1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá và tuyển chọn giống đậu xanh thích hợp trong điều kiện nước trời và xây dựng các biện pháp canh tác đậu xanh thích hợp cho vùng đất cát ven biển tỉnh thanh hóa

145 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 3,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN Tên tác giả: Nguyễn Thế Anh Tên Luận án: Đánh giá và tuyển chọn giống đậu xanh thích hợp trong điều kiện nước trời và xây dựng các biện pháp canh tác đậu xanh thích h

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THẾ ANH

ĐÁNH GIÁ VÀ TUYỂN CHỌN GIỐNG ĐẬU XANH

THÍCH HỢP TRONG ĐIỀU KIỆN NƯỚC TRỜI VÀ XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP CANH TÁC ĐẬU XANH THÍCH HỢP CHO VÙNG ĐẤT CÁT VEN BIỂN TỈNH THANH HOÁ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THẾ ANH

ĐÁNH GIÁ VÀ TUYỂN CHỌN GIỐNG ĐẬU XANH

THÍCH HỢP TRONG ĐIỀU KIỆN NƯỚC TRỜI VÀ XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP CANH TÁC ĐẬU XANH THÍCH HỢP CHO VÙNG ĐẤT CÁT VEN BIỂN TỈNH THANH HOÁ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận án

Nguyễn Thế Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Đình Hòa và TS Nguyễn Thị Chinh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,

Bộ môn Di truyền và Chọn giống cây trồng, Khoa Nông học (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Thiệu Hóa, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các hộ nông dân trên địa bàn huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa và Tĩnh Gia đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, điều tra và tiến hành các thí nghiệm đồng ruộng

Tôi xin bày tỏ niềm biết ơn tới gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên khuyến khích, chia sẻ và hỗ trợ trong quá trình thực hiện luận án./

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận án

Nguyễn Thế Anh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục hình xii

Trích yếu luận án xiii

Thesis abstract xv

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Những đóng góp mới của đề tài 4

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

1.5.1 Ý nghĩa khoa học 5

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 5

Phần 2 Tổng quan tài liệu 6

2.1 Vai trò và giá trị của cây đậu xanh 6

2.1.1 Vai trò của cây đậu xanh trong hệ thống cây trồng nông nghiệp 6

2.1.2 Giá trị dinh dưỡng của cây đậu xanh 6

2.2 Nhu cầu về điều kiện ngoại cảnh của cây đậu xanh 7

2.2.1 Nhu cầu về điều kiện khí hậu 7

2.2.2 Nhu cầu về đất đai 8

2.2.3 Nhu cầu dinh dưỡng cho cây đậu xanh 8

2.3 Sản xuất đậu xanh trên thế giới và ở Việt Nam 12

Trang 6

2.3.1 Sản xuất đậu xanh trên thế giới 12

2.3.2 Sản xuất đậu xanh ở Việt Nam 14

2.4 Biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh 16

2.4.1 Chọn tạo giống đậu xanh 16

2.4.2 Thời vụ trồng 18

2.4.3 Mật độ và khoảng cách trồng 20

2.4.4 Nghiên cứu về phân bón 21

2.5 Khả năng chịu hạn ở đậu xanh 25

2.5.1 Cơ chế chống chịu hạn của thực vật 25

2.5.2 Cơ chế chống chịu hạn của đậu xanh 27

2.5.3 Đặc điểm hình thái, sinh lý và hóa sinh liên quan đến tính chịu hạn ở

đậu xanh 29

2.5.4 Tuyển chọn giống đậu xanh có khả năng chịu hạn 30

2.6 Thời tiết, khí hậu, đất cát ven biển và hiện trạng sản xuất đậu xanh tại Thanh Hóa 31

2.6.1 Thời tiết, khí hậu 31

2.6.2 Đất cát ven biển Thanh Hóa 32

2.6.3 Hiện trạng sản xuất đậu xanh ở Thanh Hóa 33

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 34

3.1 Địa điểm nghiên cứu 34

3.2 Thời gian nghiên cứu 34

3.3 Vật liệu nghiên cứu 34

3.4 Nội dung nghiên cứu 36

3.5 Phương pháp nghiên cứu 36

3.5.1 Điều tra thực trạng sản xuất đậu xanh ở các huyện ven biển tỉnh

Thanh Hóa 36

3.5.2 Đánh giá khả năng chịu hạn của các giống đậu xanh trong điều kiện

nhân tạo 37

3.5.3 Đánh giá và tuyển chọn giống đậu xanh thích hợp với vùng đất ven biển tỉnh Thanh Hóa 41

3.5.4 Xác định một số biện pháp kỹ thuật canh tác cho giống đậu xanh triển vọng ĐX208 và ĐX16 41

Trang 7

3.5.5 Xây dựng mô hình trình diễn cho giống đậu xanh triển vọng được tuyển

chọn tại tỉnh Thanh Hóa 46

3.6 Xử lý số liệu 47

Phần 4 Kết quả và thảo luận 48

4.1 Thực trạng sản xuất đậu xanh trên đất cát ven biển tỉnh Thanh Hoá 48

4.1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng một số loại cây trồng hàng năm ở huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa và Tĩnh Gia 48

4.1.2 Thực trạng sản xuất đậu xanh ở huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa và Tĩnh Gia 50

4.1.3 Những hạn chế sản xuất đậu xanh trên vùng đất cát ven biển tỉnh

Thanh Hoá 54

4.1.4 Khả năng phát triển sản xuất đậu xanh trên vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hoá 55

4.2 Đánh giá khả năng chịu hạn của các giống đậu xanh trong điều kiện

nhân tạo 56

4.2.1 Đánh giá khả năng chịu hạn của các giống đậu xanh trong điều kiện phòng thí nghiệm bằng dung dịch PEG 6000 56

4.2.2 Đánh giá khả năng chịu hạn của các giống đậu xanh trồng trong chậu vại ở điều kiện nhà có mái che 60

4.2.3 Đánh giá khả năng chịu hạn trong nhà lưới 64

4.3 Đánh giá và tuyển chọn giống đậu xanh thích hợp với vùng đất ven biển tỉnh Thanh Hóa 68

4.3.1 Thời gian sinh trưởng của các giống đậu xanh 68

4.3.2 Chiều cao cây, số cành và số đốt của các giống đậu xanh 69

4.3.3 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống đậu xanh 70

4.3.4 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu xanh 71

4.3.5 Năng suất và sự ổn định về năng suất của các giống đậu xanh trên vùng đất cát ven biển Thanh Hóa 72

4.3.6 Hàm lượng protein và lipit thô của các giống đậu xanh 76

4.4 Biện pháp kỹ thuật canh tác cho giống đậu xanh ĐX208 tại Nga Sơn, Hoằng Hóa và giống đậu xanh ĐX16 tại Tĩnh Gia 77

4.4.1 Xác định thời vụ gieo trồng thích hợp cho giống đậu xanh tuyển chọn ĐX208 và ĐX16 77

Trang 8

4.4.2 Xác định mật độ gieo trồng thích hợp cho giống đậu xanh ĐX208 và

ĐX16 83

4.4.3 Xác định thời điểm bón và liều lượng phân bón thích hợp cho giống đậu xanh ĐX208 và ĐX16 90

4.5 Xây dựng mô hình trình diễn giống đậu xanh tuyển chọn ĐX208 và ĐX16 ở vụ hè năm 2014 trên vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hóa 97

4.5.1 Kết quả trình diễn giống ĐX208 và ĐX16 97

4.5.2 Hiệu quả kinh tế của các mô hình 98

Phần 5 Kết luận và đề nghị 100

5.1 Kết luận 100

5.2 Đề nghị 101

Danh mục công trình công bố có liên quan đến luận án 102

Tài liệu tham khảo 103

Phụ lục 114

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

ANOVA Analysis of Variance - Phân tích phương sai

AVRDC Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu Á

BNNPTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

LMR Root moisture content - Hàm lượng nước trong rễ

LRWC Leaf relative water content- Hàm lượng nước tương đối trong lá LWC Leaf water content - Hàm lượng nước trong lá

MĐ Mật độ

NS Năng suất

NSTT Năng suất thực thu

P 1000 Khối lượng 1000 hạt

PEG Polyethylene glycol

PRA Participartory Rural Appraisal – Đánh giá nông thôn có sự tham

gia của người dânQCVN Qui chuẩn Việt Nam

QĐ Quyết định

RRA Rapid Rural Appraisal – Đánh giá nhanh nông thôn

STPT Sinh trưởng, phát triển

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

3.1 Danh sách các giống đậu xanh nghiên cứu 34

3.2 Nồng độ PEG 6000 và áp suất thẩm thấu 37

3.3 Thành phần hóa học đất ở 3 điểm nghiên cứu đại diện cho vùng đất cát ven biển Thanh Hóa 44

4.1 Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng chính của huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa và Tĩnh Gia năm 2011 49

4.2 Diện tích đất trồng màu và diện tích đậu xanh tại các xã điều tra của huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa và Tĩnh Gia 50

4.3 Chi phí sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất đậu xanh ở huyện Hoằng Hoá 52

4.4 Chi phí và hiệu quả kinh tế sản xuất đậu xanh ở huyện Nga Sơn 53

4.5 Chi phí và hiệu quả kinh tế sản xuất của đậu xanh ở huyện Tĩnh Gia 53

4.6 Ảnh hưởng của các nồng độ PEG 6000 khác nhau đến tỷ lệ mọc mầm (%) của 12 giống đậu xanh 57

4.7 Ảnh hưởng của các nồng độ PEG 6000 khác nhau đến khối lượng cây mầm (g/10 cây mầm) của 12 giống đậu xanh 58

4.8 Ảnh hưởng của nồng độ PEG 6000 khác nhau đến chiều dài mầm và chiều dài rễ mầm (cm) của 12 giống đậu xanh 59

4.9 Ảnh hưởng của hạn đến chiều cao cây (cm) thí nghiệm trong chậu vại 60

4.10 Ảnh hưởng của hạn đến phản ứng héo cây của các giống ở giai đoạn

cây con 61

4.11 Ảnh hưởng của mức hạn và giống đến phản ứng héo của cây giai đoạn

ra hoa 62

4.12 Ảnh hưởng của hạn đến phản ứng héo của các giống ở giai đoạn quả mẩy 63

4.13 Ảnh hưởng của hạn đến thời gian sinh trưởng, phát triển của các giống

đậu xanh 64

4.14 Ảnh hưởng của hạn tới chiều cao cây, số lá và số đốt của các giống

đậu xanh 65

4.15 Ảnh hưởng của hạn đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống đậu xanh 67

Trang 11

4.16 Thời gian từ mọc đến ra hoa và thời gian sinh trưởng (ngày) của các giống

đậu xanh 68

4.17 Chiều cao cây, số cành/cây và số đốt/cây của của các giống đậu xanh 69

4.18 Mức độ nhiễm bệnh lở cổ rễ và đốm nâu của các giống đậu xanh 70

4.19 Tỉ lệ (%) nhiễm sâu cuốn lá và sâu đục quả của các giống đậu xanh 71

4.20 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu xanh 72

4.21 Phân tích phương sai về năng suất hạt của các giống đậu xanh ở vụ Hè 2011, vụ Xuân 2012 và vụ Hè 2012 73

4.22 Năng suất trung bình (tấn/ha) và thứ bậc của các giống đậu xanh tại 3 điểm và hai vụ Xuân, hè 2011-2012 73

4.23 Hệ số tương quan thứ bậc của các giống đậu xanh ở 6 môi trường

khác nhau 74

4.24 Năng suất trung bình của giống, chỉ số thích nghi và chỉ số ổn định của 12 giống đậu xanh trên 6 môi trường 75

4.25 Hàm lượng protein thô và lipit thô của các giống đậu xanh 76

4.26 Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng, phát triển của giống đậu xanh ĐX208 tại Nga Sơn 77

4.27 Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng, phát triển của giống đậu xanh ĐX208 tại Hoằng Hoá 78

4.28 Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng, phát triển của giống đậu xanh ĐX16 tại Tĩnh Gia 78

4.29 Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến khả năng chống đổ và mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống ĐX208 tại Nga Sơn 79

4.30 Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến khả năng chống đổ và mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống ĐX208 tại Hoằng Hoá 80

4.31 Khả năng chống đổ và mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống ĐX16 tại Tĩnh Gia 80

4.32 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu xanh ĐX208 tại Nga Sơn 81

4.33 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu xanh ĐX208 tại Hoằng Hóa 82

Trang 12

4.34 Ảnh hưởng của thời vụ gieo đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng

suất của giống đậu xanh ĐX16 tại Tĩnh Gia 82 4.35 Ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến sinh trưởng phát triển của giống đậu

xanh ĐX208 tại Nga Sơn 83 4.36 Ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến sinh trưởng, phát triển của giống đậu

xanh ĐX208 tại Hoằng Hoá 84 4.37 Ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển

của giống đậu xanh ĐX16 tại Tĩnh Gia 84 4.38 Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng chống đổ và mức độ nhiễm sâu bệnh

hại của giống ĐX208 tại Nga Sơn 85 4.39 Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng chống đổ và mức độ nhiễm sâu bệnh

hại của giống ĐX208 tại Hoằng Hoá 86 4.40 Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng chống đổ và mức độ nhiễm sâu bệnh

hại của giống ĐX16 tại tĩnh Gia 86 4.41 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng

suất của giống đậu xanh ĐX208 tại Nga Sơn 87 4.42 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng

suất của giống đậu xanh ĐX208 tại Hoằng Hóa 88 4.43 Ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của

giống đậu xanh ĐX16 tại Tĩnh Gia 89 4.44 Ảnh hưởng của thời điểm bón và liều lượng phân bón đến chiều cao cây, số

cành cấp 1 và thời gian sinh trưởng của giống đậu xanh ĐX208 tại Nga Sơn

và Hoằng Hóa 90 4.45 Ảnh hưởng của thời điểm bón và liều lượng phân bón đến chiều cao cây, số

cành cấp 1 và thời gian sinh trưởng của giống đậu xanh ĐX16 tại Tĩnh Gia

vụ Hè (2012 và 2013) 91 4.46 Phân tích phương sai về năng suất đối với giống đậu xanh ĐX208 ở Nga

Sơn, Hoằng Hóa và giống ĐX 16 ở Tĩnh Gia 92 4.47 Ảnh hưởng của thời điểm bón và liều lượng phân bón đến số quả, số hạt và

năng suất giống đậu xanh ĐX208 tại Nga Sơn 93 4.48 Ảnh hưởng của thời điểm bón và liều lượng phân bón đến số quả, số hạt và

năng suất giống đậu xanh ĐX 208 tại Hoằng Hóa 94

Trang 13

4.49 Ảnh hưởng của thời điểm bón và liều lượng phân bón đến số quả, số hạt và

năng suất giống đậu xanh ĐX 16 tại Tĩnh Gia 95 4.50 Tổng thu, tổng chi và lãi của các công thức phân bón tại Nga Sơn và Hoằng

Hóa (giống ĐX208) và tại Tĩnh Gia (giống ĐX16) 96 4.51 Các chỉ tiêu liên quan đến sinh trưởng, năng suất và mức độ sâu bệnh hại

trong mô hình trình diễn hai giống đậu xanh ĐX208 và ĐX16 tại huyện Nga Sơn và Hằng Hóa trong vụ Hè 2014 97 4.52 Hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất giống đậu xanh mới so với sản xuất đại

trà trên một ha ở Hoằng Hóa và Nga Sơn vụ Hè năm 2014 99

Trang 14

DANH MỤC HÌNH

3.1 Đánh giá khả năng chịu hạn trong nhà lưới 383.2 Thí nghiệm đánh giá khả năng chịu hạn trong nhà có mái che 404.1 Mối quan hệ giữa hệ số hồi quy và độ lệch so với hồi quy của 12 giống đậu

xanh qua 6 môi trường 75

Trang 15

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN

Tên tác giả: Nguyễn Thế Anh

Tên Luận án: Đánh giá và tuyển chọn giống đậu xanh thích hợp trong điều kiện nước

trời và xây dựng các biện pháp canh tác đậu xanh thích hợp cho vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hóa

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài luận án là: 1) Xác định được yếu tố hạn chế chính trong sản xuất đậu xanh trên vùng đất cát biển tỉnh Thanh Hóa; 2) Đánh giá các khả năng chịu hạn của các giống đậu xanh; 3) Tuyển chọn giống đậu xanh có thời gian sinh trưởng (TGST) ngắn hoặc trung ngày, năng suất cao, chịu điều kiện nước trời, chín tập trung phù hợp với điều kiện canh tác nước trời; 4) Xác định biện pháp canh tác tổng hợp đậu xanh cho vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hoá cho giống được tuyển chọn

Phương pháp nghiên cứu

i) Thực trạng sản xuất đậu xanh ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa được đánh giá bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), nhóm cung cấp thông tin chủ lực (KIP)

ii) Khả năng chịu hạn của các giống đậu xanh được đánh giá trong điều kiện nhân tạo, gồm:

+ Đánh giá khả năng nảy mầm của hạt qua xử lý hạt với dung dịch thẩm thấu polyethylene glycol 6000 ở nồng độ 10%, 15% và 20%

+ Đánh giá khả năng chịu hạn của các giống đậu xanh trồng trong chậu vại, trong nhà có mái che và không tưới nước ở thời kỳ nhất định

iii) So sánh và tuyển chọn giống đậu xanh thích hợp điều kiện canh tác nhờ nước trên đồng ruộng

iv) Xác định thời vụ, mật độ, lượng phân bón và thời điểm bón phân thích hợp cho hai giống ĐX208 và ĐX16

v) Xây dựng mô hình trình diễn cho giống đậu xanh được tuyển chọn tại vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hóa

Kết quả chính và kết luận

Những yếu tố hạn chế sản xuất đậu xanh ở vùng đất cát ven biển Thanh hóa gồm: sự quan tâm đầu tư hỗ trợ từ phía Nhà nước còn thiếu; sản xuất mang tính tự cung

Trang 16

tự cấp; thiếu bộ giống có năng suất cao, thích nghi điều kiện nước trời, chống chịu sâu bệnh hại và ngắn ngày; chưa có qui trình canh tác đậu xanh phù hợp với điều kiện sinh thái và thổ nhưỡng của địa phương; đất nghèo chất hữu cơ, đạm; lượng mưa phân bố không đều trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây đậu xanh

Thông qua điều kiện hạn nhân tạo, các giống Tằm Thanh Hóa, ĐX17, ĐXVN5, ĐX208 là những giống cho thấy khả năng chịu hạn tốt ở các giai đoạn sinh trưởng, cho năng suất cao và có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể sử dụng cho các vùng khó khăn

về nước tưới và vùng đất cát ven biển

Thông qua đánh giá, so sánh các đặc điểm nông sinh học và năng suất, 02 giống đậu xanh ĐX208 và ĐX16 thể hiện là những giống ngắn ngày, có năng suất cao

ở cả hai vụ Xuân và vụ Hè, năng suất ổn định và thích nghi tốt với môi trường đất cát ven biển Thanh Hóa Giống ĐX208 có thời gian sinh trưởng trong vụ Xuân và Hè tương ứng là 68 và 63 ngày, năng suất tương ứng là 12,8 và 15,9 tạ/ha Giống ĐX16

có thời gian sinh trưởng rất ngắn (61 ngày trong vụ Xuân và 56 ngày trong vụ Hè), năng suất vụ Xuân đạt 12,2 tạ/ha và vụ Hè đạt 15,2 tạ/ha rất thích hợp trong cơ cấu luân canh cây trồng của địa phương

Đối với giống ĐX208, thời vụ từ 13-20/06 hàng năm với mật độ trồng 15-20 cây/m2

và bón phân với liều lượng N-P-K (40kg N - 60kg P205 - 40kg K2O) chia bón thúc 2 lần (lần I bón vào lúc cây có 1-2 lá thật, lần II khi cây có 6-7 lá thật) trên nền 8 tấn phân chuồng và 500kg vôi bột bón lót trước khi bừa lên luống, rạch hàng Đối với giống ĐX16, thời vụ từ 10-24/06 hàng năm; mật độ từ 20-25 cây/m2 với lượng NPK (40kg N + 60kg P2O5 + 40kg K2O) chia bón thúc 2 lần (lần I bón vào lúc cây có 1-2 lá thật, lần II khi cây có 4-5 lá thật) trên nền 8 tấn phân chuồng và 500kg vôi bột bón lót trước khi bừa lên luống, rạch hàng

Mô hình trình diễn giống mới ĐX208 và ĐX16 sản xuất theo quy trình đã cải tiến ở 2 huyện Nga Sơn, Hoằng Hoá đạt hiệu quả kinh tế cao hơn ruộng sản xuất đại trà

từ 69,3-168,7%

Trang 17

THESIS ABSTRACT

PhD candidate: Nguyen The Anh

Thesis title: Evaluation and selection of suitable mungbean varieties for rainfed

agriculture conditions and development of suitable farming pratices for coastal sandy areas of Thanh Hoa province

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture

Research Objectives

1) To identify the factors limiting mungbean production in the coastal sandy areas of Thanh Hoa province; 2) To evaluate drought tolerance of the mungbean vrieties; 3) To select mungbean varieties with early maturity, high yield, synchronous maturity adapted to rainfed condition; 4) To determine integrated farming practices for selected mungbean varieties grown in the coastal sandy areas

Materials and Methods

i) The factors limiting mungbean production in the coastal sandy areas of Thanh Hoas province were identified through surveys on current status of production by using partipatory rural appraisal (PRA) and key information panel (KIP)

ii) Drought tolerance of mungbean varieties was evaluated under artifcial conditions through:

+ Germination by treatment seeds with osmotic solution of polyethylene glycol

v) Production pilot/demonstration was implemented in representative coastal sandy areas of Thanh Hoa province

Main findings and conclusions

Factors limiting mungbean production in coastal sandy areas of Thanh Hoa province included limited support from the government; subsistence farming; lack of

Trang 18

high-yielding varieties with pest resistance and early maturity suitable for rainfed condition, no cultural package available for local condition; soil infertility with poor organic matter, low nitrogen availability; and uneven rainfall distribution during mungbean crop growth

Atificial drought tolerance evaluation revealed that varieties ĐX17, ĐXVN5, and ĐX208 are drought tolerant at different growth stages, high yielding with early maturity These varieties can be adopted for drought prone areas at the coast of Thanh Hoa

By comparing agronomical attributes and yield, two varieties ĐX208 and ĐX16 were identified as early maturing and high, stable yielding varieties in both spring and summer-autumn croppng season These varieties are suitable to the local cropping pattern

The sowing time from 13-20/06 with planting density of 15-20 plants/m2 and fertilizer rate of 40kg N + 60kg P205 + 40kg K2O split into two applications (at 1-2 true leaf and at 6-7 true leaf stage) were suitble for variety ĐX208 Sowing time from 10/06 - 24/06 with planting density of 20-25 plants/m2 and fertilizerrate of 40kg N + 60kg P2O5 + 40kg K2O split into two applications (at 1-2 true leaf and at 4-5 true leaf stage) were suitable for ĐX16

Three demonstration plots applied the above identified cultural practices were sucessfully estblished for two mung bean varieties ĐX208 and ĐX16 in Nga Son and Hoằng Hoá districts, respectively The demonstration yielded higher economic efficiency by 69.3-168.7% compared with farmers’ conventional practices

Trang 19

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ở Việt Nam đậu xanh là một trong 3 cây đậu đỗ chính đứng sau lạc và đậu tương Cây đậu xanh đã được trồng từ lâu đời, rải rác từ Nam ra Bắc, từ các tỉnh đồng bằng đến trung du và miền núi, chủ yếu dựa vào điều kiện nước trời Mặc dù diện tích sản xuất đậu xanh còn ít nhưng đậu xanh là cây trồng ngắn ngày, thích nghi rộng nên được bố trí trong nhiều cơ cấu cây trồng (luân canh, trồng xen, trồng gối) mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nông dân một số tỉnh duyên hải miền Trung, vùng cao nguyên trung phần và một số vùng bãi ven sông ở miền Bắc (Nguyễn Văn Chương và cs., 2014)

Ở Việt Nam, đất cát phân bố chủ yếu ở các tỉnh ven biển miền Trung, từ Thanh Hóa đến Bình Thuận Vùng ven biển Thanh Hóa có chiều dài 102km, bao gồm các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia và thành phố Sầm Sơn Tổng diện tích đất tự nhiên 99.882ha, trong đó đất nông nghiệp đạt 53.068 ha, chiếm 53,1% diện tích đất tự nhiên (Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, 2013) Trong hệ thống cây trồng màu của vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hóa, cây lạc đã có những tiến bộ vượt bậc về năng suất và sản lượng do địa phương đã có những chủ trương, đầu tư ứng dụng các tiến bộ về giống mới

và biện pháp canh tác lạc vào sản xuất Diện tích lạc vùng đất cát ven biển đạt 8.820ha năm 2013, chiếm 65,6% diện tích lạc toàn tỉnh (Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, 2013) Cây trồng vụ Hè, trên diện tích canh tác nước trời người dân trồng đậu xanh và vừng Cây đậu xanh được trồng chủ yếu trên đất chuyên màu vùng thấp có độ ẩm tốt trong cơ cấu lạc vụ Xuân - đậu xanh Hè - ngô Đông hoặc lạc Thu Đông, rau màu các loại Tuy nhiên, cho đến nay người trồng đậu xanh ở Thanh Hóa nói chung và vùng ven biển nói riêng vẫn chủ yếu đang sử dụng giống đậu xanh địa phương lâu đời (đậu tằm), năng suất thấp chưa phù hợp cho vùng đất cát ven biển Tuyển chọn giống có tiềm năng năng suất thích nghi với điều kiện đất cát có thể khai thác tiềm năng đất đai còn khá lớn

Đậu xanh là cây họ đậu có thời gian sinh trưởng ngắn, sinh trưởng khỏe,

chịu được khí hậu khô nóng (Hussain et al., 2011; Nair et al., 2013) Đậu xanh

cũng được coi là cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu vì nó có thể chịu được khô hạn ở đầu thời vụ, chịu được khí hậu khô nóng trong vụ Hè và sinh trưởng, thích ứng trên đất nghèo dinh dưỡng (Phạm Văn Chương và cs., 2011; Nguyễn Quốc Khương và cs., 2014) Do đó, cây đậu xanh có thể gieo trồng và phát triển sản xuất trong vụ Hè trên vùng đất cát ven biển của Thanh Hóa trong điều kiện

Trang 20

canh tác dựa vào nước trời Tuy nhiên, năng suất đậu xanh trên vùng đất cát ven biển tương đối thấp do chưa được quan tâm chọn giống thích hợp, quản lý và sử dụng các biện pháp canh tác phù hợp Trong các biện pháp canh tác, thời vụ, mật

độ và phân bón là những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng năng suất

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về giống và biện pháp kỹ thuật trên cho đậu xanh chủ yếu được thực hiện trên đất đất thích hợp trồng đậu xanh, trong khi đó nghiên cứu về khả năng chịu hạn cũng như các tiến bộ kỹ thuật của cây đậu xanh cho vùng đất cát ven biển chưa nhiều Ngoài giống, năng suất hạt

và các yếu tố cấu thành năng suất chịu chi phối bởi mật độ và thời vụ (Sarkar et

al., 2004; Kabir and Sarkar, 2008) Quy chuẩn quốc gia về khảo nghiệm giá trị

canh tác và giá trị sử dụng của giống đậu xanh (QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT) khuyến cáo mật độ 25 cây/m2 trong khung thời vụ tốt nhất với từng nhóm giống tại địa phương Tuy nhiên, mật độ đậu xanh ngoài thời vụ còn phụ thuộc vào loại đất và giống, đặc biệt thời gian sinh trưởng của giống Trong điều kiện vụ Hè Thu ở vùng đất cát ven biển Nghệ An, mật độ tối ưu được xác định cho giống ĐX208 và ĐX22 là 20 cây/m2, trong khi đó mật độ tối ưu cho giống ĐX16 là 25 cây/m2

(Phan Thị Thu Hiền, 2017)

Cây đậu xanh có khả năng thích ứng rộng, chịu hạn khá, ngắn ngày, nhu cầu nước và phân bón thấp Tuy nhiên, năng suất tối đa thu được trên đất có độ phì cao, đất thịt pha cát có khả năng thoát nước Trong thực tế, đậu xanh chỉ được xem là cây trồng thứ yếu, ít được quan tâm về các điều kiện canh tác nên năng suất thấp, chưa kể đến tiềm năng năng suất của các giống hiện có Tuy là cây họ đậu, có khả năng cố định đạm, nhưng đậu xanh vẫn cần bón bổ sung đạm,

lân và kali để hình thành và cải thiện năng suất (Malik et al., 2003) Hơn nữa,

hoạt động của vi khuẩn cố định đạm phụ thuộc vào ẩm độ đất, chất hữu cơ, lân, kali, canxi và các yếu tố vi lượng Theo Quy chuẩn quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống đậu xanh (QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT), lượng phân khuyến cáo, ngoài phân chuồng/phân hữu cơ và vôi, lượng phân vô cơ bón cho 1ha là 30-50kg N, 50-60kg P2O5 và 50-60kg K2O tùy điều kiện cụ thể Quy chuẩn này áp dụng cho đất có thành phần cơ giới nhẹ,

độ phì đồng đều và chủ động tưới tiêu Cũng theo quy chuẩn này, lượng phân hữu cơ, toàn bộ lân, ½ lượng đạm, ½ lượng kali được bón lót khi gieo và chỉ bón thúc 1 lần khi cây có 2-3 lá thật Trong thực tế, liều lượng, thời điểm và số lần bón phụ thuộc nhiều vào thành phần cơ giới của đất Trên đất thịt pha cát khi bón liều lượng 90kg N và 120kg P2O5 (Sadeghipour et al., 2010)hoặc bón 90kg K2O trên nền 50-75kg N và P2O5 (Hussain et al., 2011) cho 1ha năng suất đậu xanh

đạt cao nhất, trong khi đó với điều kiện đất sét đạt năng suất cao nhất khi bón

Trang 21

70kg N/ha (Azadi et al., 2013) Đậu xanh sinh trưởng và cho năng suất tối đa trên đất có độ pH trong khoảng 6,2 đến 7,2 (Oplinger et al., 1990), trong khi đó đất

cát có độ pH thấp (pHH2O = 4,6) (Ha et al., 2005) Kết quả phân tích đất cho thấy,

đất cát ven biển Thanh Hóa nghèo chất hữu cơ, nghèo đạm và kali tổng số, nghèo lân dễ tiêu Do đó đất cát ven biển có khả năng trao đổi cation thấp (Nguyễn Văn Toàn, 2004) Vì vậy, trong điều kiện đất cát ven biển, bón phân đạm sớm có thể kích thích sinh trưởng và thúc đẩy sự hình thành các cơ quan sinh dưỡng ở thời

kỳ sinh trưởng ban đầu, đặc biệt trên đất nghèo vi khuẩn cố định đạm Tuy nhiên, bón tập trung lượng phân cùng lúc đối với đất nghèo hữu cơ như đất cát có thể

dẫn đến mất mát do thấm (Nyamangara et al., 2003) Hơn nữa, đất cát có khả

năng giữ nước kém và sự thấm chất dinh dưỡng mạnh hơn, nên bón phân liều lượng cao hơn và nhiều lần là cần thiết để khắc phục độ phì thấp và khả năng giữa chất dinh dưỡng kém của đất Trong các yếu tố dinh dưỡng, N dễ bị thấm hơn trong đất cát so với đất thịt, do đó có thể giảm thiểu N trong đất vào thời điểm trước khi cây có thể hấp thụ được Mặc dù cây đậu xanh khá phù hợp trên đất chuyên màu vùng ven biển sau thu hoạch lạc Xuân, nhưng năng suất vẫn thấp

so với tiềm năng của giống Một mặt, sản xuất đậu xanh còn mang tính quảng canh, nông dân chưa chú trọng đến việc đầu tư phân bón Rất ít hộ gia đình bón

bổ sung phân lân và kali cho cây đậu xanh và chỉ bón một lượng đạm rất nhỏ vào thời kỳ cây có 4-5 lá Đối với đất cát, liều lượng phân bón và thời điểm bón có quan hệ với lượng mưa và tần suất mưa Do đó, sử dụng phân bón với liều lượng hợp lý và bón vào thời kỳ sinh trưởng phù hợp có thể cải thiện năng suất đậu xanh trên đất cát

Cải thiện năng suất, mở rộng diện tích, hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung cho đậu thực phẩm đa giá trị này trên vùng đất cát nói chung và đất cát ven biển nói riêng dựa vào nước trời có thể hiện thực hóa thông qua tuyển chọn giống đậu xanh có tiềm năng năng suất thích nghi vụ Hè trên đất cát ven biển và xây dựng, áp dụng các biện pháp canh tác đậu xanh phù hợp

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Xác định được một số giống đậu xanh và các biện pháp canh tác thích hợp cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao trong điều kiện canh tác nước trời ở vụ Hè trên vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hóa

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định được yếu tố hạn chế chính trong sản xuất đậu xanh trên vùng đất cát biển tỉnh Thanh Hóa

Trang 22

- Đánh giá các giống đậu xanh về khả năng chịu hạn trong điều kiện gây hạn nhân tạo; đánh giá năng suất và tính ổn định năng suất của các giống trên điều kiện đồng ruộng

- Tuyển chọn được 1 đến 2 giống đậu xanh có thời gian sinh trưởng (TGST) ngắn hoặc trung ngày, năng suất cao, chín tập trung thích hợp với điều kiện canh tác nước trời vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hoá

- Xác định biện pháp canh tác tổng hợp đậu xanh cho vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hoá cho giống được tuyển chọn

1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu gồm 12 giống đậu xanh, trong đó 11 giống cải tiến thu nhận từ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam và một giống địa phương (Tằm Thanh Hóa) được sử dụng làm đối chứng

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung đánh giá khả năng chịu hạn ở giai đoạn nảy mầm và cây non của một số giống đậu xanh, ảnh hưởng của điều kiện hạn đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất một số giống đậu xanh trong điều kiện hạn nhân tạo trong nhà có mái che, tuyển chọn được giống đậu xanh có khả năng chịu hạn, phù hợp với điều kiện nước trời và xác định biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp (phân bón, thời vụ trồng, mật độ gieo) cho giống triển vọng ở vùng đất cát biển tỉnh Thanh Hoá Đồng thời đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình ứng dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất

Các thí nghiệm về đánh giá đặc điểm nông sinh học và tuyển chọn giống; xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác và xây dựng mô hình trình diễn được triển khai tại 3 huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa và Tĩnh Gia của tỉnh Thanh Hóa Các thí nghiệm đánh giá khả năng chịu hạn trong điều kiện nhân tạo được tiến hành tại Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Các thí nghiệm được tiến hành từ năm 2011 đến năm 2013/2014

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Đề tài xác định các yếu tố hạn chế đến sự phát triển sản xuất đậu xanh ở vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hóa, gồm: 1) Thiếu bộ giống có năng suất cao, chịu điều kiện canh tác nhờ nước trời, ngắn ngày; 2) Quy trình canh tác đậu xanh phù hợp với điều kiện sinh thái, thời tiết và thổ nhưỡng của vùng đất cát ven biển chưa hoàn thiện; 3) Đất canh tác đậu xanh là đất nghèo chất hữu cơ, đạm tổng số

Trang 23

và đạm dễ tiêu trong khi đó lượng mưa phân bố không đều trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây đậu xanh

- Tuyển chọn được hai giống đậu xanh ĐX16 và ĐX208 thích hợp với vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hoá Giống ĐX208 có thời gian sinh trưởng trong vụ Xuân và Hè tương ứng là 68 và 63 ngày, năng suất tương ứng là 12,8 và 15,9 tạ/ha Giống ĐX16 có thời gian sinh trưởng rất ngắn (61 ngày trong vụ Xuân và 56 ngày trong vụ Hè), năng suất vụ Xuân đạt 12,2 tạ/ha và vụ Hè đạt 15,2 tạ/ha rất thích hợp trong cơ cấu luân canh cây trồng của địa phương

- Xác định được biện pháp canh tác tổng hợp đậu xanh cho vùng đất cát ven biển tỉnh Thanh Hoá cho hai giống đậu xanh ĐX16 và ĐX208 cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao Đối với giống ĐX16, thời vụ Hè thích hợp từ 10-24/06 hàng năm, mật độ từ 20-25 cây/m2

và liều lượng bón 40kg N + 60kg P2O5 + 40kg K2O được bón thúc lần 2 sớm hơn vào thời kỳ 1-2 lá thật và 4-5 lá thật Đối với giống trung ngày ĐX208, thời vụ từ 13-20/06 hàng năm với mật độ trồng 15-20 cây/m2

, liều lượng phân bón 40kg N + 60kg P205 + 40kg K2O và bón thúc 2 lần thời kỳ 1-2

Sản phẩm của đề tài là tài liệu khoa học có giá trị phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu về cây đậu xanh

Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án có khả năng áp dụng cho vùng đất cát ven biển Thanh Hóa, vùng đất cát ven biển miền Trung và các địa phương có điều kiện đất đai và khí hậu tương tự

Trang 24

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 VAI TRÕ VÀ GIÁ TRỊ CỦA CÂY ĐẬU XANH

2.1.1 Vai trò của cây đậu xanh trong hệ thống cây trồng nông nghiệp

Giá trị kinh tế của cây đậu xanh không chỉ đối với đời sống con người mà còn có một giá trị vô cùng quan trọng khác về mặt sinh học, đó là khả năng cố

định ni tơ khí quyển thành đạm cung cấp cho cây nhờ loài vi khuẩn Rhizobium

vigna cộng sinh ở bộ rễ Lượng đạm cố định được phụ thuộc vào môi trường đất,

biến động từ 30 đến 107 kg/ha (Poehlman, 1991) Đất sau trồng cây đậu xanh được cải thiện rõ rệt về thành phần lý, hoá tính có lợi cho các cây trồng sau, nhất

là đối với các loại cây trồng có nhu cầu cao về đạm dễ tiêu

Đậu xanh là cây trồng ưa nóng có thời gian sinh trưởng ngắn, bắt đầu ra hoa khoảng 30 ngày và chín từ 65-85 ngày sau gieo Đậu xanh thích ứng với nhiều loại đất và kiểu khí hậu khác nhau, có thể trồng nhiều vụ trong năm (trừ mùa đông lạnh) nên có thể tham gia vào nhiều công thức luân canh cây trồng (trồng thuần, trồng xen, trồng gối) góp phần nâng cao giá trị sử dụng đất (Đường Hồng Dật, 2006) Trong hệ thống gối vụ, đậu xanh được trồng chủ yếu với vai trò cây trồng phụ Sử dụng đậu xanh trong hệ thống gối vụ có thể tận dụng triệt để diện tích đất giữa các giai đoạn sinh trưởng của cây trồng chính, sử dụng lao động dư thừa và tạo ra sản phẩm giàu protein cho bữa ăn hàng ngày Hơn nữa, lượng đạm trong đất được cải thiện và có lợi cho cây trồng sau Trồng đậu xanh xen sắn cho thu nhập gấp 2,88 lần và lượng đất bị mất đi trong quá trình canh tác giảm 26,29% so với trồng sắn thuần (Nguyễn Ngọc Quất, 2008;

Nguyễn Thanh Phương và Nguyễn Danh, 2010) Trồng xen canh với mía, đậu

triều, bạc hà, cây ăn quả, đậu xanh có thể đạt năng suất 0,7-1,0 tấn/ha mà không

làm suy giảm năng suất cây trồng chính (Shanmugasundaran et al., 2004). Đối với những vùng đất dư thừa lao động gia đình, áp dụng các công thức lúa với đậu xanh cho hiệu quả tốt, vừa tăng thu nhập vừa giải quyết công ăn việc làm cho người lao động (Đường Hồng Dật, 2006)

2.1.2 Giá trị dinh dƣỡng của cây đậu xanh

Đậu xanh là cây thực phẩm ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao Hạt đậu xanh giàu hydratcacbon, protein và các loại vitamin khác Protein đậu xanh chứa đầy đủ các axit amin không thay thế và tương đối phù hợp với tiêu chuẩn dinh

Trang 25

dưỡng dành cho trẻ em được tổ chức Nông lương và y tế thế giới đưa ra (Khatik

Hạt đậu xanh được chế biến thành rất nhiều sản phẩm khác nhau như làm giò, bánh đậu xanh, đồ xôi, nấu chè, làm miến, làm giá, chế biến bột dinh dưỡng (Đường Hồng Dật, 2006)

Trồng đậu xanh không những chỉ cung cấp thức ăn bổ dưỡng cho con người mà còn được sử dụng như cây dược liệu Vỏ hạt đậu xanh vị ngọt, tính nhiệt, không độc, có tác dụng giải nhiệt, giải độc Dùng nấu ăn để tiêu phù thũng,

hạ bí, giải nhiệt độc, giải các chất độc của thuốc và kim loại, hạt đậu xanh còn dùng chữa bệnh đái tháo đường, phát nóng, sưng quai hàm, nhức nhối Bột đậu xanh chữa được bệnh nhân trúng phải thuốc độc, ngất đi nhưng tim còn đập

(Nguyễn Tiến Mạnh và cs., 1995)

2.2 NHU CẦU VỀ ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH CỦA CÂY ĐẬU XANH

2.2.1 Nhu cầu về điều kiện khí hậu

2.2.1.1 Nhiệt độ và ánh sáng

Đậu xanh là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và Á nhiệt đới của vùng Trung Á, nên khả năng thích ứng với nhiệt độ dao động trong phạm vi rộng từ 16-36oC Tuy nhiên, đậu xanh sinh trưởng tốt nhất trong phạm vi nhiệt độ từ 23-30oC Nếu nhiệt độ dưới 18oC cây sẽ mọc chậm, yếu và sinh trưởng, phát triển kém Hạt nảy mầm tốt trong phạm vi từ 22-27oC, nhiệt độ dưới 15oC thì tỷ

lệ nảy mầm cũng như tốc độ phát triển của cây con giảm đi đáng kể (Trần Đình Long và Nguyễn Thị Chinh, 2005) Do đó, trong vụ Hè hoặc vụ Hè Thu với nhiệt

độ cao, đủ ẩm cây sinh trưởng, phát triển mạnh, ra nhiều cành, hoa và quả hơn các vụ khác trong năm

Các thời kỳ sinh trưởng phát triển của đậu xanh nhìn chung mẫn cảm với chế độ chiếu sáng Hầu hết các giống đậu xanh đều mẫn cảm với phản ứng mang tính định lượng với quang chu kỳ (phản ứng với ngày ngắn) liên quan đến các giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (V) và quá trình ra hoa Trong điều kiện ngày ngắn phản ứng của các giống khác nhau khó phân biệt do không có sự thay đổi lớn về số ngày giữa các giống Ngược lại, điều kiện ngày dài kích thích quá trình

nở hoa, làm cho trên cùng một cây có thể tồn tại cả nụ, hoa, quả xanh và quả chín Kết quả là ảnh hưởng tới các giai đoạn sinh thực, đó là sự kéo dài thời gian

nở hoa và làm chậm quá trình chín của quả Sự nhạy cảm với độ dài ngày là kết

Trang 26

quả của tương tác giữa giống và thời gian gieo trồng, làm thay đổi cấu trúc hình thái, kiểu hình cây và thường chỉ gặp ở vùng cận nhiệt đới

2.2.1.2 Nhu cầu về nước

Là cây trồng ngắn ngày, đậu xanh sử dụng lượng nước ít Để đạt năng suất tối đa đậu xanh sử dụng 350 đến 550 mm nước tùy theo mùa vụ (Harris and Mace, 2012) Lượng nước cần cho một vụ đậu xanh phụ thuộc vào nhiệt độ và độ

ẩm không khí trong quá trình sinh trưởng cùng với độ ẩm đất, tất cả xác định tốc

độ thoát hơi nước từ đất và thoát hơi nước từ cây Đậu xanh cũng là cây sử dụng nước hiệu quả nhưng tưới nước không đầy đủ hay thiếu nước trong thời kỳ sinh trưởng ảnh hưởng bất lợi đến năng suất sinh khối, năng suất hạt, khối lượng thân

lá, chiều cao cây và hệ số kinh tế (Ahmad et al., 2015) Ngoài ra, đậu xanh rất

mẫn cảm với ngập úng; mưa to kéo dài nhiều ngày, độ ẩm đất lớn phá vỡ cấu trúc của bộ rễ Tuỳ theo mức độ ẩm khác nhau mà rễ có thể bị thâm đen một phần hay toàn bộ, thậm chí có thể gây vàng lá và chết sau 5-7 ngày (Trần Đình Long và Nguyễn Thị Chinh, 2005)

2.2.2 Nhu cầu về đất đai

Cây đậu xanh có thể sinh trưởng và phát triển trên đất nghèo dinh dưỡng, lớp đất mặt nông Điều đó được giải thích bởi tính chịu hạn, chịu mặn, chịu kiềm của cây đậu xanh Đậu xanh khá mẫn cảm với ngập úng nước; ngập úng quá 5 ngày có thể làm chết nốt sần làm cho cây thiếu đạm Do đó, để nâng cao năng suất

và hiệu quả kinh tế, đậu xanh cần được trồng trên loại đất thịt nhẹ, đất pha cát màu

mỡ, thoát nước, chủ động tưới tiêu

Đậu xanh thích hợp nhất với môi trường pH đạt giá trị trung tính (6,2-7,2)

(Oplinger et al., 1990) pH<5 làm giảm sự hình thành nốt sần hữu hiệu và ảnh

hưởng trực tiếp đến quá trình dinh dưỡng đạm, khả năng tích luỹ chất khô của cây Do đó việc cung cấp canxi cho đất để điều chỉnh pH là rất quan trọng trong sản xuất thâm canh tăng năng suất đậu xanh (Trần Đình Long và Nguyễn Thị Chinh, 2005)

2.2.3 Nhu cầu dinh dƣỡng cho cây đậu xanh

Tuy là cây họ đậu, có khả năng cố định đạm khí trời nhưng đậu xanh vẫn

cần bón bổ sung đạm, lân và kali để hình thành và cải thiện năng suất (Malik et

al., 2003) Hơn nữa, hoạt động của vi khuẩn cố định đạm phụ thuộc vào ẩm độ

Trang 27

đất, chất hữu cơ, lân, kali, canxi và các yếu tố vi lượng Theo Quy chuẩn quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống đậu xanh (QCVN 01-62: 2011/BNNPTNT), lượng phân khuyến cáo, ngoài phân chuồng/phân hữu cơ và vôi, lượng phân vô cơ bón cho 1ha là 30-50kg N, 50-60kg P2O5 và 50-60kg K2O tùy điều kiện cụ thể Quy chuẩn này áp dụng cho đất có thành phần cơ giới nhẹ, độ phì đồng đều và chủ động tưới tiêu Cũng theo quy chuẩn này, lượng phân hữu cơ, toàn bộ lân, ½ lượng đạm và ½ lượng kali được bón lót khi gieo và chỉ bón thúc 1 lần khi cây có 2-3 lá thật Trong thực tế, liều lượng, sự phối hợp NPK, thời điểm và số lần bón phụ thuộc nhiều vào loại đất và thành phần cơ giới của đất (Nguyễn Quốc Khương và cs., 2014) Trên đất thịt pha cát khi bón liều lượng 90kg N và 120kg P2O5 (Sadeghipour et al., 2010)

hoặc bón 90kg K2O trên nền 50-75kg N và P2O5 (Hussain et al., 2011) cho 1ha

năng suất đậu xanh đạt cao nhất,trong khi đó với điều kiện đất sét đạt năng suất

cao nhất khi bón 70kg N/ha (Azadi et al., 2013) Trong điều kiện đất cát ven

biển, bón phân đạm sớm có thể kích thích sinh trưởng và thúc đẩy sự hình thành các cơ quan sinh dưỡng ở thời kỳ sinh trưởng ban đầu, đặc biệt trên đất nghèo vi khuẩn cố định đạm Tuy nhiên, bón tập trung lượng phân cùng lúc đối với đất

nghèo hữu cơ như đất cát có thể dẫn đến mất mát do thấm (Nyamangara et al.,

2003) Nhìn chung, đất cát ven biển có khả năng trao đổi cation thấp (Nguyễn Văn Toàn, 2004) Đặc biệt, đất cát có khả năng giữ nước kém và sự thấm chất dinh dưỡng mạnh hơn, nên bón phân nhiều lần là cần thiết Trong các yếu tố dinh dưỡng, N dễ bị thấm hơn trong đất cát so với đất thịt, do đó có thể giảm thiểu N trong đất vào thời điểm trước khi cây có thể hấp thụ được Ngoài ra, đối với đất cát, liều lượng phân bón và thời điểm bón có quan hệ với lượng mưa và tần suất mưa Mặc dù cây đậu xanh khá phù hợp trên đất chuyên màu vùng ven biển sau thu hoạch lạc Xuân, nhưng năng suất vẫn thấp so với tiềm năng của giống Tại vùng đất cát ven biển, sản xuất đậu xanh còn mang tính quảng canh, nông dân chưa chú trọng đến việc đầu tư phân bón Rất ít hộ gia đình bón bổ sung phân lân, kali cho cây đậu xanh và chỉ bón một lượng đạm rất nhỏ vào thời kỳ cây có 4-5 lá Do đó, sử dụng phân bón đa lượng với liều lượng hợp lý và bón vào thời

kỳ sinh trưởng phù hợp có thể cải thiện năng suất đậu xanh trên đất cát

2.2.3.1 Nhu cầu về đạm

N có vai trò rất quan trọng trong đời sống cây đậu xanh N tham gia vào các thành phần cấu tạo của các axit amin, protein, các axit nucleic, các cơ quan

Trang 28

tử, diệp lục Thiếu N ảnh hưởng nhiều đến quang hợp, đến trao đổi chất trong cây Nếu thiếu N nghiêm trọng, cây còi cọc, lá nhanh chóng bị vàng, cây mềm yếu, rễ kém phát triển Đậu xanh được vi khuẩn cố định đạm cung cấp một phần

N Nhưng những vi khuẩn này chỉ hoạt động mạnh từ 20-25 ngày sau khi trồng nên ở thời kỳ cây con đậu xanh thường sinh trưởng chậm

Tuy là cây họ đậu, có khả năng cố định đạm nhờ vi khuẩn nốt sần trong rễ nên nhu cầu đạm không cao, nhưng đậu xanh vẫn cần bón bổ sung một lượng đạm, nhất là ở những nơi đất xấu, vì đạm do vi khuẩn nốt sần cung cấp không đủ cho cây Mặt khác, giai đoạn cây con, sau khi lượng đạm dự trữ trong hạt cạn kiệt, trước khi nốt sần có thể hoạt động tạo ra lượng đạm cần thiết thì sự sinh trưởng của cây đậu xanh phụ thuộc vào lượng đạm có trong đất Cung cấp phân bón đạm vào giai đoạn sớm thúc đẩy sinh trưởng và năng suất đậu xanh Ở các nước nhiệt đới, bón phân đạm có thể hữu ích, làm tăng sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng vì hoạt động của vi khuẩn cố định đạm không cung cấp đủ lượng đạm cần thiết, thậm chí một số trường hợp (ví dụ sau lúa nước) trong đất không tồn tại loại vi khuẩn này, mặc dù cây đậu xanh thường cần ít phân đạm nếu việc bón phân hợp lý (Mishra and Ahmad, 1994) Những nghiên cứu liên quan đến lượng đạm bón cho đậu xanh ở các nước Tây Á và Nam Á chỉ ra rằng lượng đạm bón, kết hợp với lân, thay đổi khá rộng (30-100 kg/ha) phụ thuộc vào loại đất và

giống (Malik et al., 2003; Sadeghipour et al., 2010), điều kiện tưới nước (Asaduzzaman et al., 2008), khí hậu (Azadi et al., 2013; Mojaddam et al., 2014) Bón tăng đạm có thể làm giảm ảnh hưởng xấu của hạn (Mojaddam et al., 2014)

2.2.3.2 Nhu cầu về lân và kali

Đậu xanh cần lân và kali tương tự như các cây đậu đỗ khác và phải được đáp ứng thông qua phân bón nếu đất thiếu hụt các nguyên tố đó, đặc biệt trong

điều kiện đất cát nghèo chất hữu cơ lân dễ bị thấm (Yang et al., 2008) Lân (P) là

một trong ba nguyên tố đa lượng thiết yếu đối với cây trồng và thường phải bổ sung vào đất bằng phân bón Đất đủ lân kích thích cây sinh trưởng nhanh và chín sớm Bón lân cho đất trồng đậu xanh đã trở thành tập quán canh tác ở nhiều nước

sản xuất đậu xanh (Kumar et.al., 2017) Nhiều thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng

của lân tới sinh trưởng và năng suất được tiến hành ở các nước Nam Á như Ấn

Độ và Pakistan (Samiullah et al., 1987; Oad et al., 2003; Kumar et al., 2017)

Bón lân có ảnh hưởng tốt đến các tính trạng nông học và năng suất, nhưng lượng bón ảnh hưởng tốt tới năng suất hạt, dao động từ 30-100kg cho một héc ta, phụ

Trang 29

thuộc vào giống (Oad et al., 2003; Parvez et al., 2013), đất và độ ẩm đất (Kumar

et al., 2017), kết hợp xử lý Rhizobium (Khan et al., 2002) và độ chua của đất

(Moolani and Jana, 1965) Bón phân lân cho cây đậu xanh làm tăng chiều cao cây, số nhánh/cây, số lượng nốt sần, số quả/cây, số hạt/quả, khối lượng 1000 hạt,

năng suất sinh vật học và năng suất hạt (Ayub et al., 1998); tối ưu số quả/cây, số hạt/quả và năng suất hạt (Samiullah et al., 1987)

Kali là một trong 3 nguyên tố dinh dưỡng đa lượng của cây trồng, có vai trò đối với nhiều chức năng trong cây: giúp cho quá trình quang hợp, hoạt động của enzym mà kali đóng vai trò là chất điều chỉnh và xúc tác Kali tham gia vào hoạt động quang hợp và có trong thành phần của hơn 60 enzym, tổng hợp protein và

tăng cường khả năng chống chịu của cây trồng với sâu bệnh hại (Arif et al.,

2008) Kali còn có vai trò trong việc vận chuyển và tích luỹ đường, tinh bột, giảm

hô hấp và tiêu hao năng lượng, tăng khả năng chịu hạn bằng cách duy trì sức căng

tế bào, tăng khả năng chống đổ thông qua việc tăng lượng cellulose trong thân cây Ngoài ra, kali còn giúp làm chậm quá trình phát triển của bệnh (Poehlman, 1991) Trong đất, kali đa phần tồn tại dưới dạng hợp chất khoáng không tan, vì vậy rất chậm được hấp thụ bởi cây Kali được huy động nhiều vào thời kỳ bắt đầu ra hoa, quả, thiếu kali ở giai đoạn này, tỷ lệ rụng hoa, rụng quả tăng lên, giảm số quả/cây

và khối lượng 1000 hạt

Đối với nhiều cây trồng, trong đó có đậu xanh, sử dụng phân kali là giải

pháp có hiệu quả làm giảm tác hại của hạn (Sangakkara et al., 2001; Singh and

Kumar, 2009; Fooladivanda et al., 2014), duy trì sức trương tế bào, điều chỉnh

đóng mở khí khổng, giúp cho cây điều chỉnh thế nước thấp (giảm thế nước) khi

bị hạn (Bukhsh et al., 2012) Trong điều kiện hạn, sự tích lũy kali trong mô cây làm tăng khả năng lấy nước của cây từ trong đất Sangakkara et al (2001) cho

rằng, trong điều kiện bất lợi về nước, kali làm tăng sinh trưởng của cây mầm, phát triển của rễ, tăng cường độ quang hợp của đậu xanh Vì vậy bón phân kali

có ý nghĩa quan trọng đối với các cây họ đậu ở vùng nhiệt đới, nơi luôn xảy ra những bất lợi về nước

Nhiều nghiên cứu khác cho thấy, hiệu quả của phân bón kali làm tăng

năng suất, chất lượng hạt đậu xanh Hussain et al (2011) báo cáo rằng các mức

bón kali khác nhau đã ảnh hưởng rõ rệt đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất hạt và hàm lượng protein Trên đất cát pha ở Pakistan, Ấn Độ, Srilanka, lượng K2O bón cho đậu xanh từ 80-90 kg/hagiúp cây sinh trưởng tốt, tăng sinh

khối, năng suất hạt và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất (Hussain et al., 2011;

Trang 30

Sangakkara et al., 2011; Kumar et al., 2014)

Tuy nhiên lượng phân bón nói chung, lượng lân và kali bón thực tế nói riêng phụ thuộc vào tính chất của đất, đó là kết cấu của đất, độ xốp, khả năng giữ nước và tính thấm nước Hạt cát trong đất cát tạo ra khoảng không lớn làm cho đất thoáng khí nhưng nước bị thấm nhanh Đất có tỉ lệ cát cao thường dễ thoát nước nhưng không có khả năng giữ chất dinh dưỡng Do đó, đối với đất cát, bón kết hợp đạm, lân, kali là cần thiết (Nguyễn Quốc Khương và cs., 2014) và thậm chí cần bón nhiều lần để cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây Đối với lân trong đất, sau khi bón, lân hòa tan trong nước nếu không được cây trồng hấp thụ được giữ lại trong đất thông qua các phản ứng hóa học (hấp phụ trên bề mặt các oxit và khoáng sét hay kết tủa thành photphát không tan của Ca, Fe, or Al) và các quá trình vi sinh vật (hợp thành sinh khối vi sinh và các tiểu phần hữu cơ) Song đất cát có hàm lương sét, oxit Fe/Al và chất hữu cơ thấp, nên lượng lân (P) không

được cây hấp thụ dễ bị mất do thấm (Yang et al., 2008) Sự thấm diễn ra khi

khoảng không trong đất chứa đầy nước và nước thấm xuống do trọng lực mang theo bất kỳ muối hòa tan nào có trong đất Vì vậy, lượng phân bón và số lần bón

có thể tùy theo lượng và tần suất mưa

2.3 SẢN XUẤT ĐẬU XANH TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

2.3.1 Sản xuất đậu xanh trên thế giới

Đậu xanh có nguồn gốc từ Ấn Độ và được thuần hóa từ 1.500 năm trước Công Nguyên Từ đó, các giống đậu xanh trồng trọt được du nhập sang các nước Nam và Đông Á, Đông Nam Á, châu Mỹ, Úc và châu Phi Đậu xanh có phạm vi phân bố ở 40 vĩ độ bắc hoặc nam tại những nơi có nhiệt độ trung bình ban ngày trên 20oC, tập trung chủ yếu ở khu vực Nam và Đông Nam châu Á bao gồm các quốc gia Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Việt Nam (Nair

29 quốc gia trồng đậu xanh với tổng diện tích trên 6 triệu ha, sản lượng đậu xanh

Trang 31

toàn cầu là 3 triệu tấn Trong đó, Ấn Độ là quốc gia sản xuất đậu xanh lớn nhất,

theo sau là Trung Quốc, Pakistan và Myanmar (Nair et al., 2014)

Ở Ấn Độ, đậu xanh được trồng với diện tích là 3,5 triệu ha và đạt sản

lượng hạt khoảng 1,2 triệu tấn (Nair et al., 2013) Cây đậu xanh được bố trí giữa

2 cây trồng chính là lúa mì và bông với công thức: (lúa mì – đậu xanh – lúa) hoặc (lúa mì – đậu xanh – bông) Đậu xanh được trồng ở vụ Hè (tháng 4 đến tháng 6) trong điều kiện khí hậu khô, nóng và lượng nước tưới cung cấp cho cây rất hạn chế Vì vậy, sản lượng đậu xanh vụ Hè thường thấp (Pannu and Singh, 1993)

Sau Ấn Độ, quốc gia sản xuất đậu xanh lớn thứ hai trên thế giới là Trung Quốc Diện tích trồng đậu xanh của Trung Quốc đạt trên 700.000 ha với sản

lượng đậu xanh đạt 980.000 tấn (Nair et al., 2013)

Tại Pakistan cây đậu xanh là cây đậu đỗ chiếm vị trí thứ 3 sau đậu cỏ

(Lathyrus sativus L.) và đậu lăng (Lens culinaris Medik) Diện tích trồng đậu

xanh của Pakistan năm 2009 là 231.100 ha với sản lượng 157.400 tấn, năng suất trung bình 0,72 tấn/ha Ở đây đậu xanh được trồng trong mùa Xuân (tháng 2 - tháng 3) và mùa Kharif (tháng 6 - tháng 7) Lượng nước thất thường trong những tháng này cho thấy cây con thường bị thiếu nước Bên cạnh đó, lượng mưa phân

bố không đều giữa các mùa và các vùng, dẫn đến tình trạng thiếu nước ở các giai

đoạn sinh trưởng phát triển của cây (Aslam et al., 2013) Những năm gần đây ở

Pakistan, việc sử dụng giống mới đã làm tăng năng suất đậu xanh lên 55% so với

sử dụng các giống truyền thống, ngoài ra cây đậu xanh luân canh với cây lúa mì

đã tiết kiệm tới 23% chi phí sản xuất

Ở Myanmar và một số quốc gia như Bangladesh, Sri Lanka cây đậu xanh cũng là cây trồng quan trọng trong hệ thống nông nghiệp Tại Sri Lanka đậu xanh

có thể trồng ở điều kiện độ ẩm và mức phân bón thấp, là một trong số cây đậu đỗ lấy hạt trong hệ thống canh tác nhờ nước trời ở vùng đất khô hạn và bán khô hạn Khoảng 80% diện tích đậu xanh được trồng dựa vào nguồn nước trời từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau (trong mùa Maha) ở vùng đất cao hoặc chân đất thấp được trồng lúa từ vụ trước, diện tích còn lại được trồng từ cuối tháng 4 đầu tháng 5 đến tháng 9 (trong mùa Yala) Đây là thời kỳ mưa ngắn kéo dài từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5, sau đó tình trạng khô hạn kéo dài cho đến cuối tháng 9 Do đó, cây đậu xanh trồng trong điều kiện thiếu nước làm giảm đáng kể năng suất

(Ranawake et al., 2012)

Để đáp ứng nhu cầu phát triển đậu xanh trên thế giới, trong nhiều năm qua

Trang 32

AVRDC đã hợp tác với nhiều quốc gia để nghiên cứu cải tiến và phát triển giống cũng như quy trình công nghệ nhằm giải quyết các khó khăn chính trong sản xuất đậu xanh ở châu Á Kết quả là đã tạo ra các giống cải tiến có đặc điểm tốt như thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao và chống chịu bệnh đặc biệt là bệnh đốm nâu, phấn trắng và vàng lá virut Người dân tại các quốc gia Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar, Nepal, Pakistan, Sri Lanka và Thái Lan

đã trồng các giống cải tiến với diện tích 2.932.000 ha, năng suất trung bình tăng khoảng 300 kg/ha, sản lượng tăng từ 2,5 triệu tấn năm 1985 lên 3,1 triệu tấn năm

2006 Về nhu cầu tiêu thụ đậu xanh tăng từ 22% lên 66% ở các quốc gia khác nhau Lợi nhuận tăng thêm hàng năm từ đậu xanh tại Parkistan từ 3,51-4,21 triệu

USD (Shanmugasundaram et al., 2009)

2.3.2 Sản xuất đậu xanh ở Việt Nam

Ở Việt Nam, đậu xanh đã được trồng lâu đời, khắp nơi trong cả nước, là một trong những cây trồng truyền thống với nhiều mục đích: lấy hạt, cải tạo đất, chống xói mòn, làm phân xanh Nhưng hiện nay, diện tích gieo trồng còn manh mún, rải rác từ Nam ra Bắc, từ các tỉnh đồng bằng đến trung du và miền núi Cây đậu xanh chưa được xem là cây trồng chính, chỉ được trồng xen canh, gối vụ, nhằm tận dụng đất, tăng thêm thu nhập nên diện tích và năng suất đậu xanh tại Việt Nam chưa cao

Bảng 2.4 Diện tích và năng suất đậu xanh ở Việt Nam

Vùng Diện tích (1000ha) Năng suất (kg/ha)

2012 2013 2014 2015* 2012 2013 2014 2015*

ĐB sông Hồng 4,10 4,80 4,51 4,88 1.463 1.458 1.452 1.511 Trung du và miền

núi phía Bắc 9,5 8,3 7,62 7,03 1.095 1.060 1.004 1.016 Bắc Trung Bộ 20,70 20,50 18,65 18,47 865 815 965 938 Duyên hải Nam

Trung Bộ 19,00 18,80 17,55 18,09 1.132 1.160 1.172 1.169 Tây Nguyên 27,00 26,20 24,57 25,12 837 847 861 861 Đông Nam Bộ 9,60 8,60 8,00 9,61 1.083 1.081 1.190 1.237

Trang 33

Báo cáo thống kê (Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, 2016) cho thấy diện tích sản xuất đậu xanh của Việt Nam qua 4 năm 2012 và 2015 biến động từ 88.180 - 98.200ha, diện tích sản xuất đậu xanh năm 2015 giảm so với năm 2012 là 7.250ha Năng suất đậu xanh bình quân của Việt Nam qua 4 năm biến động từ 1.026 - 1.098 kg/ha Năng suất đậu xanh bình quân của cả nước có xu hướng tăng dần qua các năm và năng suất đạt cao nhất năm 2015 là 1.098 kg/ha

Diện tích sản xuất đậu xanh ở Việt Nam được phát triển ở 7 vùng sinh thái trên cả nước (Bảng 2.4) Diện tích sản xuất đậu xanh giữa các vùng trong năm 2015 biến động từ 4.880 - 25.120 ha trong đó có 3 vùng có diện tích sản xuất đậu xanh lớn là Tây Nguyên, Bắc trung bộ và Duyên hải Nam trung bộ có diện tích lần lượt là 25.120 ha; 18.470 ha; 18.090 ha (Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, 2016).

Năng suất đậu xanh bình quân ở các vùng sinh thái lại có sự chênh lệch khá lớn Năng suất đậu xanh biến động giữa các vùng năm 2012 từ 837 – 1.506 kg/ha; năm 2015 biến động từ 861 - 1.719 kg/ha Năng suất đậu xanh bình quân đạt cao nhất ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng lần lượt là 1.719 kg/ha

và 1.511kg/ha (2015) (Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, 2016)

Năng suất đậu xanh bình quân đạt thấp nhất là Tây Nguyên và Bắc Trung bộ, năm 2015 năng suất đậu xanh ở Bắc Trung bộ là 938 kg/ha thấp hơn năng suất bình quân của cả nước là 160 kg/ha Tây Nguyên năng suất đậu xanh đạt 861kg/ha và thấp hơn năng suất bình quân của cả nước là 236 kg/ha Năng suất đậu xanh của cả nước nói chung và vùng Bắc Trung bộ nói riêng qua các năm có xu hướng tăng dần

đó chính là sự áp dụng các giống đậu xanh mới và các biện pháp kỹ thuật canh tác mới vào sản xuất

Hiện nay, ở một số tỉnh miền Trung của nước ta như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Phú Yên, Đắc Lắc đậu xanh đang là nguồn thu nhập đáng kể với nông dân Gần đây nhiều giống đậu xanh mới được đưa ra sản xuất, nhu cầu thâm canh cải tạo đất ngày càng cao, đậu xanh đã và đang được phát triển rộng trong các cơ cấu cây trồng của nhiều tỉnh trên địa bàn cả nước

Ở đồng bằng sông Cửu Long diện tích trồng đậu xanh năm 2015 là 7,76 nghìn ha, ít thứ 2 sau diện tích trồng đậu xanh ở vùng đồng bằng sông Hồng là 4,88 nghìn ha tuy nhiên năng suất đậu xanh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cao nhất so với năng suất của vùng trong cả nước Nguyên nhân đạt được năng suất cao là do tận dụng được điều kiện thuận lợi về nguồn dinh dưỡng phù sa của sông Cửu Long, cộng với điều kiện nhiệt độ phù hợp và các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp với cây đậu xanh

Khu vực Bắc Trung bộ diện tích trồng đậu xanh năm 2015 là 18,47 nghìn

Trang 34

ha, có diện tích lớn thứ 2 trong cả nước Mặc dù diện tích có giảm nhẹ so với năm 2012 nhưng năng suất không hề giảm mà năng suất lại tăng nhẹ Mặc dù diện tích lớn thứ 2 so với các vùng trong cả nước nhưng năng suất lại thấp thứ

2 trong cả nước Nguyên nhân là khu vực này nông dân sử dụng đất nghèo dinh dưỡng, cộng với điều kiện nhiệt độ không phù hợp Do vậy cần chú trọng quan tâm và đầu tư áp dụng khoa học công nghệ và công tác trồng cây đậu xanh ở khu vực này

Sản xuất đậu đỗ nói chung và cây đậu xanh nói riêng ngày càng có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đẩy mạnh sản xuất hàng hoá ở nước ta So với một số cây trồng khác trong cùng điều kiện thì cây đậu đỗ đạt hiệu quả cao hơn, dễ tiêu thụ hơn Chính vì lẽ đó, cần chú trọng đến việc phát triển cây đậu xanh nhằm mở rộng diện tích góp phần tăng sản lượng, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs., 1996)

2.4 BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CANH TÁC ĐẬU XANH

2.4.1 Chọn tạo giống đậu xanh

Trên thế giới, cây đậu xanh được quan tâm nghiên cứu ở các trung tâm đặt

ở nhiều quốc gia, tập trung ở châu Á Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau màu châu Á (AVRDC) ở Đài Loan, nay gọi là Trung tâm Rau thế giới, và các trung tâm vùng như Trung tâm vùng châu Á (Bangkok, Thái Lan), Trung tâm vùng châu Phi (Arusha, Tanzania), Trung tâm vùng Nam Á (Hyderabad, Ấn Độ)

đã và đang tiến hành nghiên cứu khá toàn diện về cây đậu xanh

Các giống đậu xanh truyền thống trước những năm 1960 có thời gian sinh trưởng 90-110 ngày Đây là những giống vô hạn, mẫn cảm với khảm vàng virus,

đốm lá (Cercospora canescens), sâu hại; chín không tập trung; dễ rụng hạt; hạt nhỏ; năng suất chỉ 400 kg/ha (Shanmugasundaram et al., 2009; Eastdown and

Chadha, 2010) Trung tâm Rau Thế giới được thành lập năm 1972 ở Đài Loan đã nhận sự ủy thác để phối hợp nghiên cứu và phát triển đậu xanh Chương trình chọn giống bắt đầu với sự tập hợp tập đoàn gen lớn nhất thế giới của các loài

Vigna, với số mẫu giống hiện tại là 10.745 mẫu, trong đó 6.379 mẫu giống đậu

xanh (AVRDC, 2012) Phần lớn nguồn gen đậu xanh của AVRDC được thu thập

từ 41 nước trên thế giới, trong đó Ấn Độ là nước đóng góp chủ yếu

Mục tiêu của chương trình cải tiến giống đậu xanh của Trung tâm Rau thế

giới là: (i) chọn giống có năng suất cao, ổn định (>2 tấn/ha), ngắn ngày, chín tập trung; (ii) kết hợp với chọn giống ít phản ứng với ánh sáng và sự biến đổi của nhiệt độ, (iii) chọn giống có khả năng kháng bệnh đốm lá vi khuẩn, bệnh phấn trắng, virus, dòi đục thân, sâu đục hoa, quả; (iv) chọn giống có khả năng chống

Trang 35

đổ, chống tách hạt, chịu hạn và các điều kiện thời tiết khắc nghiệt khác

Trung tâm Rau thế giới đã thiết lập một hệ thống quốc tế để đánh giá các dòng đậu xanh triển vọng ở nhiều điểm của châu Á Các dòng cải tiến được truyền bá cho các đối tác ở Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Myanmar, Pakistan, Sri Lanka và Thái Lan Một mạng lưới bao gồm 29 cơ sở quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế đã triển khai khảo nghiệm và chọn lọc trong suốt 30 năm Năm 2009, các đối tác quốc gia ở 27 nước đã phóng thích 112

dòng đậu xanh cải tiến cho nông dân (Shanmugasundaram et al., 2009) Ước tính

diện tích trồng đậu xanh giống mới là 600.000ha ở Trung Quốc, 200.000ha ở Pakistan và Thái Lan, gần 1 triệu ha ở Myanmar, 500.000 ha ở Ấn Độ, 70.000ha

ở Băngladesh (Singh et al., 1980) Các giống mới là các giống hữu hạn, tiềm

năng năng suất tối thiểu 2 tấn/ha, thời gian sinh trưởng ngắn (60-70 ngày), chín tập trung, kháng các sâu hại chính

Kết quả nghiên cứu và đánh giá nguồn gen đậu xanh đáng chú ý nhất trong thời gian gần đây đã được thực hiện bởi sự hợp tác giữa các Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Nhiệt đới (Nhật Bản), Trung tâm Nghiên cứu Cây trồng Chinat (Thái Lan), Viện Tài nguyên Cây trồng Quốc gia Nhật Bản và Trung tâm Rau thế giới Trong chương trình nghiên cứu này có 497 mẫu đã được sử dụng cho việc đánh giá kiểu sinh trưởng, 651 mẫu cho việc đánh giá đặc điểm hạt và 590 mẫu cho việc đánh giá sự đa dạng protein Hầu hết các mẫu giống này do ngân hàng gen của Trung tâm Rau thế giới, Trường Đại học Tokyo và Viện Tài nguyên Cây trồng Quốc gia Nhật Bản cung cấp

Các nước trên thế giới có chương trình chọn tạo giống riêng cho mình

Ấn Độ đã thiết lập chương trình chọn tạo giống tại Trường Đại học Nông nghiệp Punjab, Ludhiana Chương trình này đã cho ra đời rất nhiều giống đậu xanh với các mục tiêu khác nhau như: có loại hình sinh trưởng trung bình, cây khoẻ mập, phát triển nhanh, chống chịu tốt với điều kiện khó khăn và có tiềm năng năng suất cao, ổn định, hàm lượng protein cao; ngắn ngày phục vụ sản xuất trong nước Đến năm 1991, thì số lượng giống được phóng thích ra sản xuất ở nước này đã lên tới con số 40

Các nhà Khoa học Trung Quốc đã thu thập và lưu giữ 4.936 mẫu giống đậu xanh từ các vùng trong cả nước 60% các mẫu giống này đã được tiến hành phân tích thành phần dinh dưỡng, đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh hại, khả năng chống chịu điều kiện thời tiết bất thuận Hơn 200 dòng, giống đậu xanh

từ AVRDC được nghiên cứu đánh giá tại Trung Quốc

Thái Lan là nước gặt hái được nhiều thành công trong công tác chọn tạo

Trang 36

giống đậu xanh Các dòng, giống đậu xanh triển vọng của AVRDC tiếp tục được nghiên cứu đánh giá ở Thái Lan Nhiều giống đậu xanh mới có nguồn gốc từ AVRDC cho năng suất cao hơn giống địa phương đến 37%, kháng bệnh phấn trắng, cứng cây, chống đổ tốt được đưa ra sản xuất như KPS1, KPS2, Chai Nat

36, Chai Nat 60, PSU1

Ở Philippines, nghiên cứu cải tiến giống đậu xanh bắt đầu từ trước năm

1916 Từ năm 1956, chương trình chọn tạo giống đậu xanh được giao cho Cục Trồng trọt theo các phương pháp khác nhau: Phục tráng các giống đậu xanh địa phương Glossy green S-1, Glabrous Green, Dull Green 28-1, Dull Green 28-1; Lai hữu tính đã tạo ra được các giống MG50-10A, MD15-2, Glabrous No.3 và MY-17 Chương trình chọn tạo giống đậu xanh ở Trường Đại học Philippine Los Banos đã tạo ra các giống CES55 và CES87 và một loạt giống mang tên Pagasa (Catipon, 1986) Những giống này có các đặc điểm quý là chín sớm, năng suất cao và chất lượng tốt Giống Pagasa-3 có khả năng chống bệnh đốm lá tốt và miễn dịch đối với bệnh khảm virus Còn giống Pagasa-5 có khả năng chống bệnh đốm lá rất tốt và chống chịu khá đối với bệnh phấn trắng Các giống này được AVRDC sử dụng làm nguồn gen tạo giống chống bệnh

2.4.2 Thời vụ trồng

Thời vụ gieo trồng đậu xanh phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng, cơ cấu cây trồng, giống Thời vụ gieo trồng thích hợp là một trong các tác nhân tạo điều kiện cho đậu xanh đạt được năng suất tối

ưu Nếu cây trồng gieo không đúng thời vụ thì năng suất có thể giảm đáng kể

do giảm số quả, giảm khối lượng hạt và cũng có thể suy giảm mạnh năng suất

do gặp các điều kiện thời tiết bất thuận ở giai đoạn thu hoạch

(Shanmugasundaran et al., 2004)

Thời vụ gieo trồng đậu xanh khác nhau giữa các nước, thậm chí khác nhau giữa các vùng khí hậu trong mỗi nước Ở Úc, vùng Đông Nam Queensland và Đông Bắc New South Wales, đậu xanh được trồng vào mùa hè tháng 12 hoặc tháng 1, thu hoạch vào tháng 3-4 trước khi trời lạnh giá Trong khi vùng ven biển phía Bắc, đậu xanh là cây trồng nhờ nước trời nên trồng vào mùa mưa ẩm, nếu có tưới có thể trồng vào mùa khô (Lawn and Ahn, 1985)

Thời vụ gieo trồng đậu xanh ở Thái Lan khác nhau tuỳ theo vùng sinh thái, vùng Bắc và Đông Bắc trồng 3-4 vụ đậu xanh/năm, chủ yếu gieo trong mùa mưa: Vụ sớm gieo tháng 2 đến tháng 3 (đầu mùa mưa), ngoài ra còn gieo đậu xanh từ tháng 8 đến tháng 11 (đầu đến giữa mùa khô) Thời vụ đậu xanh gần như không có giới hạn ở vùng chủ động tưới tiêu (Chiềng Mai, Đông Bắc, Thái Lan)

Trang 37

(Despande and Bathkal, 1965)

Ở miền Bắc Ấn Độ, đậu xanh được trồng vào mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 10 với những giống dài ngày Miền Đông và Nam Ấn Độ đậu xanh được trồng sau khi thu hoạch lúa nước, ngô, cao lương nên thường trồng vào mùa lạnh và khô từ tháng 12 đến tháng 2 với những giống ngắn ngày, ít mẫn cảm với độ dài ngày Mùa hè từ tháng 3 đến tháng 6 và thu hoạch trước mùa mưa cũng là thời điểm thích hợp để trồng đậu xanh Kết quả nghiên cứu tại Punjab,

Ấn độ trong 2 năm (2003-2004) chỉ ra rằng: Thời vụ tốt nhất để gieo trồng đậu xanh trong vụ Hè là từ 20/03 - 10/04 và trong mùa khô từ 10-25/07, riêng với những giống có TGST ngắn ngày (70-75 ngày) có thể gieo đến 10/08 (Sekhon

et al., 2007)

Nghiên cứu về thời vụ gieo trồng đậu xanh ở Băngladesh cho thấy: Để đậu xanh đạt năng suất cao nên gieo từ 15/02 (ở Barisal) và từ tháng 3 đến tháng 4 (ở Jessore and Dinajpur) Nếu gieo muộn hơn thì năng suất đậu xanh giảm đáng

kể từ 18-64% (Ismande and Edwards, 1988)

Ở Việt Nam, thời vụ gieo đối với đậu xanh phụ thuộc vào vùng sinh thái Ở vùng Đồng bằng sông Hồng, đậu xanh trồng ở vụ Xuân luôn có thời gian sinh trưởng dài hơn so với vụ Hè (Nguyễn Ngọc Quất, 2008) nhưng năng suất đậu xanh ở vụ Hè luôn cao hơn trong vụ Xuân (Tạ Minh Sơn và cs., 2006)

Thời vụ tốt nhất đối với đậu xanh trong vụ Xuân ở các tỉnh miền Bắc từ 01-15/3, nhưng đối với các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh thời vụ sớm hơn

từ 15-25/2 để tránh gió Lào Khung thời vụ trong vụ Hè được có khoảng thời gian rộng hơn từ 25/5-15/6 (Nguyễn Thế Côn, 1996) Trong vụ Thu Đông thời gian gieo kết thúc trong tháng 8, riêng một số tỉnh miền núi cần gieo sớm, từ 20/7 đến 10/8 Đối với vụ Hè, đậu xanh được gieo từ đầu đến giữa tháng 5, vụ Thu Đông được gieo trong tháng 8 (Lê Khả Tường, 2000; Đồng Văn Đại, 1997) Các tỉnh vùng núi phía Bắc có mùa đông lạnh và khô hanh kéo dài từ tháng

11 đến tháng 3 năm sau Các tháng còn lại là các tháng mùa mưa, với khí hậu nóng ẩm, thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng Thời

vụ đậu xanh thường được gieo vào tháng 4-5, thu hoạch vào các tháng 7-8 (Đồng Văn Đại, 1997)

Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là vùng có diện tích trồng đậu xanh lớn và sản lượng cao Đậu xanh được trồng 2-3 vụ trong năm, chủ yếu là trồng thuần Vụ Xuân được gieo từ cuối tháng 12 sang đầu tháng 1, hoặc

cả tháng 1 năm sau Vụ Hè Thu gieo vào tháng 4, một số tỉnh như Bình Thuận, Ninh Thuận gieo vào cuối tháng 6 đến đầu tháng 7 Vụ Đông gieo từ cuối tháng 7

Trang 38

đến cuối tháng 8 Đối với vùng Tây Nguyên, vụ Đông Xuân gieo từ tháng 11 đến cuối tháng 12; vụ Hè Thu gieo từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 5; vụ Thu Đông đậu xanh gieo từ giữa tháng 7 đến giữa tháng 8, hoặc đến cuối tháng 8

Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vụ Đông Xuân đậu xanh gieo trong tháng 12 và tháng 1 Vụ Xuân Hè gieo từ đầu tháng 2 đến giữa tháng 3 Trên đất nương rẫy như Rạch Giá, Cà Mau thì vụ Hè được gieo vào đầu tháng 5, còn vụ Thu Đông gieo trong tháng 8 (Lê Khả Tường, 2000)

2.4.3 Mật đ và khoảng cách trồng

Đậu xanh trồng thuần thường được trồng theo một số cách khác nhau như gieo vãi theo hàng hoặc theo hốc Phương pháp gieo vãi được áp dụng rộng rãi ở các nước châu Á khi đậu xanh được trồng quảng canh sau lúa nước Gieo vãi có thể tiết kiệm được thời gian và công lao động để gieo Sau khi thu hoạch lúa, đất được cày bừa vài lần, hạt đậu xanh được vãi bằng tay sau đó được bừa lấp Tuy nhiên, gieo vãi cần lượng hạt giống cao hơn, phải làm cỏ bằng tay, hạt được lấp ở các độ sâu khác nhau, mọc không đồng đều dẫn đến năng suất thấp Phương pháp gieo vãi thường có xu hướng được áp dụng ở những nơi đất thiếu màu mỡ và độ

ẩm thấp Gieo theo hàng tạo được mật độ khoảng cách cây hợp lý hơn so với gieo vãi Việc làm cỏ, xới xáo, phun thuốc sâu và thu hoạch thuận lợi hơn, thông thường năng suất thu được cao hơn so với gieo vãi Trồng theo hàng thường được

áp dụng ở những nơi đất đai màu mỡ hơn và độ ẩm đất đầy đủ cho cây phát triển Miền Bắc Thái Lan, đậu xanh được trồng theo hốc ở những chân ruộng mà cây trồng trước là tỏi hoặc các loại rau Khoảng cách giữa các hốc thường là

50x50cm với 6-7 hạt/hốc (Hamid et al., 2004)

Kết quả nghiên cứu về khoảng cách giữa hàng có sự khác biệt khá lớn giữa các tác giả Khoảng cách trồng đậu xanh phụ thuộc vào ẩm độ cũng như độ màu mỡ của đất, kiểu sinh trưởng của cây, giống hay kiểu gen, chiều cao cây và thời gian sinh trưởng của giống, khoảng cách cần thiết cho các biện pháp kỹ thuật như xới xáo, phun thuốc sâu, thu hoạch và mật độ

Ở Ấn độ, đậu xanh trồng trong mùa khô (mùa Hè) mật độ thích hợp là (50 cây/m2 (khoảng cách gieo là 20 cm x 10 cm) còn trong mùa mưa mật độ gieo thích hợp là 33 cây/m2 (khoảng cách 30 cm x 10 cm) (Ahlawat and Rana, 2002)

Theo Singh et al (2011), các giống NM-92 và NM-94 trồng trên đất cát pha thịt

nghèo dinh dưỡng trong vụ Hè khô nóng tại Ấn Độ, mật độ trồng thích hợp là 40 cây/m2(25 cm x 10 cm), khi đưa trồng tại Đài Loan trên đất cát pha thịt màu mỡ

và lượng mưa của vụ Hè cao hơn nên mật độ trồng thích hợp cho chúng là 20 cây/m2

(50 cm x 10 cm)

Trang 39

Tại Bangladesh, trong mùa mưa thời tiết thuận lợi cho sự sinh trưởng phát triển của cây đậu xanh do đó gieo với khoảng cách 30 cm x 10 cm cho năng suất hạt cao hơn so với khoảng cách 20 cm x 20 cm hoặc 40 cm x 30 cm (Kabir and Sarkar, 2008) Ở Pakistan, khoảng cách giữa các hàng là 20cm thì đậu xanh đạt năng suất cao nhất Ở Philippines, khoảng cách giữa hàng được khuyến cáo là 50-70cm

Ở Việt Nam, nghiên cứu về mối tương quan giữa mật độ và sinh trưởng, năng suất đậu xanh đã được một số nhà khoa học tiến hành Giống đậu xanh ĐX044 đạt cao nhất (10,6 tạ/ha) khi trồng với mật độ 35 cây/m2 Ở mật độ thấp (25 cây/m2) và mật độ cao (50 cây/m2) đều cho năng suất thấp hơn (Lê Khả Tường, 2000)

Phạm Văn Thiều (1999) khuyến cáo mật độ gieo theo đặc điểm sinh trưởng của giống đậu xanh Những giống thấp cây, ít cành cần được gieo dày 40-50 cây/m2, nhưng những giống cây cao, nhiều cành cần được trồng thưa hơn 30-40 cây/m2

Hầu hết các giống đậu xanh mới có tiềm năng năng suất cao đều sinh trưởng, phát triển thích hợp ở mật độ 25 - 30 cây/m2 Khi trồng với mật độ quá thưa hoặc quá dày đều cho năng suất thấp hơn (Đường Hồng Dật, 2006) Theo Nguyễn Thị Chinh và cs (2008), giống đậu xanh ĐX11 thích hợp với mật độ

20 - 25 cây/m2 trong vụ Xuân, 15 - 20 cây/m2 trong vụ Hè Mật độ trồng thích hợp cho giống đậu xanh ĐXVN4 trong vụ Xuân là 38 - 40 cây/m2, 18-20 cây/m2trong vụ Hè, đối với giống ĐXVN5 là 40-42 cây/m2

trong vụ Xuân và 20-25 cây/m2

trong vụ Hè (Nguyễn Thị Thanh, 2009) Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Chương và cs (2014) cho thấy, trồng đậu xanh vùng đồng bằng Sông Cửu Long áp dụng gieo sạ lượng hạt giống cần gieo từ 25-30 kg/ha với tỉ lệ mọc mầm trên 90%, nếu gieo hàng lượng giống cần sử dụng là 20-30 kg/ha, gieo với mật

độ là 37,5 cây/m2

(40cm x 20 cm x 3 hạt/hốc) hoặc 40 cây/m2 (50cm x 15cm x 3 hạt/hốc)

2.4.4 Nghiên cứu về phân bón

Nhiều nghiên cứu cho thấy lợi ích của việc bón một lượng nhỏ phân đạm vào giai đoạn cây con Nguyên nhân là do cần một khoảng thời gian để nốt sần trên rễ cây đậu phát triển và sự phát triển tương đối chậm ở vài tuần đầu sau khi

mọc (Weinberger et al., 2006) Ở các nước nhiệt đới, bón phân đạm có thể hữu

ích, làm tăng sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng vì hoạt động của vi khuẩn

cố định đạm không cung cấp đủ lượng đạm cần thiết, đặc biệt sau vụ lúa nước

Ảnh hưởng của việc bón phân đạm đến sinh trưởng và năng suất đậu xanh

Trang 40

phụ thuộc vào đất đai, điều kiện khí hậu/mùa vụ, giống, thời gian sinh trưởng, và

tiềm năng năng suất của giống, thậm chí thời kỳ sinh trưởng của cây Sekhon et

al (1987) cho rằng, bón phân đạm với liều lượng 15 kg/ha ở giai đoạn làm hạt có

thể làm tăng năng suất hạt tới 18%, ngược lại, bón đạm vào giai đoạn trước khi ra

hoa chỉ làm tăng sự sinh trưởng thân lá Sadeghipour et al (2010) báo cáo rằng

bón 90kg N và 120kg P2O5/ha, năng suất đậu xanh đạt cao nhất

Asaduzzaman et al (2008) cho rằng, bón đạm với lượng 30kg N/ha và

tưới nước 1 lần ở giai đoạn bắt đầu ra hoa (35 ngày sau gieo) làm tăng số quả/cây, số hạt/quả khối lượng 1.000 hạt, do đó làm tăng năng suất cá thể và

năng suất đậu xanh có thể đạt 1,68 tấn/ha (Bohuah et al., 1984)

Phốt pho là nguyên tố thiết yếu trong cấu tạo của nucleoprotein, phosphilipids, enzymes và những hợp chất khác của cây Phốt pho cần thiết cho việc tích luỹ và giải phóng năng lượng cho tế bào sống, cần thiết cho sự hình thành và tích luỹ carbonhydrates, sự chín của cây, sự phát triển của rễ và khả năng chống bệnh Khi thiếu phốt pho, cây còi cọc, ban đầu có màu lá xanh đậm, sau đó mất màu, màu sắc lốm đốm và có hàm lượng protein thấp Chất anthocyanin tích luỹ làm cho đốt trên thân và cuống lá có màu tía Sử dụng phân chứa phốt pho (phân lân) giúp thúc đẩy nhanh quá trình ra hoa, chín và tăng cường sự phát triển rễ

Ở các nước vùng nhiệt đới, sự sinh trưởng của cây trồng thường bị hạn chế bởi hàm lượng lân trong đất thấp và sự phục hồi lân trong đất thông qua việc bón phân cho cây trồng cũng thường rất thấp bởi vì hầu hết lân ở dạng khó tiêu do bị

hấp phụ, kết tủa hoặc chuyển hóa dưới dạng hữu cơ (Araújo et al., 2005)

Hàng loạt thí nghiệm đã được triển khai ở Ấn Độ trên các loại đất khác nhau: đất chua, đất phù sa, đất lateric cho thấy khi bón 35-50kg P2O5/ha tăng năng suất đậu xanh từ 15-19%, nếu bón với lượng >60kg P2O5/ha làm tăng năng suất đậu xanh từ 32-44% Trên đất thịt, hiệu quả của phân lân cao hơn rất nhiều, lượng 20-30kg P2O5/ha đã đưa năng suất đậu xanh tăng từ 51-53% so với không bón Nhìn chung, lượng phân bón 40-80 kg P2O5 được sử dụng nhiều ở Ấn Độ, phụ thuộc vào môi trường đất

Nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy bên cạnh việc tăng năng suất,

phân lân làm tăng số quả/cây (Dhage et al., 1984) khối lượng 1000 hạt và số lượng nốt sần (Khatik et al., 2007) Ali et al (2010) đã chỉ ra rằng, ở mức bón

85 kg P2O5/ha cho năng suất hạt cao nhất nhưng không có sự sai khác với mức bón 60 kg P2O5/ha Khan et al (2002) đã xác định mức phân lân bón 100 kg/ha

P2O5 tăng tối đa sinh khối và năng suất hạt Theo kết quả nghiên cứu của

Ngày đăng: 24/04/2019, 06:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
26. Trần Thị Lệ, Trần Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thanh và Nguyễn Xuân Kỳ (2012). Tuyển chọn chủng nấm Trichoderma spp. phân giải cellulose mạnh để sản xuất phân hữu cơ vi sinh và nghiên cứu ảnh hưởng của chúng đối với giống đậu xanh 208 vụ xuân 2011 tại hợp tác xã Hương Long, thành phố Huế. Tạp chí Khoa học, Đại học Huế. 71 (2). tr. 203-214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trichoderma spp
Tác giả: Trần Thị Lệ, Trần Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thanh và Nguyễn Xuân Kỳ
Năm: 2012
39. Ayub M., R. Ahmad, A. Tanveer, J. Iqbal and M.S. Sharar (1998). Response of mungbean (Vigna radiata L.) to different levels of phosphorus. Pakistan J. Biol Sci. 1. pp. 283-284 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vigna radiata
Tác giả: Ayub M., R. Ahmad, A. Tanveer, J. Iqbal and M.S. Sharar
Năm: 1998
44. Bourgault M. and D.L. Smith (2010). Comparative study of common bean (Phaseolus vulgaris L.) and mungbean (Vigna radiata (L.) Wilczek) response to seven watering regimes in a controlledenvironment. Crop &amp; Pasture Science. 61.pp. 918-928 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phaseolus vulgaris" L.) and mungbean ("Vigna radiata
Tác giả: Bourgault M. and D.L. Smith
Năm: 2010
63. Hussain F., A.U. Malik, M.A. Haji and A.L. Malghani (2011). Growth and yield response of two cultivars of mungbean (Vigna radiata L.) to different potassium levels. The Journal of Animal and Plant Sciences. 21 (3). pp. 622-625 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vigna radiata
Tác giả: Hussain F., A.U. Malik, M.A. Haji and A.L. Malghani
Năm: 2011
66. Kabir M.H. and M.A.R. Sarkar (2008). Seed yield of mungbean as affected by variety and plant spacing in Kharif-I season. J. Bangladesh Agri. University. pp.239-244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kharif
Tác giả: Kabir M.H. and M.A.R. Sarkar
Năm: 2008
67. Khan M.A., M. Aslam, T. sultan and I.A. Mahmood (2002). Response of phosphorus application on growth and yield of inoculated and un-inoculated mungbean (Vigna radiata L.). Int. J. Agril. Biol. pp. 523-524 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vigna radiata
Tác giả: Khan M.A., M. Aslam, T. sultan and I.A. Mahmood
Năm: 2002
68. Khatik K.L., C.S. Vaishnava and G. Lokesh (2007). Nutritional evaluation of greengram (Vigna radiata L.) straw in sheep and goat. Indian Journal Small Rumin. Vol 13. pp. 196-198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vigna radiata
Tác giả: Khatik K.L., C.S. Vaishnava and G. Lokesh
Năm: 2007
69. Khodarahmpour Z. and J. Hamidi (2011). Evaluation of drought tolerance in different growth stages of maize (Zea mays L.) inbred lines using tolerance indices. African Journal of Biotechnology. Vol. 10 (62). pp. 13482-13490 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zea mays
Tác giả: Khodarahmpour Z. and J. Hamidi
Năm: 2011
70. Kramer P. J. and J. S. Boyer (1997). Water relations of Plants and Soils. Academic Press, San Diago. In: Physiological response of legume nodules to drought.Gonzalez, A. I., E. Mariano, D. Landera, R. Larraiza, E. Gil-Quintana (eds.).Plant stress, Global. Science book., Vol. 5. pp. 24-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In
Tác giả: Kramer P. J. and J. S. Boyer
Năm: 1997
71. Kumar A. and K. D. Sharma (2009). Physiological responses and dry matter partitioning of summer mungbean (Vigna radiata L.) genotypes subjected to drought conditions. Journal of Agronomy and Crop science. Vol 195 (4). pp. 270-277 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vigna radiata
Tác giả: Kumar A. and K. D. Sharma
Năm: 2009
72. Kumar P., M. Pal, R. Joshi and R.K. Sairam (2013). Yield, growth and physiological responses of mungbean [Vigna radiata (L.) Wilczek] genotypes to waterlogging at vegetative stage. Physiol Mol Biol Plants. Vol 19 (2). pp. 209-220 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vigna radiata
Tác giả: Kumar P., M. Pal, R. Joshi and R.K. Sairam
Năm: 2013
74. Kumar S., S.S. Yadav, P. Tripura and H.S. Jatav (2017). Use of phosphorus for maximization of summer mengbean [Vigna radiata (L.) Wilszeck] productivity under subhumid condition of Rajasthan, Int. J. Curr. Microbiol. App. Sci. 6 (2).pp. 612-617 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vigna radiata
Tác giả: Kumar S., S.S. Yadav, P. Tripura and H.S. Jatav
Năm: 2017
75. Lawn R.J. and C.S. Ahn (1985). Mungbean (Vigna radiata (L.) Wilczek). Grain legume crop, William Collins Sons and Co. Ltd, London. pp. 584-623 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vigna radiata
Tác giả: Lawn R.J. and C.S. Ahn
Năm: 1985
77. Malik M.A., M.F. Saleem, A. Ali and I. Mahmood (2003). Effect of nitrogen and phosphorus application on growth yield and quality of mungbean (Vigna radiata L.), Pak. J. Agri. Sci. Vol. 40. pp. 133-136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vigna radiata
Tác giả: Malik M.A., M.F. Saleem, A. Ali and I. Mahmood
Năm: 2003
79. Mogotsi K.K. (2006). Vigna radiata (L.) R. Wilczek. In: Brink, M. &amp; Belay, G. (Editors). PROTA 1: Cereals and pulses, Plant Resources of Tropical Africa 1 (PROTA), Wageningen, Netherlands Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vigna radiata
Tác giả: Mogotsi K.K
Năm: 2006
81. Moolani M.K. and M.K. Jana (1965). A note on response of greengram (Phaseolus aureus L.) to fertilizer in laterite soil. Indian J. Agronomy. 10. pp. 43-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phaseolus aureus
Tác giả: Moolani M.K. and M.K. Jana
Năm: 1965
82. Muhammad T., K. Abdul and U. Muhammad (2001). Effects of phosphorus potassium application on growth and yield of mungbean (Vigna radiata L.) Pakistan J. Bio. Sci. Vol 1 (6). pp. 427-428 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vigna radiata
Tác giả: Muhammad T., K. Abdul and U. Muhammad
Năm: 2001
85. Naresh R. K., S. P. Singh, D. Ashish and K. Vineet (2013). Effect of water stress on physiological processes and yield attributes of different mungbean (Vigna radiata L.) varieties. African Journal of Biochemistry Research. 7 (5). pp. 55-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vigna radiata
Tác giả: Naresh R. K., S. P. Singh, D. Ashish and K. Vineet
Năm: 2013
88. Oad F.C., N. Shah, G.H. Jamro and S.H. Ghaloo (2003). Phosphorus and potassiumrequirements of mungbean (Vigna radiata). Pakistan J. Appl. Sci. 3 (6).pp. 428-431 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vigna radiata
Tác giả: Oad F.C., N. Shah, G.H. Jamro and S.H. Ghaloo
Năm: 2003
117. Ye N.H., G.H. Zhu, Y.G. Liu, Y.X. Li and J.H. Zhang (2011). ABA Controls H 2 O 2 Accumulation through the Induction of OsCATB in Rice Leaves under Water Stress. Plant and Cell Physiology. 52. pp. 689-698.http://dx.doi.org/10.1093/pcp/pcr028 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w