1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) theo vị trí địa hình do nấm Ceratocystis sp. gây ra tại huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)

54 104 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) theo vị trí địa hình do nấm Ceratocystis sp. gây ra tại huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênĐánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) theo vị trí địa hình do nấm Ceratocystis sp. gây ra tại huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênĐánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) theo vị trí địa hình do nấm Ceratocystis sp. gây ra tại huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênĐánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) theo vị trí địa hình do nấm Ceratocystis sp. gây ra tại huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênĐánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) theo vị trí địa hình do nấm Ceratocystis sp. gây ra tại huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênĐánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) theo vị trí địa hình do nấm Ceratocystis sp. gây ra tại huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênĐánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) theo vị trí địa hình do nấm Ceratocystis sp. gây ra tại huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênĐánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) theo vị trí địa hình do nấm Ceratocystis sp. gây ra tại huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênĐánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) theo vị trí địa hình do nấm Ceratocystis sp. gây ra tại huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

Trang 1

HOÀNG THỊ HẠNH

“ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH BỆNH HẠI KEO TAI TƯỢNG

(ACACIA MANGIUM) THEO VỊ TRÍ ĐỊA HÌNH DO NẤM CERATOCYSTIS SP GÂY RA TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH

THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Khóa học : 2014 – 2018

Thái Nguyên, 2018

Trang 2

HOÀNG THỊ HẠNH

“ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH BỆNH HẠI KEO TAI TƯỢNG

(ACACIA MANGIUM) THEO VỊ TRÍ ĐỊA HÌNH DO NẤM CERATOCYSTIS SP GÂY RA TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH

THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực và khách quan chưa công bố trên các tài liệu khác Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin đăng tải trên các tác phẩm, tạp trí, bài báo, giáo trình, bài giảng của thầy cô, trang web theo doanh mục tài liệu tham khảo Nếu có gì sai xót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày 29 tháng 12 năm 2017

Xác nhận của GVHD Người viết cam đoan

Đồng ý cho bảo vệ kết quả (Ký, ghi rõ họ và tên)

trước hội đồng khoa học

(Ký, ghi rõ họ và tên)

ThS Trần Thị Thanh Tâm Hoàng Thị Hạnh

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên

đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!

(Ký, họ và tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước lúc ra trường Giai đoạn này vừa giúp cho sinh viên kiểm tra, hệ thống lại những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất Để đạt được mục tiêu đó, được

sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) theo vị trí địa hình do nấm Ceratocystis

sp gây ra tại huyện, Phú Lương tỉnh Thái Nguyên’’

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo ThS Phạm Thị Diệu và cô giáo ThS Trần Thị Thanh Tâm đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Qua đây tôi xin cảm ơn ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, đặc biệt là cô giáo ThS Phạm Thị Diệu, cô giáo ThS Trần Thị Thanh Tâm và người dân địa phương đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài

Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân đã quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập

Do thời gian và trình độ có hạn mặc dù đã cố gắng, nhưng trong khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để giúp tôi hoàn thành khóa luận được tốt hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2018

Sinh viên

Hoàng Thị Hạnh

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.2 Bảng phân cấp chỉ số bị bệnh 26

Bảng 4.1 Tình hình bị bệnh chết héo trên Keo tai tượng ở vị trí chân đồi 32

Bảng 4.2 Tình hình bị bệnh chết héo của Keo tại tượng ở vị trí sườn đồi 33

Bảng 4.3 Tình hình bị bệnh chết héo trên Keo tai tượng ở vị trí đỉnh đồi 34

Bảng 4.4 Tình hình bị bệnh chết héo trên Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu 35

Bảng 4.5 Gía trị trung bình chỉ số bị bệnh chết héo trên Keo tai tượng theo từng khu vực nghiên cứu ở cấp tuổi 3 36

Bảng 4.6 So sánh tỷ lệ trung bình giữa các vị trí 37

Bảng 4.7 Bảng kết quả phân tích phương sai tỷ lệ bị bệnh giữa các vị trí 38

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 4.1 Cây bị bệnh chết héo 28

Hình 4.2 Cây bị bệnh do gia súc gây ra 30

Hình 4.3 Vết bệnh do côn trùng gây hại 30

Hình 4.4 Nấm bệnh phát triển trong thân cây 30

Hình 4.5 Nấm bệnh thường xâm nhập qua các vết cắt tỉa cành 30

Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ bị bệnh do nấm gây ra theo giá trị trung bình OTC của từng khu vực 35

Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện chỉ số bị bệnh do nấm gây ra theo giá trị trung bình OTC của từng khu vực 36

Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp gây hại trên Keo tai tượng ở các vị trí 37

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

2 BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

4 PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng

5 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

6 QLBV&PTR Quản lý Bảo vệ và Phát triển rừng

7 QLBVR Quản lý Bảo vệ rừng

10 PAM Chương trình Lương thực Thế giới

11 ACIAR Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa việc thực hiện đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

1.4.2 Ý nghĩa trong khoa học 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4

2.2.1 Tình hình nghiên cứu thế giới 4

2.2.2 Nghiên cứu về bệnh hại keo 6

2.2.3 Nghiên cứu về nấm Ceratocystis sp 8

2.2.4 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh 8

2.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 9

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 9

2.3.2 Nghiên cứu về bệnh hại keo 11

Trang 9

2.3.3 Nghiên cứu về nấm Ceratocystis sp 12

2.3.4 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh 12

2.4 Thông tin chung về Keo tai tượng 13

2.4.1 Phân loại khoa học 13

2.4.2 Đặc điểm hình thái 14

2.4.3 Đặc điểm sinh thái 14

2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu 15

2.5.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội 15

2.5.1.1 Điều kiện tự nhiên 15

2.5.1.2 Điều kiện xã hội 18

2.5.1.3 Thực trạng bảo vệ và phát triển rừng huyện Phú Lương thời gian qua thực trạng đất lâm nghiệp 19

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Đối tượng nghiên cứu 24

3.2 Địa điểm nghiên cứu 24

3.2.1 Nội dung nghiên cứu 24

3.2.1.1 Xác định nguyên nhân gây bệnh chết héo Keo tai tượng 24

3.2.1.2 Nghiên cứu 24

Ảnh hưởng của vị trí đến sự phát triển của bệnh hại Keo tai tượng 24

3.3 Phương pháp nghiên cứu 25

3.3.1 Xác định nguyên nhân gây bệnh chết héo Keo tai tượng trồng tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 25

3.4 Phương pháp đánh giá thiệt hại của bệnh đối với rừng trồng Keo tai tượng 25

3.4.1 Ảnh hưởng của vị trí đối với sự phát triển của bệnh hại Keo tai tượng 25

3.4.2 Phương pháp nội nghiệp 27

Trang 10

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 Điều kiện để nấm xâm nhập và gây bệnh chết héo Keo tai tượng 28

4.2 Kết quả đánh giá thiệt hại của bệnh đối với Keo tai tượng 31

4.2.1 Đánh giá tỷ lệ bị bệnh (P%) chỉ số bị bệnh (R) của Keo tai tượng ở vị trí chân đồi 31

4.2.2 Đánh giá tỷ lệ bị bệnh và chỉ số bị bệnh của Keo tai tượng ở vị trí ở vị trí sườn đồi 33

4.2.3 Đánh giá tỷ lệ bị bệnh và chỉ số bị bệnh của Keo tai tượng ở vị trí đỉnh đồi 34

4.2.4 Đánh giá tình hình bệnh chết héo Keo tai tượng do nấm Ceratocystis sp ở các địa điểm điều tra 35

4.3 Đề xuất giải pháp hạn chế phòng trừ mức độ bị bệnh nấm gây chết héo trên Keo tai tượng 39

PHẦN 5: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 40

5.1 Kết luận 40

5.2 Tồn tại 40

5.3 Đề nghị 41

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 11

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Rừng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống con người, cũng như đối với hệ sinh thái rừng Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt,hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, bảo vệ nguồn nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước Rừng và đất rừng Việt Nam chiếm khoảng 2/3 tổng diện tích tự nhiên của đất nước, đó là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng và là cơ hội tạo việc làm cho nhiều người thuộc nhiều dân tộc khác nhau Nhằm góp phần đẩy nhanh tốc độ phục hồi và phát triển rừng, trong những năm qua Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, đầu tư thực hiện nhiều chương trình, dự án,

áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó phát triển lâm nghiệp đã được quan tâm chú trọng hơn như đầu tư thực hiện Chương trình 327, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng Để tăng tỷ lệ che phủ đất trống đồi núi trọc, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân sống ở miền núi, đặc biệt là đồng bào sống trong và gần rừng đồng thời đáp ứng được nhu cầu về gỗ cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, thì việc trồng rừng bằng các loài cây có giá trị kinh tế cao và thời gian sinh

trưởng nhanh là yêu cầu cấp bách hiện nay Keo tai tượng (Acacia mangium Wild) là loài cây lá rộng, mọc nhanh, mọc được trên nhiều loại đất, có biên độ

sinh thái rộng, phù hợp cho trồng rừng trên quy mô lớn Ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất giấy, ván nhân tạo, gỗ của loài cây này còn được sử dụng cho các mục đích khác như xây dựng, trang trí nội thất, gỗ củi Keo tai tượng đã được lấy giống để gây trồng ở nhiều nơi Nếu nguồn giống tốt, điều kiện sinh thái và lập địa phù hợp sẽ tạo ra khối lượng gỗ lớn

Trang 12

không những đáp ứng được nhu cầu trong nước mà còn có thể xuất khẩu sang nước ngoài Với những đặc điểm như vậy, Keo tai tượng là một trong những loài cây đáp ứng được mục tiêu của trồng rừng sản xuất của nước ta trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài Đây là loài cây có khả năng thích ứng lớn có thể trồng trên đất trống đồi núi trọc, vừa có khả năng cung cấp gỗ nguyên liệu vừa

có khả năng cung cấp gỗ lớn có giá trị để làm đồ mộc Hiện nay, Keo tai tượng

đã được trồng khá phổ biến ở nước ta, đặc biệt trong chương trình trồng rừng theo dự án 661, những nghiên cứu về loài cây này cũng tương đối nhiều, tuy nhiên những nghiên cứu về bệnh hại cây thì còn hạn chế đặc biệt là ở huyện Phú

Lương, tỉnh Thái Nguyên Xuất phát từ vấn đề trên, đề tài “Đánh giá tình hình bệnh hại Keo tai tượng (Acacia mangium) theo vị trí địa hình do nấm Ceratocystis sp gây ra tại huyện, Phú Lương tỉnh Thái Nguyên’’ Được đặt ra

là hết sức cần thiết nhằm giúp ta hiểu rõ hơn về nấm gây bệnh của loài cây này

đồng thời góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển lâm nghiệp của vùng

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá ảnh hưởng của vị trí tới bệnh hại Keo tai tượng (Acacia Mangium) do nấm Ceratocystis sp gây ra

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được tỷ lệ bị bệnh và mức độ bệnh hại do nấm Ceratocystis sp gây ra ở cây Keo tai tượng ( Acacia mangium) theo vị trí địa hình.

- Đề xuất một số giải pháp hạn chế mức độ phát triển của bệnh gây ra ở

Keo tai tượng ( Acacia mangium).

1.4 Ý nghĩa việc thực hiện đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Giúp cho sinh viên củng cố lại những kiến thức lý thuyết đã được học, đồng thời làm quen với thực tế, tích lũy học hỏi kinh nghiệm Thực hành thành thạo được các phương pháp trong điều tra, nghiên cứu các loại bệnh cây rừng khác nhau

Trang 13

- Làm cơ sở và tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan

- Sau khi thực hiện đề tài sinh viên có khả năng lênkế hoạch nghiên cứu hợp lý, biết tổng hợp, phân tích và đánh giá kết quả cũngnhư viết một báo cáo nghiên cứu

1.4.2 Ý nghĩa trong khoa học

- Để tài thực hiện nhằm xác định được ảnh hưởng của vị trí tới mức độ bị

bệnh do nấm Ceratocystis sp gây hại trên Keo tai tượng tại các địa điểm điều tra, từ đó xác định được nguyên nhân gây bệnh do nấm Ceratocystis sp gây ra,

làm rõ được điều kiện sinh thái của nấm bệnh Qua đó có thể đưa ra được những

đánh giá cụ thể và thiết thực về loại bệnh nấm Ceratocystis sp

Trang 14

PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học

Keo tai tượng là cây gỗ nhỡ sinh trưởng nhanh có nguồn gốc từ Úc được nhập vào nước ta từ những năm 1960, nhưng từ năm 1976 trở lại đây mới được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng trong cả nước Keo tai tượng là loài cây đa mục đích dễ gây trồng, có giá trị nhiều cả về mặt kinh tế lẫn phòng hộ bảo vệ môi trường Đặc biệt trong chương trình trồng mới 5 triệu hecta rừng, Keo tai tượng

là một trong những loài cây trồng chính để phủ xanh đất trống đồi núi trọc và cũng là những cây cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho ngành công nghiệp lấy sợi trong những năm qua Muốn tăng năng suất và chất lượng rừng trồng thì việc bảo vệ cây và phòng ngừa nấm bệnh là một trong những khâu quan trọng nhất của quá trình sản xuất nông lâm nghiệp Nhờ chăm tốt và áp dụng các biện pháp

kĩ thuật lâm sinh khác nhau mà năng suất các loài cây nông - lâm nghiệp chủ yếu trong những năm qua đã tăng gấp đôi so với nhưng năm 1960 Tuy nhiên trong những năm gần đây cây con trồng thường xuyên bị chết héo từ trên ngọn xuống hay còn gọi là hiện tượng cây chết ngược, bệnh rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu Các mẫu bệnh đã được phòng Bảo vệ rừng Viện Khoa học Lâm

nghiệp giám định nguyên nhân là do loài nấm Ceratocystis sp gây ra (Lê Đình

Khả, 2001) [4]

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.2.1 Tình hình nghiên cứu thế giới

Chi Keo (Acacia) có khoảng 1.200 loài phân bố tự nhiên ở khắp các châu

lục Song tập trung nhiều và phát triển tốt ở Châu Phi và Châu Úc Riêng ở Ôxtrâylia có tới 850 loài, trong đó có hàng trăm loài có kiểu lá giả như Keo tai tượng Trong vài ba thập kỉ gần đây ở vùng nhiệt đới Châu Á, đặc biệt là vùng

Trang 15

Đông Nam Á, các loài keo nhập từ Ôxtrâylia đã đóng một vai trò rất 5 quan trọng trong các chương trình trồng rừng, trong đó nổi bật là Keo lá tràm và Keo

tai tượng (Acacia mangium) Chi keo là một chi của một số loài cây thân bụi và

thân gỗ có nguồn gốc tại đại lục cổ Gondwana, thuộc về phân họ Trinh nữ

(Mimosoideae) thuộc họ Đậu (Fabaceae), lần đầu tiên được Linnaeus miêu tả

năm 1773 tại châu Phi Hiện nay, người ta biết khoảng 1.300 loài cây keo trên toàn thế giới, trong đó khoảng 950 loài có nguồn gốc ở Australia, và phần còn lại phổ biến trong các khu vực khô của vùng nhiệt đới và ôn đới ẩm ở cả hai bán cầu, bao gồm châu Phi, miền nam châu Á, châu Mỹ Tuy nhiên, chi Acacia dường như là không đơn ngành Phát hiện này đã dẫn tới sự chia tách Acacia thành 5 chi mới, xem thêm bài danh sách các loài cây keo Loài sinh trưởng xa nhất về phía bắc của chi này là Acacia greggii (Keo vuốt mèo), đạt tới 37°10' vĩ bắc ở miền nam Utah, Hoa Kỳ, loài sinh trưởng xa nhất về phía nam là Acacia dealbata (Keo bạc), Acacia longifolia (Keo bờ biển hay keo vàng Sydney), Acacia mearnsii và Acacia melanoxylon (Keo gỗ đen), đạt tới 43°30' vĩ nam ở Tasmania, Australia, trong khi Acacia cave đạt tới vĩ độ tương tự như thế về phía nam, tại khu vực đông bắc tỉnh Chubut, Argentina Trong tiếng anh, các loài ở Australia gọi chung là wattle (cây keo Úc), còn các loài châu Phi và châu

Mỹ gọi chung là Acacia (cây keo) Acacia là một chi của cây bụi và cây thuộc phân họ Mimosoideae của gia đình Fabaceae, mô tả lần đầu tiên ở châu Phi bởi nhà thực vật học Thụy Điển Carl Linnaeus năm 1773 Keo tai tượng là loài cây mọc nhanh có biên độ sinh thái khá rộng Keo tai tượng rất kén đất đòi hỏi đất phải tốt và sâu ẩm Là cây họ đậu nên Keo tai tượng không chỉ là cây kinh tế mà còn là cây che phủ cải tạo đất và cải thiện điều kiện môi trường, ngày nay loài cây này đang được mở rộng ở nhiều 6 nước, điển hình như Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Thái Lan, Ấn độ, Nigiêria, Tanzania, Băng-la-đét, Trung quốc, Mỹ

Trang 16

Ngay cả Papua Niu Ghine, nơi có Keo tai tượng phân bố tự nhiên ở phía Đông

và phía Nam cũng đã tiến hành dẫn giống lên phía Bắc để phủ xanh đất trống đồi trọc, cải tạo đất thoái hóa sau nương rẫy Ở Inđônêxia Keo tai tượng cũng được trồng từ những năm 1940 Ở Thái Lan, Keo tai tượng đã được đưa vào trồng từ năm 1935, nhưng mãi đến năm 1964 trở lại đây mới được phát triển mạnh Năm 1961 Trung Quốc đã nhập khoảng 50 loài từ Ôxtrâylia vào trồng thử nghiệm, song chỉ có một số loài có triển vọng và được gây trồng trên diện rộng trong đó có Keo tai tượng (Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, 2006) [7]

Tình hình sinh trưởng của Keo tai tượng trên các địa điểm của mỗi nước cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện đất đai và khí hậu cụ thể nơi gây trồng Nhưng nhìn chung ở những nơi có lượng mưa trên 2000 mm, đất giàu dinh dưỡng thì khả năng sinh trưởng khá nhanh, trung bình chiều cao có thể đạt trên 2,5 m/năm Ở những nơi đất đai xấu khả năng sinh trưởng thường rất kém, chiều cao bình quân chỉ đạt khoảng 1,0 m/năm, nhất là vùng miền tây Bengan của Ấn Độ chỉ đạt dưới 0,5 m/năm Với mức tăng trưởng đường kính và chiều cao như vậy, ở những nơi đất đai và khí hậu thuận lợi trong chu kỳ kinh doanh dưới 10 năm, năng suất bình quân về trữ lượng gỗ cũng chỉ đạt khoảng từ 10 -15 m3/ha/năm Tuy nhiên, bằng con đường cải thiện giống kết hợp các biện pháp thâm canh như làm đất toàn diện bằng cơ giới, bón phân và tăng cường các biện pháp chăm sóc, một

số nước đã đưa năng suất rừng trồng lên trên 30m3/năm (Công ty Lâm nông nghiệp Đông Bắc, 2013) [1]

2.2.2 Nghiên cứu về bệnh hại keo

Keo tai tượng có nguồn gốc từ Australia, Papua Guinea và Indonesia, có sức sinh trưởng nhanh trên nhiều điều kiện lập địakhác nhau Do Keo tai tượng đóng một vai trò quan trọng trong trồng rừng nênđã có nhiều nghiên cứu về loài cây này bao gồm các nghiên cứu về đặc điểmsinh học đến kỹ thuật gây trồng

Trang 17

cũng như khả năng sử dụng Chi keo là một chi của một số loài cây thân bụi và thân gỗ có nguồn gốc tại đại lục cổ Gondwana, thuộc về phân họ Trinh nữ

(Mimosoideae) thuộc họ Đậu (Fabaceae), lần đầu tiên được Linnaeus miêu tả

năm 1773 tại châu Phi Hiện nay, người ta biết khoảng 1.300 loài cây keo trên toàn thế giới, trong đó khoảng 950 loài có nguồn gốc ở Australia, và phần còn lại phổ biến trong các khu vực khô của vùng nhiệt đới và ôn đới ẩm ở cả hai bán cầu, bao gồm châu Phi, miền nam châu Á, châu Mỹ

Tuy nhiên, chi (Acacia) dường như là không đơn ngành Ở Inđônêxia Keo

tai tượng cũng được trồng từ những năm 1940 Ở Thái Lan, Keo tai tượng đã được đưa vào trồng từ năm 1935, nhưng mãi đến năm 1964 trở lại đây mới được phát triển mạnh Năm 1961 Trung Quốc đã nhập khoảng 50 loài từ Ôxtrâylia vào trồng thử nghiệm, song chỉ có một số loài có triển vọng và được gây trồng trên diện rộng, trong đó có Keo tai tượng tình hình sinh trưởng của Keo tai tượng trên các địa điểm của mỗi nước cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện đất đai và khí hậu cụ thể nơi gây trồng Nhưng nhìn chung ở những nơi có lượng mưa trên 2000 mm, đất giàu dinh dưỡng thì khả năng sinh trưởng khá nhanh, trung bình chiều cao có thể đạt trên 2,5 m/năm

Với tổng số trên dưới 1200 loài, chi keo (Acacia) là một chi thực vật

quan trọng đối với đời sống xã hội của nhiều nước (Boland, 1989; Boland etal, 1984; Pedley.1987) Theo các ghi chép của trung tâm giống cây rừng

Ôxtraylia (dẫn từ Maslin và McDonald, 1996) thì các loài keo (Acacia) của

Ôtrâylia đã được gây trồng ở trên 70 nước với diện tích khoảng 1.750.000 ha vào thời điểm đó Nhiều loại trong số đó đã đáp ứng được các yêu cầu về sử dụng cho các mục tiêu công nghiệp, xã hội và môi trường

Trang 18

2.2.3 Nghiên cứu về nấm Ceratocystis sp

Nấm Ceratocystis sp là những loài nấm gây hại nguy hiểm cho nhiều loài

cây, lànguyên nhân gây nên bệnh thối rễ, gốc, loét thân cành và gây thối quả trênnhiều loại cây trồng nhiệt đới (kile, 1993) [18] Đặc biệt là loài Ceratocystis

fibriata ellis & Halst sensu lato (s.1) gây chết hàng loạt bạch đàn ở cộng hòaCông gô và Braxin (Rouxetal, 2000)[18]; cây cà phê (Coffe sp.) ở Colombia

vàVenezuela (Marinetal,2003.Pontis,1951) [19]

Đây cũng chính là loài gây bệnh trên cây xoài ở Braxin (Ploetz, 2003; Ribero, 1980; viegas, 1960) và là một trong những bệnh nguy hiểm nhất trong nghành nông nghiệp và cây trồng ở nam mỹ Ở Indonesia Ceraticysti

sp Lần đầu tiên được ghi nhân khi Ceratocystis fimbriata (còn có tên là Rostrella cofeae) được công bố năm 1900 trên cây cà phê (Coffea arabica) ở đảo Java (Zimmerman, 1900) [19] Sau đó nhiều loài Ceratocystis sp đã được tìm thấy trên nhiều cây chủ khácnhau trên nhiều nhiều hòn đảo ở Indonesia Gần đây nhất là phát hiện 5 loàinấm Ceratocystis sp mới gây hại trên cây keo

2.2.4 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh

+ Biện pháp canh tác: Chăm sóc cây đầy đủ, cũng cấp đủ chất dinh dưỡng hợp lí cho cây vườn; Sau khi thu hoạch, tiến hành cắt tỉa và tiêu hủy những cành sâu bệnh, cành vô hiệu bên trong tán, vệ sinh vườn sạch sẽ; Bệnh có thể lây lan qua dụng cụ cắt tỉa, do đó sau mỗi lần cắt tỉa cũng như khi sử dụng dụng cụ từ cây bị bệnh sang cây khoẻ nên khử trùng dụng cụ bằng cách ngâm dụng cụ trong dung dịch cồn 900 trong 10 phút nhằm tiêu diệt mầm bệnh cũng như tránh

sự lây lan; Cắt bỏ cành, cây bị bệnh nặng Tiêu hủy tập trung, quét thuốc trừ nấm hoặc nước ngay vết cắt để tránh nhiễm bệnh ngay sau vết thương

Lưu ý: Nếu vết cắt vẫn còn ứa ra lớp nhựa đen có chứa bào tử nấm thì tiếp tục cắt sâu vào và tiếp tục quan sát cho đến khi vết cắt khô hẳn

Rải vôi xung quanh tán cây, 2 lần/năm (đầu mùa mưa và đầu mùa nắng);

Trang 19

Không được chiết cành hoặc sử dụng mắt ghép (bo) trên cây nhiễm bệnh làm vật liệu ghép có nấm có khả năng lây nhiễm qua cách nhân giống bằng phương pháp

vô tính (Đặng Kim Tuyến, 2014) [15]

+ Biện pháp sinh học: Bón phân hữu cơ, phân chuồng đã ủ hoại kết hợp với nấm đối kháng Trichoderma để cải thiện hệ vi sinh vật đất đồng góp phần làm giảm mầm bệnh lưu tồn trong đất

+ Biện pháp hoá học: Phun thuốc diệt trừ kiến đen, mối và bọ cánh cứng trên cây Đối với việc khoanh vỏ xử lý ra hoa: Không nên mở vết khoanh quá lớn và nếu được có thể dùng thuốc trừ nấm (Coc 85, Mancozeb) quét quanh vết khoanh để hạn chế sự tấn công của bệnh

+ Phun ngừa thuốc trừ nấm có phổ rộng như: Zineb, Coc 85, Norshield,

Zineb, Mancozeb hay Gomi, Pysaigon, Topsin-M, Agotop Cây bị bệnh xử lý bằng Mancozeb (Dithane M45, Pencozeb), Carbendazim (Bavistin, Benzimidine) Chú ý: Cần hạn chế gây vết hương trên cây đặc biệt là vào mùa mưa, khi khai thác chặt hạn chế gây tổn hại cho cây chưa khai thác, khi cắt tỉa cành nên dùng keo hay mỡ bò bôi kín vết cắt Có thể sử dụng Norshield 86.2 WG, 50g/30 lít nước phun kỹ trong tán cây, cành, thân chính để phòng bệnh (Đặng Kim Tuyến, 2014) [15]

2.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Cùng với một số loài keo khác Keo tai tượng được nhập vào trồng thử nghiệm ở miền Nam nước ta từ những năm 1960 (Nguyễn Hoàng Nghĩa, Lê Đình Khả,1993) [9] Năm 1970 - 1971 Keo tai tượng được đưa ra Huế trồng để trang trí đường phố và làm cây phong cảnh dọc hai bên bờ sông Hương Năm

1976, Keo tai tượng được trồng thử nghiệm mở rộng trên một số dạng lập địa như đất phèn ở Tân Tạo (TP Hồ Chí Minh), đất xám miền đông nam bộ, đất

Trang 20

Bazan Tây Nguyên (Lâm Đồng và Pleiku) Năm 1977 - 1980, Keo tai tượng được trồng mở rộng từ vĩ tuyến 17 trở ra như Đông Hà - Quảng Trị, Đại Lải - Vĩnh Phúc, Hữu Lũng - Lạng Sơn, Đồng Hỷ - Thái Nguyên,vv…Với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và cận ẩm, Keo tai tượng tỏ ra thích hợp, sinh trưởng

và phát triển rất nhanh, nó đã trở thành một trong những loài cây chủ lực để trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc trong nhưng năm tiếp theo

Bắt đầu từ năm 1982, với sự tài trợ của tổ chức Quốc tế như, FAO, PAM,vv…nhiều loài keo đã được đưa vào nước ta sản xuất Giai đoạn 1982 -

1992, một bộ giống nhập từ Ôxtrâylia gồm 73 xuất xứ của 5 loài keo: Keo tai

tượng (A.mangium), Keo lá tràm (A.auriculiformis), Keo lá liềm (A.crassicarpa), Keo dậu ( Leucaena leucocephala)… đã được khảo nghiệm trên nhiều vùng sinh thái trong cả nước Các khảo nghiệm loài được tiến hành chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc như Hà Tây, Thái Nguyên và Vĩnh Phúc Kết quả khảo nghiệm loài cho thấy có ba loài sinh trưởng khá nhanh và rất có triển vọng theo thứ tự là Keo tai tượng, Điều đó cho thấy Keo tai tượng chỉ thích hợp cho các dạng đất còn tốt, tầng đất sâu và ẩm Ngược lại Keo lá tràm có thể sinh trưởng tốt cả trên các dạng đất nghèo và xấu Keo dậu là loài cây sinh trưởng chậm, hình thân cong queo, không phù hợp với mục đích trồng rừng lấy gỗ ở nước ta (Lê Đình Khả, 2001) [4]

Do nguồn hạt giống có hạn nên mãi đến năm 190 - 1991 mới tiến hành

mở rộng các khảo nghiệm xuất xứ ra các vùng sinh thái như: Bầu Bàng (Bình Dương), La Ngà (Đồng Nai), Đông Hà (Quảng Trị), Cẩm Quỳ (Hà Tây), Đại Lải (Vĩnh Phúc) Từ kết quả của các khảo nghiệm đã xác định được một số xuất xứ

có khả năng thích ứng rộng và sinh trưởng nhanh ở nhiều vùng trong cả nước như xuất xứ Coen River 16142 (Qld), Morehead River, Mibini (PNG), Goomadeer (NT), Sakaerat (Thai) và Tribs (Qld)…

Trang 21

2.3.2 Nghiên cứu về bệnh hại keo

Vào cuối những những năm 1980 và đầu những năm 1990 bệnh dịch cháy

lá chết ngọn bạch đàn đã xuất hiện rộng và là mối đe dọa lớn cho các nhà trồng rừng trên khắp cả nước đặc biệt là vùng Đông Nam Bộ và miền Trung (Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế) theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997) cho thấy diện tích rừng bạch đàn đã bị tấn công 50% tổng diện tích với các mức độ khác nhau và đều cảnh báo nguy cơ gây hại lớn của bệnh đối với cây rừng trồng tập chung và đề xuất định hướng nghiên cứu (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1997) [10]

Dự án mang tên “Giảm thiểu tác động của bệnh bạch đàn ở vùng Đông Nam Á” ACIAR 9441 do trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc Tế của Ôxtrâylia (ACIAR) tài trợ bắt đầu triển khai tại Việt Nam, Thái Lan, Ôxtrâylia

Dự án được Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam triển khai tại Việt Nam Cho tới khi kết thúc dự án vào cuối năm 2000, dự án đã đặt nền móng cho định hướng nghiên cứu về bệnh và mở đầu các nghiên cứu về chọn giống bạch đàn kháng bệnh nước ta Bước đầu đã tìm hiểu được các loài nấm hại điều tra đánh giá mức độ nhiễm bệnh và ảnh hưởng của loài cũng như xuất xứ cũng như hộ gia đình có nấm bị hại Các kết quả đầu tư của dự án được báo cáo tại hội thảo

dự án bệnh bạch đàn được tổ chức vào tháng 11 năm 2000 tại Thành Phố Hồ Chí Minh (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2000; Phạm Quang Thu, 2000) [8] Từ đầu những năm 1980 trở lại đây nhiều loài đã được nhập về đây trồng thử nghiệm nước ta

như Keo tai thượng (A Magium), Keo lá liềm (A.Crassicarpa), Keo đa thân (A Aulacocarpa), Keo bụi (A Cincinnata), Keo lá sim (A Holosericea) và sau này

là Keo lai tự nhiên được phát hiện và chủ động lai tạo (Sedgley et al.,1992)

Một vài năm trở lại đây diện tích gây trồng keo đã tăng lên đáng kể (gần

230000 ha vào cuối năm 1999) thì cũng đã xuất hiện rừng trồng Tại Đạ Tẻh (Lâm Đồng) Keo tai tượng thuần loài trồng trên diện tích 400 ha trong đó đã có 118,5 ha với tỉ lệ bị bệnh từ 7 - 59% trong đó có một số diện tích bị khá nặng (Phạm Quang Thu, 2002) [11] Tại Bầu Bàng Bình Dương một số dòng Keo lai

Trang 22

đã mắc bệnh phấn hồng (Pink Disease) với tỉ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh khá cao gây thiệt hại cho sản xuất Tại Kom Tum năm 2001 có khoảng 1000 ha rừng Keo tai tượng 2 tuổi bị mắc bệnh loét thân, thối vỏ và dẫn đến khô ngọn Tỷ lệ nặng nhất là ở Ngọc Tú, Ngọc hồi (Kom Tum) lên đến 90% số cây bị chết

ngọn.Từ năm 2009 bệnh chết héo do nấm Ceratocystis đã gây hại rừng trồng các

loài keo và có xu hướng lan rộng nhanh ở Việt Nam, trong đó có tỉnh Thái Nguyên (Phạm Quang Thu, 2016)

2.3.3 Nghiên cứu về nấm Ceratocystis sp

Ở nước ta với điều kiện khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện cho nhiều loài nấm

phát triển đặc biệt là Ceratocystis sp đã bắt đầu xuất hiện trên cây keo tại một số

nơi như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng, Tuyên Quang và Quảng Ninh Những cây bị bệnh, gỗ bị biến màu, xì nhựa mủ ở

vỏ, toàn bộ những cây bị nhiễm bệnh chỉ sau một thời gian ngắn là chết ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng rừng trồng keo Theo kết quả điều tra bệnh hại rừng trồng mới được thực hiện năm 2010 và năm 2011 tại Thừa Thiên Huế cho thấy trên các diện tích rừng trồng Keo tai tượng, Keo lá tràm và Keo lai ở một số địa phương của tỉnh đã xuất hiện hiện tượng cây keo chết héo với tỷ lệ 5 - 7% Bệnh hại keo ở Thừa Thiên Huế được xác định là một loài nấm thuộc chi

Ceratocystis sp Các loài nấm thuộc chi này không phải mới xuất hiện ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu trước đây đã ghi nhận loài nấm Ceratocystis fimbriata gây bệnh thối mốc mặt cạo cây cao su

2.3.4 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh

Khi bệnh được phát hiện sớm, việc phòng trừ bệnh cũng đạt được hiệu quả cao bằng việc chọn đúng thuốc diệt nấm

+ Biện pháp canh tác: Chăm sóc cây đầy đủ, cũng cấp đủ chất dinh dưỡng

hợp lí cho cây; Sau khi thu hoạch, tiến hành cắt tỉa và tiêu hủy những cành sau bệnh, cành vô hiệu bên trong tán, vệ sinh vườn sạch sẽ; Bệnh có thể lây lan qua dụng cụ cắt tỉa, do đó sau mỗi lần cắt tỉa cũng như khi sử dụng dụng cụ từ cây bị

Trang 23

bệnh sang cây khoẻ nên khử trùng dụng cụ bằng cách ngâm dụng cụ trong dung dịch cồn 900 trong 10 phút nhằm tiêu diệt mầm bệnh cũng như tránh sự lây lan; Cắt bỏ cành, cây bị bệnh nặng Tiêu hủy tập trung, quét thuốc trừ nấm hoặc nước ngay vết cắt để tránh nhiễm bệnh ngay sau vết thương

+ Biện pháp hoá học: Phun thuốc diệt trừ kiến đen, mối và bọ cánh cứng

trên cây Đối với việc khoanh vỏ xử lý ra hoa, không nên mở vết khoanh quá lớn

và nếu được có thể dùng thuốc trừ nấm (Coc 85, Mancozeb) quét quanh vết khoanh để hạn chế sự tấn công của bệnh

+ Biện pháp sinh học: Bón phân hữu cơ, phân chuồng đã ủ hoại

+ Phun ngừa thuốc trừ nấm có phổ rộng như: Zineb, Coc 85, Norshield,

Zineb, Mancozeb hay Gomi, Pysaigon, Topsin-M, Agotop Cây bị bệnh xử lý bằng Mancozeb (Dithane M45, Pencozeb), Carbendazim (Bavistin, Benzimidine)

Chú ý: Cần hạn chế gây vết thương trên cây đặc biệt là vào mùa mưa, khi khai thác chặt hạn chế gây tổn hại cho cây chưa khai thác, khi cắt tỉa cành nên dùng keo hay mỡ bò bôi kín vết cắt Có thể sử dụng Norshield 86.2 WG, 50 g/30 lít nước phun kỹ trong tán cây, cành, thân chính để phòng bệnh

2.4 Thông tin chung về Keo tai tượng

2.4.1 Phân loại khoa học

- Giới (Regnum): Thực vật (Plantate)

- Bộ (Ordo): Đậu (Fabales)

- Họ (Familia): Đậu (Fabaceae)

- Phân họ (Subfamilia): Trinh nữ (Mimosoideae)

- Chi (Genus): Keo (Acacia)

- Loài (Species): Keo tai tượng (A Mangium)

- Tên phần hai: Acacia mangium Willd

- Tên khác: Keo lá to, keo đại, keo mỡ

Trang 24

2.4.2 Đặc điểm hình thái

Keo tai tượng là loại cây gỗ lớn, chiều cao từ 7 – 30 m, đường kính từ

25 – 35 cm Thân thẳng, vỏ có màu nâu xám đến nâu, xù xì, có vết nứt dọc Tán

lá xanh quanh năm, hình trứng hoặc hình tháp, thường phân cành cao Cây mầm giai đoạn vài tháng tuổi có lá kép lông chim 2 lần, cuống lá thường dẹt gọi là lá thật, các lá ra sau là lá đơn, mọc cách, gọi là lá giả, phiến lá hình trứng hoặc trái xoan dài, đầu có mũi lồi tù Lá giả có 4 gân dọc song song nổi rõ và cũng là loại lá trưởng thành tồn tại đến hết đời của cây

- Hoa tự hình bông dài gần bằng lá, mọc lẻ hoặc tập trung 2 - 4 hoa tự ở nách lá Hoa đều lưỡng tính có màu trắng nhạt hoặc màu kem, cây 18 - 24 tháng tuổi đã có thể ra hoa nhưng ra hoa nhiều nhất vào tuổi 4 - 5, mùa hoa chính thường vào tháng 6 - 7

- Quả đậu, dẹt, mỏng, khi già khô vỏ quả cong xoắn lại Hạt hình trái xoan hơi dẹt, màu đen và bóng, vỏ dày, cứng, có dính dải màu đỏ vàng, khi chín và khô vỏ nứt hạt rơi ra mang theo giải đó hấp dẫn kiến và chim giúp phát tán hạt

đi xa hơn Một kilôgam hạt có từ 52000 - 95000 hạt

- Rễ phát triển mạnh cả rễ cọc và rễ bàng, đầu rễ cám có nhiều nốt sần chứa vi khuẩn cộng sinh có khả năng cố định đạm

2.4.3 Đặc điểm sinh thái

Keo tai tượng mọc tự nhiên ở Đông Bắc Ôxtrâylia tại các vùng Queensland, Jarđin – Claudie River, Ayton – Nam Ingham Ngoài ra còn thấy xuất hiện ở phía Đông của Inđônêxia và phía Tây Papua Niu Ghinê Toạ độ địa

lý từ 1 đến 19o vĩ Nam và 125o22′ - 146o17‘ kinh Đông, ở độ cao dưới 800 m so

với mực nước biển

Keo tai tượng thường mọc thành các quần thụ lớn không liên tục dọc theo

bờ biển, gần những khu rừng ngập mặn, cũng gặp mọc xen lẫn đồng cỏ ở ven

Trang 25

sông thuộc vùng nhiệt đới ẩm có 4 đến 6 tháng mùa khô Lượng mưa trung bình

1446 - 2970 mm, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 13 - 21oC, tháng cao nhất từ 25 - 32oC Là loài cây ưa sáng mạnh và cũng đã được nhập trồng thành công ở nhiều nước như Trung Quốc, Malaixia, Philippin, Thái Lan, Lào,…Sinh trưởng mạnh nhất ở nơi có độ cao dưới 300 m so với mực nước biển Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước được sự tài trợ của một số tổ chức quốc tế, cùng với một số loài keo vùng thấp khác, Keo tai tượng đã được đưa vào gây trồng khảo nghiệm ở một số vùng sinh thái chính của nước ta Ngày nay, bên cạnh việc nguồn giống ngày càng được cải thiện về chất lượng một phần thì diện tích trồng Keo tai tượng cũng được mở rộng ở hầu hết các tỉnh trong cả nước với khoảng 200000 ha tính đến năm 2006

Đây là loài có biên độ sinh thái rộng, thích nghi được với nhiều vùng lập địa khác nhau, có thể trồng trên đất bị xói mòn, nghèo dinh dưỡng, đất chua, bồi

tụ, đất phù sa, với độ pH từ 4 - 4,5 Cũng có thể sống được ở những vùng ngập úng, thoát nước kém Tuy nhiên ở những nơi này chúng sinh trưởng kém và thường phân cành sớm, chiều cao không quá 10 m Sinh trưởng tốt nhất là trên đất sâu, ẩm và giàu dinh dưỡng, thoáng khí và thoát nước tốt, cùng với độ pH trung tính hoặc hơi chua

2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.5.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội

2.5.1.1 Điều kiện tự nhiên

Trang 26

16 đơn vị hành chính, 14 xã và 02 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên 36.894,65

ha, trong đó đất nông nghiệp: 30.503,12 ha (Đất sản xuất nông nghiệp 13.389,86 ha; Đất lâm nghiệp 17.113,26 ha)

Phú Lương có dạng địa hình là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi cao phía Bắc và vùng đồi gò đồng bằng phía nam Độ cao giảm dần từ Tây sang Đông và

c Thổ nhưỡng

Phú Lương có ba loại đất chính: Đất fe-ra-lít vàng đỏ trên vùng thạch sét, đất fe-ra-lít vàng nhạt trên đá cát và đất nâu đỏ trên đá macmabazo và trung tính tương đối phù hợp để trồng cây công nghiệp dài ngày, chủ yếu là các cây chè, cà phê, cây ăn quả và bố trí sản xuất theo hướng Nông – Lâm kết hợp Ba loại đất này chiếm trên 50% tổng diện tích tự nhiên của huyện

d Khí hậu thủy văn

Khí hậu:

Khí hậu Phú Lương mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa nóng, lạnh rõ rệt Mùa lạnh (từ tháng 11 đến tháng 03 năm sau) nhiệt độ xuống thấp,

Trang 27

có khi xuống đến 13oC, thường xuyên có các đợt gió mùa đông bắc hanh, khô Mùa nóng (từ tháng 04 đến tháng 10 hàng năm) nhiệt độ cao, nhiều khi có mưa lớn và tập trung Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 22oC, tổng tích nhiệt khoảng 8000oC Nhiệt độ bình quân cao nhất trong mùa 27,2oC (cao nhất là tháng 7 có năm lên tới 28oC- 29oC) Nhiệt độ bình quân thấp nhất trong mùa lạnh là 20oC (thấp nhất là tháng 01: 15,6oC) Số giờ nắng trung bình 1 năm là 1.628 giờ, năng lượng bức xạ khoảng 115 kcallo/cm2

Thủy văn

Lượng mưa trung bình ở Phú Lương từ 2000 đến 2100 mm/năm Từ tháng

4 đến tháng 10 hàng năm, mưa nhiều, chiếm trên 90% tổng lượng mưa của cả năm Tháng 7 có lượng mưa lớn nhất (bình quân từ 410 mm đến 420 mm/tháng)

và có số ngày mưa nhiều nhất (từ 17 – 18 ngày/tháng) Tháng 11 và tháng 12 ít mưa, lượng mưa chỉ khoảng 24 – 25 mm/tháng và mỗi tháng chỉ có khoảng 8 đến 10 ngày mưa Năm 1960, Phú Lương có lượng mưa cao nhất (3.008,3 mm) Năm 1985 có lượng thấp nhất (977 mm) Lượng bốc hơi trung bình hàng năm ở Phú Lương 985,5 mm, mùa lạnh lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa, độ ẩm (k) dưới 0,5 nên thường xuyên xảy ra khô hạn

Phú Lương có mật độ sông, suối bình quân 0,2 km/km2, trữ lượng nước cao, phân bổ tương đối đều ở các xã trong huyện, thuận lợi cho phát triển thủy lợi, đủ nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư toàn huyện

Sông Phú Lương (nay sông Cầu) là sông lớn nhất chảy trên địa bàn Phú Lương với tổng chiều dài 17 km, chảy qua các xã Phú Đô, Tức Tranh, Vô Tranh, Sơn Cẩm; là nguồn cung cấp nước chủ yếu đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt cho các xã phía Nam của huyện Dưới thời thuộc Pháp, sông Cầu là tuyến giao thông thủy lợi quan trọng của huyện Phú Lương và của tỉnh Thái Nguyên

Ngày đăng: 23/04/2019, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w