạ được định nghĩa là

“các thiệt hại sinh ra do các nguyên nhân đượcquy định theo sắc lệnh3 của chính quyền tươngứng với các hiện tượng tự nhiên bất thường2như bão, siêu bão, mưa lớn, bão tuyết, lụt lội,thuỷ triều dâng, động đất, sóng thần, núi lửa…hoặc các vụ hoả hoạn ở quy mô lớn, các vụ nổtuỳ ở mức độ thiệt hại mà chúng gây ra Địnhnghĩa về thảm hoạ được sử dụng trên quy môtoàn cầu - theo S.W.E.Gunn4 : đó là tình trạngthảm khốc đột ngột phát sinh với quy mô tớimức mà khu vực bị thảm hoạ cần những nỗ lựcphi thường để đối phó với nó và cần sự việntrợ từ những khu vực ngoài vùng thiệt hại”.Ngoài ra Liên hiệp quốc với tư cách là cơ quantiến hành nghiên cứu và điều tra các thảm hoạthì định nghĩa “thảm hoạ là sự tàn phá trầmtrọng vượt quá năng lực đối phó nếu chỉ bằngnguồn lực tự có ở khu vực bị thiệt hại, là sự tànphá nghiêm trọng vận hành xã hội mang đếnnhững tổn thất lớn về người, về của, về môitrường trên phạm vi rộng”5 Còn tổ chức sứckhoẻ thế giới (WHO) định nghĩa “thảm hoạ làhiện tượng đột nhiên, gây ra thiệt hại nặng nềđối với môi trường sống, cần có sự trợ giúp từcác khu vực ngoài vùng thảm hoạ”6

Có thể nói nhìn từ các định nghĩa như trên thìThảm hoạ là các hiện tượng tự nhiên dị thườnghoặc những sự kiện mà hành vi của con người lànguyên nhân, là tình trạng phát sinh các thiệt hạimang lại những ảnh hưởng to lớn đến sinh mạng,hoặc sức khoẻ, cuộc sống của mọi người, ngoài

ra còn làm ảnh hưởng đến tinh thần con người.Đối với những thiệt hại này thì

Trang 6

6 Chương 1

việc khu vực gặp thiệt hại tự đối phó thì sẽ gặp

khó khăn nên cần những chi viện từ những

vùng khác không bị thiệt hại

Nói tóm lại thảm hoạ là gì?

Là các hiện tượng tàn phá khủng khiếp

hệ sinh thái ở mức độ khủng khiếp không có

gì so sánh được vượt quá khả năng đối phó

của vùng gặp thiệt hại và cần có sự chi viện

ở bên ngoài

Mối nguy hiểm trở thành nguyên nhân của

thảm hoạ Nhưng không hẳn là cứ tồn tại mối

nguy hiểm là sẽ phát sinh thảm hoạ(tuy vậy có

mối nguy hiểm thì thảm hoạ sẽ phát sinh) Ví

dụ: cùng một cơn bão có cường độ mạnh hay

mưa to gió lớn xảy ra ở khu vực không có con

người sinh sống nó không ảnh hưởng đến

cuộc sống và sinh hoạt của mọi người Trường

hợp này không được coi là thảm hoạ Như vậy,

thảm hoạ phát sinh phụ thuộc vào mối quan hệ

của các yếu tố mối nguy hiểm và địa điểm phát

sinh mối nguy hiểm đó xảy ra ở nơi mọi người

sinh sống Vấn đề là ở chỗ tính chất dễ bị tổn

thương, dễ bị nguy hiểm ở nơi mà con người

sinh sống và cộng đồng xã hội Tính dễ bị tổn

thương của cộng đồng xã hội là cộng đồng xã

hội chuẩn bị đối phó ở mức độ nào đối với các

tình huống trở thành nguyên nhân thảm hoạ

Mối nguy hiểm (Hazard) là các hiện

tượng thiên nhiên hoặc là các tình huống

do con người gây ra đe doạ đến tính mạng,

tài sản, môi trường sống của con người

Tính dễ bị tổn thương

(Vulunnerability) là mức độ bất lợi về sinh

mạng và cuộc sống khi mối nguy hiểm phát

sinh Tính dễ bị tổn thương có thể giảm

nhẹ bằng việc tăng cường năng lực đối phó

của con người và xã hội

Hỉnh 1 Mối nguy hiểm và thảm hoạ 1) Tính dễ bị tổn thương của xã hội

Có hai nhân tố trong tính dễ bị tổn thương(Tham khảo bảng 1) Một là nhân tố mang tính

tự nhiên Hai là nhân tố mang tính xã hội

(1) Nhân tố mang tính tự nhiên

Nhân tố mang tính tự nhiên là gì? là tìnhtrạng thảm hoạ dễ phát sinh do các điều kiện

tự nhiên như địa hình, địa chất, khí tượng, khíhậu…

Ví dụ: Nhật Bản nằm trên vành đai núi lửaThái Bình Dương và nằm trên đường ranh giớicủa các mảng kiến tạo Thái Bình Dương vì thếNhật Bản là nước thường xuyên xảy ra độngđất Khi thì động đất do các mảng kiến tạochìm xuống, khi thì động đất do các mảng kiếntạo dịch chuyển dẫn đến sự đứt gãy gây ra

Hỉnh 2 - Bản đồ mảng kiến tạo

và động đất trên thế giới

(Website về phòng chống thảm họa Phủ nộicác: Động đất tại đất nước chúng tahttp://www.bousai.go.jp/jishin/chubou/taisaku_

gaiyou/pdf/hassei-jishin.pdf)

Trang 7

Quản lý Thảm họa 7

(2) Nhân tố mang tính xã hội

Nhân tố mang tính xã hội là việc dễ bị tổn

thương sinh ra do các hành động của con người

Hành vi của con người dưới một hình thức nào

đó tác động vào quá trình phát sinh thảm hoạ

Ví dụ: Tại Nhật Bản con người sinh sống

trên một đất nước chật hẹp nhà cửa được xây

dựng trên mảng kiến tạo dịch chuyển Mảng

kiến tạo dịch chuyển là nhân tố tự nhiên Việc

con người xây dựng nhà cửa và sinh sống trên

vùng đó là nhân tố xã hội của tính dễ tổn

thương Ngoài ra những vùng lấn biển có nền

đất yếu Người ta cho rằng chính những hoạt

động của con người sinh ra nhân tố xã hội dẫn

đến tính dễ tổn thương khi có thảm hoạ

Hơn nữa các vấn đề mà xã hội con người

đang gặp phải cũng liên quan tới tính dễ bị tổn

thương Trong một xã hội mà Đại gia đình

nhiều thế hệ bị phá vỡ, gia đình hạt nhân tăng,

số hộ chỉ toàn những người cao tuổi cũng tăng

thì mối liên kết đồng loại trở nên mỏng manh

dẫn đến chức năng tương trợ giúp đỡ lẫn nhau

bị suy giảm Với xã hội như vậy dễ dẫn đến

tình trạng thiệt hại lan rộng Người ta thấy rõ

điều này qua trải nghiệm của các thảm hoạ gần

đây Đó cũng là nhân tố mang tính xã hội ảnh

hưởng tính dẽ bị tổn thương

Tại Châu á, Châu Phi – những nơi xảy ra

nhiều thảm hoạ cùng với các nhân tố mang

tính tự nhiên như địa chất, khí hậu thì không ít

người phải chịu những tổn thất nặng nề do

không thể chuẩn bị đối phó với thảm hoạ vì

nghèo đói Một khi thảm hoạ phát sinh thì thảm

hoạ đó châm ngòi cho các thảm hoạ khác, tổn

thất trở nên lan rộng

ở những vùng chức năng mang tính xã hội

không đầy đủ thì hiện tượng như trên hiện ra

rất rõ Hơn nữa thiệt hại có xu hướng tập trung

vào những người nghèo khó nhất

Việc lập kế hoạch đối phó là cần thiết trên cơ

sở nắm vững đặc điểm ở nơi con người sinh

sống và tính dễ bị tổn thương trong xã hội, mà

Trang 8

không chỉ nhằm đối phó riêng với các sự cố là

nguyên nhân trực tiếp của thảm hoạ

Bảng 1 Hai mặt của tính dễ tổn thương

Nhân tố - Đô thị hoá quá nhanh, dân số

mang tính tăng nhanh và mật độ dân số cao

xã hội - Tàn phá môi trường

- Nghèo đói

- Tình hình kinh tế xã hội bất ổn

- Các biện pháp đối phó với thảmhoạ không đầy đủ và không thíchhợp…

2) Đánh giá thẩm định rủi ro

Người ta định nghĩa rủi ro như sau: Rủi ro

là sự kết hợp yếu tố tính dễ tổn thương trướchiểm hoạ và tần số phát sinh của nó Trong kếhoạch đối phó với thảm hoạ việc xây dựngtrước hệ thống đối phó khi phát sinh (quản lýrủi ro) là cơ bản và quan trọng nhất, trên cơ sởđánh giá rủi ro, nắm vững hiện trạng và dự tínhrủi ro (đánh giá thẩm định rủi ro)

Hình 3 - Rủi ro

Đối với rủi ro người ta gọi nguy cơ mà sự

đe doạ đến sinh hoạt xã hội của con người khithực sự xảy ra là khủng hoảng Trong kế hoạch

Trang 9

8 Chương 1

đối phó với thảm hoạ bao quát cả việc đối phó

trên thực tế dựa trên sự quản lý rủi ro từ trước

và cách đối phó các vấn đề xảy ra nằm ngoài

dự tính và được xây dựng từ ba bước: Một là

đánh giá thẩm định rủi ro lúc bình thường Hai

là quản lý rủi ro Ba là quản lý khủng hoảng khi

phát sinh nguy cơ

3 Các loại thảm hoạ

Có nhiều cách phân loại thảm hoạ, ở đây

chúng tôi chia thành ba loại lớnlà thảm hoạ thiên

nhiên, thảm hoạ do con người và thảm hoạ đặc

biệt Dưới đây chúng tôi xin khái quát về ba loại

Ảnh 1: núi lửa phun trào tại (Tungrahua),

Ảnh 2: Sóng thần tại Ache, Indonesia năm

2004

Ảnh 3 Tại Pakistan năm 2005

Nguồn ảnh Pan American Health Organization (PAHO)

Trang 10

(Vấn đề sức khoẻ) Tỷ lệ người chết, bị thương, bị bỏng do nham thạch, khí và đất

đá vùi dập Rối loạn đường hô hấp do khi và tro bụi núi lửa

(Vấn đề nhà ở, cơ sở hạ tầng, nông nghiệp) Hầu hết bị tàn phá do dòng nham thạchNúi lửa nóng, đất đá chảy qua Các vật thể kiến trúc bị phá hoại do sự tích tụ của tro núi lửa

với số lượng lớn Gây ra ngập lụt do sông ngòi bị phong toả Hệ thống giao thông vàphun trào

thông tin bị chia cắt, gián đoạn

(Việc cung cấp lương thực thực phẩm) Mọi cây lương thực và hoa mầu bị dòngnham thạch nóng chảy qua huỷ diệt Cỏ cây bị ô nhiễm tổn hại do tro bụi núi lửa Giasúc bị ảnh hưởng do hít phải khí ga và tro bụi

(Thiệt hại mang tính vật lý) Mọi vật nằm trên vùng đất trượt đều bị phá huỷ ĐườngĐất lở, đất xá sông ngòi và hệ thống thông tin bị chia cắt Đất trượt làm ảnh hưởng nghiêm trọngđến năng suất của cây nông nghiệp và lâm nghiệp, gây lụt lội làm giá trị tài sản bịtrượt giảm xuống.

(Vấn đề sức khoẻ) Gây tử vong và thương tật cao do bị đất đá vùi lấp

(Thiệt hại mang tính vật lý) Những vật thể kiến trúc, nhà cửa bị thiệt hại do cuồngphong lụt lội Gây ra tình trạng lở đất

(Vấn đề sức khoẻ) Phát sinh những thương vong do va đập vào các vật thể bị gióBão cuốn Bị ngạt nước do lũ cuốn Và phát sinh bệnh truyền nhiễm do ô nhiễm

(Cung cấp nước) Có khả năng các thiết bị cấp nước bị ô nhiễm do lụt nội

(Mạng lưới thông tin vận tải) Mạng lưới thông tin, ăngten, thiết bị vệ tinh bị phá huỷ

do gió mạnh Mạng lưới vận chuyển bị gián đoạn

Trang 11

10 Chương 1

Lụt

(Thiệt hại mang tính vật lý) Các vật thể kiến trúc bị tàn phá dưới sức ép của nước, nhà cửa bị tàn phá do sự va đập với cây cối và các vật thể bị cuốn trôi Gây lở đất.(Vấn đề sức khoẻ) Bị ngạt nước Phát sinh bệnh truyền nhiễm do nước bẩn Thương vong thấp

(Cung cấp nước) Thiết bị cung cấp nước bị ô nhiễm việc cung cấp nước sạch gặp khó khăn

(Việc cung cấp lương thực thực phẩm) Hoa màu lương thực tích trữ bị thiệt hại Gia súc, máy móc canh tác bị tổn thất

Nguồn tài liệu (UNDP: An Overview of disaster Management, 2nd ed.

Disaster Management Training Programme,1992, p.24-29)

(2) Thảm hoạ do con người (man-made

disaster)

Là thảm hoạ mà nguyên nhân trực tiếp của

nó do con người gây nên Thảm hoạ do con

người bao gồm các vụ tai nạn giao thông lớn

như tai nạn tàu hoả, tai nạn máy bay, tai nạn

ô tô liên hoàn ; các vụ nổ ở nhà máy hoá chất,

sự rò rỉ hoá chất; tai nạn công nghiệp như nổ

khí gas; tai nạn chất phóng xạ; hoả hoạn quy

mô lớn; hành động khủng bố Thảm hoạ do

con người xảy ra những vùng tập trung cung

cấp điện, nước, khí gas cho đô thị, tập trung

các cơ sở điều trị

Gần đây phần lớn các thảm hoạ do con

người bắt đầu từ khoa học kỹ thuật mà con

người tạo ra và được gọi là thảm hoạ kỹ thuật

(technological disaster) Nguyên nhân chủ yếu

của thảm hoạ kỹ thuật được đưa ra như sau:

hoá chất (Chemical), sinh vật (Biological), chất

phóng xạ (Radiological), hạt nhân nguyên tử

(Nuclear), các vụ nổ( Explosion) Người ta gọi

chung thảm hoạ kỹ thuật bằng từ CBRNE Vấn

đề ở chỗ các hoạt động khủng bố đã lợi dụng

kỹ thuật vào ý đồ xấu gây phát sinh thảm hoạ

Thảm hoạ do con người ngoài các thảm hoạ

kỹ thuật thì các cuộc xung đột sắc tộc, xung đột

vũ trang, nội chiến và chiến tranh giữa quốc gia

đều được coi là thảm hoạ do con người gây ra

Các cuộc thảm hoạ này còn gọi là thảm hoạ

phức hợp (Complex disaster/ complex

humanitarian emergencies) Chữ phức hợp dùng

ở đây không

đơn thuần các thảm hoạ xảy ra cùng một lúc mànguồn gốc sâu xa của nó là các vấn đề mang tínhchính trị, xã hội phát sinh cùng một lúc nên đó làmột hình thái rất phức tạp trong việc đối phó

Ảnh 4 thảm hoạ tàu cao tốc JR trượt bánh

Ảnh 5 Huấn luyện việc chống khủng bố NBC

Nguồn ảnh 4 Báo Yomiuri 25/4/2005ảnh 5 Triển khai lực lượng Cục cứu hỏa Bộnội vụ và truyền thông số 453 12/2008

Trang 12

Quản lý Thảm họa 11

(3) Thảm hoạ đặc biệt (specific disaster)

Người ta phân loại thảm hoạ đặc biệt dưới

các dạng: dạng phát tán trên diện rộng (chất

phóng xạ, nhiễm độc); dạng phức hợp (thảm

hoạ phát sinh và lan rộng lần thứ hai, lần thứ

ba); dạng hỗn hợp (hỗn hợp của thảm hoạ

thiên nhiên và con người); dạng lâu dài (mất

nhiều thời gian để xác minh hiện trường thảm

hoạ và cứu giúp người bị nạn) Người ta cũng

xếp các hành vi khủng bố vào loại thảm hoạ

đặc biệt Thảm hoạ nhà máy điện nguyên tử

Chernobyl ở Liên xô cũ được xếp vào dạng

phát tán trên diện rộng Hoả hoạn ở quy mô

lớn xảy ra sau động đất được xếp vào dạng

phức hợp

II Quản lý thảm hoạ là gì?

Khi thảm hoạ xảy ra bất luận nguyên nhân

gì thì sự cân bằng cung cầu về điều trị và vệ

sinh công cộng cũng bị phá vỡ Trong tình

trạng bất ổn thì việc “cung cấp những điều trị,

điều dưỡng tốt nhất đến được với nhiều người

bị nạn nhất” là mục đích cuối cùng của việc

điều trị, điều dưỡng trong thảm hoạ (The best

for the greatest number of victims) Vì thế mục

đích của quản lý thảm hoạ trong tất cả các cơ

sở điều trị là duy trì môi trường an toàn, cung

cấp liên tục không bị gián đoạn các dịch vụ căn

bản khi có thảm hoạ

ảnh hưởng của thảm hoạ

Khi thảm hoạ xảy ra bất luận nguyên nhân gì

thì sự cân bằng cung cầu về điều trị và vệ sinh

công cộng cũng bị phá vỡ

Hình 4 ảnh hưởng mà thảm hoạ mang đến

đối với điều trị và sức khoẻ

Trang 13

Việc chuẩn bị bao gồm cả việc tập dượt

hàng ngày rất quan trọng để đạt được mục tiêu

điều trị, điều dưỡng trong thảm hoạ; để giảm

thiểu thiệt hại phát sinh, tận dụng mọi nguồn

lực có được trong điều kiện thiếu thốn

1 Chu kỳ thảm hoạ

Có nhiều yếu tố liên quan đến thảm hoạ:

nguyên nhân, thiệt hại và tình hình thiệt hại,

thời gian… Việc đối phó với thảm hoạ thông

thường người ta chia thảm hoạ thành nhiều

giai đoạn (phase), nói chung người ta chia

thảm hoạ thành bốn giai đoạn lớn: thời kỳ

chuẩn bị thảm hoạ (prevention and

preparedness phase); thời kỳ đối phó (acute

phase) - thời kỳ cấp tính (sub acute phase) và

á cấp tính (response phase); thời kỳ khôi phục

(recovery phase); thời kỳ phục hưng

(rehabilitation/ reconstruction phase) Các giai

đoạn này liên tục trong quá trình phát sinh

thảm hoạ, việc đối phó với một thảm hoạ cũng

liên quan đến việc đối phó với thảm hoạ tiếptheo vì vậy người ta gọi là chu kỳ thảm hoạ

Hình 5 Chu kỳ thảm hoạ biểu năng 1) Thời kỳ chuẩn bị

Là thời kỳ chuẩn bị đầy đủ lập kế hoạch saocho có thể tiến hành các hoạt động tiến hành cứutrợ cứu hộ một cách hiệu quả nhất khi phát

Trang 14

12 Chương 1

sinh thảm hoạ trên cơ sở nhiều phương án, đối

sách nhằm giảm thiểu phát sinh thiệt hại Trong

việc ứng phó của Liên hiệp quốc người ta chia

thành chín khung (1) Đánh giá thẩm định tính dễ

tổn thương, (2) Lập kế hoạch phòng chống, (3)

Tổ chức hoá, (4) Hệ thống thông tin, (5) Cung

cấp nguồn lực, vật tư, (6) Hệ thống cảnh báo,

(7) Cơ chế ứng phó, (8) Giáo dục huấn luyện

dân chúng, (9) Diễn tập

2) Thời kỳ ứng phó

Là thời kỳ thực sự hành động với nhiều biện

pháp khẩn cấp để bảo vệ tính mạng và tài sản

Các hoạt động cụ thể là (1) hướng dẫn l•nh đạo,

(2) tìm kiếm cứu nạn, (3) đảm bảo sự an toàn

trong khu vực bị thiệt hại, (4) thẩm định thiệt hại,

(5) lắp đặt và vận hành các thiết bị khẩn cấp,

(6) vận chuyển và cung cấp vật tư, (7) thiết lập

các trại lánh nạn …

Từ góc độ điều trị trong thảm hoạ người ta

còn chia nhỏ giai đoạn này thành thời kỳ cấp

tính và thời kỳ á cấp tính Ngay cả trong thời kỳ

cấp tính người ta gọi thời gian 48 tiếng ngay

sau thời gian thảm hoạ là thời kỳ điều trị cấp

cứu, cứu trợ cứu nạn Trong giai đoạn này thì

người ta tiến hành việc cứu trợ cứu nạn và cấp

cứu điều trị những người bị thương Kể từ khi

thảm hoạ phát sinh 1 tuần người ta gọi là thời

kỳ cấp tính Người ta tiến hành việc sơ cứu

những người bị thương tại chỗ trong quá trình

lánh nạn và cứu trợ, người ta ứng phó với các

vấn đề phát sinh trong thời gian lánh nạn

3) Thời kỳ phục hồi

Thật khó có thể phân chia rõ ràng thời kỳ

phục hồi từ thời gian nào đến thời gian nào

Đây là thời kỳ khôi phục lại khả năng vận hành

tự có của từng cá nhân và của từng xã hội Mọi

người tiến hành sửa sang lại nhà cửa, di

chuyển về các nhà tạm, khôi phục lại môi

trường sống, đi làm và đi học trở lại Ngoài ra

còn khôi phục lại hệ thống cung cấp nước,

điện, gas; bắt đầu trở lại các hoạt động buôn

bán làm ăn Các cơ quan hành chính tiến hành

chi việc cho những người bị nạn bắt đầu triểnkhai các kế hoạch, mở lại và phục vụ các dịch

vụ thông thương như bình thường Giai đoạnnày mới chỉ là phục hồi chứ chưa thể quay trởlại như trước khi thảm hoạ xảy ra Nói cáchkhác từ tình trạng bất thường trở lại tình trạngbình thường

4) Thời kỳ phục hưng

Cũng khó có thể phân chia rõ ràng về thời

kỳ này Đây là thời kỳ mà mỗi cá nhân và toànkhu vực xã hội hoạt động trở lại như trước khithảm hoạ xảy ra, tái sinh toàn bộ cộng đồng.Tuy vậy, từng con người và cả xã hội không trở

về thời kỳ giống hệt thời kỳ trước khi xảy rathảm hoạ mà qua kinh nghiệm hứng chịu thảmhoạ sinh hoạt của từng cá nhân cũng như cáchthức của cả cộng đồng được hình thành vàphát triển sao cho thích ứng với khi có thảmhoạ xảy ra

kỳ thảm hoạ.

Tình trạng và cuộc sống của con ngườibiến đổi theo sự đối phó với chu kỳ thảm hoạ vìthế việc điều trị cũng biến đổi theo chu kỳ thảmhoạ Chúng tôi xin đề cập ở đây một số kháiniệm về vấn đề này

1) Thời kỳ cấp tính của chu kỳ thảm

hoạở hiện trường thảm hoạ việc cứu trợ những

người bị nạn và chuyển họ từ khu vực nguyhiểm đến địa điểm an toàn được ưu tiên hàngđầu Để cứu tính mạng của những người bịthương được nhiều nhất thì cần thiết phải triểnkhai một cách trôi chảy ba bước: phân loạingười bị thương (triage), sơ cứu (treatment) vàchuyển người bị thương về tuyến sau(transportation) Và người ta gọi là 3T Ngoàicác thiết bị cứu nạn trực tiếp thì tại các bệnhviện tiếp nhận bệnh nhân, trạm cấp cứu cứunạn, nơi lánh nạn cần phải có sẵn túi đựng thihài hoặc quan tài; cũng như đáp ứng được yêucầu chăm sóc của người nhà nạn nhân

Trang 15

Quản lý Thảm họa 13

2) Thời kỳ trung hạn và dài hạn của chu kỳ

thảm hoạ

Trong thời kỳ này môi trường sống thay đổi

từ sinh hoạt của các trại lánh nạn thì chuyển

về nhà tạm hoặc nhà cũ được sửa sang Cần

phải quan tâm đến tính an toàn sao cho mọi

người có thể yên tâm sinh sống Tiến hành các

hoạt động chăm sóc tinh thần, chi viện để xây

dựng lại cuốc sống và sức khoẻ, chi viện xây

dựng lại xã hội khu vực

3) Thời kỳ bình ổn của chu kỳ thảm hoạ

Trong thời kỳ thảm hoạ xảy ra thì cần thiết

phải giáo dục về thảm hoạ, chuẩn bị trước khi

phát sinh thảm hoạ, huấn luyện phòng chống

ở các khu vực người dân dễ bị cuốn vào thảm

hoạ, hoàn chỉnh và kiểm tra các vật tư khác

trong vùng, hoàn chỉnh và kiểm tra các thiết bị

phòng chống và các vật tư khác tại các cơ sở

Tài liệu tham khảo:

điều trị, xây dựng mạng lưới chi viện

Hình 6 Điều trị thảm hoạ nhìn từ chu kỳ

thảm hoạ ( 山山山山山山山山山山山山山山山山 [山山山山山山山]山1999山p3

4Gunn SWA: Multilingual Dictionary of

Disaster Medicine and International Relief,

Kluwer Academic Publishers, Dordrecht, 1990

5International Strategy for DisasterReduction: http://www.unisdr,org/eng/library/lib-terminology 2007/11/13

6Hogan DE, Burstein JL :DisasterMedicine, Lippincott Williams &Wilkins,Philadelphia,2002,3-9

7Veenema, TG ed.: Disaster Nursing andEmergency Preparedness for Chemical,Biological, and Radiological Terrorism andOther Hazards, Springer Publishingcompany,2003,p.4

Trang 17

TÌNH HÌNH THẢM HOẠ Ở VIỆT NAM

MỤC TIÊU

1 Trình bày được đặc điểm địa lý, kinh tế

xã hội liên quan đến thảm hoạ ở Việt Nam

2 Trình bày được tình hình thảm hoạ tự

nhiên ở Việt Nam

3 Trình bày được tình hình thảm hoạ

nhân tạo ở Việt Nam

NỘI DUNG

1 Hoàn cảnh địa lý, kinh tế và xã hội.

1.1 Địa lý

- Việt Nam nằm trong bán đảo Đông

Dương, thuộc vùng Đông Nam châu Á Lãnh

thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía Đông của

bán đảo này Việt Nam có biên giới đất liền với

Trung Quốc (1.281 km), Lào (2.130 km) và

Campuchia (1.228 km) và bờ biển dài 3.444

km tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ, biển Đông và

vịnh Thái Lan Việt Nam có diện tích 331.212

km², bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và

hơn 4.200 km² biển nội thủy, với hơn 2.800

hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ,

bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa

- Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các

vùng tự nhiên như vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây

Nguyên có những đồi và những núi đầy rừng,

trong khi đất phẳng che phủ khoảng ít hơn 20%

Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và độ che phủ

và Nam Trung Bộ Nhìn tổng thể Việt Nam gồm

ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùngchâu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đấtthấp ven biển, những cao nguyên theo dãyTrường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổCửu Long Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núiHoàng Liên Sơn Diện tích đất canh tác chiếm17% tổng diện tích đất Việt Nam

- Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa ởmiền Nam với hai mùa (mùa mưa, từ giữatháng 5 đến giữa tháng 9, và mùa khô, từ giữatháng 10 đến giữa tháng 4) và khí hậu gió mùa

ở miền Bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mùa

hè, mùa thu và mùa đông) Do nằm dọc theo

bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa mộtphần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tốkhí hậu biển Độ ẩm tương đối trung bình là84% suốt năm Hằng năm, lượng mưa từ 1.200đến 3.000 mm,số giờ nắng khoảng 1.500 đến3.000 giờ/năm và nhiệt độ từ 5 °C đến 37 °C.Hàng năm, Việt Nam luôn phải phòng chốngbão và lụt lội với 5 đến 10 cơn bão/năm

Trang 18

16 Chương 1

thiểu số, trừ người Hoa, người Chăm và người

Khmer phần lớn đều tập trung ở các vùng cao

nguyên Trong số các sắc dân thiểu số, đông dân

nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường, Hoa,

Khmer, Nùng , mỗi dân tộc có dân số khoảng

một triệu người Các dân tộc Brâu, Rơ Măm, Ơ

Đu có số dân ít nhất, với khoảng vài trăm cho mỗi

nhóm Có một số dân tộc thiểu số đã định cư trên

lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu đời, nhưng cũng có

các dân tộc chỉ mới di cư vào Việt Nam trong vài

trăm năm trở lại đây như người Hoa

ở miền Nam Việt Nam là một nước đông dân,

tuy diện tích đứng hạng 65 nhưng lại xếp thứ

13 trên thế giới về dân số

- Theo điều tra của Tổng cục thống kê (Việt

Nam) tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên

toàn Việt Nam có 85.846.997 người, quy mô

phân bố ở các vùng kinh tế - xã hội, trong đó

đông dân nhất là vùng đồng bằng sông Hồng

với khoảng 19,5 triệu người, kế tiếp là vùng

bắc Trung bộ và duyên hải nam Trung bộ với

khoảng 18,8 triệu người, thứ ba là vùng đồng

bằng sông Cửu Long với khoảng 17,1 triệu

người Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với

khoảng 5,1 triệu người Cũng theo cuộc điều

tra thì Việt Nam có khoảng 25,4 triệu người,

tương ứng với 29,6% sống ở khu vực thành thị

và khoảng 60,4 triệu người cư trú ở khu vực

nông thôn Về tỷ số giới tính trung bình hiện

nay là 98 nam/100 nữ, trong đó vùng cao nhất

là Tây Nguyên với 102 nam/100 nữ và vùng

thấp nhất là Đông Nam Bộ với 95 nam/100 nữ

- Do đặc thù của địa lý Việt Nam, nên các tuyến

giao thông nội địa chủ yếu từ đường bộ,

đường sắt, đường hàng không đều theo

hướng bắc - nam, riêng các tuyến giao thông

nội thủy thì chủ yếu theo hướng đông - tây dựa

theo các con sông lớn đều đổ từ hướng tây ra

biển Việt Nam có hệ thống đường bộ gồm các

quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ,…có tổng chiều dài

khoảng 222.000km, phần lớn các tuyến đường

quốc lộ và tỉnh lộ đều được trải nhựa và bê

tông hóa, chỉ có một số ít các tuyến đường

huyện lộ tại các tỉnh vùng sâu, vùng xa đang

còn là các con đường đất

Việt Nam có 3.260 km đường bờ biển Dựkiến quy hoạch chi tiết tuyến đường bộ venbiển Việt Nam trong tương lai là tuyến đườngbắt đầu tại cảng Núi Đỏ, Mũi Ngọc (xã BìnhNgọc, Móng Cái, Quảng Ninh) tới cửa khẩu HàTiên (thị xã Hà Tiên, Kiên Giang) với chiều dàikhoảng 3.041 km Hệ thống đường sắt ViệtNam có tổng chiều dài 2652 km, trong đó tuyếnđường chính Hà Nội - thành phố Hồ Chí Minhdài 1726km được gọi là Đường sắt Bắc Nam.Ngoài ra còn có các tuyến đường sắt ngắn từ

Hà Nội đi Hải Phòng (hướng đông), Lạng Sơn(hướng bắc), Lào Cai (hướng Tây bắc)

Hệ thống đường hàng không Việt Nam gồmcác sân bay quốc tế có các tuyến bay đi cácnước và các sân bay nội địa trải đều ở khắp bamiền, 3 sân bay quốc tế hiện đang khai thác làTân Sơn Nhất (TP.Hồ Chí Minh), sân bay ĐàNẵng (Đà Nẵng) và Nội Bài (Hà Nội), và các sânbay dự kiến khai thác đường bay quốc tế trongthời gian tới là Cam Ranh (Khánh Hòa), Cát Bi(Hải Phòng) và Phú Bài (Thừa Thiên Huế) Hệthống đường biển xuất phát từ các cảng biển lớn

ở 3 miền như cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân(miền Bắc), cảng Tiên Sa, cảng Quy Nhơn (miềnTrung) và cảng Sài Gòn, cảng Thị Vải (miềnNam) Các tuyến đường thủy nội địa chủ yếu nằmtheo hướng đông - tây dựa theo các con sông lớnnhư sông Đà, sông Hồng (miền Bắc), sông Tiền,sông Hậu (miền Tây Nam bộ), và sông Đồng Nai,sông Sài Gòn (miền Đông Nam bộ) chảy theohướng bắc - nam

Trước năm 1986, Việt Nam là một quốc gia

có nền kinh tế tập trung tương tự nền kinh tế củacác nước xã hội chủ nghĩa Chính sách Đổi Mớinăm 1986 thiết lập mô hình kinh tế mà Việt Namgọi là “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa” Các thành phần kinh tế được mở rộngnhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sựđiều hành của Nhà nước Sau năm 1986, kinh tếViệt Nam đã có những bước phát triển to lớn vàđạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bìnhkhoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997, đặc biệt

là sau khi Hoa Kỳ dỡ bỏ cấm vận với Việt Namnăm 1994 Tăng trưởng GDP 8,5%

Trang 19

Quản lý Thảm họa 17

vào năm 1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998

do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng kinh tế

Á châu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm

1999 Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến

7% giữa những năm 2000-2002 trong khi tình

hình kinh tế thế giới đang trì trệ Hiện nay, Việt

Nam tiếp tục các nỗ lực tự do hóa nền kinh tế

và thi hành các chính sách cải cách, xây dựng

cơ sở hạ tầng cần thiết để đổi mới kinh tế và

tạo ra các ngành công nghiệp xuất khẩu có

tính cạnh tranh hơn

- Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150

của tổ chức WTO ngày 11 tháng 1 năm 2007 Việt

Nam phân chia thành 6 vùng kinh tế xã hội là: vùng

trung du và miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng

sông Hồng, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền

Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ và

vùng đồng bằng sông Cửu Long Và 3 vùng kinh tế

trọng điểm là: vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, vùng

kinh tế trọng điểm miền Trung và vùng kinh tế trọng

điểm phía Nam

Về tài nguyên đất, Việt Nam có rừng tự

nhiên và nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền với

phốt phát, than đá, măng gan, bô xít, chrômát,

Về tài nguyên biển có dầu mỏ, khí tự nhiên,

quặng khoáng sản ngoài khơi Với hệ thống sông

dốc đổ từ các cao nguyên phía tây, Việt Nam có

nhiều tiềm năng về phát triển thủy điện

lũ quét đột ngột, gió lốc và hạn hán Cácthảm hoạ tư nhiên mưa đá, lở đất, cháyrừng và xâm lấn nước mặn Một số cácthảm hoạ tuy có xảy ra ở Việt Nam nhữnghiếm gặp như: động đất, sương giá

- Theo con số thống kê của Bộ Tài nguyên

và Môi trường, từ năm 1900 cho đếnnay, trên toàn Việt nam đã có 70 trậnbão lớn, 50 trận lũ lụt, 9 đại dịch lớn, 5trận sạt lở đất nghiêm trọng, 5 trận hạnhán và 1 vụ cháy rừng Tuy nhiên tuỳvào vùng địa lý và khu vực kinh tế màmức độ khắc nghiệt của các thảm hoạ

tự nhiên này là khác nhau Tính theomức độ khắc nghiệt từ rẩt khắc nghiệt(++++), đến khắc nghiệt (+++), đếnkhắc nghiệt vừa (++), ít khắc nghiệt (+)

và không có (-) thì mức độ khắc nghiệtcủa các thảm hoạ tự nhiên ở các vùng

và khu vực kinh tế được thống kê nhưsau:

Trang 20

Loại Vùng địa lý và khu vực kinh tế

Trang 21

18 Chương 1

2.2 Các thảm hoạ tự nhiên và những thiệt

hại của nó

2.2.1 Bão và lũ lụt

- Lũ lụt gây nên bởi mưa nhiều trong thời

gian ngắn, nước thoát chảy không kịp Ở

những vùng trũng, chỉ cần mưa nhiều ở vùng

đất cao hơn, ở thượng nguồn, cũng đủ tạo ra

lũ lụt bão tố thường kèm theo mưa nhiều nên

thường tạo lũ lụt khủng khiếp lũ lụt xảy ra

khốc liệt hơn nếu nhằm lúc có triều cường lớn,

như trùng các ngày xuân phân (21/3) hay thu

phân (21/9), cùng lúc với trăng tròn (ngày rằm)

hay không trăng (mồng một âm lịch) Theo tài

liệu Sở Thuỷ Văn, số lượng và cường độ bão

tố gia tăng rất khốc liệt ở Việt Nam kể từ năm

1950

- Tại Miền Bắc, hàng năm những trận bão và

gió mùa Tây Nam gây nên những trận mưa lớn ở

miền thượng du cũng như đồng bằng miền Bắc

Do ảnh hưởng của biến động thời tiết trên toàn

thế giới vì dòng nước El Nino và La Nina, những

trận bão và mưa lớn xảy ra càng khốc liệt hơn

Mùa bão thường kéo dài từ tháng 6 đến tháng

10, và trung bình hàng năm có 4 cơn bão Các

trận lũ lớn đa số xảy ra vào tháng 8, nhằm vào

cao điểm của mùa mưa bão Những cơn bão này

thường xuất phát từ Phi Luật Tân, Biển Đông và

Tây Thái Bình Dương, rồi 3-4 ngày sau sang đến

bờ biển Việt Nam

- Địa hình thượng lưu các sông gồm các

vùng đồi núi với độ dốc lớn nên nước mưa đổ

nhanh chóng xuống vùng đồng bằng Mỗi khi có

mưa to, vùng đồng bằng sông Hồng nhận nước

lũ từ hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình

Hệ thống sông Hồng bao gồm sông Đà, sông

Hồng, sông Thao nhập lưu tại Việt Trì, và hệ

thống sông Thái Bình gồm các nhánh chính là

sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam nhập

lưu tại Phả Lại Dầu được bão vệ bởi môt hệ

thống đê dài trên 3,000 km, đa số các trung tâm

đông dân cư đều nằm dưới mực nuớc lũ sông

Hồng Vì vậy khi mưa quá to và nước lũ làm vỡ

đê làm nhiều nguời thiệt mạng

Trong lịch sử cận đại, những trận lụt kinhhoàng gây nhiều tổn thất ở Miền Bắc đã đượcghi: Lụt năm 1890 do mưa nhiều phá vỡ đê làng

Mể Tràng, tiếp theo lụt năm1893, và năm 1905tàn phá tỉnh Hà Nam Trong vòng 100 năm qua,đồng bằng sông Hồng đã có 26 trận lũ lớn Mộttrận lũ lớn vào tháng 8 năm 1945 gây vỡ đê tại 79điểm, gây ngập 11 tỉnh với tổng diện tích 312,000

ha, ảnh hưởng tới cuộc sống của 4 triệu người.Đặc biệt vào năm 1971, ảnh hưởng dòng nướclạnh La Nina đã gây nên những trận mưa to liêntục Một cơn bão từ miền nam Trung hoa gầnHồng Kông mang đến những trận mưa to trêncác sông Thao, sông Lô và sông Đà

Nuớc lũ từ các sông này đã hợp lại gây nêncơn lũ lịch sử của đồng bằng sông Hồng Mựcnước Sông Hồng ngày 20/8/1971 lên đến 14.13

m ở Hà Nội (cao hơn mực nước báo động cấp III2.63 m), 18.17 m ở Việt Trì (cao hơn 2.32 m mứcbáo động cấp III) và 16.29 m ở Sơn Tây (1.89 mcao hơn mức báo động cấp III) Đồng thời mựcnước ở các sông Cầu, sông Lô, sông Thái Bìnhlên cao hơn bao giờ hết Cơn lũ vào tháng 8 năm

1971 đã làm vỡ đê Sông Hồng và 100,000 người

đã bị thiệt mạng Đây là cơn lũ lớn nhất trongvòng 250 năm ở miền Bắc Ngày 24/7/1996, bãoFrankie với gió to hơn 100 km/ giờ kèm với mưa

to gây lũ lụt làm 100 người bị thiệt mạng, 194,000căn nhà bị hư hại và hơn 177,000 ha bị úng ngập.Tháng 9/2002 bão Mekkhala (tiếng Thái có nghĩa

“thiên thần sấm sét”, Việt nam gọi là bão số 5)thổi vào Miền Bắc cũng gây thiệt hại đáng kể

Tại Miền Trung, hàng năm những trận bão vàgió mùa Đông Bắc đã gây nên những trận mưalớn Những năm gần đây, những trận bão biển vàmưa lớn xảy ra càng khốc liệt hơn Mùa bãothường kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11, và trungbình hàng năm có 4 cơn bão Tại Miền Trung,những trận bão lụt gây thiệt hại nổi tiếng: 1953,

1964, 1996, 1998, hai trận lụt tháng 11 và12/1999, tháng 9/2000 (bão Wukong vào HàTỉnh), tháng 11/2003, và trận bão tháng 4/2005 tạiThừa Thiên do ảnh hương La Nina, và lụt

Trang 22

Quản lý Thảm họa 19

ngày 18 và 19/9/2005 vùng Quảng Trị do bão

Vincente Năm 1998, sau đợt khô hạn kéo dài,

liên tục 4 cơn bão 6, 7, 8, 9 tàn phá các tỉnh

duyên hải miền Trung Đặc biệt đầu tháng 11 và

tháng 12/1999, cơn đại hồng thủy chưa từng có

ở nước ta trong nửa thế kỹ qua đã gây lũ lụt lớn

từ Quảng Bình đến Phú Yên Ngày 15/11 năm

2003, mưa lũ lụt từ Quảng Nam đến Bình Thuận

cuốn trôi 60 dân, 40,000 dân phải chạy trốn lụt,

ở Quảng Ngãi và Bình Định gây thiệt hại

khoảng 11.5 triệu đô la Mỹ cho hai tỉnh này

- Năm tỉnh Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình, Ninh

Thuận và Bình Thuận là thường xuyên bị lụt và

hạn hán thường xuyên hàng năm Riêng trong

những năm 1995-1999, Miền Trung đã chịu ảnh

hưỡng của 13 cơn bão: năm 1996 giết 400

người, tiếp theo 3 trận bão liên tục cuối năm

1998 giết 450 người, rồi hai cơn lũ lụt tháng 11

và đầu 12 năm 1999 tàn phá và gây ra tử vong

hơn 700 người, gây thiệt hại 300 triệu đô la Mỹ

Đặc biệt vào trận bão lụt tháng 11/1999, những

trận mưa liên tục từ 18 tháng 10 đến 6 tháng 11

đã nâng mực nước các sông lớn ở miền Trung

đến độ cao chưa từng thấy Gần 1.4 m (1384

mm) nước mưa đã đổ xuống thành phố Huế

trong vòng 24 giờ, làm mực nước Sông Hương

lên cao gần 6 m, cao hơn mực nước trận lụt năm

1953 đến 0.46 m Lượng nước mưa vào ngày 2

tháng 11 tại Huế là lượng nước mưa lớn thứ nhì

trên thế giới, sau kỷ lục 1870 mm đo được tại

Cilaos, đảo Réunion vào ngày 16 tháng 3 năm

1952 Tháng 4 và 5/2005, ảnh hưởng La Nina lụt

ở Thừa Thiên Quảng Trị Rạng sáng ngày 18.2,

do ảnh hưởng của không khí lạnh, từ Quảng Trị

và vùng phía bắc huyện Phong Điền đến Thừa

Thiên - Huế, mưa lớn trên diện rộng đã gây ra

một trận lũ lớn bất thường chưa từng thấy trong

vòng hơn 30 năm trở lại đây

- Tại Miền Nam, trận bão tàn khốc năm 1904,

cộng hưởng với mưa to và triều cường ngày

xuân phân, gây sóng thần với nhiều đợt sóng

cao hơn 10 m và giết trên 5000 người tại Gò

Công Sau trận bão lụt khủng khiếp này là trậnlụt lớn năm 1924, 1952, 1961, 1964, 1966,

Trang 23

1978, 1984, 1991, 1994, 1995, 1996, bão Linda

cuối năm 1997(tàn phá vùng Cà Mau), lụt tháng

9/2000, tháng 10/2001, tháng 9/2002, rồi bão số

5 thổi vào Cà Mau ngày 25/11/2004 Trung bình

tại vùng đồng bằng Cửu Long, cứ trung bình mỗi

5 đến 12 năm là có một trận lụt khủng khiếp:

1961, 1966, 1978, 1984 và 1991

- Trận lụt 1961 coi như là trận lụt lớn nhất

ở Đồng bằng Cửu Long kể từ 1941, với mực

nước ghi trên cọc ghi trên sông Hậu ở Châu Đốc

là 4.94 m và trên sông Tiền tại Tân Châu là 5.28

m Trận lụt 1966 gây thiệt hại ở Đồng bằng Cửu

Long khoảng 20.1 triệu đô la Mỹ Vào tháng

11/1997, cơn bão số 5 (Linda) đổ bộ vào vùng

duyên hải Nam Bộ, gây thiệt hại lớn về người và

của ở 9 tỉnh, làm chết khoảng 3,000 người, là

trận bão khốc liệt nhất trong 100 năm

ở vùng này Trận lụt tháng 10 năm 2000, coi

như cơn lụt của thế kỹ ở vùng này, giết gần

1000 người ở địa phận Việt nam và Cam phu

chia, tổn thất tổng cộng khoảng 500 triệu đô la

Mỹ Trận lụt tháng 10 năm 2001, giết 80 người

ở vùng biên giới Việt nam và Cam phu chia Lụttháng 9/2002 cũng gây thiệt hại to lớn ở Đồngbằng Cửu Long

- Tại Đồng bằng Cửu Long, hàng năm đều

có lụt xảy ra định kỳ, các cơn lũ bắt đầu khi nướcsông Cửu Long dâng cao làm ngập vùngSavannakhet và Pakse ở Nam Lào, rồi đến vùngKratie ở miền Đông Kampuchea Nước lũ từthượng lưu theo sông Tiền và sông Hậu chảy vàoViệt Nam Ở đây mùa lũ thường kéo dài từ cuốitháng 6 cho đến cuối tháng 12 và được chia ra bagiai đoạn Trong giai đoạn 1, từ tháng 7 đếntháng 8, nước lũ chảy vào các kinh và cácmương rạch thiên nhiên vùng Đồng Tháp Mười

và Tứ Giác Long Xuyên Cao điểm lũ lụt xảy ratrong giai đoạn 2 khi mực nước sông Tiền ở TânChâu cao hơn 4.2 m, và mực nước sông Hậu

ở Châu Đốc cao hơn 3.5 m Vào mùa lũ lụt lớn,nước lũ tràn qua biên giới Việt Miên chảy vảoĐồng Tháp Mười và khu Tứ Giác Long Cuyên.Lưu lượng nước lũ tràn qua biên giới Việt Miên

có khuynh hướng gia tăng, từ 2,930 m3/s trong

Trang 24

20 Chương 1

trận lũ 1961, lên 6,300 m3/s trong trận lụt 1991,

và 8,286 m3/s năm 1996 Giai đoạn 3 bắt đầu

từ tháng 10 khi mực nước hạ thấp dần cho đến

cuối tháng 12 Vào mùa lụt những năm bình

thường, 1/3 diện tích đồng bằng bị ngập, có

nơi sâu 3-4 m Tại Mộc Hoá mùa lũ hiện nay

đến sớm hơn 12-15 ngày so với thập niên

1970, lúc vụ lúa hè thu chưa kịp chín để thâu

hoạch, năm nào lũ đến sớm trước 15/8 coi như

mất trắng thu hoạch

- Không cần phải mưa lớn mới có lụt, ngay trong

mùa khô, chỉ cần triều cường mạnh, kết hợp với

gió chướng và thuỷ triều thiên văn rằm tháng hai

âm lịch trùng với ngày xuân phân 21/3 dương lịch

triều cường tháng 3/2005 và 3/2006 đã gây

ngập lụt và vỡ đê ở một số quận Sài Gòn như

Bình Thạnh, có nơi sâu tới 1m5 Triều cường

tháng 9 kết hợp với mưa, nước lũ tạo lụt lội

trầm trọng hơn trên khắp đồng bằng Cửu Long

Tiên đoán cho biết vì lưu lượng sông Mekong

gia tăng 10% trong mùa lũ (tháng 9 và 10), nên

lũ lụt ở đồng bằng Cửu Long sẽ trầm trọng

hơn, đến sớm hơn và kéo dài hơn hiện nay

Hậu quả là thâu hoạch vụ lúa hè-thu có thể

mất trắng, và canh tác vụ đông xuân sẽ trễ hơn

2.2.2 Hạn hán

- Hạn hán cũng trầm trọng và kéo dài hơn trước

kia trên nhiều vùng lãnh thổ Việt Nam Trong thời

ở đồng bằng Cửu Long Cũng vậy, năm 1983

mất 291,000 ha ở miền Trung và Nam Việt Nam

Năm 1988, hạn hán xảy ra trên toàn quốc Vụ

Đông Xuân 1992-1993, việc sản xuất ở đồng

bằng Cửu Long giảm 559,000 tấn lúa Năm 1993khoảng 175,000 ha ở miền Trung bị hạn trong số

đó 35,000 ha bị chết hoàn toàn, mất khoảng150,000 tấn lương thực Vụ hạn 1994-1995 ởĐăc Lắc được xem là nặng nề nhất trong 50 năm,ảnh hưởng vào cà phê khoảng 600 tỉ đồng và gâythiếu nước sinh hoạt Trận hạn hán khác năm1995-1996 ở Miền Bắc tàn phá hoa màu khoảng13,380 ha vùng Trung Du và 100,000 ha vùngđồng bằng sông Hồng Đặc biệt, hạn hán năm

1998 xảy trên toàn lãnh thổ Việt Nam, cực kỳtrầm trọng ở Tây Nguyên, Miền Trung và MiềnNam Hạn hán này là do ảnh hưởng El Nino: Mưa

ít hơn trong vụ Đông-Xuân 1997-1998, vũ lượnggiảm từ 10 đến 50% trong mùa hè 1998 Cuốinăm 1998, vũ lượng tiếp tục giảm 30-50% trêntoàn quốc, riêng Sơn La giảm 90% Tháng 11nhiều vùng ở đồng bằng sông Hồng thiếu nướccanh tác Tổng số diện tích bị hạn hán trên toànquốc năm 1998 là 734,284 ha, trong số đó276,656 ha ở đồng bằng Cửu Long Cùng lúc vớihạn hán trong năm này, từ tháng 12/1997 đếntháng 6/1998, nhiệt độ gia tăng lên 35 tới 42 oC,

vũ lượng chỉ 40-250 mm (4-20% vũ luợng mưatrung bình của nhiều năm), cộng thêm ảnh hướnggió Lào gây cháy rừng Trận hạn hán 1997-1998ảnh hưởng vào 3.8 triệu dân thiếu nước sinhhoạt, gây thiệt hại khoảng 5,000 tỉ đồng Việt Nam.Hạn hán cũng trầm trọng ở đồng bằng Cửu Long

và cao nguỵên Đắc Lắc năm 2004 và 2005, ngay

cả nước sinh hoạt hàng ngày cũng phải hạn chế

-Riêng năm 2005, hạn hán xảy ra tại TháiLan, Indonesia, Việt Nam, Kampuchia và Làotrầm trọng nhất trong nhiều thập niên qua, gâythiệt hại khoảng 193 triệu đô la Mỹ cho riêng TháiLan Ở Việt Nam, vùng bị hạn hán thường xuyênhàng năm là từ Khánh Hoà đến Bình Thuận, vớitổng số diện tích hạn hán thường xuyên là300,000 ha Vào năm bình thường, Ninh Thuận

và Bình Thuận chỉ nhận vũ lượng hàng nămkhoảng 600 mm, nhưng mưa chỉ 3-10 mm trongtháng 3, trong khi bốc hơi nước 1,000 đến 2,000mm/tháng, là vùng khô hạn nhất ở

Trang 25

Quản lý Thảm họa 21

Việt Nam Tại Bình Thuận, cả năm 2004 mưa chỉ

350 mm Vì hạn hán trầm trọng, nước chỉ ưu tiên

cho sinh hoạt và chăn nuôi nên các tỉnh Nam

Trung Bộ đành cắt giảm diện tích trồng trọt từ 30

đến 50% Mỗi khi có hạn hán là đều có cháy

rừng Năm 1998, hạn hán tiếp tục xảy ra trên

toàn quốc, gây nhiều vụ cháy rừng Riêng trong 6

tháng đầu 1998 có 60 cháy rừng ở Đồng Nai và

Đắc Lắc, phá huỷ tổng cộng 1,516 ha, từ tháng 3

đến 5/1998 khoảng 11,370 ha rừng bị cháy Hạn

hán tháng 3-4/2002 ở đồng bằng Cửu Long

khoảng 5,000 ha rừng U Minh Thượng bị cháy

rụi Tiên đoán cho biết ẩm độ không khí có

khuynh hướng giảm, và vũ lượng giảm trong mùa

khô ở đồng bằng Cửu Long, nên hạn hán sẽ trầm

trọng hơn và kéo dài hơn ở các tỉnh Miền Nam

trong tương lai

2.2.3 Nước mặn xâm nhập

- Vì mực nước biển dâng cao, ảnh hưởng triều

cường, và lưu lượng dòng sông xuống thấp

trong mùa khô hạn, nên nước biển xâm nhập

sâu vào nội địa Riêng năm hạn hán 1993 và

1998, nước ngọt sông Cửu Long xuống rất

thấp ở vùng Cà Mau, nên khoảng 1/3 diện tích

Cà Mau bị nhiểm mặn 4% muối, không canh

tác được Năm 1999, riêng tại các tỉnh Bến Tre,

Trà Vinh, Tiển Giang và Cà Mau khoảng

100,000 ha đất canh tác bị nhiểm mặn

- Ngay cả đầu năm 2001, khi bắt đầu mùa mưa

vào tháng 5, một số tỉnh đồng bằng Cửu Long

vẫn bị nước mặn xâm nhập trầm trọng Cũng vào

thời điểm này, vùng Bình Trị Thiên Đà Nẳng cũng

bị nước mặn xâm nhập Độ nhiểm mặn có

khuynh hương gia tăng hàng năm Chẳng hạn,

độ nhiểm mặn đo cùng một địa diểm

ở vùng Long An gia tăng từ 300 mg muối/lít

vào tháng 3/2002 lên 1800 mg/l vào tháng

3/2004 Tại cống Cái Xe (ranh Mỹ Xuyên và thị

xả Sóc Trăng) ngày 20/2/2005 độ mặn trong

nước là 5,900 mg/lít

- Tại các tỉnh dọc duyên hải từ Bà Rịa cho tới Cà

Mau và Hà Tiên, vào mùa nắng hạn nước mặn

xâm nhập vào nội địa từ vài km đến 120

Trang 26

km, tuỳ năm và tuỳ địa phương Chẳng hạn

trước 1970, vào tháng 2 và 3, trên Hậu Giang

nước mặn xâm nhập tới vùng Trà Ôn thuộc

Vỉnh Long Ngày nay, vào mùa hạn nước mặn

trên sông Hậu Giang đã vượt quá Trà Ôn và

mỗi năm tiến dần về Cần Thơ Toàn thể diện

tích bị nhiểm mặn ở đồng bằng Cửu Long

trong mùa khô hạn bình thường khoảng

319,900 ha Năm nào khô hạn trầm trọng, diên

tích nhiểm mặn lên tới 744,000 ha, tức khoảng

18.9% diện tích đồng bằng Ngoài vùng duyên

hải, các vùng canh tác lúa sâu trong nội địa

đang bị hâm doạ xâm nhập nước biển 4%

muối trong mùa khô hạn hiện nay la Vinh Gia,

Tri Tôn (An Giang), Vũng Liêm, Trà Ôn (Vỉnh

Long), Long Vỉ, Vị Thanh (Cần Thơ), v.v

- Như vậy, chưa kể hiện tượng “trái đất

đang nóng dần lên” đang xảy ra ngày càng rõ

rệt hơn, trong ba thập niên qua khí hậu biến

đổi bất thường đã có ảnh hưởng tai hại Lũ lụt,

bão

tố xảy ra thường xuyên và khốc liệt hơn Hạnhán đã dẫn đến thiếu nước canh tác và nướcsinh hoạt ngay cả vùng kế cận sông Cửu Long

và sông Hồng, chưa kể vùng hạn hán thườngxuyên ở các tỉnh Nam Trung Bộ và TâyNguyên Diện tích đất canh tác bị nhiểm mặn

và phèn càng gia tăng ở vùng đồng bằng sôngCửu Long, và đất bị sa mạc hoá ngày càngnhiều hơn ở vùng khô cằn Miền Trung

2.2.4 Xói mòn và sa mạc hoá đất đai

- Trong vòng 10 năm qua đất canh tác ởViệt Nam bị xoi mòn trầm trọng, nhất là vùngđồi núi Đất bị sạc lở dọc bờ sông và bờ biểncũng rất trầm trọng, do sóng, lụt gây ra khi bờbiển bờ sông thiếu rừng phòng hộ Chẳng hạn

ở cửa sông Bồ Đề (Cà Mau) hơn 600 ha dất bịsạt lở và trôi mất khi rừng ngập mặn bị phá huỷ.Uớc lượng số đất bị xoi mòn ở VN biến đổi giữa

50 t/ha/năm (cho diện tích khoảng 10 triệu ha,chiếm 30.6% diện tích) và 4.5 t/ha/năm (với diệntích 47,000 ha, khoảng 0.1% diện tích) ảnhhưởng tới 23 triệu ha, tức 70% diện tích toànquốc Theo tài liệu mới nhất, Việt Nam hiện có

Trang 27

22 Chương 1

khoảng 9.3 triệu ha đất nông nghiệp (đang

canh tác), 11.6 triệu ha đất rừng (diện tích có

rừng thực sự 3.8 triệu ha), 1.53 triệu ha đất

không nông nghiệp (hầm mỏ, xây dựng, sông

rạch, hồ, ruộng muối), 0.44 triệu ha đất xây cất

nhà cửa, 10 triệu ha đất cằn cổi (không có cây

cối, không canh tác được) gồm đất đồi trọc ở

Miền Bắc (4.77 triệu ha), Bắc Trung Bộ (1.9

triệu ha), phía Nam Trung Bộ (1.63 triệu ha), và

Tây nguyên (1.05 triệu ha)

- Mặc dầu Việt nam không có sa mạc to lớn,

nhưng sa mạc hoá đang diễn ra nhanh chóng và

trầm trọng ở Việt nam trong 2 thập niên qua,

song song với việc thâm canh nhưng không bền

vững ở vùng đồi núi và đất rừng Nếu không

chận đứng, vấn đề sẽ trầm trọng thêm, và nông

dân Việt Nam khó có thể thoát cảnh nghèo đói

muôn đời Việt Nam hiện nay có mật độ dân số

cao nhất thế giới, 233 người/km cao gấp 2, 5 lần

so với mật độ trung bình của thế giới, và dân số

83 triệu hiện nay, sẽ gia tăng lên 150 triệu dân

vào 2050 Khí hậu bất thường với lũ lụt và hạn

hán gia tăng và kéo dài hơn, đất đai bị nhiểm

mặn, đất soi mòn và sa mạc hoá nhiều hơn trước

đây, rừng và tài nguyên thiên nhiên ngày càng

kiệt quệ, trong lúc dân số vẫn gia tăng không

kiểm soát được

tạo nên) ở Việt Nam

3.1 Tình hình chung

- Do đặc điểm về dân cư, giao thông và kinh tế

nên tình hình thảm hoạ nhân tạo ở Việt nam

tập trung chủ yếu vào các thảm hoạ do lao

động và giao thông đem lại

- Dịch bệnh SARS xảy ra năm 2003 tại 29 quốc

gia với 8.096 người nhiễm bệnh, làm 774

người tử vong Từ đầu năm 2007 đến tháng

7/2007 tại 12 quốc gia có 321 người nhiễm

bệnh chết 194 Ở Việt Nam có 98 người nhiễm

bệnh và 44 người chết

- Theo Ủy ban an toàn giao thông quốc

gia: trong 6 tháng đầu 2007, cả nước đã xảy ra7.669 vụ tai nạn giao thông, làm chết 6.910người Trung bình mỗi ngày có 38 người chết

- Vụ cháy Trung tâm thương mại quốc tếITC năm 2002 làm 60 người thiệt mạng Trongnăm 2006 cả nước đã xảy ra 478 vụ cháy rừnglàm thiệt hại 2.041,5 ha, 1.644 vụ cháy ở cơ sởhoặc nhà dân làm chết 53 người và bị thương

154 người

- Sự cố sập hai nhịp dẫn cầu Cần Thơ làm

54 công nhân tử vong và 80 người bị thương

3.2 Các thảm hoạ do con người và những thiệt hại của nó

3.2.1 Tai nạn lao động

- Tổ chức lao động quốc tế (ILO) ước tínhhàng năm trên thế giới có 120 triệu trường hợpchấn thương do tai nạn lao động và 200.000trường hợp tử vong nghề nghiệp Điều này cónghĩa là nguy cơ trung bình về tai nạn lao động

là 42/1000 người lao động với nguy cơ tử vong8,3/100.000 Ở Châu Âu nguy cơ trung bình bịtai nạn lao động là 25/1000 và nguy cơ tử vong

là 6,25/100.000 Tất cả các yếu tố có liên quanđến nghề nghiệp là nguyên nhân tiềm ẩn làmhạn chế khả năng làm việc, gây chấn thươnghoặc ảnh hưởng không có lợi cho sức khoẻngười lao động thậm chí gây tử vong

- Cũng theo tổ chức này, ước tính hàng năm

tỷ lệ nhiễm bệnh mới của các bệnh nghề nghiệptrên thế giới là 68 đến 157 triệu trường hợp, trong

số đó có khoảng 30-40% có thể dẫn tới các bệnhmãn tính và khoảng 10% dẫn tới việc mất khảnăng lao động, 0,5 – 1% tử vong Người lao động

ở các nước đang phát triển có nguy cơ tai nạnlao động và bệnh nghề nghiệp cao hơn các nướcphát triển do điều kiện lao động, lạc hậu, các dịch

vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng và trangthiết bị phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏechưa đồng bộ, chưa đầy đủ, đồng thời môitrường sống và lao động của họ có nhiều nguy cơtiếp xúc với vi khuẩn, vi rút Tỷ lệ suy dinh dưỡngcao cũng góp phần làm

Trang 28

Quản lý Thảm họa 23

tăng nguy cơ cho các bệnh liên quan đến nghề

nghiệp, làm giảm khả năng lao động

- Nguy cơ nhiễm bệnh các bệnh nghề

nghiệp và tai nạn lao động rất khác nhau ở các

ngành nghề, việc gia tăng các bệnh và tai nạn

nghề nghiệp đã gây thiệt hại không nhỏ tới nền

kinh tế của từng quốc gia và thế giới Theo

ước tính của ngân hàng thế giới (WB), chi phí

cho các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

có thể chiếm tới 10 - 20% của tổng sản phẩm

quốc dân ở một số nước Việt Nam là một

nước đang phát triển có tỷ lệ tăng trưởng được

đánh giá là khá cao so với các nước trong khu

vực và trên thế giới Cùng với sự tăng trưởng

kinh tế, tình hình tai nạn lao động và bệnh

nghề nghiệp cũng tăng theo do nhiều nguyên

nhân khách quan và chủ quan

- Theo thông báo của Bộ Lao động –

Thương binh và Xã hội Việt Nam, trong năm

2009 đã xảy ra 6.250 vụ tai nạn lao động làm

6.421 người bị nạn, có 507 vụ tai nạn lao động

chết người làm 550 người chết, 1.221 người bị

thương nặng và có 88 vụ có từ 2 người bị nạn

trở lên Lĩnh vực sản xuất gây ra nhiều tai nạn

lao động chết người là xây lắp các công trình

dân dụng, công nghiệp và công trình giao

thông chiếm 51,11%; lĩnh vực khai thác than,

khai thác khoáng sản chiếm 15,53%; lĩnh vực

cơ khí chế tạo chiếm 5,93%; còn các lĩnh vực

khác như sản xuất vật liệu xây dựng, giao

thông vận tải, sản xuất hàng tiêu dùng, luyện

kim, xây lắp điện mỗi lĩnh vực chiếm trên 2,2%

tổng số vụ lao động chết người

- Số vụ tai nạn lao động năm 2009 so với

năm 2008 tăng 414 vụ (tăng 7,09%), tổng số nạn

nhân tăng 374 người (tăng 6,18%), số vụ tai nạn

lao động chết người giảm 01 vụ và số người chết

giảm 23 người (giảm 4,01%) Nguyên nhân chính

xảy ra các vụ tai nạn đáng tiếc trên, được thống

kê như sau: tổ chức lao động chưa tốt chiếm

14,07%; không xây dựng quy trình, biện pháp

làm việc an toàn chiếm 14,81%; chưa huấn luyện

về an toàn lao động cho người lao

Trang 29

động chiếm 11,85%; không có phương tiện bảo

vệ cá nhân chiếm 5,19%; thiết bị không đảm

bảo an toàn chiếm 26,67%; không có thiết bị

an toàn chiếm 2,96%; người lao động vi phạm

quy trình quy phạm an toàn lao động chiếm

14,07%; người lao động không sử dụng

phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 4,44%;

những nguyên nhân khác như không thường

xuyên kiểm tra nhắc nhở người lao động tuân

thủ các qui định của Nhà nứoc về an toàn, vệ

sinh lao động, vi phạm các qui định về thực

hiện công tác bảo hộ lao động, chiếm 5,2%

3.2.2 Tai nạn giao thông

-Tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) là

TNGT do xảy ra đối với những phương tiện giao

thông đang tham gia giao thông trên các tuyến

đường bộ hay trên đường chuyên dùng và đối

với người đi bộ Đây là loại TNGT phổ biến và

làm nhiều người thiệt mạng, bị thương nhất ở

các quốc gia đang phát triển, khi mà hạ tầng cơ

sở cũng như ý thức tuân thủ pháp luật về giao

thông của người dân còn kém TNGTĐB là mộttrong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầucho người, trung bình mỗi năm có trên dưới 10triệu người tử vong vì TBGTĐB và hàng chụctriệu người khác bị thương tích TNGT là nguyênnhân gây tử vong hàng đầu ở Việt Nam

-Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới, tai nạn giaothông ở Việt Nam được coi là cao nhất thế giới,

cứ trong 100.000 người thì có hai chục ngườithiệt mạng vì bị xe tông, xe cán hay xe đụngnhau Theo thống kê của các cơ quan chức năng,tình hình TNGT ở Việt Nam trong những năm gầnđây là rất nghiêm trọng, năm sau tăng cao hơnnăm trước Nếu 1988 mới có gần 4.500 vụ TNGTlàm chết gần 2.500 người, bị thương hơn 5.500người, thì 15 năm sau TNGT đã tăng gấp 6,22lần, số người chết tăng gấp 5,57 lần

- Hiện nay, tính trung bình mỗi ngày TNGTcướp đi sinh mạng khoảng 35 người Nhữngnăm gần đây, TNGT đường sắt, đường thủytăng không đáng kể nhưng TNGT đường bộtăng rất mạnh TNGT đường bộ luôn chiếm

Trang 30

24 Chương 1

khoảng 97% số vụ, 98% số người chết và 99%

số người bị thương Theo thống kê có đến hơn

80% số vụ TNGT do người điều khiển phương

tiện vi phạm Luật Giao thông đường bộ, điều

này phản ánh trình độ nhận thức của người

tham gia giao thông còn thấp, chưa theo kịp

với sự phát triển tất yếu của xã hội Bên cạnh

đó, nguyên nhân của các TNGTĐB còn là do

cơ sở hạ tầng (đường, cầu), phương tiện giao

thông không đảm bảo điều kiện an toàn (quá

hạn, quá cũ, xe tự tạo )

- Cùng với đó là những thiệt hại về kinh tế,

bao gồm: chi phí mai táng người chết, chi phí y

tế cho người bị thương, thiệt hại về phươngtiện giao thông, về hạ tầng, chi phí khắc phục,điều tra vụ TNGT đó cùng với thiệt hại do haophí thời gian lao động của chính người bị tainạn và cả của những người chăm sóc người

đó Mặt khác TNGT gây nên những tác độngtâm lý cả trước mắt cũng như về lâu dài đối vớimọi người, nó để lại nhũng di chứng về tâm lýhết sức nặng nề cho người bị tai nạn, ngườithân của người đó và nếu như trong một địaphương, một quốc gia xảy ra TNGT quá nhiều

sẽ gây nên hiện tượng bất an cho cư dân ở đó

Trang 31

Chương 2:

điều dưỡng trong thảm hoạ

Trang 33

I Tổng luận về điều dưỡng trong

thảm họa

Yoshie Yamase, Tomoko UemuraJapanese Red Cross Kyushu International

College of Nursing

1 Điều dưỡng thảm hoạ là gì?

Là các hoạt động được tiến hành trên cơ

sở sử dụng tri thức và kỹ thuật riêng có của

điều trị để đạt được mục đích cao nhất là cung

cấp cách điều trị, điều dưỡng tốt nhất cho

nhiều người bị nạn nhất

Hoạt động này được triển khai với mục đích

giảm sự thiệt hại đến mức thấp nhất đối với tính

mạng, sức khoẻ của người bị thảm hoạ trong tất

cả các giai đoạn của chu kỳ thảm hoạ chứ không

chỉ riêng giai đoạn cấp tính của thảm hoạ trên cơ

sở hợp tác với các lực lượng cứu trợ khác

Dưới đây chúng tôi sẽ làm rõ sự khác nhau

giữa điều trị cấp cứu và điều trị trong thảm

hoạ, đồng thời làm rõ đặc tính của việc điều trị

trong giai đoạn cấp tính của thảm hoạ

nguồn lực điều trị đối với nhu cầu của bệnhnhân được chuẩn bị sẵn, dồi dào và có khảnăng thực hiện và có thể thực hiện ngay lậptức việc tập trung điều trị và điều dưỡng

Trong khi đó vào giai đoạn cấp tính của thảmhoạ nhu cầu về điều trị và vệ sinh công cộngvượt quá nguồn lực điều trị làm phá vỡ sự cânbằng đó Nói rõ hơn thì trong giai đoạn cấp tínhcủa thảm hoạ cho dù việc cung cấp nước, gas,điện cho các cơ sở điều trị bị rơi vào tình trạnggián đoạn, cho dù không có thuốc men và hơnthế nữa cho dù thiếu y bác sỹ thì những người bịthảm hoạ vẫn cho rằng nếu là bệnh viện thì antâm sẽ được chữa trị Cho nên rất nhiều ngườimắc bệnh nhẹ, bệnh vừa kéo tới các trại lánhnạn Trong số đó cũng có trường hợp người bịmắc bệnh nặng hoặc rất nặng được ai đó đưa tới

Tự họ không thể đi được và nếu không có ai đưatới thì họ phải nằm lại hiện trường thảm hoạ

giống và khác nhau giữa điều dưỡng cấp cứu

và điều dưỡng trong thảm hoạ.

Điều dưỡng cấpcứu, điều dưỡngthảm hoạ (giai đoạncấp tính) đều có điểmgiống nhau là “biệnpháp cấp cứu đối vớingười bệnh trong mọihoàn cảnh” Nhưngđiểm khác nhau lớn

nhất giữa chúng là sựcân bằng giữa “nhucầu về điều trị và vệsinh công cộng vàkhả năng cung cấpnguồn lực điều trị là ybác sỹ, thuốc men,dụng cụ” Xem bảng1

Trong điều dưỡngcấp cứu được tiếnhànhbình thường thì dù ởbệnh nặng hay là bệnhnhẹ

Trang 34

Tại hiện trườngthảm hoạ trước hếtcần phải cứu nhữngngười bị thương thamgia việc cứu nhữngngười còn sống sótkhông chỉ có các y bác

sỹ mà còn có quân đội,lực lượng cứu hoả vànhững người tìnhnguyện Vì phải khẩntrương

Trang 35

28 Chương 2

cứu các mạng sống nên cần ưu tiên cứu những

người bị thương và sơ cứu cho họ Xem bảng 1

Bảng 1 Thời gian giới hạn cho sự cứu sinh

Điều kiện Thời gian Dự đoán

tương laiTắc nghẽn

5 phút Chếtđường hô hấp

Chứng tràn khí Một vài giờ Chết, sốc

Sốc do chảy máu Một giờ Sốc

Suy thận,Hội chứng tai nạn Một vài giờ nhiễm trùng

trùng máuMất nước 2-7 ngày Suy thận, tửvong

Trong giai đoạn cấp tính của thảm hoạ động

đất, sóng thần, bão thì đa phần là các chấn thương

như chấn thương phần mềm (rách và đứt), gãy

xương, tổn thương cột sống, tràn khí, thủng ruột…

và cũng có nhiều trường hợp bị đa chấn thương

Bảng 2 dưới đây người ta tổng kết lại các bộ phận

chấn thương của người chết và người bị thương khi

xảy ra thảm hoạ động đất Hanshin thuộc tỉnh Hyogo

Nhật Bản năm 1995 Các chấn thương khi xảy ra

trong thảm hoạ về nguyên tắc là các chấn thương

dễ nhiễm trùng nên không được khâu mà chỉ băng

bó và thay băng thường xuyên cho đến khi không

Bảng2 bảng thống kê những chấn thương chủ yếu ở tỉnh hyogo nhật Bản

Bảng 2 bảng thống kê những chấn thương

chủ yếu ở tỉnh Hyogo Nhật Bản

Tuỳ theo chủng loại thảm hoạ việc cứu hộngười bị thương bị kẹt, vùi lấp trong đống đổnát hoặc bị kẹt trong những chiếc xe ôtô bẹpnát rất khó khăn Hơn nữa, tứ chi lại bị các vậtnặng đè và chèn ép vì vậy phải dự tính trướcHội chứng vùi lấp Trong trường hợp này nếuđội cứu hộ DMAT( Disaster Medical AssistanceTeam) trong thảm hoạ đã được huấn luyện vềmặt chuyên môn không tiến hành biện phápCSM (Confined Space Medicine) thì không thểcứu mạng người bị nạn được

Trường hợp thảm họa tập thể thì việc quantrọng nhất là phân loaị (triage) vì hiện trườngthảm họa ngổn ngang người bị thương nênphải phân loại họ thành nhóm nhẹ vừa và nặng

và quyết định việc ưu tiên điều trị.Với các biệnpháp ứng cứu cần thiết (treatmert) thì phân loạinhững người có thể về nhà và những ngườicần phải gửi về tuyến sau để điều trị(transportation) Người ta gọi chung là 3T trongthảm họa Chìa khóa để có thể cưú được nhiềungười nhất trong thảm họa chính là ở chỗ tiếnhành một cách trôi chảy ba công việc này

a crush syndrome (hội chứng vùi lấp)

Là bệnh xảy ra khi các bộ phận nhiều phầnmềm nhất như tứ chi, mông rơi vào tình trạng

bị kẹp đè nén trong một thời gian dài Các tổchức bị đè ép, hoại tử và biến tính tế bào, hồnghuyết tố (myoglobin) trong bắp thịt bị trào ra.Ngoài ra do hoại tử tế bào nên phốt pho và kalicũng bị trào ra Chúng đọng lại ở một bộ phậntrên cơ thể do bị đè nén, không tuần hoànđược trên khắp cơ thể Nhưng chúng sẽ tuầnhoàn trở lại khi sự đè nén được giải tỏa trêntoàn bộ cơ thể Đó là nguyên nhân dẫn đếnchứng kali trong máu cao, rối loạn mạch và đột

tử sau khi được cấp cứu

b DMAT là đội điều trị đã được huấn luyện

chuyên môn để tiến hành các hoạt động cấpcứu điều trị Khi các thảm họa như động đất, tainạn máy bay, tàu hỏa xảy ra thì họ có mặt ngaylập tức tại hiện trường thảm họa Tỷ lệ tử vongcũng như các chứng bệnh sau thảm họa

Trang 36

Điều dưỡng trong Thảm hoạ 29

sẽ giảm thiểu nếu các đội điều trị này có thể

vào ngay được các vùng thảm họa một cách

nhanh chóng, tiến hành điều trị khẩn cấp tại

hiện trường, chi viện cho bệnh viện và có thể

chuyển những người bị thương nặng trong

thảm họa về tuyến sau sớm

c CSM là việc điều trị dưới đống đổ nát.

Công việc của họ là tiến vào hiện trường thảm

họa, tiếp máu và cung cấp oxi cho những

người bị thương bị vùi lấp dưới các tòa nhà, bị

kẹt trong các xe ô tô bẹp dúm trước khi vận

chuyển họ về tuyến sau

theo chu trình thảm họa

Khoảng thời gian từ 48 tiếng đến 72 tiếng

sau khi thảm họa xảy ra gọi là giai đoạn cấp tính,

thời gian trong vòng 1 tháng từ sau khi thảm họa

xảy ra gọi là giai đoạn bán cấp tính Đây là giai

đoạn mà nhu cầu về y tế của người bị nạn biến

động không ngừng, trong tình trạng hỗn loạn hệ

thống y tế thông thường không hoạt động, nhân

viên cứu trợ được đưa từ bên ngoài vào, thì việc

quyết định mức ưu tiên, vận chuyển hay điều trị

bệnh nhân như thế nào, hoặc làm thế nào để

phòng ngừa các nguy hại thứ cấp có thể xảy ra

cho sức khỏe, trở thành những yếu tố quan

trọng Địa điểm hoạt động chủ yếu của giai đoạn

cấp tính là nơi xảy ra thảm họa, trạm cứu hộ tại

hiện trường, nơi lánh nạn, phòng khám hay bệnh

viện tại nơi xảy ra thảm họa Địa điểm hoạt động

chủ yếu của giai đoạn bán cấp tính là nơi lánh

nạn, phòng khám hay bệnh viện tại nơi xảy ra

thảm họa, thăm hỏi tại nhà nạn nhân Khả năng

phân loại nạn nhân cũng như đánh giá thể

Trang 37

chất là các năng lực đòi hỏi các y tá (điều

dưỡng viên) cần phải có

1) Phân loại nạn nhân (triage)

(1) Định nghĩa phân loại nạn nhân (triage)

Phân loại nạn nhân (triage) là kĩ thuật xác

định mức độ nghiêm trọng và mức độ khẩn cấp

của người bị thương, tận dụng tối đa nguồn

thiết bị y tế hạn chế sao cho đem lại hiệu quả

cao nhất trong việc cấp cứu nạn nhân

Thuật ngữ này bắt nguồn từ động từ tiếng

Pháp “trier”, chỉ việc “lựa chọn” các quả nho

hay hạt cà phê Người ta cho rằng tổng quân y

của Napoleon đã đề xuất phương pháp phân

loại nạn nhân theo mức độ ưu tiên này nhằm

đạt được hiệu quả điều trị cao nhất trong điều

kiện thiết bị y tế hạn chế trong thời chiến, sau

đó khái niệm này đã được sử dụng rộng rãi, và

khái niệm chúng ta sử dụng ngày nay được lập

ra từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất

(2) Nguyên tắc phân loại nạn nhân

Theo quy định, phân loại nạn nhân được tiến hành đối với tất cả nạn nhân

Thời gian cần thiết để phân loại đối với mỗi nạn nhân là dưới 30 giây

Tiến hành phân loại theo trình tự ưu tiên: tính mạng > chức năng > thẩm mĩ

Đeo thẻ phân loại cho nạn nhân khi tiến hành phân loại để làm rõ thứ tự ưu tiên Phân loại nạn nhân được tiến hành lặp đi lặp lại

(3) Phương pháp phân loại

Phương pháp phân loại nạn nhân “chínhxác”, “nhanh chóng”, “thông dụng” nhất làphương pháp START (Simple Triage And RapidTreatmen) Đây là phương pháp sử dụng 4 dấuhiệu “tự đi được không”, “tình trạng hô hấp”, “tìnhtrạng tưới máu (tuần hoàn)”, “tình trạng tri giác”

để phán đoán, và yêu cầu bất cứ một nhân viên y

tế nào cũng phải thực hiện được Với phươngpháp START, ban đầu dựa vào khả năng “tự đi

Trang 38

30 Chương 2

được hay không” để phân loại nạn nhân khẩn

cấp hay không khẩn cấp Tiếp theo dựa vào

“tình trạng hô hấp”, “tình trạng tưới máu (tuần

hoàn)”, “tình trạng tri giác” để xác định những

nạn nhân nào cần trị liệu khẩn cấp (Hình 1)

Mặt khác, tổ chức hoạt động phân loại nạn

nhân không chỉ diễn ra một lần, mà cần tiến hànhlặp đi lặp lại để kiểm tra xem tình trạng của nạnnhân có thay đổi hay không khi thời gian hoặc địađiểm thay đổi, ví dụ tại nơi xảy ra thảm họa, trạmcứu hộ tại hiện trường, trước khi vận chuyển,cổng bệnh viện, trước khi phẫu thuật, vv

Quy trình phân loại theo phương pháp

không

Nhịp thở < 30lần/p Đỏ山Ⅰ山

Có không

③Tưới máu CrT≦2giây

(4) Các dạng phân loại nạn nhân

Các dạng phân loại nạn nhân được chia thành 4 loại dựa theo mức độ nghiêm trọng và mức

độ khẩn cấp của người bị thương (Bảng 1)

Những người ở trong tình trạng nguy cơ đến tính mạng cần được ưu tiên chữa trị hàng đầu là

“Đỏ”, những người có thể đợi được vài giờ là “Vàng”, những người có thể tự đi là “Xanh”, nhữngngười đã tử vong hoặc có diễn biến quá nặng đang tiến gần đến trạng thái tử vong là “Đen”.Đối với những nạn nhân sắp tử vong nhưng khả năng cứu sống vẫn còn nếu tiến hành điềutrị tập trung, thì đối với các nhân viên y tế đã quen với việc áp dụng triệt để các biện pháp cứuchữa sẽ cảm thấy tội lỗi khi đeo thẻ “Đen” cho những nạn nhân này Đây là điểm khác nhau lớnnhất giữa “Best of the one” của cấp cứu y tế khẩn cấp (Emergency Medical Services) và “Best ofthe most” của y tế thảm họa (Disaster Medical Services)

Kết quả xác định được ghi vào thẻ phân loại 4 màu (Hình 2), và đeo vào chân tay hay cổ nạnnhân

Trang 39

Điều dưỡng trong Thảm hoạ 31

Bảng 1: Các dạng phân loại nạn nhân

Nhóm điều trị ưu

Trong tình trạng nguy hiểm đến tính

hô hấp, khó thở, xuất huyết, sốc, rối loạn ý thức cần trị liệu khẩn cấp.

Tính mạng cũng không bị đe dọa nếu

Vàng

tồn (vital signs) ổn định.

Các nạn nhân có khả năng tự đi được.

Ghi tên bệnh chuẩn đoán, nội dung xử lý

Mặt trước

Ghi vị trí và nội dung chấn thương

Cắt thẻ sao cho phạm vi phân loại

tương ứng ở vị trí dưới cùng của thẻ

cấp (I) thì cắt bỏ Vàng(II) và Xanh (III)

Mặt sau

Trang 40

Hình 2 Thẻ phân loại

Ngày đăng: 24/04/2019, 08:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w