1.1. Lý do lựa chọn đề tài Sự đóng góp các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đối với nền kinh tế đang trở nên ngày càng quan trọng, ngay cả đối với các nền kinh tế phát triển. DNNVV không những đóng góp đáng kể vào GDP mà còn là một động lực tạo việc làm và gia tăng kim ngạch xuất khẩu đối với nền kinh tế. Năm 2017, tăng trưởng kinh tế đạt 6,81%. Sau những khó khăn chạm đáy vào năm 2012, nền kinh tế đang cho thấy sự tăng trưởng khá ổn định khi luôn cao hơn mức tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 2011 - 2017. Khu vực doanh nghiệp đóng góp khoảng 60% vào tăng trưởng kinh tế, DNNVV đóng góp khoảng 45% vào GDP cả nước và 31% tổng số thu ngân sách Nhà nước (Số liệu Tổng cục thống kê, 2016). Trong khi đó nhóm DNNVV chiếm tỷ trọng rất lớn khoảng 97% tổng số DN đang hoạt động tại Việt Nam, DNNVV là những doanh nghiệp có số lao động nhỏ hơn 200 lao động, số vốn nhỏ hơn 100 tỷ đồng, doanh thu nhỏ hơn 300 tỷ đồng (Theo Luật Hỗ trợ DNVN, số 04/2017/QH14 ngày 12/06/2017). Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 đã nhấn mạnh “Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế quốc dân” khu vực này được xem là ''xương sống'', bệ đỡ của nền kinh tế nắm quyền chi phối phần lớn tài nguyên của nền kinh tế bao gồm đất đai, khoán sản, tín dụng, ưu đãi chính sách... Chính điều này đã làm gia tăng các rào cản tiếp cận các yếu tố sản xuất, đặc biệt là vốn đối với khu vực kinh tế tư nhân. Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII (2017): “phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết có ý nghĩa định hướng quan trọng trong việc tháo gỡ được các rào cản của các doanh nghiệp tư nhân mà phần lớn là SMEs vẫn đang bị phân biệt đối xử khi tiếp cận với thị trường các yếu tố sản xuất. Tuy đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP cả nước nhưng thực tế cho thấy nhóm DN này lại đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay. Nguồn vốn dành cho các DNNVV hiện nay có thể đến từ các nguồn như ngân sách Nhà nước (trợ cấp, bảo lãnh, bảo hiểm và ưu đãi thuế…); nguồn vốn nước ngoài; vốn huy động từ thị trường chứng khoán, trái phiếu; vốn tự có, vốn góp; nguồn vốn tín dụng bảo lãnh chiết khấu, thuê tài chính và cuối cùng là nguồn vốn từ đối tác trả chậm, tín dụng thương mại…hay vốn vay từ người thân, bạn bè hay các tổ chức cho vay khác… Tuy nhiên nguồn vốn vay chính thức từ phía các ngân hàng và TCTD mới đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động lâu dài và ổn định. Các DNNVV phần lớn là các DN có quy mô nhỏ, vốn chủ sở hữu và năng lực tài chính hạn chế, thiếu tài sản để bảo đảm cho khoản vay theo quy định hoặc giá trị tài sản đảm bảo thấp, quyền sở hữu tài sản không minh bạch… nên rất khó có thể vay vốn tại ngân hàng, từ đó gây khó khăn trong việc vay vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo kết quả điều tra DNNVV của CIEM năm 2015 cho thấy, mặc dù chỉ số tiếp cận tín dụng được cải thiện đáng kể nhưng các doanh nghiệp vẫn cho rằng thiếu vốn và khó tiếp cận tài chính vẫn là trở ngại lớn nhất. Trong khi các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn có khả năng tiếp cận tín dụng cao hơn thì toàn bộ các nhóm quy mô khác đều có tỷ lệ tiếp cận tín dụng giảm so với năm 2013. Hiện nay mới chỉ có khoảng 32% DNNVV có khả năng tiếp cận vốn, 35% DN khó tiếp cận và khoảng 33% không thể tiếp cận nguồn vốn. Một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp không có nhu cầu vay vốn (54%) hoặc không muốn bị nợ (23%). Những doanh nghiệp này không được coi là những doanh nghiệp gặp khó khăn về tín dụng, tuy nhiên trong số các doanh nghiệp thuộc nhóm không nộp hồ sơ vay vốn (1.982 doanh nghiệp) có khoảng một nửa có thể đưa vào nhóm gặp trở ngại về tín dụng. Điều này có thể do tỷ lệ lãi suất cao hoặc quy trình nộp hồ sơ khó khăn (mỗi nguyên nhân chiếm khoảng 7%). Các kết quả các cuộc điều tra doanh nghiệp khác cũng chỉ ra, tiếp cận tài chính đang là rào cản lớn đến các doanh nghiệp. Theo kết quả khảo sát doanh nghiệp của WB năm 2015, rào cản về mở rộng kinh doanh lớn nhất đó là “Tiếp cận tài chính” (với 22% số doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn yếu tố này, so với 11,3% doanh nghiệp khu vực Đông Á – Thái Bình Dương). Điều đáng lo ngại nhất và khó tháo gỡ nhất khi khởi đầu doanh nghiệp là thiếu vốn cũng như khó tiếp cận các nguồn vốn. Đó chính là lý do mà tín dụng phi chính thức đóng vai trò quan trọng trong thị trường vốn cho các DNNVV ở Việt Nam. Kết quả điều tra trực tiếp 695 doanh nghiệp thực hiện cuối năm 2017 (Báo cáo đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên của Đại học KTQD, 2018) cũng chỉ ra gần 60% các doanh nghiệp trong mẫu điều tra đã từng nộp đơn xin vay vốn ngân hàng. Những doanh nghiệp không vay vốn ngân hàng loại trừ lý do không có nhu cầu và không muốn bị mắc nợ, thì lý do chính không tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng là do lãi suất cao và thủ tục vay phức tạp. Các doanh nghiệp đã từng bị ngân hàng từ chối hoặc chỉ được giải ngân một phần cũng có nguyên nhân chủ yếu từ thủ tục, cụ thể là vấn đề tài sản thế chấp. Đặc biệt là đối với các DNNVV thì càng khó có khả năng tiếp cận vốn vay chính thức vì phần lớn mặt bằng sản xuất, máy móc trang thiết bị cơ bản là đi thuê, không đáp ứng yêu cầu thế chấp của các ngân hàng. Bên cạnh đó, khó khăn mà các doanh nghiệp gặp phải khi tiếp cận vốn là chi phí tài chính cao. Chi phí để có các dịch vụ tài chính, ví dụ vốn tín dụng ngân hàng, bao gồm chi phí chính thức (chủ yếu là chi phí trả lãi) và chi phí không chính thức (chi phí về thủ tục, giấy tờ, phí quản lý, phí cam kết, lãi suất phạt khi vi phạm hợp đồng vay, chi phí khác...). Theo báo cáo PCI năm 2015, “việc doanh nghiệp phải chi các chi phí tài chính không chính thức như “bồi dưỡng” các cán bộ ngân hàng còn phổ biến với tỷ lệ ở doanh nghiệp vừa là 49% và ở doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ tỷ lệ này lần lượt là 64% và 56% trả lời phải trả chi phí này, trong với các doanh nghiệp lớn là 30%”. Đồng thời, chi phí không chính thức chưa có dấu hiệu giảm bớt thể hiện qua tỷ lệ doanh nghiệp được khảo sát phải chi trả chi phí vẫn tăng, từ mức 50% năm 2013 lên 65% năm 2015. Riêng chi phí không chính nàu có thể chiếm tới hơn 10% tổng doanh thu của các doanh nghiệp tham gia khảo sát với tỷ trọng ngày càng tăng (năm 2015 là 11%, tăng 1% so với năm 2014). Do khó khăn về tiếp cận vốn ngân hàng, các doanh nghiệp (chủ yếu là các DNNVV) sẽ phải tiếp cận các kênh phi chính thức như kênh người thân, bạn bè, gia đình hay tín dụng đen. Lãi suất từ nguồn tín dụng đen có thể ở mức rất cao, từ 20-25%/ năm, với doanh nghiệp quy mô lớn thậm chí lên đến 36%/năm. Báo cáo đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên của Đại học KTQD, 2018 đánh giá doanh nghiệp có khả năng tiếp cận được món vay từ tổ chức tín dụng cao hơn khi doanh nghiệp có chi các khoản chi phí lót tay, mua quà tặng... Điều này cho thấy, hiện nay chi phí phi chính thức vẫn là một trong rào cản các doanh nghiệp tiếp cận vốn chính thức từ các tổ chức tín dụng, đặc biệt là đối với các DNNVV. Từ đó cho thấy, việc đánh giá đúng và đầy đủ các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tài chính (chính thức và phi chính thức) của các DNNVV sẽ góp phần tháo gỡ các rào cản này tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tăng khả năng tiếp cận vào thị trường vốn vay tín dụng (là nguồn vốn quan trọng nhất của của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay) đồng thời giảm các chi phí tài chính khác. Đặc biệt, ở Việt Nam hầu hết các nghiên cứu còn chưa đầy đủ về các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tài chính của các DNNVV, các kĩ thuật định lượng trong các nghiên cứu còn đơn giản chưa được giải quyết triệt để trong các nghiên cứu trước đây. 1.2. Mục tiêu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu Mục tiêu cơ bản và tổng quát của luận án là: Làm rõ các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tài chính của các DNNVV, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng khả năng tiếp cận tài chính đồng thời giảm chi phí tiếp cận tài chính, đóng góp vào quá trình phát triển của các DNNVV nói riêng và DN nói chung. Nghiên cứu cụ thể hóa thành các mục tiêu sau: • Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận vốn của các DNNVV. • Phân tích quá trình phát triển, đặc điểm, thực trạng và các ràng buộc phát triển của DNNVV • Xây dựng mô hình kinh tế lượng đánh giá ảnh hưởng các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận vốn của DNNVV ở Việt Nam • Làm rõ các nguyên nhân cơ bản cả chủ quan và khách quan gây ra các khó khăn khi tiếp cận vốn của các DNNVV ở Việt Nam • Khuyến nghị một số giải pháp tiếp cận nguồn vốn có hiệu quả cho các DNNVV ở Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: • Các DNNVV ở Việt Nam thuộc đối tượng điều chỉnh của luật Doanh nghiệp. (Theo Luật Hỗ trợ DNVN, số 04/2017/QH14 ngày 12/06/2017, DNNVV là những doanh nghiệp có số lao động nhỏ hơn 200 lao động, số vốn nhỏ hơn 100 tỷ đồng, doanh thu nhỏ hơn 300 tỷ đồng). • Khả năng tiếp cận tài chính chính thức (từ ngân hàng và TCTD ở Việt Nam) và phi chính thức (từ người thân, bạn bè, các tổ chức cho vay khác…). • Giai đoạn nghiên cứu: giai đoạn từ năm 2009 đến nay. 1.3. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu dự kiến sử dụng một số phương pháp cơ bản sau: • Các phương pháp định tính cơ bản: Nghiên cứu sẽ sử dụng các phương pháp định tính cơ bản như thống kê, mô tả, tổng hợp, so sánh và khảo sát thực tế. Đề tài nghiên cứu sử dụng các tiệu để tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn về chủ đề • Phương pháp định lượng: Nghiên cứu sẽ xây dựng một số mô hình và kỹ thuật kinh tế lượng để có thể nhận diện được các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp Việc chạy các mô hình hồi quy nói trên có thể gặp vấn đề biến nội sinh (endogeneity), theo đó ước lượng không còn vững, kết quả mô hình có thể bị khiếm khuyết. Trong trường hợp này có thể sử dụng biến công cụ (Instrument Variable) thông qua 2 phương pháp: o Phương pháp hồi quy 2 giai đoạn (Two Stage Least Square – 2 SLS) o Hoặc phương pháp moment tổng quát (Generalized Method ò Moments – GMM) Số liệu chủ yếu cho các phương pháp trên được thu thập từ các nguồn cơ bản sau: • Số liệu kinh tế nói chung và hệ thống tài chính tiền tệ từ các nguồn: Ngân hàng Nhà nước, Bộ tài chính, Ủy ban chứng khoán, Bộ công thương, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Tổng cục Thống kê, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, Các cơ sở dữ liệu quốc tê như: IFS của IMF, ADB, WB • Số liệu về doanh nghiệp vừa và nhỏ thu thập từ các cuộc điều tra doanh nghiệp sau: Tổng điều tra Doanh nghiệp (Tổng cục thống kê); Điều tra doanh nghiệp vừa và nhỏ SME (Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Trường đại học Copenhagen và Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương CIEM); Điều tra doanh nghiệp (WB); Điều tra chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (VCCI). Dữ liệu sơ cấp trích xuất từ bộ số liệu điều tra trực tiếp 699 doanh nghiệp thuộc 3 địa phương Hà Nội, Đà Nẵng và Đồng Nai thực hiện vào tháng 12 năm 2017. 1.4. Dự kiến các kết quả đạt được Trong luận án, các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp là những khó khăn, điểm nghẽn, trở ngại mà các doanh nghiệp gặp phải khi tiếp cận vốn. Những khó khăn này có thể tác động tiêu cực đến sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ. • Nghiên cứu xác định được các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tài chính (chính thức và phi chính thức) của doanh nghiệp vừa và nhỏ. • Phân tích thực trạng trong tiếp cận vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, • Xây dựng mô hình đánh giá khả năng tiếp cận tài chính chính thức (sử dụng mô hình Multilogistic) và phi chính thức (sử dụng mô hình Logistic). Đồng thời khắc phục vấn đề biến nội sinh trong các mô hình. • Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn hiệu quả trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay. 1.5. Cấu trúc luận án Ngoài mục lục, Danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được cấu trúc thành 5 chương. Cụ thể: Chương 1: Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về khả năng tiếp cận tài chính của Doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương 3: Thực trạng về khả năng tiếp cận tài chính của Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Chương 4: Đánh giá tác động của các yếu tố đến khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đề tài:
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÀI
CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế học
Trang 2HÀ NỘI, THÁNG 12 NĂM 2018
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4
1.3 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4 Dự kiến các kết quả đạt được 5
1.5 Cấu trúc luận án 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 7
2.1 Cơ sở lý thuyết 7
2.1.1 Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) 7
2.1.2 Hệ thống tài chính tiền tệ và vai trò đối với doanh nghiệp 13
2.1.3 Khái niệm khả năng tiếp cận tài chính 18
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp 20
2.2 Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp 28
2.2.1 Các nhân tố bên ngoài 29
2.2.2 Các nhân tố bên trong 35
2.3 Khung phân tích và giải thuyết nghiên cứu 47
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM 49
3.1 Thực trạng của doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay 49
3.1.1 Quá trình phát triển của doanh nghiệp 49
3.1.2 Tình hình kết quả kinh doanh của doanh nghiệp 57
3.1.3 Đóng góp của khu vực doanh nghiệp 62
3.2 Thực trạng khả năng tiếp cận tài chính của Doanh nghiệp nhỏ và vừa 63
Trang 43.2.1 Thực trạng khả năng tiếp cận tài chính so với các nước trong khu vực 63
3.2.2 Thực trạng khả năng tiếp cận nguồn tài chính chính thức 68
3.2.3 Thực trạng khả năng tiếp cận nguồn tài chính phi chính thức 74
CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 76
4.1 Các mô hình lý thuyết 76
4.1.1 Mô hình đánh giá các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tài chính chính thức của doanh nghiệp 76
4.1.2 Mô hình đánh giá các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tài chính phi chính thức của doanh nghiệp 78
4.2 Dữ liệu và biến số 80
4.2.1 Nguồn dữ liệu 80
4.2.2 Xử lý dữ liệu 81
4.2.3 Biến số và thước đo 82
4.3 Mô tả thống kê và tương quan các biến 86
4.3.1 Mô tả thống kê các biến 86
4.4 Kết quả ước lượng 87
4.4.1 Kết quả ước lượng mô hình đánh giá tác động của các yếu tố đến khả năng tiếp cận tài chính chính thức 87
4.4.2 Kết quả ước lượng mô hình đánh giá tác động của các yếu tố đến khả năng tiếp cận tài chính phi chính thức 95
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 99
5.1 Các kết quả nghiên cứu chính 99
5.2 Khuyến nghị chính sách 100
5.2.1 Nhóm giải pháp liên quan đến hệ thống pháp lý và quy định 100
5.2.2 Nhóm giải pháp liên quan đến Ngân hàng và các TCTD 101
Trang 55.2.3 Nhóm giải pháp liên quan năng lực của chính các doanh nghiệp 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG , HÌNH
BẢNG
Bảng 2.1 Tiêu chí phân loại Doanh nghiệp vừa và nhỏ của World Bank 7
Bảng 2.2 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước trên thế giới 8
Bảng 2.3 Tiêu chí phân loại Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam 9
Bảng 2.4 Tác động kỳ vọng của các yếu tố đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp 44
Bảng 3.1 Phân bổ doanh nghiệp theo quy mô lao động và hình thức sở hữu năm 2016 51
Bảng 3.2 Đóng góp của các loại hình doanh nghiệp cho nền kinh tế năm 2016 62
Bảng 3.3 Báo cáo môi trường kinh doanh của WB 64
Bảng 3.4 Chỉ số tự do kinh tế (IEF) (Thứ hạng của các nước) 65
Bảng 3.5 Chỉ số cạnh tranh toàn cầu 67
Bảng 3.7 Tỷ lệ doanh nghiệp nộp đơn vay vốn ngân hàng 70
Bảng 3.8 Khó khăn của doanh nghiệp khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng 71
Bảng 3.9 Tỷ lệ doanh nghiệp không có ý định niêm yết trong 5 năm tới 73
Bảng 3.10 Mức độ đồng ý với rào cản và trở ngại sau khi tiếp cận tài chính từ thị trường chứng khoán của SMEs 74
Bảng 3.11 Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng vốn vay không chính thức 75
Bảng 3.12 Lý do tiếp cận nguồn vốn phi chính thức 75
Bảng 4.1 Ký hiệu, giải thích, cách tính/ đo lường và kỳ vọng chiều tác động của các biến trong mô hình 1 83
Bảng 4.2 Ký hiệu, giải thích, cách tính/ đo lường và kỳ vọng chiều tác động của các biến trong mô hình 2 85
Bảng 4.3 Mô tả thống kê các biến trong mô hình 1 86
Bảng 4.4 Mô tả thống kê các biến trong mô hình 2 87
Bảng 4.5 Kết quả mô hình Multilogistic sử dụng phương pháp hồi quy 2SLS 88
Bảng 4.6 Kết quả mô hình logistic 96
Trang 7Hình 2.1 Khung phân tích các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tài chính của
doanh nghiệp 48
Hình 3.1 Số lượng doanh nghiệp giai đoạn 2011 – 2017 49
Hình 3.2 Số lượng doanh nghiệp đăng kí thành lập và ngừng hoạt động giai đoạn 2011 – 2017 50
Hình 3.3 Quy mô lao động bình quân các doanh nghiệp giai đoạn 2011 – 2016 51
Hình 3.4 Tổng nguồn vốn trong doanh nghiệp giai đoạn 2011-2016 52
Hình 3.5 Nguồn vốn và tăng trưởng nguồn vốn theo loại hình doanh nghiệp giai đoạn 2011-2016 53
Hình 3.6 Nguồn vốn và tăng trưởng nguồn vốn theo hình thức sở hữu giai đoạn 2011-2016 54
Hình 3.7 Quy mô vốn bình quân các doanh nghiệp giai đoạn 2011 – 2016 55
Hình 3.8 Tổng doanh thu trong doanh nghiệp giai đoạn 2011-2016 55
Hình 3.9 Doanh thu và tăng trưởng doanh thu theo loại hình doanh nghiệp giai đoạn 2011-2016 56
Hình 3.10 Doanh thu và tăng trưởng doanh thu theo hình thức sở hữu giai đoạn 2011-2016 57
Hình 3.11 Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ giai đoạn 2011 – 2016 58
Hình 3.12 Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ theo quy mô doanh nghiệp giai đoạn 2011 – 2016 59
Hình 3.13 Hiệu suất sinh lợi trên tài sản – ROA của doanh nghiệp giai đoạn 2011 – 2016 .60 Hình 3.14 Hiệu suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu – ROE của doanh nghiệp giai đoạn 2011 – 2016 61
Hình 3.15 Các lý do tại sao doanh nghiệp không vay vốn NHTM 69
Hình 3.16 Tỷ lệ kết quả nộp đơn vay vốn của doanh nghiệp 70
Hình 3.17 Tỷ trọng các loại tài sản được sử dụng làm tài sản thế chấp 72
Hình 4.1 Số lượng doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu có ý định niêm yết trên thị trường chứng khoán trong vòng 5 năm tới 90
Trang 8CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Sự đóng góp các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)đối với nền kinh tế đang trở nên ngày càng quan trọng, ngay cả đối với các nền kinh tếphát triển DNNVV không những đóng góp đáng kể vào GDP mà còn là một động lựctạo việc làm và gia tăng kim ngạch xuất khẩu đối với nền kinh tế Năm 2017, tăngtrưởng kinh tế đạt 6,81% Sau những khó khăn chạm đáy vào năm 2012, nền kinh tếđang cho thấy sự tăng trưởng khá ổn định khi luôn cao hơn mức tăng trưởng trungbình trong giai đoạn 2011 - 2017 Khu vực doanh nghiệp đóng góp khoảng 60% vào
tăng trưởng kinh tế, DNNVV đóng góp khoảng 45% vào GDP cả nước và 31% tổng
số thu ngân sách Nhà nước (Số liệu Tổng cục thống kê, 2016) Trong khi đó nhómDNNVV chiếm tỷ trọng rất lớn khoảng 97% tổng số DN đang hoạt động tại Việt Nam,DNNVV là những doanh nghiệp có số lao động nhỏ hơn 200 lao động, số vốn nhỏ hơn
100 tỷ đồng, doanh thu nhỏ hơn 300 tỷ đồng (Theo Luật Hỗ trợ DNVN, số04/2017/QH14 ngày 12/06/2017)
Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 đã nhấn mạnh “Kinh tế nhà nước, kinh tếtập thể là nền tảng của nền kinh tế quốc dân” khu vực này được xem là 'xương sống',
bệ đỡ của nền kinh tế nắm quyền chi phối phần lớn tài nguyên của nền kinh tế baogồm đất đai, khoán sản, tín dụng, ưu đãi chính sách Chính điều này đã làm gia tăngcác rào cản tiếp cận các yếu tố sản xuất, đặc biệt là vốn đối với khu vực kinh tế tưnhân Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII (2017): “phát triển kinh tế tư nhân trở thànhmột động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.Nghị quyết có ý nghĩa định hướng quan trọng trong việc tháo gỡ được các rào cản củacác doanh nghiệp tư nhân mà phần lớn là SMEs vẫn đang bị phân biệt đối xử khi tiếpcận với thị trường các yếu tố sản xuất
Tuy đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP cả nước nhưng thực tế cho thấynhóm DN này lại đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay.Nguồn vốn dành cho các DNNVV hiện nay có thể đến từ các nguồn như ngân sáchNhà nước (trợ cấp, bảo lãnh, bảo hiểm và ưu đãi thuế…); nguồn vốn nước ngoài; vốnhuy động từ thị trường chứng khoán, trái phiếu; vốn tự có, vốn góp; nguồn vốn tíndụng bảo lãnh chiết khấu, thuê tài chính và cuối cùng là nguồn vốn từ đối tác trả chậm,
Trang 9tín dụng thương mại…hay vốn vay từ người thân, bạn bè hay các tổ chức cho vaykhác… Tuy nhiên nguồn vốn vay chính thức từ phía các ngân hàng và TCTD mới đảmbảo cho doanh nghiệp hoạt động lâu dài và ổn định.
Các DNNVV phần lớn là các DN có quy mô nhỏ, vốn chủ sở hữu và nănglực tài chính hạn chế, thiếu tài sản để bảo đảm cho khoản vay theo quy định hoặcgiá trị tài sản đảm bảo thấp, quyền sở hữu tài sản không minh bạch… nên rất khócó thể vay vốn tại ngân hàng, từ đó gây khó khăn trong việc vay vốn mở rộng hoạtđộng sản xuất kinh doanh
Theo kết quả điều tra DNNVV của CIEM năm 2015 cho thấy, mặc dù chỉ sốtiếp cận tín dụng được cải thiện đáng kể nhưng các doanh nghiệp vẫn cho rằng thiếuvốn và khó tiếp cận tài chính vẫn là trở ngại lớn nhất Trong khi các doanh nghiệp cóquy mô lớn hơn có khả năng tiếp cận tín dụng cao hơn thì toàn bộ các nhóm quy môkhác đều có tỷ lệ tiếp cận tín dụng giảm so với năm 2013 Hiện nay mới chỉ có khoảng32% DNNVV có khả năng tiếp cận vốn, 35% DN khó tiếp cận và khoảng 33% khôngthể tiếp cận nguồn vốn Một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp không có nhu cầu vay vốn(54%) hoặc không muốn bị nợ (23%) Những doanh nghiệp này không được coi lànhững doanh nghiệp gặp khó khăn về tín dụng, tuy nhiên trong số các doanh nghiệpthuộc nhóm không nộp hồ sơ vay vốn (1.982 doanh nghiệp) có khoảng một nửa có thểđưa vào nhóm gặp trở ngại về tín dụng Điều này có thể do tỷ lệ lãi suất cao hoặc quytrình nộp hồ sơ khó khăn (mỗi nguyên nhân chiếm khoảng 7%)
Các kết quả các cuộc điều tra doanh nghiệp khác cũng chỉ ra, tiếp cận tài chínhđang là rào cản lớn đến các doanh nghiệp Theo kết quả khảo sát doanh nghiệp của
WB năm 2015, rào cản về mở rộng kinh doanh lớn nhất đó là “Tiếp cận tài chính” (với22% số doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn yếu tố này, so với 11,3% doanh nghiệp khuvực Đông Á – Thái Bình Dương) Điều đáng lo ngại nhất và khó tháo gỡ nhất khi khởiđầu doanh nghiệp là thiếu vốn cũng như khó tiếp cận các nguồn vốn Đó chính là lý
do mà tín dụng phi chính thức đóng vai trò quan trọng trong thị trường vốn cho cácDNNVV ở Việt Nam
Kết quả điều tra trực tiếp 695 doanh nghiệp thực hiện cuối năm 2017 (Báo cáođánh giá kinh tế Việt Nam thường niên của Đại học KTQD, 2018) cũng chỉ ra gần60% các doanh nghiệp trong mẫu điều tra đã từng nộp đơn xin vay vốn ngân hàng
Trang 10Những doanh nghiệp không vay vốn ngân hàng loại trừ lý do không có nhu cầu vàkhông muốn bị mắc nợ, thì lý do chính không tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng
là do lãi suất cao và thủ tục vay phức tạp Các doanh nghiệp đã từng bị ngân hàng từchối hoặc chỉ được giải ngân một phần cũng có nguyên nhân chủ yếu từ thủ tục, cụ thể
là vấn đề tài sản thế chấp Đặc biệt là đối với các DNNVV thì càng khó có khả năngtiếp cận vốn vay chính thức vì phần lớn mặt bằng sản xuất, máy móc trang thiết bị cơbản là đi thuê, không đáp ứng yêu cầu thế chấp của các ngân hàng
Bên cạnh đó, khó khăn mà các doanh nghiệp gặp phải khi tiếp cận vốn là chi phí tài chính cao Chi phí để có các dịch vụ tài chính, ví dụ vốn tín dụng ngân hàng,
bao gồm chi phí chính thức (chủ yếu là chi phí trả lãi) và chi phí không chính thức (chiphí về thủ tục, giấy tờ, phí quản lý, phí cam kết, lãi suất phạt khi vi phạm hợp đồngvay, chi phí khác )
Theo báo cáo PCI năm 2015, “việc doanh nghiệp phải chi các chi phí tài chínhkhông chính thức như “bồi dưỡng” các cán bộ ngân hàng còn phổ biến với tỷ lệ ởdoanh nghiệp vừa là 49% và ở doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ tỷ lệ này lầnlượt là 64% và 56% trả lời phải trả chi phí này, trong với các doanh nghiệp lớn là30%” Đồng thời, chi phí không chính thức chưa có dấu hiệu giảm bớt thể hiện qua tỷ
lệ doanh nghiệp được khảo sát phải chi trả chi phí vẫn tăng, từ mức 50% năm 2013 lên65% năm 2015 Riêng chi phí không chính nàu có thể chiếm tới hơn 10% tổng doanhthu của các doanh nghiệp tham gia khảo sát với tỷ trọng ngày càng tăng (năm 2015 là11%, tăng 1% so với năm 2014) Do khó khăn về tiếp cận vốn ngân hàng, các doanhnghiệp (chủ yếu là các DNNVV) sẽ phải tiếp cận các kênh phi chính thức như kênhngười thân, bạn bè, gia đình hay tín dụng đen Lãi suất từ nguồn tín dụng đen có thể ởmức rất cao, từ 20-25%/ năm, với doanh nghiệp quy mô lớn thậm chí lên đến36%/năm
Báo cáo đánh giá kinh tế Việt Nam thường niên của Đại học KTQD, 2018 đánhgiá doanh nghiệp có khả năng tiếp cận được món vay từ tổ chức tín dụng cao hơn khidoanh nghiệp có chi các khoản chi phí lót tay, mua quà tặng Điều này cho thấy, hiệnnay chi phí phi chính thức vẫn là một trong rào cản các doanh nghiệp tiếp cận vốnchính thức từ các tổ chức tín dụng, đặc biệt là đối với các DNNVV
Trang 11Từ đó cho thấy, việc đánh giá đúng và đầy đủ các yếu tố tác động đến khả năngtiếp cận tài chính (chính thức và phi chính thức) của các DNNVV sẽ góp phần tháo gỡcác rào cản này tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tăng khả năng tiếp cận vàothị trường vốn vay tín dụng (là nguồn vốn quan trọng nhất của của các doanh nghiệpViệt Nam hiện nay) đồng thời giảm các chi phí tài chính khác Đặc biệt, ở Việt Namhầu hết các nghiên cứu còn chưa đầy đủ về các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cậntài chính của các DNNVV, các kĩ thuật định lượng trong các nghiên cứu còn đơn giảnchưa được giải quyết triệt để trong các nghiên cứu trước đây
1.2 Mục tiêu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Mục tiêu cơ bản và tổng quát của luận án là: Làm rõ các yếu tố tác động đếnkhả năng tiếp cận tài chính của các DNNVV, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằmtăng khả năng tiếp cận tài chính đồng thời giảm chi phí tiếp cận tài chính, đóng gópvào quá trình phát triển của các DNNVV nói riêng và DN nói chung
Nghiên cứu cụ thể hóa thành các mục tiêu sau:
Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cậnvốn của các DNNVV
Phân tích quá trình phát triển, đặc điểm, thực trạng và các ràng buộc phát triểncủa DNNVV
Xây dựng mô hình kinh tế lượng đánh giá ảnh hưởng các yếu tố tác động đếnkhả năng tiếp cận vốn của DNNVV ở Việt Nam
Làm rõ các nguyên nhân cơ bản cả chủ quan và khách quan gây ra các khókhăn khi tiếp cận vốn của các DNNVV ở Việt Nam
Khuyến nghị một số giải pháp tiếp cận nguồn vốn có hiệu quả cho cácDNNVV ở Việt Nam
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Các DNNVV ở Việt Nam thuộc đối tượng điều chỉnh của luật Doanh nghiệp.(Theo Luật Hỗ trợ DNVN, số 04/2017/QH14 ngày 12/06/2017, DNNVV là nhữngdoanh nghiệp có số lao động nhỏ hơn 200 lao động, số vốn nhỏ hơn 100 tỷ đồng,doanh thu nhỏ hơn 300 tỷ đồng)
Khả năng tiếp cận tài chính chính thức (từ ngân hàng và TCTD ở Việt Nam)
và phi chính thức (từ người thân, bạn bè, các tổ chức cho vay khác…)
Trang 12Giai đoạn nghiên cứu: giai đoạn từ năm 2009 đến nay.
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dự kiến sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
Các phương pháp định tính cơ bản: Nghiên cứu sẽ sử dụng các phương phápđịnh tính cơ bản như thống kê, mô tả, tổng hợp, so sánh và khảo sát thực tế Đề tàinghiên cứu sử dụng các tiệu để tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn về chủ đề
Phương pháp định lượng: Nghiên cứu sẽ xây dựng một số mô hình và kỹthuật kinh tế lượng để có thể nhận diện được các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cậnvốn của doanh nghiệp
Việc chạy các mô hình hồi quy nói trên có thể gặp vấn đề biến nội sinh(endogeneity), theo đó ước lượng không còn vững, kết quả mô hình có thể bị khiếmkhuyết Trong trường hợp này có thể sử dụng biến công cụ (Instrument Variable)thông qua 2 phương pháp:
o Phương pháp hồi quy 2 giai đoạn (Two Stage Least Square – 2 SLS)
o Hoặc phương pháp moment tổng quát (Generalized Method ò Moments – GMM)
Số liệu chủ yếu cho các phương pháp trên được thu thập từ các nguồn cơ bản sau:
Số liệu kinh tế nói chung và hệ thống tài chính tiền tệ từ các nguồn: Ngânhàng Nhà nước, Bộ tài chính, Ủy ban chứng khoán, Bộ công thương, Bộ Kế hoạch vàđầu tư, Tổng cục Thống kê, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, Các cơ sở dữ liệuquốc tê như: IFS của IMF, ADB, WB
Số liệu về doanh nghiệp vừa và nhỏ thu thập từ các cuộc điều tra doanhnghiệp sau: Tổng điều tra Doanh nghiệp (Tổng cục thống kê); Điều tra doanh nghiệpvừa và nhỏ SME (Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Trường đại học Copenhagen vàViện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương CIEM); Điều tra doanh nghiệp (WB);Điều tra chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (VCCI) Dữ liệu sơ cấp trích xuất từ
bộ số liệu điều tra trực tiếp 699 doanh nghiệp thuộc 3 địa phương Hà Nội, Đà Nẵng vàĐồng Nai thực hiện vào tháng 12 năm 2017
1.4 Dự kiến các kết quả đạt được
Trong luận án, các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tài chính của doanhnghiệp là những khó khăn, điểm nghẽn, trở ngại mà các doanh nghiệp gặp phải khi tiếp
Trang 13cận vốn Những khó khăn này có thể tác động tiêu cực đến sự phát triển của doanhnghiệp vừa và nhỏ
Nghiên cứu xác định được các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tài chính(chính thức và phi chính thức) của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Phân tích thực trạng trong tiếp cận vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năngtiếp cận vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa,
Xây dựng mô hình đánh giá khả năng tiếp cận tài chính chính thức (sử dụng môhình Multilogistic) và phi chính thức (sử dụng mô hình Logistic) Đồng thời khắc phụcvấn đề biến nội sinh trong các mô hình
Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao khả năng tiếp cận nguồnvốn hiệu quả trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay
1.5 Cấu trúc luận án
Ngoài mục lục, Danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục hình vẽ,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được cấu trúc thành 5 chương Cụ thể:Chương 1: Mở đầu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về khả năng tiếp cận tàichính của Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương 3: Thực trạng về khả năng tiếp cận tài chính của Doanh nghiệp nhỏ vàvừa ở Việt Nam
Chương 4: Đánh giá tác động của các yếu tố đến khả năng tiếp cận tài chính củadoanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Trang 14CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)
2.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa tùy từng thời điểm, tại mỗi quốc gia vớiđiều kiện kinh tế xã hội khác nhau sẽ có những tiêu chí xác định khác nhau Ngaytrong cùng một quốc gia, những tiêu chí này cũng có thể được thay đổi theo thời gian
vì sự phát triển của doanh nghiệp, đặc điểm nền kinh tế hay tốc độ phát triển kinh tếcủa quốc gia đó Tuy nhiên, các tiêu chí phổ biến nhất được nhiều quốc gia sử dụnglà: số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong năm, tổng mức vốnđầu tư của doanh nghiệp, tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp…
Theo tiêu chí phân loại của Ngân hàng thế giới - World Bank, Doanh nghiệpvừa và nhỏ được xác định như sau:
Bảng 2.1 Tiêu chí phân loại Doanh nghiệp vừa và nhỏ của World Bank
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
Tổng doanh thu hàng năm
Nguồn: Tổng hợp từ World Bank
Ở các nước trên thế giới, định nghĩa DNNVV cũng dựa theo các tiêu chí về sốlao động bình quân, vốn đầu tư hoặc doanh thu… Bảng 2.2 trình bày về cách phân loạiDNNVV ở một số quốc gia trên thế giới
Trang 15Bảng 2.2 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước trên thế giới
2 Nhật
- Đối với ngành sản xuất
- Đối với ngành thươngmại
6 New Zealand Nhỏ và vừa < 50 Không quy định Không quy định
7 Korea Nhỏ và vừa < 300 Không quy định Không quy định
8 Taiwan Nhỏ và vừa < 200 < NT$ 80 triệu < NT$ 100 triệu
định
< Baht 200 triệu
Không quy định
10 Malaysia - Đối với ngành sản xuất 0-150 Không quy định RM 0-25 triệu
11 Philippine Nhỏ và vừa < 200 Peso 1,5-60 triệu Không quy định
12 Indonesia Nhỏ và vừa Không quy
định
< US$ 1 triệu
< US$ 5 triệu
Nguồn: Tổng hợp các số liệu tìm kiếm trên google
Tại Việt Nam, Nghị Định Số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính PhủVề “trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa” Tại Điều 3 có nêu Định nghĩa doanhnghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theopháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bìnhhàng năm không quá 300 người
Kế thừa định nghĩa đó, mới đây nhất, theo Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ số:04/2017/QH14 ngày 12/06/2017 của Quốc Hội, Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanhnghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm
xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí: Tổng nguồn
Trang 16vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷđồng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì soạn thảo Nghị định Số: 39/2018/NĐ-CP ngày11/03/2018 của Chính Phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ
và vừa, trong đó có tiêu chí xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ, cụ thể:
Bảng 2.3 Tiêu chí phân loại Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam Nông nghiệp,
lâm nghiệp, thủy sản
Công nghiệp và xây dựng Thương mại và dịch vụ
Không quá 10người Không quá 10 người
Tổng nguồn
vốn hoặc tổng
doanh thu
Không quá 3 tỷđồng Không quá 3 tỷđồng
Tổng doanh thu củanăm không quá 10
tỷ đồng hoặc tổngnguồn vốn khôngquá 3 tỷ đồng
Không quá 100người Không quá 50 người
Tổng nguồn
vốn hoặc tổng
doanh thu
Tổng doanh thucủa năm khôngquá 50 tỷ đồnghoặc tổng nguồnvốn không quá
20 tỷ đồng
Tổng doanh thucủa năm khôngquá 50 tỷ đồnghoặc tổng nguồnvốn không quá
20 tỷ đồng
Tổng doanh thu củanăm không quá 100
tỷ đồng hoặc tổngnguồn vốn khôngquá 50 tỷ đồng
Không quá 200người
Không quá 100người
Tổng nguồn
vốn hoặc tổng
doanh thu
Tổng doanh thucủa năm khôngquá 200 tỷ đồnghoặc tổng nguồnvốn không quá
100 tỷ đồng
Tổng doanh thucủa năm khôngquá 200 tỷ đồnghoặc tổng nguồnvốn không quá
100 tỷ đồng
Tổng doanh thu củanăm không quá 300
tỷ đồng hoặc tổngnguồn vốn khôngquá 100 tỷ đồng
Nguồn: Tổng hợp từ Nghị Định Số: 39/2018/NĐ-CP của Chính Phủ
Trong phạm vi luận án sử dụng khái niệm DNNVV Theo Luật Hỗ trợDNVN, số 04/2017/QH14 ngày 12/06/2017 “DNNVV là những doanh nghiệp có sốlao động nhỏ hơn 200 lao động, số vốn nhỏ hơn 100 tỷ đồng hoặc doanh thu nhỏhơn 300 tỷ đồng”
Trang 172.1.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Quy mô và tiềm lực tài chính nhỏ, vốn đầu tư ban đầu thấp
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có số lượng lao động và tổng nguồn vốn cũng nhưtổng doanh thu bị giới hạn nên quy mô của doanh nghiệp khá nhỏ Chính vì vậy màDoanh nghiệp vừa và nhỏ có thể dễ dàng thành lập và gia nhập thị trường Tuy nhiên
do vốn điều lệ ban đầu thấp nên nguồn lực tài chính của các Doanh nghiệp vừa và nhỏthường không đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư kinh doanh sản xuất Quy mô vốn vànăng lực tài chính còn hạn chế, uy tín không cao nên các nhà đầu tư coi đây là khu vựcnhiều rủi ro khiến cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều trở ngại, khó khăn khi tiếpcận vốn cũng như huy động vốn từ các ngân hàng hay thị trường chứng khoán Đốivới các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng, nguồn tài trợ nàycũng không phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp do hạn chế vềthủ tục vay vốn đối với ngân hàng, phương án sản xuất kinh doanh chưa hoàn thiện, tàisản bảo đảm chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngân hàng…
Trình độ và năng lực hoạt động sản xuất còn hạn chế
Người đứng đầu điều hành hoạt động của một Doanh nghiệp là vô cùng quantrọng, tuy nhiên tỷ lệ Doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ DN giỏi, trình độ chuyên môncao và năng lực quản lý tốt vẫn chưa nhiều Doanh nghiệp vừa và nhỏ ít có khả năngthu hút được những nhà quản lý và lao động có trình độ cao do không thể cạnh tranhvề chế độ đãi ngộ so với các Doanh nghiệp có quy mô lớn Khá nhiều Doanh nghiệpvừa và nhỏ là những Doanh nghiệp mới thành lập, người điều hành doanh nghiệp chưacó nhiều kinh nghiệm kinh doanh cũng như thiếu kiến thức kỹ năng quản lý khiếnDoanh nghiệp chưa xây dựng được những chiến lược kinh doanh dài hạn, có tầm nhìnrõ ràng, phù hợp mà đa phần chỉ xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh mangtính ngắn hạn, rất dễ bị tác động bởi những biến động của nền kinh tế
Yếu tố tiếp theo quyết định sự phát triển của một doanh nghiệp, đặc biệt
là các doanh nghiệp sản xuất chính là trình độ khoa học công nghệ Các ứng dụngkhoa học công nghệ hiện đại sẽ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tiết kiệmchi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên với Doanhnghiệp vừa và nhỏ, quy mô vốn bị hạn chế khiến việc đầu tư nghiên cứu khoa học kỹthuật, phát triển khoa học công nghệ, nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, quy
Trang 18trình sản xuất thường không được đáp ứng Hệ quả là các Doanh nghiệp vừa và nhỏthường sử dụng công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao, dẫn đến chất lượng sảnphẩmcòn thấp, tính cạnh tranh trên thị trường chưa cao.
Phạm vi hoạt động rộng, lĩnh vực kinh doanh phong phú, đa dạng
Với đặc tính dễ dàng thành lập và gia nhập thị trường Doanh nghiệp vừa vànhỏ có thể phát triển trong nhiều ngành nghề và trên nhiều địa bàn, lấp vào khoảngtrống mà các doanh nghiệp lớn để lại Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể hoạt độngdưới nhiều loại hình doanh nghiệp như hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp tư nhân,công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần… và trên nhiều lĩnh vực, ngành nghềkhác nhau
Nhờ quy mô nhỏ, Doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng tập dụng được tối
đa nguồn lực tại các địa phương, dễ dàng nắm bắt và đáp ứng được những thay đổitrong nhu cầu của thị trường nên Doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển nhanh chóng,
là nhân tố đóng góp vào ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và phát triểnkinh tế
Tính linh hoạt cao, nhạy bén, dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường
Với số lượng lao động ít, cơ cấu tổ chức cũng như bộ máy quản lý tương đốiđơn giản và áp dụng mô hình quản lý trực tiếp khiến các quyết định của Doanh nghiệpvừa và nhỏ thường đựa được đưa ra nhanh chóng, nhạy bén với những thay đổi củanền kinh tế cũng như môi trường kinh doanh Chính vì vậy các Doanh nghiệp vừa vànhỏ có tính năng động và linh hoạt cao trước những thay đổi của thị trường Viếc đưa
ra các quyết định nhanh chóng kết hợp với việc thiếu nghiên cứu tình hình thị trườngcó thể dẫn tới rủi ro cho doanh nghiệp, tuy nhiên Doanh nghiệp vừa và nhỏ có khảnăng chấp nhận rủi ro, mạo hiểm khá cao do xuất phát từ quy mô nhỏ, vốn đầu tưkhông lớn nên doanh nghiệp có thể sẵn sàng tham gia vào những ngành mới, lợi nhuậnban đầu khá thấp hoặc những ngành sản xuất với sản phẩm chỉ đáp ứng những nhu cầuđặc thù
2.1.1.3 Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế
Doanh nghiệp vừa và nhỏ giúp giải quyết vấn đề việc làm, giảm thiểu tình trạng thất nghiệp
Chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế Việt Nam,
Trang 19DNVVN đã và đang thu hút một lực lượng lớn lao động trong nhiều lĩnh vực Với đặctrưng hoạt động kinh sản xuất kinh doanh đa dạng, phong phú và chủ yếu hoạt độngtrong các ngành nghề thu hút được nhiều lao động như: thương mại, dịch vụ, sản xuấthàng tiêu dùng, chế biến nông sản, thủ công mỹ nghệ, xây dựng… nên các Doanhnghiệp vừa và nhỏ có thể tạo cơ hội việc làm cho nhiều đối tượng lao động Mặt khác,
do yêu cầu về trình độ lao động không cao nên có thể tận dụng được nguồn lao độngcó trình độ lao động chưa cao với chi phí thấp Mặt khác, trong quá tŕnh sử dụng,DNNVV đồng thời đào tạo, nâng cao tŕnh độ tay nghề cho người lao động, tạo ranhiều việc làm mới, giảm bớt áp lực về việc làm và thất nghiệp đồng thời giúp nângcao trình độ chung của lực lượng lao động
Đặc biệt khi nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng hay suy thoái, khi cácdoanh nghiệp lớn có thể phải cắt giảm bớt nhân công để giảm thiểu chi phí thì cácDNNVV, với đặc tính linh hoạt, thích ứng nhanh với những biến động của thị trường,có thể đứng vững và duy trì hoạt động mà không cần cắt giảm nhân công, đồng thời cóthể nhanh chóng thu hút lại lao động khi nền kinh tế đi vào chu kỳ phục hồi
Doanh nghiệp vừa và nhỏ giúp khai thác tối đa nguồn lực của nền kinh tế
Các Doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những khu trung tâm kinh tế lớn, khucông nghiệp lớn, trong khi đó, với quy mô vốn đầu tư nhỏ, bộ máy tổ chức nhỏ gọn,các DNNVV có thể tham gia vào nhiều thị trường nhằm khai thác tiềm năng và thếmạnh của từng vùng, từng địa bàn nơi đóng trụ sở sản xuất kinh doanh, đặc biệt là cácngành nông – lâm – hải sản và ngành công nghiệp chế biến DNNVV cũng chính làchủ thể tác động tích cực nhất vào việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyềnthống như mây tre đan, gốm sứ, dệt Vì vậy, có thể nói DNNVV đóng vai trò hết sứcquan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa tại khu vực nông thôn gópphần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn, đồng thời thúc đẩycác ngành thương mại dịch vụ, tiểu thương phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng có lợi, cân đối ở các vùng, miền, giải quyết được vấn đề an sinh xăhội của địa phương nói riêng và cả nước nói chung Đặc biệt là đối với các làng nghềtruyền thống, các DNNVV hoạt động sẽ mở rộng quy mô sản xuất, duy tŕ và nâng caochất lượng sản phẩm truyền thống, tập hợp và đào tạo lực lượng lao động tay nghềgiỏi, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quá tŕnh khôi phục và phát triển làng nghề
Trang 20theo chủ trương của Đảng và Nhà nước
Doanh nghiệp vừa và nhỏ giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế năng động.
Với lợi thế về vốn đầu tư ít và nguồn lao động dồi dào, trong những năm qua,DNNVV phát triển ngày càng nhanh và chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong tổng sốdoanh nghiệp DNNVV dễ điều chỉnh hoạt động sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thịtrường ở tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, tạo ra nhiều sự lựa chọn, đáp ứng đượcmọi nhu cầu của người tiêu dùng, từ đó thúc đẩy sức tiêu thụ của nền kinh tế Vì thếmức độ đóng góp của các DNNVV vào tổng sản lượng của nền kinh tế ngày càng lớn.Với một tỉ lệ thích hợp các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, dễ điều chỉnh hoạtđộng, nền kinh tế sẽ trở nên năng động, linh hoạt hơn, thích nghi được với những biếnđộng thị trường bắt kịp xu hướng của nền kinh tế thế giới Sự ra đời của các DNVVN
đã làm tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế Với sự tồn tại của nhiều doanh nghiệptrong cùng một ngành, trong cùng một lĩnh vực sẽ làm giảm tính độc quyền và buộccác doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh Sự cạnh tranh không ngừng của cácDNNVV là tất yếu, từ đó thanh lọc được các doanh nghiệp yếu kém, vừa nâng caochất lượng sản phẩm cung ứng cho thị trường, hạn chế khả năng lung đoạn thị trườngcủa các doạnh nghiệp lớn Đồng thời, DNNVV còn là "vệ tinh" cho các doanh nghiệplớn, thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá và phân công lao động trong sản xuất, làmtăng hiệu quả của chính DNNVV cũng như các công ty hợp tác
2.1.2 Hệ thống tài chính tiền tệ và vai trò đối với doanh nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hệ thống tài chính tiền tệ
Có nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau về hệ thống tài chính tiền tệ củamột quốc gia Howell và Bain (2008) đưa ra một định nghĩa là: “Tập hợp các thịtrường cho các công cụ tài chính, cùng với những cá nhân và tổ chức tham gia trao đổitrên thị trường này, và những cơ quan điều hành và giám sát hệ thống” Ở một giáotrình khác, Nguyễn Hữu Tài (2002) lại cho rằng: “Hệ thống tài chính là tổng thể củacác bộ phận khác nhau trong một cơ cấu tài chính, mà ở đó các quan hệ tài chính hoạtđộng trên các lĩnh vực khác nhau nhưng có mối liên hệ tác động lẫn nhau theo nhữngquy luật nhất định”
Nhìn chung, trong các nghiên cứu, hệ thống tài chính thường được hiểu khác
Trang 21nhau dưới giác độ doanh nghiệp và dưới giác độ kinh tế vĩ mô Dưới giác độ doanhnghiệp, hệ thống tài chính được hiểu là những toàn bộ những cấu phần và quy trìnhnhằm theo dõi, kiểm soát và dự báo tình hình tài chính của doanh nghiệp Nó có thểbao gồm, nhưng không giới hạn trong hệ thống kế toán, kiểm soát và dự báo doanhthu, chi phí, lương, lập và xác minh báo cáo tài chính…Dưới giác độ kinh tế vĩ mô, hệthống tài chính lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác Đó là hệ thống cho phép sự dịchchuyển luồng vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế, cụ thể là từ chủ thể dư thừa vốnđến những chủ thể cần vốn (Sullivan & Sheffrin 2003) Trong phạm vi đề tài, kháiniệm hệ thống tài chính sẽ được tiếp cận dưới giác độ vĩ mô Với cách tiếp cận này, hệthống tài chính có thể được hiểu là một tập hợp thống nhất các chủ thể (các tụ điểmvốn) trong nền kinh tế cùng với các quan hệ tài chính giữa các chủ thể đó Các quan hệnày diễn ra rất phức tạp và đa dạng, đan xen lẫn nhau, đối lập hoặc bổ sung cho nhau.Tuy vậy, chúng cần phải tuân thủ những quy luật và quy tắc nhất định (bao gồm cảnhững quy luật của thị trường và các cơ chế giám sát của nhà nước nhằm đảm bảo sự
Trang 22mối quan hệ phức tạp trong hệ thống tài chính - những yếu tố có vai trò rất quan trọngtrong việc đảm bảo sự thông suốt của dòng vốn cũng như sự ổn định và lành mạnh của
bổ sung những khiếm khuyết của nhau, làm hoàn thiện chức năng và vai trò của hệthống tài chính
2.1.2.2 Vai trò của hệ thống tài chính tiền tệ
Hệ thống tài chính rất đa dạng và phức tạp, bao trùm lên hầu hết các hoạt độngcủa nền kinh tế Bởi vậy, vai trò của hệ thống tài chính không chỉ nằm ở tầm vĩ mô đốivới nền kinh tế, mà còn hết sức quan trọng đối với từng chủ thể riêng biệt
Thứ nhất, vai trò quan trọng bậc nhất của hệ thống tài chính là tạo ra kênh dẫnvốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế Trước hết, hệ thống tài chính cung cấp cáccông cụ tiết kiệm, chẳng hạn như trái phiếu, cổ phiếu hoặc các tài sản tài chính khác,thông qua đó, các chủ thể có dư thừa nguồn vốn (mức thu nhập lớn hơn mức chi tiêu)có thể tìm kiếm các cơ hội sinh lời trên số vốn dư thừa đó Cũng chính nhờ các công
cụ này, các chủ thể có sự thiếu hụt nguồn vốn có thể huy động từ các chủ thể tiết kiệm,nhằm thỏa mãn những mục tiêu của mình (tiêu dùng, kinh doanh, trả nợ…) Chính nhờsự luân chuyển vốn này mà giá trị thặng dư liên tục được tạo ra, và được chia sẻ giữangười tiết kiệm (thông qua lãi, lợi nhuận được chia) và người đầu tư (lợi nhuận giữlại) Giá trị của cải trong nền kinh tế nhờ đó tăng lên, chất lượng cuộc sống của dân cưđược cải thiện
Thứ hai, hệ thống tài chính thực hiện chức năng cung cấp tính thanh khoản chocác chủ thể trong hệ thống Hệ thống tài chính không chỉ tạo ra các công cụ tài chính
Trang 23giúp luân chuyển các dòng vốn trong nền kinh tế, mà còn cung cấp các phương tiện đểchuyển đổi các công cụ tài chính này thành tiền mặt với chi phí thấp nhất Nhờ đó, tínhhấp dẫn của các công cụ tài chính tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình luânchuyển các dòng vốn Như vậy, chức năng cung cấp tính thanh khoản gắn liền vớichức năng tạo ra kênh dẫn vốn Chúng có tác dụng bổ sung và hỗ trợ cho nhau Bởivậy, bất cứ khi nào sự khó khăn về thanh khoản cũng xảy ra đồng thời với những bất
ổn trong hệ thống tài chính, làm tắc nghẽn dòng lưu thông của nguồn vốn Có thể kếtluận rằng, tính thanh khoản cao là dấu hiệu cho thấy một hệ thống tài chính phát triển
và ổn định
Thứ ba, hệ thống tài chính cung cấp dịch vụ thanh toán Thông qua những công
cụ thanh toán phổ biến như tiền mặt, tài khoản ngân hàng, séc…, việc mua bán hànghóa và chuyển giao tiền tệ trên phạm vi thế giới ngày càng trở nên dễ dàng và thuậntiện Một số hình thức thanh toán như thẻ tín dụng còn cho phép chi tiêu trước khi códòng thu nhập Công nghệ phát triển kéo theo xu hướng thanh toán thông qua các hệthống thanh toán điện tử với độ chính xác, an toàn và bảo mật rất cao Chính bởi vậy,
xu thế này dang dần thay thế các phương thức thanh toán truyền thống (séc, tiền mặt).Không chỉ tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại quốc tế, các dịch vụ thanhtoán còn thúc đẩy sự lưu thông của dòng vốn trên phạm vi toàn cầu Tiết kiệm và đầu
tư không còn nằm trong phạm vi một vùng hay một quốc gia, mà có thể trải rộng trêntoàn thế giới Một nhà đầu tư ở châu Á có thể dễ dàng tham gia vào thị trường tàichính châu Âu, thông qua sự hỗ trợ của dịch vụ thanh toán toàn cầu và các công nghệhiện đại Tuy nhiên, một hệ quả tất yếu kéo theo là hệ thống tài chính ngày càng trởnên phức tạp và khó kiểm soát Đây là một thách thức không nhỏ đối với nhiệm vụ bảođảm sự ổn định cho hệ thống tài chính
Thứ tư, hệ thống tài chính cung cấp các phương tiện phòng ngừa và chia sẻ rủi
ro Hệ thống tài chính cung cấp rất nhiều các kênh tiết kiệm thông qua các công cụ tàichính, nhờ đó nhà đầu tư có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình nhằm giảmthiểu rủi ro Một hình thức phòng ngừa rủi ro truyền thống và điển hình đó là bảohiểm, cho phép người thụ hưởng nhận được một sự đền bù nhất định trong trường hợpcó những biến cố xảy ra không như kỳ vọng Các công ty bảo hiểm – chủ thể cung cấpdịch vụ - bù lại sẽ nhận được một khoản phí nhất định, như là sự bù đắp cho việc sẵn
Trang 24sàng chia sẻ rủi ro với người thụ hưởng Tuy nhiên, phương tiện phòng ngừa và chia sẻrủi ro trong hệ thống tài chính ngày nay không chỉ dừng lại ở đó Sự ra đời của rấtnhiều các công cụ phái sinh (hoán đổi, quyền chọn, kỳ hạn…) cho phép các chủ thểtrong hệ thống tài chính phòng ngừa rủi ro và chia sẻ rủi ro trực tiếp cho nhau Hơn thếnữa, một số công cụ chẳng hạn như quyền chọn còn cho phép chủ thể tham gia vừa cóthể phòng ngừa rủi ro, vừa có thể tìm kiếm lợi nhuận.
Thứ năm, hệ thống tài chính cung cấp các kênh truyền dẫn chính sách kinh tế vĩ
mô Trong nhiều năm trở lại đây, can thiệp vào thị trường tài chính được coi là công cụchủ đạo của nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu vĩ mô trong từng giai đoạn,chẳng hạn kiềm chế lạm phát, ổn định nền kinh tế hoặc kích thích tăng trưởng Nhànước có thể thông qua các công cụ thị trường để can thiệp, chẳng hạn như điều chỉnhlãi suất hoặc hạn mức tín dụng, hoặc các công cụ hành chính Sự can thiệp của nhànước có tầm quan trọng rất lớn trong sự ổn định của hệ thống tài chính nói riêng vànền kinh tế nói chung, bởi chỉ nhà nước mới có đủ quyền lực và công cụ cần thiết đểđiều tiết và khắc phục những thất bại của thị trường – nguyên nhân sâu xa gây ra sựbất ổn tài chính Bởi vậy, nghiên cứu về an ninh tài chính – tiền tệ không thể bỏ quavai trò của chủ thể này
Như vậy, có thể thấy rằng hệ thống tài chính là một bộ phận không thể tách rờicủa nền kinh tế thị trường Thông qua hệ thống tài chính, các nguồn lực trong nền kinh
tế được phân phối và sử dụng một cách hiệu quả hơn Trong bối cảnh nền kinh tế hiệnnay, hệ thống tài chính của từng quốc gia không còn là một hệ thống độc lập, mà có sựliên thông và mối quan hệ mật thiết với hệ thống tài chính toàn cầu Tuy nhiên, sự pháttriển này cũng kéo theo những nguy cơ bất ổn tiềm ẩn có thể xảy ra trên phạm vi toànthế giới, bởi sự phức tạp ngày càng tăng lên của các quan hệ trong hệ thống tài chính,cùng với thực tế rằng không một quốc gia nào có thể kiểm soát hệ thống tài chính củamình một cách độc lập Đây là thách thức không nhỏ đối với vấn đề quản lý nhà nướctrong lĩnh vực tài chính Bởi vậy, hiểu rõ được cấu trúc của hệ thống tài chính cũngnhư cách thức vận hành của nó sẽ là cơ sở nền tảng cho mục tiêu đảm bảo an ninh tàichính tiền tệ trên phạm vi toàn cầu nói chung và phạm vi quốc gia nói riêng
2.1.3 Khái niệm khả năng tiếp cận tài chính
2.1.3.1 Các loại nguồn vốn của doanh nghiệp
Trang 25Vốn có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp,bởi vốn là điều kiện tiền đề của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.Vốn là nguồn hình thành các yếu tố đầu vào như: nguyên vật liệu, lao động, trang thiết
bị, nhà xưởng… phục vụ cho mọi hoạt động của doanh nghiệp Vốn cũng là yếu tố cầnthiết, quyết định sự ổn định, liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh và sự phát triểnbền vững của doanh nghiệp Nguồn vốn của doanh nghiệp hiện nay rất đa dạng như:vốn tự có hay vốn chủ sở hữu; nguồn vốn bảo lãnh, thuê tài chính, trợ cấp, bảo hiểm,
ưu đãi, giảm thuế…; nguồn vốn nước ngoài; huy động từ thị trường vốn (chứng khoán,trái phiếu); đối tác (trả chậm, tín dụng thương mại…); hay các nguồn vốn vay từ ngânhàng và các tổ chức tín dụng (TCTD)
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh
nghiệp có quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt Tuỳ theo từng loại hình doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn ngânsách nhà nước, vốn chủ sở hữu doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp cổ phần và lợi nhuận đểlại Đây có thể gọi là các nguồn vốn bên trong của doanh nghiệp
Ngoài vốn chủ sở hữu thì còn có các nguồn vốn huy động của doanh nghiệp
như: Vốn vay, doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các cá nhân
( có thể vay từ gia đình, người thân, bạn bè, hay trên thị trường phi chính thức…) các
đơn vị kinh tế độc lập nhằm tạo lập và tăng thêm nguồn vốn Vốn liên doanh liên kết,
doanh nghiệp có thể kinh doanh liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp khác nhằm huyđộng và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là hình thức huy động vốn quantrọng vì hoạt động tham gia góp vốn liên doanh, liên kết gắn liền với việc chuyển giaocông nghệ thiết bị giữa các bên tham gia nhằm đổi mới sản phẩm, tăng khả năng cạnhtranh của sản phẩm điều này cũng có nghĩa là uy tín của công ty sẽ được thị trườngchấp nhận Doanh nghiệp cũng có thể tiếp nhận máy móc và thiết bị nếu như trong hợp
đồng liên doanh chấp nhận việc góp vốn bằng hình thức này Vốn tín dụng thương mại,
là khoản mua chịu từ người cung cấp hoặc ứng trước của khách hàng mà doanh nghiệptạm thời chiếm dụng Tín dụng thương mại luôn gắn với một lượng hàng hoá cụ thể,gắn với một hệ thống thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động của hệ thống thanh toán,của chính sách tín dụng khác hàng mà doanh nghiệp được hưởng Tuy nhiên, khoản tíndụng thương mại thường có thời hạn ngắn nhưng nếu doanh nghiệp biết quản lý một
Trang 26cách có hiệu quả thì nó sẽ góp phần rất lớn vào nhu cầu vốn lưu động của doanh
nghiệp Vốn tín dụng thuê mua, là một phương thức giúp cho các doanh nghiệp thiếu
vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh củamình
2.1.3.2 Khái niệm khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp
Khả năng tiếp cận tài chính phản ánh khả năng tiếp cận các nguồn tài chính bên
ngoài (external finance) để tài trợ cho hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, bao gồm các nguồn tài trợ chính thức trong hệ thống tài chính tiền tệnhư: i) vay nợ ngân hàng (bank debt finance), ii) tài chính nợ phi ngân hàng (nonbankdebt finance), iii) phát hành cổ phiếu (external equity) Việc tiếp cận các nguồn tàichính bên ngoài trên thị trường chính thức được thực hiện theo những nguyên tắc vàthể chế nhất định đựợc Nhà nước quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật Cácchủ thể tham gia có quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm được pháp luật thừa nhận và bảo
vệ Tuy nhiên, do những rào cản trên thị trường chính thức, một số doanh nghiệp cóthể tiếp cận thị trường phi chính thức (ví dụ vay tín dụng đen, người thân quen, ), ởđó, các hoạt động huy động, cung ứng, giao dịch được thực hiện theo sự thỏa thuậngiữa người cung cấp và người huy động không theo nguyên tắc, thể chế do Nhà nướcquy định
Khi tiếp cận các nguồn tài chính bên ngoài để tài trợ cho hoạt động đầu tư và sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp thường phát sinh các chi phí tài chính Chi phí tàichính có thể chia thành chi phí chính thức và phi chính thức:
Chi phí chính thức là chi phí phát sinh khi tiếp cận một cách chính thức đến hệthống tài chính tiền tệ Chi phí này không những bao gồm như chi phí cơ hội của việc
sử dụng vốn, lãi suất nợ vay, chi phí liên quan trực tiếp đến việc tiếp cận được vốn nhưphí hoa hồng, phí quảng cáo, phí tổ chức phát hành trái phếu, cổ phiếu, mà còn gồm
cả chi phí cơ hội do mất thời gian thực thi các bước tiếp cận vốn vay, yêu cầu thủ tụcgiấy tờ, thanh kiểm tra
Chi phí phi chính thức là chi phí phát sinh không chính thức như các chi phí lóttay, tham nhũng, chi phí gia tăng thêm khi phải tiếp cận thị trường phi chính thức, Khả năng tiếp cận tài chính là rào cản góc độ vi mô có tác động lớn đến sựphát triển của doanh nghiệp như gia nhập, đổi mới sáng tạo, tăng trưởng, lợi
Trang 27nhuận và hiệu quả Việc cải thiện khả năng tiếp cận tài chính, đồng thời giảm chiphí tài chính hiện nay để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và nềnkinh tế nói chung đang là những thách thức rất lớn tại các quốc gia đang phát triển(WB, 2016)
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp
Trong quá trình tài trợ cho hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh của mình,các doanh nghiệp luôn cần có sự hỗ trợ tài chính từ nhiều nguồn, sử dụng nhiều cáchtiếp cận khác nhau Việc lựa chọn hình thức tài trợ nào, từ ai, chấp nhận mức chi phínhư thế nào phụ thuộc cả vào những yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp,đặc biệt là yếu tố môi trường thể chế
Quá trình tiếp cận với các nguồn tài chính bên ngoài doanh nghiệp sẽ làm phátsinh các mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các tụ điểm vốn – bộ phận kháccủa hệ thống tài chính tiền tệ, từ đó sẽ phát sinh các rào cản tài chính tiền tệ đối vớisự phát triển của doanh nghiệp (hay chính là các yếu tố tác động đến khả năng tiếpcận vốn của doanh nghiệp) Các yếu tố này chính là những khó khăn, điểm nghẽn, trởngại mà doanh nghiệp gặp phải trong các mối quan hệ tài chính đó Nó có thể có tácđộng tiêu cực đến sự phát triển của doanh nghiệp, gây ảnh hưởng xấu đến những chỉtiêu như tăng trưởng, lợi nhuận, mức độ hiệu quả của doanh nghiệp
Việc nhận diện và đánh giá các yếu tố tác động có thể được thực hiện từ hai góc
độ khác nhau:
Thứ nhất, ở cấp độ vĩ mô và thể chế nhìn từ hệ thống tài chính tiền tệ hay chính
là các nhân tố bên ngoài tác động đến khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp:mức độ phát triển hệ thống tài chính tiền tệ; môi trường kinh doanh và thể chế ; đặcđiểm của ngân hàng và TCTD (quy mô, hình thức sở hữu và cách thức cho vay); đặcđiểm của khoản vay; các chi phí tài chính chính thức (chủ yếu là chi phí trả lãi) và chiphí không chính thức (chi phí về thủ tục, giấy tờ, phí quản lý, phí cam kết, lãi suất phạtkhi vi phạm hợp đồng vay, chi phí khác )
Thứ hai, đó là các nhân tố bên trong (xuất phát từ nội tại của doanh nghiệp) tácđộng đến khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp: đặc điểm của chủ doanhnghiệp (trình độ học vấn, giới tính, tuổi), đặc điểm của doanh nghiệp (qui mô, tuổi,hình thức sở hữu, lịch sử mối quan hệ tài chính và tín dụng), vị trí của doanh nghiệp,
Trang 28mức độ tin cậy tín dụng của doanh nghiệp, và vai trò của mạng lưới
2.1.4.1 Các nhân tố bên ngoài
o Môi trường kinh doanh và thể chế
Việc phân chia cấu trúc của các thị trường tài chính, theo quan điểm cổ điển,phụ thuộc vào nguồn huy động vốn chủ yếu của các doanh nghiệp: thông qua các trunggian tài chính - như ngân hàng, hoặc thông qua các thị trường tài chính – như sử dụngthị trường trái phiếu hoặc cổ phiếu Huy động nguồn vốn thông qua trung gian tàichính, hay thị trường tài chính sẽ có những tác động khác nhau, bao gồm các mặt lợi
và mặt hại, đối với sự phát triển của doanh nghiệp Theo lý thuyết, các ngân hàng pháttriển sẽ có lợi thế trong việc thu thập thông tin chính xác đầy đủ hơn về các doanhnghiệp, cũng như đội ngũ quản lý của doanh nghiệp đó, từ đó ra quyết định phân bổnguồn vốn tới các doanh nghiệp hợp lý hơn, cũng như quản trị doanh nghiệp sau giảingân tốt hơn (Diamond, 1984); tập trung vốn ở các ngân hàng sẽ giúp cho việc quản lýrủi ro giữa các ngành, giữa các thời kì, cũng như rủi ro thanh khoản hợp lý hơn, từ đócải thiện hiệu quả đầu tư và tăng trưởng kinh tế (Allen và Gale, 1999) Bên cạnh đó,ngân hàng cũng tốt hơn so với thị trường tài chính trong việc huy động nguồn vốn đểtận dụng tính kinh tế về quy mô trong hoạt động sản xuất (Siri và Tufano, 1995) Tuynhiên, một hệ thống tài chính dựa chủ yếu vào thị trường cũng có tác động tích cực đếndoanh nghiệp, theo Jensen và Murphy (1990) thị trường giúp cải thiện việc quản trịdoanh nghiệp thông qua việc có thể dễ dàng chiếm quyền điều hành một doanh nghiệp,đồng thời có thể gắn lợi ích của đội ngũ quản lý với hoạt động của doanh nghiệp Thứhai, theo Holmstrom và Tirole (1993), thị trường quy mô lớn với tính thanh khoản caocũng tạo động lức lớn cho việc nghiên cứu doanh nghiệp kĩ lưỡng của nhà đầu tư, dotiềm năng sinh lời là lớn, từ đó khiến việc phân bổ vốn hiệu quả hơn Hơn nữa, thịtrường tạo điều kiện để doanh nghiệp quản trị rủi ro tốt hơn, do có thể cung cấp cáccông cụ tài chính với nhiều điều chỉnh cho phù hợp hơn với từng doanh nghiệp, hơn là
hệ thống ngân hàng với các dịch vụ đã được chuẩn hóa (Sehhadji, 2000)
Hệ thống tài chính chỉ là một trong nhiều nhân tố bên ngoài tác động đến hoạtđộng của doanh nghiệp mà doanh nghiệp hầu như rất khó kiểm soát Những nhân tố nàyhiện nay được các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách gọi là môi trườngkinh doanh của doanh nghiệp Robin Wood (2000) cho rằng môi trường kinh doanh là
Trang 29một tập hợp các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ và được gọi là phân tíchPEST (Political, Economic, Socio-cultural, Technology) hoặc STEP (Social,Technological, Political, Economic) Những yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát và cóảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của doanh nghiệp Mở rộng thêm khái niệm của RobinWood (2000), một số tác giả khác phân chia thành tố môi trường theo các yếu tố xã hội,công nghệ, kinh tế, môi trường và chính trị (STEEP: Social, Technological, Economic,Environmental, Political) hoặc văn hóa-xã hội, chính trị-luật pháp, kinh tế, điều kiện tựnhiên và công nghệ (SPENT: Socio-cultural, Political-legal, Economic, Natural,Technological),… (Campbell và cộng sự (2002), Cartwright (2002) Bên cạnh đó, baotrùm lên tất cả các bộ phận của hệ thống tài chính là hệ thống cơ sở hạ tầng pháp lý Hệthống này bao gồm những quy định và rằng buộc mang tính pháp lý mà các chủ thểtham gia vào hệ thống tài chính phải tuân theo.
o Các yếu tố từ thị trường tài chính
Quy mô các thị trường tài chính: Sự phát triển của hệ thống tài chính sẽ thúc
đẩy các hoạt động kinh tế, mở rộng hoạt động của các doanh nghiệp và từ đó giúp tạo
ra tăng trưởng kinh tế Ý tưởng này đã hình thành từ lâu trong lý thuyết kinh tế học
Từ thế kỉ thứ 18, Adam Smith trong tác phẩm nổi tiếng “Của cải của các quốc gia”(Adam Smith, 1776), đã nhắc đến việc ngay khi nhà băng đầu tiên được thành lập tạiScotland thì “hoạt động thương mại và công nghiệp tăng lên đáng kể”, và “nhà băng
đã đóng vai trò quan trọng trong sự tăng lên này, điều đó là không thể nghi ngờ” Lýgiải cho mối quan hệ này, Adam Smith chủ yếu đề cập đến việc sử dụng tiền giấy ngânhàng thay cho tiền vàng hay tiền bạc, giúp các doanh nghiệp có thêm phương tiện traođổi, tạo điều kiện cho việc tái đầu tư mở rộng quy mô sản xuất
Mức độ phát triển của các thị trường tài chính: Hệ thống tài chính càng phát
triển thì càng giúp doanh nghiệp dễ tiếp cận với nguồn vốn bên ngoài Hệ thống tàichính phát triển giúp giảm vấn đề bất cân xứng thông tin và sự hoàn thiện về luật pháptrong việc thực thi các điều khoản hợp đồng Ở những hệ thống tài chính yếu kém,ngay cả những doanh nghiệp tốt cũng khó tìm được nguồn vốn khác để gia tăng chođầu tư (Levine, 2002)
o Các yếu tố từ trung gian tài chính
Quy mô các định chế tài chính: Lý thuyết rào cản đối với các ngân hàng lớn
Trang 30cho rằng các ngân hàng lớn gặp khó khăn trong việc mở rộng các mối quan hệ tín dụngđối với các doanh nghiệp nhỏ và thiếu minh bạch về thông tin Việc cho các doanhnghiệp nhỏ vay vốn thường khó đối với các ngân hàng lớn do vấn đề về thiếu thôngtin, rủi ro đạo đức và sự lựa chọn ngược Bên cạnh đó, các ngân hàng lớn cũng gặpkhó khăn hơn trong việc cung cấp khoản vay dựa trên các mối quan hệ sẵn có(relationship lending) so với các ngân hàng nhỏ địa phương vì các khoản vay nàythường dựa trên thông tin “mềm” như thông tin về mức độ tin cậy của chủ doanhnghiệp, mà những thống tin này lại thường khó để xác định và tiếp cận đối với cácngân hàng lớn
Hình thức sở hữu và cách thức cho vay: các ngân hàng có hình thức sở hữu khác
nhau sẽ có chiến lược kinh doanh, vị thế và hành vi cho vay khác nhau, từ đó có tácđộng đến khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp, trong đó có DNNVV Ayadi vàcộng sự (2010) cho rằng sự khác biệt nằm ở mục tiêu cuối cùng của các ngân hàng vàmục tiêu tối đa hóa lợi nhuận có phải là mục tiêu chủ yếu của ngân hàng hay không Cáchình thức ngân hàng như ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng, định chế tài chính phát triểncộng đồng và ngân hàng tiết kiệm cộng đồng (public savings banks) thường có mục tiêu
xã hội và hướng đến hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương thay vì mục tiêu tối đa hóa lợinhuận Hơn nữa, nhóm các ngân hàng dạng này thường là các ngân hàng nhỏ và hoạtđộng ở cấp độ địa phương/ vùng Theo đó, các hình thức ngân hàng này sẽ hiệu quả hơncác ngân hàng lớn và mang tính nước ngoài trong việc cung cấp vốn cho các DNNVV.Ngược lại, các tập đoàn lớn và các công ty nước ngoài lại nhận được lợi ích tiếp cậnvốn nhiều hơn từ các ngân hàng nước ngoài có quy mô lớn Do đó, một hệ thống tàichính tiền tệ mà có sự kết hợp đa dạng của các định chế tài chính dường như sẽ đápứng tốt nhất các nhu cầu khác nhau của các loại hình doanh nghiệp
o Quan hệ tài chính với tài chính Nhà nước
Friedman (1978) chỉ ra tác động khác của việc vay nợ chính phủ đến cơ cấudanh mục tài sản của các nhà đầu tư Khi các nhà đầu tư nắm giữ nhiều trái phiếu củachính phủ (như một tài sản rất an toàn) thì sẽ giảm nắm giữ các trái phiếu của các công
ty hoặc tổ chức khác Ngoài cấu trúc và sự phát triển của hệ thống tài chính, các thứctài trợ chi tiêu chính phủ cũng là một trong những nhân tố các nhà kinh tế cho rằng tácđộng lớn đến khả năng tiếp cận vốn cũng như chi phí tài chính của các doanh nghiệp
Trang 31(hiện tượng lấn át đầu tư tư nhân)
Đặc điểm của khoản vay, ngân hàng và các TCTD có quy mô lớn thường
ưa thích đối với những khoản vay lớn Một mặt, một khoản vay lớn sẽ có lợi hơn chongân hàng vì có chi phí cố định cho hoạt động giám sát và đánh giá khoản vay với quy
mô bất kỳ Tuy nhiên, đối với các ngân hàng nhỏ lại ngược lại, họ luôn muốn đa dạnghóa các danh mục cho vay vói những khoản vay nhỏ (Berger và cộng sự, 2001)
Các chi phí tài chính chính thức và phi chính thức: chi phí giao dịch tăng
lên chính là hệ quả trực tiếp từ hiện tượng thông tin bất đối xứng Chi phí giao dịchđược định nghĩa là các khoản chi trong việc đánh giá, giải ngân và thu hồi các khoảnnợ đối với phía ngân hàng, còn đối với phía người đi vay là các chi phí phát sinh trongkhâu xin vay vốn, chấp thuận vay vốn cũng như khi trả nợ Những chi phí này phầnlớn liên quan công tác thu thập thông tin mà các ngân hàng cần tiến hành để quyếtđịnh người đi vay có khả năng để chi trả cho khoản vay hay không Chi phí giao dịchnày tồn tại ở nhiều cấp độ, như chi phí để tiến hành đánh giá khoản vay phát sinh trướctrong mỗi giao dịch Đối với mỗi khách hàng thì sẽ là chi phí trong việc duy trì mốiquan hệ theo theo thời gian cũng như giữa các hoạt động tài chính khác nhau củakhách hàng đó (Beck, 2007) Chi phí giao dịch sẽ tạo nên các rào cản đối với khả năngtiếp cận vốn của các doanh nghiệp, đặc biệt các DNNVV Sự đa dạng của loại hìnhdoanh nghiệp này cũng như sự thiếu hụt trong thông tin đã làm tăng cao các chi phí đểđánh giá hay các chi phí trong khâu giám sát Chính vì vậy cho vay đối với cácDNNVV được coi là các khoản vay tốn kém Chính vì thông tin không rõ ràng nên cácDNNVV thường phải vay vốn dựa trên mối quan hệ (Arito Ono và cộng sự, 2008)
Khi vay dựa trên mối quan hệ, các tổ chức tài chính thay vì sử dụng các thôngtin cứng (sẽ làm tăng chi phí giao dịch) thì sẽ dựa trên các thông tin mềm thu thậpđược qua quá trình tiếp xúc với DNNVV, chủ điều hành doanh nghiệp đó hay khu vực
mà doanh nghiệp đang hoạt động Các thông tin này chủ yếu là các đánh giá của nhânviên cho vay thông qua làm việc trực tiếp với người đi vay và quan sát tình hình hoạtđộng của doanh nghiệp Thông tin mềm cũng có thể bao gồm nhận định về triển vọngcủa DNVVN trong tương lai được rút ra từ những trao đổi với các nhà cung cấp, cáckhách hàng của doanh nghiệp đó cũng như từ các doanh nghiệp cùng lĩnh vực (Berger
Trang 32và cộng sự, 2005) Việc sử dụng những thông tin mềm này là hình thức để thay thế chovay vốn dựa trên trông tin cứng Nếu như vay trên thông tin mềm cần thiết phải pháttriển một mối quan hệ dài hạn và gần gũi giữa người cho vay (tổ chức tài chính) vàngười đi vay (doanh nghiệp) thì ngược lại vay vốn trên thông tin cứng đòi hòi quyếtđịnh cho vay doanh nghiệp phải đánh giá dựa trên các thông tin tài chính cụ thể và tàisản thế chấp mà doanh nghiệp có (Cao Thị Khánh Nguyệt, 2016) Các doanh nghiệpvừa và nhở sẽ gặp nhiều bất lợi với hình thức cho vay thông tin cứng này vì những rủi
ro đến từ thông tin bất đối xứng hay do chi phí giao dịch tăng cao
2.1.4.2 Các yếu tố từ bên trong doanh nghiệp
o Đặc điểm của chủ doanh nghiệp
Các đặc điểm của chủ sở hữu bao gồm độ tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệmchuyên môn, kỹ năng quản lý đều được cho là có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận
tín dụng của doanh nghiệp Khi chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn cao sẽ tăng khả
năng thành công trong việc huy động nguồn vốn bên ngoài (Irwin & Scott, 2010) Giớitính của chủ doanh nghiệp là nam cũng sẽ tăng khả năng tiếp cận vốn so với chủ doanhnghiệp có giới tính khác (Nguyễn Thị Nhung và cộng sự, 2015) Theo lý thuyết, thìcác chủ doanh nghiệp trẻ nghĩ hồ sơ vay vốn tại ngân hàng sẽ bị từ chối vì họ cho rằngtuổi tác của chủ doanh nghiệp cũng đại diện cho số năm kinh nghiệm, do đó nhiềudoanh nghiệp trẻ sẽ cảm thấy khó khăn khi vay vốn ngân hàng (Coleman, 2004) Bêncạnh đó, kinh nghiệm làm việc và năng lực lãnh đạo của chủ doanh nghiệp cũng cóảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn, Amissah và Gbandi (2014) chỉ ra rằng DNNVV
ở các nước châu Phi thường tiếp cận vốn từ nguồn tài chính thông thường và nguồn tàichính không thông thường Nguồn tài chính thông thường có thể kể đến như các ngânhàng thương mại, các tổ chức tài chính vi mô và các cơ quan phát triển quốc tế Nguồntài chính không thông thường có thể từ bạn bè, gia đình, người thân, tín dụng tư nhân.Môi trường kinh tế khó khăn, DNNVV thiếu vắng các kỹ năng quản lý và tiếp cậncông nghệ kém đã làm giảm sự thu hút vốn từ các ngân hàng thương mại của Nigeria
o Đặc điểm của doanh nghiệp
Các nghiên cứu khác nhau đã chỉ ra rằng khả năng tiếp cận tín dụng thay đổi
giữa các doanh nghiệp theo các đặc thù riêng của doanh nghiệp Cụ thể, quy mô của
doanh nghiệp là một trong những nguyên nhân quan trọng giải thích cho các lựa chọn
Trang 33nguồn vốn khác nhau của doanh nghiệp (Beck, 2007; Beck và cộng sự, 2006;Devereux và Schiantarelli, 1990) Về mặt lý thuyết, nếu một doanh nghiệp có quy môquá nhỏ, ngân hàng và các tổ chức tài chính sẽ không sẵn lòng cho vay bởi những vấnđề về thông tin bất đối xứng làm gia tăng đáng kể chi phí giao dịch (bao gồm chi phíđiều tra để xét duyệt khoản vay, kiểm tra và giám sát doanh nghiệp)
Tuổi đời của một doanh nghiệp theo lý thuyết, cũng là một yếu tố tác động đến
khả năng tiếp cận vốn trong nhiều nghiên cứu Biến số này được coi như là một thước
đo về độ tin cậy, một doanh nghiệp trẻ được coi là còn thiếu kinh nghiệm trong hoạtđộng kinh doanh, nguy cơ thất bại cao hơn, trong khi, đối với các ngân hàng, mộtdoanh nghiệp đã hoạt động lâu năm sẽ có nhiều thông tin về hoạt động kinh doanhhơn, từ đó dễ dàng quản lý hơn
Về hình thức sở hữu, các nghiên cứu thường chỉ ra các doanh nghiệp do chính
phủ sở hữu, vốn ít gặp rào cản tài chính hơn các doanh nghiệp khác, có thể dễ dàngtiếp cận các nguồn vốn chính thức vì thường nhận được hỗ trợ ngân sách trực tiếp từchính phủ và được đối xử ưu đãi hơn từ các tổ chức tài chính của chính phủ (Harrison
và cộng sự, 2004; Laeven ,2003)
Về năng lực tài chính của DN, theo Rand và Tarp (2007), điều đáng lo ngại
nhất và khó tháo gỡ nhất khi khởi đầu doanh nghiệp ở cả khu vực thành thị và nôngthôn là thiếu vốn và khó có khả năng tiếp cận các nguồn vốn
Năng lực quản trị của doanh nghiệp là một quá trình mà doanh nghiệp sử dụng
các nguồn lực nhằm tác động đến các hoạt động của nhân lực trong doanh nghiệp để tổchức hoàn thành mục tiêu đề ra với chi phí thấp nhất (hoặc cùng một mức hao phínguồn lực nhưng đạt được mục tiêu tối đa) Từ góc độ tiếp cận tín dụng thì năng lựcquản trị tài chính càng quan trọng vì quá trình thẩm định tín dụng, giải ngân, giám sáttín dụng hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống thông tin tài chính, kế toán của doanhnghiệp Nếu doanh nghiệp không tổ chức hạch toán kế toán tốt, quản trị tài chính tốtthì sẽ giảm mạnh năng lực tín dụng, lúc đó các tổ chức tín dụng sẽ chỉ cho vay khidoanh nghiệp có tài sản bảo đảm lớn hơn nhiều so với vốn vay Do vậy, một doanhnghiệp có khả năng quản trị tốt đặc biệt là quản trị tài chính thì sẽ có tác động tích cựcđến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp
o Vị trí địa lý của doanh nghiệp
Trang 34Beck (2007) đánh giá vị trí địa lý hoặc cụ thể hơn là vị trí của các doanh nghiệpcó liên quan đến những hạn chế tín dụng, do vậy, đó là một yếu tố giải thích khả năngtiếp cận vốn của doanh nghiệp.
o Mức độ tin cậy tín dụng của doanh nghiệp
Yếu tố này có thể được thể hiện qua một số khía cạnh: lịch sử tín dụng, việc có
tài sản đảm bảo và tính minh bạch của thông tin tài chính từ doanh nghiệp
Về lịch sử tín dụng, khi doanh nghiệp có lịch sử tín dụng tốt tức là thực hiện
đúng các nguyên tắc cho vay, hoặc có thể có mối quan hệ tín dụng trước đó với ngânhàng và TCTD thì sẽ thuận lợi hơn trong việc thực hiện các khoản vay tiếp theo
Tài sản đảm bảo và tính minh bạch về thông tin tài chính của doanh nghiệp, theo
lý thuyết, tài sản đảm bảo giúp tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp tại các tổchức tín dụng Đồng thời, được sử dụng để thu hồi nợ gốc trong trường hợp vỡ nợ
Theo nghiên cứu của Robert M Bushman, Piotroski và Smith (2001), xem xétsự minh bạch trên góc độ công ty: “Minh bạch công ty được định nghĩa như là sự sẵncó phổ biến của các thông tin thích hợp và đáng tin cậy về công việc thực hiện định kỳ,những vị thế tài chính, các cơ hội đầu tư, quản trị, giá trị và những rủi ro của các giaodịch côngkhai” Barth và Schipper (2008) cho rằng , minh bạch là một đặc tính đượcmong đợi của BCTC, được định nghĩa là phạm vi mà các BCTC cho thấy các giá trịkinh tế ngầm định của tổ chức theo cách sẵn sàng cho sự hiểu biết của những người sửdụng các báo cáo này Do đó, minh bạch hoạt động tài chính của doanh nghiệp có thểđược hiểu là việc cung cấp thông tin tài chính một cách đầy đủ, kịp thời, đúng quyđịnh của luật để các chủ thể có nhu cầu sử dụng thông tin có thể tiếp cận, sử dụngthông tin để phân tích, đánh giá hoạt động tài chính của doanh nghiệp Thông tin đượcđánh giá là minh bạch phải đảm bảo hạn chế sự bất cân xứng về thông tin tài chínhgiữa người cung cấp thông tin và tiếp nhận thông tin. Khi doanh nghiệp có hệ thống thông tin tài chính minh bạch sẽ là một trong các yếu tố được tổ chức tín dụng, nhà đầu tư tạo điều kiện cho vay vì rủi ro được giảm bớt.
Đây là yếu tố quyết định cuối cùng dường như có tiếng nói lớn đối với chínhsách tài trợ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt ở các nước đang phát triển, nơi
hệ thống tài chính chưa phát triển Theo Shane và Cable (2002), các mạng lưới kinh
Trang 35doanh có thể được sử dụng để làm giảm vấn đề thông tin bất cân xứng giữa chủ nợ
và người đi vay Nói chung, mạng lưới và các mối quan hệ thay thế cho việc thiếu cơchế thị trường hiệu quả và có thể là một cách hiệu quả để các doanh nghiệp tiếp cậnvới tín dụng bên ngoài, bao gồm các khoản vay ngân hàng Mạng lưới và các mốiquan hệ ảnh hưởng tích cực đến khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp Ngoài
ra, Safavian và Wimpey (2007) và Straub (2005) đồng ý rằng các mạng lưới cũng rấtquan trọng đối với các doanh nghiệp dựa nhiều vào các nguồn tín dụng phi chínhthức Những người cho vay dựa chủ yếu vào thông tin "mềm" thu thập qua làm việcvới doanh nghiệp trong thời gian dài, quan sát khả năng sinh lợi, hiệu suất và việc trảnợ trong quá khứ để đánh giá mức độ tin cậy của các doanh nghiệp và thẩm định cáckhoản tín dụng
2.2 Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp
Để nhằm mục đích mở rộng nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh,các doanh nghiệp thường huy động từ nhiều nguồn khác nhau như: Ngân hàng vàTCTD (nguồn tài chính chính thức); người thân, bạn bè và các tổ chức cho vaykhác…(nguồn tài chính phi chính thức) Tổng quan các tài liệu nghiên cứu thựcnghiệm cho thấy các yếu tố quyết định khả năng tiếp cận tài chính của các doanh
nghiệp có thể được chia thành hai nhóm chính: i) Các nhân tố bên ngoài tác động
đến khả năng tiếp cận tài chính của doanh nghiệp : mức độ phát triển hệ thống tài
chính tiền tệ; môi trường kinh doanh và thể chế ; đặc điểm của ngân hàng và TCTD(quy mô, hình thức sở hữu và cách thức cho vay); đặc điểm của khoản vay; các chiphí tài chính chính thức (chủ yếu là chi phí trả lãi) và chi phí không chính thức (chiphí về thủ tục, giấy tờ, phí quản lý, phí cam kết, lãi suất phạt khi vi phạm hợp đồng
vay, chi phí khác ); ii) Các nhân tố bên trong tác động đến khả năng tiếp cận tài
chính của các doanh nghiệp: đặc điểm của chủ doanh nghiệp (trình độ học vấn,
giới tính, tuổi), đặc điểm của doanh nghiệp (qui mô, tuổi, hình thức sở hữu, lịch sửmối quan hệ tài chính và tín dụng), vị trí của doanh nghiệp, mức độ tin cậy tín dụngcủa doanh nghiệp, và vai trò của mạng lưới Phần tổng quan dưới đây sẽ tổng hợptheo các yếu tố nói trên
Trang 362.2.1 Các nhân tố bên ngoài
2.2.1.1 Môi trường kinh doanh và thể chế
Porta và cộng sự (1997) nghiên cứu ảnh hưởng của hành lang pháp lý về quyền
và nghĩa vụ của nhà đầu tư, người cho vay đến khả năng tiếp cận tài chính Nghiên cứuchỉ ra rằng các rào cản tiếp cận tài chính sẽ ít hơn ở các quốc gia mà hệ thống phápluật có nguồn gốc từ “Common Law” hơn là ở các quốc gia có nguồn gốc pháp luật là
“Civils Law” Beck và cộng sự (2005) cũng chỉ ra kết quả tương tự Đó là các doanhnghiệp ở các nước theo hệ thống Civil Law phải đối mặt với nhiều trở ngại để tiếp cậntài chính bên ngoài hơn là các doanh nghiệp ở quốc gia theo hệ thống Common Law.Tuy nhiên sự khác biệt về tiếp cận tài chính bên ngoài giữa các quốc gia có thể khôngphải từ nguồn gốc của hệ thống pháp luật, mà có thể là do khả năng thích ứng của hệthống pháp luật đối với các thay đổi của công nghệ tài chính khi mà hệ Common Lawcho phép luật pháp có khả năng thích ứng và linh hoạt hơn so với hệ Civil Law(Demirguc-Kunt và cộng sự, 1998)
Fatoki và Smit (2011) cho rằng môi trường pháp lý cũng là một yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến tiếp cận tài chính của các doanh nghiệp Nghiên cứu đánh giátương quan Pearson giữa các yếu tố môi trường kinh doanh và giá trị vốn vay củadoanh nghiệp với ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng Cùng quan điểm đó,Olomi và cộng sự (2008) cũng xác định nền văn hóa kinh doanh kém phát triển, môitrường ở nơi giao dịch giữa người cho vay và người đi vay là một trong ba nhóm yếu
tố gây khó khăn khi tiếp cận tài chính của các DNNVV
Theo kết quả Báo cáo “Đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam – Kết quảđiều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2015” do CIEM thực hiện với sự tham gia củagần 2600 doanh nghiệp nhỏ và vừa ngoài quốc doanh hoạt động trong khu vực chếbiến chế tạo, tại 10 tỉnh và thành phố của Việt Nam Báo cáo khẳng định một trongnhững tác động chính mà môi trường kinh doanh ảnh hưởng “đến sự tăng trưởng củacác DNNVV là thông qua sự tiếp cận tài chính và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp”
2.2.1.2 Ảnh hưởng từ thị trường tài chính
o Ảnh hưởng của quy mô hệ thống tài chính tiền tệ
Demirguc-Kunt và cộng sự (1998) đưa ra kết luận rõ ràng về mối quan hệ ở tất cảcác cấp độ: hãng, ngành và toàn bộ nền kinh tế, tất cả đều cho thấy mối quan hệ lớn và
Trang 37dương giữa độ sâu tài chính với tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, một số nghiên cứu mới đây, đặc biệt là các nghiên cứu được thực hiệnsau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, đã đặt ra nghi ngờ đối với mối quan hệ trên.Wachtel (2011) chỉ ra rằng mối quan hệ này không chỉ đơn giản như quan điểm của lýthuyết cổ điển Cụ thể, chỉ tiêu thường được sử dụng nhiều nhất để đo lường sự pháttriển của thị trường tài chính là độ sâu tài chính có thể chỉ thể hiện việc sử dụng đònbẩy tài chính rộng rãi trong nền kinh tế chứ chưa chắc đã phản ánh số lượng và chấtlượng của các trung gian và thị trường tài chính Trong nghiên cứu tiếp sau, Cecchetti
và Kharroubi (2015) đưa ra lý giải về mối quan hệ này, nhấn mạnh vào việc hệ thốngtài chính tăng trưởng nhanh thường tập trung lợi ích cho các dự án nhiều tài sản bảođảm nhưng có năng suất thấp, do đó tăng độ sâu tài chính dẫn đến giảm năng suất laođộng Nghiên cứu cũng đưa ra bằng chứng thực nghiệm cho việc tăng trưởng tài chínhdẫn đến tổn thất cho các doanh nghiệp có nguồn tài chính bị phụ thuộc và đầu tư nhiềucho hoạt động nghiên cứu và phát triển Zingales (2015) cũng cho thấy khi hệ thống tàichính qua phát triển sẽ dễ bị sa vào hoạt động tìm kiếm đặc lợi (rent seeking) và làmgiảm cơ hội cho các doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao
o Ảnh hưởng của mức độ phát triển hệ thống tài chính tiền tệ
Nghiên cứu của Beck và cộng sự (2000), mối quan hệ trên còn được nghiên cứu
ở cấp độ ngành và cấp độ doanh nghiệp Ở cấp độ ngành, thứ nhất, nghiên cứu chỉ rarằng các ngành phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn bên ngoài sẽ có tốc độ tăng trưởngcao hơn (các ngành không phụ thuộc) khi mức độ phát triển của hệ thống tài chínhtăng lên Các trung gian và thị trường tài chính giúp vượt qua các rào cản (phân mảnh)thị trường (market friction) tạo ra vùng nệm giữa giá của vốn bên ngoài và vốn nội bộdoanh nghiệp Chi phí vốn bên ngoài thấp tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệptăng trưởng và đồng thời tăng số lượng doanh nghiệp gia nhập ngành Vì thế nhữngngành sử dụng nhiều vốn ngoài (theo đặc trưng tự nhiên, kĩ thuật của việc sản xuất) sẽđược hưởng lợi nhiều hơn từ thị trường tài chính phát triển, so với những ngành khác.Thứ hai, nghiên cứu cũng cho thấy mức độ phát triển chung của hệ thống tài chính tácđộng vào số lượng doanh nghiệp hình thành nhiều hơn là vào quy mô trung bình củadoanh nghiệp Ở đây có thể hiểu, mức độ phát triển của thị trường tài chính sẽ giúp cácdoanh nghiệp mới vượt qua các rào cản để tiếp cận nguồn vốn bên ngoài
Trang 38Nếu xem xét chi tiết hơn, các tác động của sự phát triển của hệ thống tài chínhhay cấu trúc tài chính cũng phụ thuộc vào các đặc tính vốn có của doanh nghiệp Cácnhà nghiên cứu thường chia ra hai nhóm: nhóm doanh nghiệp không bị hạn chế về tàichính (dễ tiếp cận với nguồn vốn bên ngoài) và nhóm doanh nghiệp bị hạn chế về tàichính (khó tiếp cận với nguồn vốn bên ngoài) Nhóm doanh nghiệp bị hạn chế về tàichính thường có những đặc điểm như quy mô nhỏ, thông tin về các công ty này khóthu thập (bất cân xứng thông tin) và tỷ lệ trả cổ tức thấp (Christopher và cộng sự(2009)) Udichibarna (2015) lại dùng tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản và thu nhập trướclãi vay và thuế trên tổng nợ để phân chia hai nhóm doanh nghiệp Còn Patrick Musso
và Stefano Schiavo (2007) lại dùng bảy biến để xem doanh nghiệp đang ở đâu giữa haithái cực là bị hạn chế về tài chính và không bị hạn chế về tài chính, bao gồm quy môdanh nghiệp (tổng tài sản), ROA, tính thanh khoản (tổng tài sản dễ thanh khoản trêntổng nợ), tổng thu nhập của công ty, khả năng thanh toán (tổng các quỹ trên nợ phảitrả), tín dụng thương mại trên tổng tài sản, và khả năng trả nợ (nợ trên tổng thu nhập).Thường các doanh nghiệp không bị hạn chế về tài chính sẽ dễ dàng hưởng lợi hơn cácdoanh nghiệp bị hạn chế về tài chính khi mức độ phát triển của hệ thống tài chính tănglên (Christopher và cộng sự (2009), Udichibarna (2015))
2.2.1.3 Ảnh hưởng từ các trung gian tài chính
Nhiều nghiên cứu tập trung vào một rào cản quan trọng đến các doanh nghiệp(đặc biệt là đối với các DNNVV) là quy mô của các ngân hàng Đối với các doanhnghiệp lớn chủ yếu huy động vốn từ phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tuy nhiên ngay cả
ở các nước có thị trường vốn phát triển, các doanh nghiệp vẫn chủ yếu huy động vốnbên ngoài thông qua hệ thống ngân hàng Có thể thấy rằng, “quyết định cho vay đốivới doanh nghiệp của các ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi quy mô các ngân hàng”
Nghiên cứu của Cole và cộng sự (2004) phù hợp với lý thuyết rào cản đối vớicác ngân hàng lớn Kết quả cho thấy các ngân hàng lớn (có quy mô tài sản từ 1 tỷ $ trởlên) sẽ cho vay dựa trên các chỉ tiêu về tài chính thu được từ báo cáo tài chính củadoanh nghiệp trong khi các ngân hàng nhỏ lại căn cứ nhiều hơn vào thông tin về đặcđiểm của doanh nghiệp đi vay Tương tự như vậy, Berger và cộng sự (2005) cũng chỉ
ra các DNNVV đi vay chủ yếu từ các ngân hàng nhỏ và các ngân hàng nhỏ có mối
Trang 39quan hệ chặt chẽ hơn với khách hàng đi vay Tuy nhiên, cũng có một vài nghiên cứuthực nghiệm lại cho thấy kết quả trái với dự báo về việc các ngân hàng nhỏ có xuhướng cung cấp tài chính nhiều hơn cho các DNNVV Shen và cộng sự (2009) chorằng quy mô tài sản của ngân hàng không có tác động đến quyết định cho các DNNVVvay vốn, trong khi ngân hàng càng mang tính chất địa phương, càng cạnh tranh, có cơchế tạo động lực càng tốt và hệ thống luật càng chặt chẽ thì càng có xu hướng choDNNVV vay
o Hình thức sở hữu và cách thức cho vay
Trong những nghiên cứu gần đây, Hakenes và cộng sự (2014) cho thấy cácngân hàng nhỏ thuộc sở hữu trong nước tại Đức đóng vai trò đặc biêt quan trọng trongviệc cung cấp vốn cho các doanh nghiệp nhỏ tại các khu vực mà có rào cản về tiếp cậnvốn Nghiên cứu chỉ ra rằng các ngân hàng thuộc hình thức hợp tác địa phương (localcooperative) cung cấp các khoản vay cho doanh nghiệp nhỏ nhiều hơn là các ngânhàng có vốn đầu tư nước ngoài Đồng thời, DNNVV hoạt động hiệu quả hơn ở nhữngnước có số lượng các ngân hàng hợp tác (cooperative bank) chiếm ưu thế, hơn là ởnhững nước mà số lượng ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài và các ngân hàng trongnước có quy mô lớn chiếm ưu thế Sự có mặt của các ngân hàng nước ngoài được cho
là làm tăng chi phí về vốn vay cho DNNVV và có ảnh hưởng ngược chiều lên lợinhuận Cùng với quan điểm đó, Detragiache và cộng sự (2008) hay Volz (2004 và2011) chỉ ra các ngân hàng khi gia nhập vào thị trường nước ngoài thường là các ngânhàng lớn và có trụ sở tại những nơi khá xa các doanh nghiệp địa phương có quy mônhỏ, vì thế các ngân hàng này thường gặp khó khăn khi cho các DNNVV vay vốn.Ngoài ra, yếu tố về văn hóa và ngôn ngữ cũng là một rào cản đối với các ngân hàngnước ngoài khi muốn thu thập các thông tin minh bạch về thị trường Clarke và cộngsự (2001) cũng có kết luận rằng nói chung, các ngân hàng nước ngoài có xu hướngphân bổ chủ yếu khoản vay cho các doanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại
và công nghiệp, hàm ý các ngân hàng nước ngoài có thể đóng vai trò quan trọng trênthị trường tài chính đối với các doanh nghiệp lớn Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chothấy mặc dù các ngân hàng nước ngoài mang lại lợi ích nhiều hơn cho các doanhnghiệp lớn hơn là cho các doanh nghiệp nhỏ nhưng sự gia nhập của các ngân hàngnước ngoài cũng góp phần cải thiện điều kiện tài chính cho tất cả các loại hình doanh
Trang 40nghiệp Hơn nữa, nếu sự cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính dẫn đếnviệc tăng lên trong tổng vốn cho vay thì khoản cho vay đối với các DNNVV cũng tănglên mặc dù tỉ lệ trong tổng khoản vay có thể giảm
Ayadi và cộng sự (2010) cho rằng sự khác biệt nằm ở mục tiêu cuối cùng củacác ngân hàng và mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận có phải là mục tiêu chủ yếu củangân hàng hay không Các hình thức ngân hàng như ngân hàng hợp tác, quỹ tíndụng, định chế tài chính phát triển cộng đồng và ngân hàng tiết kiệm cộng đồng(public savings banks) thường có mục tiêu xã hội và hướng đến hỗ trợ phát triểnkinh tế địa phương thay vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Hơn nữa, nhóm các ngânhàng dạng này thường là các ngân hàng nhỏ và hoạt động ở cấp độ địa phương/vùng Theo đó, các hình thức ngân hàng này sẽ hiệu quả hơn các ngân hàng lớn vàmang tính nước ngoài trong việc cung cấp vốn cho các DNNVV Ngược lại, các tậpđoàn lớn và các công ty nước ngoài lại nhận được lợi ích tiếp cận vốn nhiều hơn từcác ngân hàng nước ngoài có quy mô lớn Do đó, một hệ thống tài chính mà có sựkết hợp đa dạng của các định chế tài chính dường như sẽ đáp ứng tốt nhất các nhucầu khác nhau của các loại hình doanh nghiệp
2.2.1.4 Ảnh hưởng từ quan hệ tài chính với tài chính Nhà nước
Nghiên cứu của Ellul và cộng sự (2012) chỉ ra có một sự đánh đổi giữa khảnăng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và gánh nặng thuế Các tác giả cho rằng, tỷ lệ nộpthuế cao khiến các doanh nghiệp bị trực tiếp giảm thiểu sự tích tụ vốn và có động lựclàm giảm sự minh bạch của mình Tuy nhiên, điều này lại kéo theo việc khả năng tiếpcận vốn của doanh nghiệp Sự đánh đổi này bị phụ thuộc vào tỷ lệ thuế doanh nghiệp,mức độ thi hành thuế của DN và sự tuân thủ hóa đơn thuế (tax-book conformity), dòngtiền từ các tài sản cơ bản của DN và mức độ phát triển của thị trường tài chính.Gramham và cộng sự (2014), nợ chính phủ có mối quan hệ ngược chiều rõ ràng với nợcủa doanh nghiệp Sự thay đổi danh mục đầu tư của các nhà đầu tư, đặc biệt là của cáctrung gian tài chính được sử dụng nhằm lý giải cho mối quan hệ nghịch này Khi chínhphủ tăng vay nợ, các trung gian tài chính sẽ thay đổi hành vi bằng cách tăng cườngnắm giữ nợ của chính phủ và tương ứng với đó là giảm việc cho các doanh nghiệp vay
Phát triển từ nghiên cứu của Gramham và cộng sự (2014), đã kiểm định lại cácmối quan hệ giữa nợ chính phủ với nợ ngắn hạn và nợ dài hạn của doanh nghiệp Khi