1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tại đội sản xuất xã Phúc Tân – thị xã Phổ Yên thuộc công ty Lâm Nghiệp Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)

52 75 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện quy trình, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tại đội sản xuất xã Phúc Tân – thị xã Phổ Yên thuộc công ty Lâm Nghiệp Thái NguyênThực hiện quy trình, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tại đội sản xuất xã Phúc Tân – thị xã Phổ Yên thuộc công ty Lâm Nghiệp Thái NguyênThực hiện quy trình, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tại đội sản xuất xã Phúc Tân – thị xã Phổ Yên thuộc công ty Lâm Nghiệp Thái NguyênThực hiện quy trình, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tại đội sản xuất xã Phúc Tân – thị xã Phổ Yên thuộc công ty Lâm Nghiệp Thái NguyênThực hiện quy trình, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tại đội sản xuất xã Phúc Tân – thị xã Phổ Yên thuộc công ty Lâm Nghiệp Thái NguyênThực hiện quy trình, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tại đội sản xuất xã Phúc Tân – thị xã Phổ Yên thuộc công ty Lâm Nghiệp Thái NguyênThực hiện quy trình, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tại đội sản xuất xã Phúc Tân – thị xã Phổ Yên thuộc công ty Lâm Nghiệp Thái NguyênThực hiện quy trình, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tại đội sản xuất xã Phúc Tân – thị xã Phổ Yên thuộc công ty Lâm Nghiệp Thái NguyênThực hiện quy trình, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tại đội sản xuất xã Phúc Tân – thị xã Phổ Yên thuộc công ty Lâm Nghiệp Thái Nguyên

Trang 1

-

HOÀNG TRƯỜNG GIANG

THỰC HIỆN QUY TRÌNH TRỒNG, CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ RỪNG TRỒNG TẠI ĐỘI SẢN XUẤT XÃ PHÚC TÂN - THỊ XÃ PHỔ YÊN

THUỘC CÔNG TY LÂM NGHIỆP - THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Khóa học : 2014 – 2018

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

HOÀNG TRƯỜNG GIANG

THỰC HIỆN QUY TRÌNH TRỒNG, CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ RỪNG TRỒNG TẠI ĐỘI SẢN XUẤT XÃ PHÚC TÂN - THỊ XÃ PHỔ YÊN

THUỘC CÔNG TY LÂM NGHIỆP - THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản Lý Tài Nguyên Rừng

Khóa học : 2014 – 2018 Giảng viên hướng dẫn: TS Đàm Văn Vinh

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trên tài liệu nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm

ơn và thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018

Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước

TS Đàm Văn Vinh Hoàng Trường Giang

Xác nhận của giáo viên chấm phản biện

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót

sau khi hội đồng chấm yêu cầu

(Ký, ghi rõ họ tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học được

sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp

tôi đã thực hiện đề tài “ Thực hiện quy trình, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tại đội sản xuất xã Phúc Tân – thị xã Phổ Yên thuộc công ty Lâm Nghiệp - Thái Nguyên ”

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên TS Đàm Văn Vinh đã tận tình hướng dẫn tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các bác, các cô, các chú đang công tác tại Công ty Lâm Nghiệp Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc hướng dẫn, cung cấp các thông tin,tài liệu cho tôi để thực hiện đề tài của mình trong suốt thời gian qua

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã hết long động viên và giúp đỡ tạo điều kiện về mặt vật chất và tinh thần cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng đề tài của tôi không thể trách khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn để

đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Thái nguyên, ngày…tháng…năm 2018

Sinh viên thực hiện

Hoàng Trường Giang

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Khảo sát các yếu tố tự nhiên 26 Bảng 4.2: Các kỹ thuật trồng rừng và các nội dung chăm sóc bảo vệ rừng 27 Bảng 4.3: Dự toán chi phí trồng và chăm sóc, bảo vệ rừng năm thứ nhất Loài cây:

Keo lai hom; mật độ 1.333 cây/ha 29 Bảng 4.4 Tổng diện tích thiết kế trồng rừng của xã Phúc Tân năm 2017 30 Bảng 4.5 Tổng dự toán chi phí ban đầu trồng rừng tại đội số 1- xã Phúc Tân năm

2017 30 Bảng 4.6: Kết quả đánh giá tỷ lệ sống sau trồng rừng (3 tháng) theo dự án xã Phúc

Tân năm 2017 36 Bảng 4.7 : Biểu tổng hợp kết quả trồng rừng theo dự án của xã Phúc Tân năm 2017 37

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Xử lý thực bì 31

Hình 4.2: Cuốc hố 31

Hình 4.3: Đo tiểu chuẩn cây xuất vườn (keo lai hom) 32

Hình 4.4 Tiến hành trồng 33

Hình 4.5 Phát thực bì, gỡ bỏ dây leo 34

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu 3

1.2.1 Mục tiêu 3

1.2.2 Yêu cầu 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 10

2.2 Tổng quan về cơ sở thực tập 19

2.2.1 Điều kiện tự nhiên 19

2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 20

Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 23

3.1 Đối tượng, thời gian và phạm vi thực hiện 23

3.2 Nội dung 23

3.3 Phương pháp và các bước thực hiện 23

3.3.1 Kế thừa có chọn lọc 23

3.3.2 Nội dung thực hiện 23

Phần 4 KẾT QUẢ THỰC HIỆN VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Điều tra, khảo sát hiện trạng, khu vực trồng 26

4.1.1 Điều tra, khảo hiện trạng 26

4.1.2 Các biện pháp kỹ thuật trồng rừng 27

Trang 8

4.1.3 Dự tính chi phí trồng rừng và chăm sóc rừng năm đầu 29

4.2 Thực hiện quy trình trồng và chăm sóc bảo vệ sau khi trồng 30

4.2.1 Xử lý thực bì 30

4.2.2 Kỹ thuật làm đất 31

4.2.3 Kỹ thuật trồng 32

4.2.4 Kỹ thuật chăm sóc và bảo vệ sau khi trồng 33

Rừng được chăm sóc trong 3 năm đầu 33

4.3 Theo dõi sinh trưởng và chất lượng cây con sau khi trồng 35

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38

5.1 Kết luận 38

5.2 Đề nghị 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39 PHỤ LỤC

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài

Tính đến ngày 31/12/2016, diện tích rừng toàn quốc hiện có 14.377.682ha, trong đó rừng tự nhiên là 10.242.141ha và rừng trồng là 4.135.541ha Diện tích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ toàn quốc là 13.631.934ha, độ che phủ tương ứng là 41,19% (Bộ NN&PTNT, 2017) [1] Tuy diện tích rừng và độ che phủ của rừng đã tăng lên đáng kể nhưng chất lượng rừng vẫn còn rất thấp Hầu hết diện tích rừng tự nhiên là rừng trung bình và rừng nghèo, không còn khả năng đáp ứng được nhu cầu sản xuất hiện nay Đặc biệt là rừng trồng trong những năm vừa qua năng suất đã nâng lên gần 20m3/ha/năm nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nguyên liệu cho nhu cầu sản xuất của xã hội

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT, hiện nay cả nước có hơn 1,4 triệu ha rừng trồng có khả năng cung cấp một lượng gỗ khoảng 30,6 triệu m3 Tuy nhiên, lượng gỗ này chủ yếu chỉ phục vụ cho ngành chế biến giấy và gỗ ván sàn Phần lớn gỗ dùng để chế biến các sản phẩm đồ mộc, đặc biệt là đồ mộc gia dụng và đồ mỹ nghệ vẫn phải nhập khẩu Mặc dù, năm

2016 kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt sấp xỉ 7 tỷ USD tăng 1,1 so với năm 2015 Trong đó sản phẩm gỗ đạt 5,12 tỷ USD tăng 7,1 so với năm 2015, chiếm 73,6 % tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm

gỗ năm 2016 Nhưng chi phí nhập khẩu gỗ nguyên liệu, phụ kiện sử dụng cho ngành công nghiệp chế biến gỗ đã lên tới trên 1,84 tỷ USD (Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, 2016) [17]

Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã đề

ra mục tiêu xuất khẩu sản phẩm gỗ đến năm 2020 phải đạt trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ và 0,8 tỷ USD sản phẩm lâm sản ngoài gỗ)

Trang 10

Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của kinh ngạch xuất khẩu gỗ vào khoảng trên 30%/năm Con số này cho thấy nhu cầu nguồn nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tăng mạnh từ nay đến năm 2010 và đến năm 2020 Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, nhu cầu gỗ cho xây dựng và các nhu cầu khác trên thị trường nội địa cũng được dự báo sẽ liên tục tăng Để đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng tăng của xã hội, ngành Lâm nghiệp đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp lựa chọn các loài cây mọc nhanh và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng

Tại tỉnh Thái Nguyên, trong những năm qua công tác trồng rừng đã được các cấp chính quyền và người dân quan tâm nhiều hơn, diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể, đặc biệt là rừng sản xuất Tính đến ngày 31/12/2017 toàn tỉnh có 186.924 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là 76.486 ha, rừng trồng 110.438 ha, độ che phủ đạt 46,33% Sản phẩm khai thác từ rừng gồm: Gỗ 171.089 m3 (Gỗ tự nhiên 3.78 m3, Gỗ rừng trồng 167.331 m3); củi 236.423 ste; luồng, vầu, tre 1,736 tiệu cây, nứa 2.974 cây, nhựa thông 4 tấn, lá cọ 1,587 triệu lá Diện tích trồng rừng mới toàn tỉnh là 7.400 ha Lượng lâm sản này một phần phục vụ cho nhu cầu sử dụng của người dân trong vùng, phần còn lại cung cấp nguyên liệu cho Công ty ván dăm Thái Nguyên và Nhà máy giấy Bãi Bằng Trong những năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên đã có chủ trương đẩy mạnh công tác trồng rừng sản xuất và loài cây trồng chính được lựa chọn là cây Keo lai và Keo tai tượng Mặc dù phần lớn diện tích đất trồng rừng sản xuất là 2 cây trồng trên, nhưng lượng tăng trưởng bình quân rất thấp không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu về gỗ nguyên liệu.Do đó, cần phải nâng cao được năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng Để đáp ứng được các yêu cầu trên cần phải lựa chọn giống tốt, điều kiện lập địa và áp dụng các biện pháp

kỹ thuật để chăm sóc bảo về rừng sau khi trồng để tăng năng suất chất lượng

Trang 11

rừng Vì vậy, tôi thực hiện đề tài “Thực hiện quy trình trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tại đội sản xuất xã Phúc Tân - huyện Sông Công Thuộc Công Ty Lâm Nghiệp - tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu

1.2.1 Mục tiêu

Tìm hiểu được quy trình trồng và chăm sóc bảo vệ rừng tại công ty Lâm Nghiệp Thái Nguyên

1.2.2 Yêu cầu

- Tham gia thực hiện trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng sau khi trồng

- Thực hiện trình tự các bước cơ bản quy trình về trồng rừng từ xử lý thực

bì, làm đất bón phân, chọn loài cây và mật độ trồng rừng, thời vụ, kĩ thuật trồng rừng, trồng dặm

- Các yêu cầu về kĩ thuật chăm sóc bảo vệ rừng sau khi trồng để đạt được năng suất cao nhất

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

2.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Việc trồng và chăm sóc rừng là một nghiên cứu khoa học rất quan trọng trong việc đảm bảo năng suất và chất lượng rừng nên các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề như: điều kiện lập địa,các biện pháp kỹ thuật lâm sinh,khả năng tăng trưởng và sản lượng, sâu bệnh Có thể nói cho đến nay cơ sở khoa học cho việc phát triển trồng rừng sản xuất ở các nước trên thế giới đã được hoàn thiện, tương đối ổn định và đi vào phục vụ sản xuất lâm nghiệp trong nhiều năm qua

2.1.1.1 Những nghiên cứu về cây Keo Lai (Acacia mangium xAcacia auriculiformis)

Keo lai là tên gọi tắt của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia

mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) Giống Keo lai tự nhiên

này được phát hiện đầu tiên bởi Messir Herbern và Shim vào năm 1972 trong số các cây Keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah, Malaysia Năm 1976, M.Tham đã kết luận thông qua việc thụ phấn chéo giữa Keo Tai tượng và Keo lá tràm tạo ra cây Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn giống bố mẹ Đến tháng 7 năm 1978, kết luận trên cũng

đã được Pedley xác nhận sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland - Australia (Lê Đình Khả, 1999) [11] Ngoài ra, Keo lai tự nhiên còn được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Gun và cộng sự, 1987, Griffin, 1988), ở một số nơi khác tại Sabah (Rufelds, 1987) và Ulu Kukut (Darus và Rasip, 1989) của Malaysia, ở Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của Thái Lan (Kijkar, 1992) Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá tràm đã được phát

Trang 13

hiện ở cả rừng tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số đặc tính vượt trội so với bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục với đoạn thân dưới cành lớn (Lê Đình Khả và CS, 1999) [11]

Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Rufelds (1988); Gan.E và Sim Boom Liang (1991) các tác giả đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo tai tượng nhưng muộn hơn Keo lá tràm Ở cây con lá giả đầu tiên của Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4-5, Keo tai tượng thường xuất hiện ở lá thứ 8-9 còn ở Keo lai thì thường xuất hiện ở lá thứ 5-6 Bên cạnh đó là sự phát hiện về tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở các bộ phận sinh sản

Theo nghiên cứu của Rufeld (1987) [22] thì không tìm thấy một sự sai khác nào đáng kể của Keo lai so với các loài bố mẹ Các tính trạng của chúng đều thể hiện tính trung gian giữa hai loài bố mẹ mà không có ưu thế lai thật sự Tác giả đã chỉ ra rằng Keo lai hơn Keo tai tượng về độ tròn đều của thân, có đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành tự nhiên khá hơn Keo tai tượng, song độ thẳng thân, hình dạng tán lá và chiều cao dưới cành lại kém hơn Keo tai tượng Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Pinso Cyril và Robert Nasi (1991), thì trong nhiều trường hợp cây Keo lai có xuất xứ ở Sabah vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng Về ưu thế lai thì có thể có nhưng không bắt buộc vì có thể bị ảnh hưởng của cả 02 yếu

tố di truyền lẫn điều kiện lập địa Nghiên cứu cũng cho thấy rằng sinh trưởng của Keo lai tự nhiên đời F1 là tốt hơn, còn từ đời F2 trở đi cây sinh trưởng không đồng đều và trị số trung bình còn kém hơn cả Keo tai tượng Khi đánh giá về các chỉ tiêu chất lượng của cây Keo lai, Pinso và Nasi (1991) thấy rằng độ thẳng của thân, đoạn thân dưới cành, độ tròn đều

Trang 14

của thân,…đều tốt hơn giống bố mẹ và cho rằng Keo lai rất phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại

2.1.1.2 Những kết quả nghiên cứu về điều kiện lập địa

Tập hợp các kết quả nghiên cứu trên các nước vùng nhiệt đới, tổ chức Nông lương Quốc tế (FAO,1984) đã chỉ ra khả năng sinh trưởng của rừng trồng,đặc biệt là rừng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc vào mấy yếu tố sau: khí hậu,địa hình,loại đất và hiện trạng thực bì Điển hình là các kết quả nghiên cứu của Laurie (1974), Julian Evans (1974) và (1992), Pandey (1983), Golcalves J.L.M và cộng sự (2004)

Theo nghiên cứu của Laurie (1974), Julian Evans (1974 và 1992) nghiên cứu đặc điểm ở Châu Phi cho rằng đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về

độ dày tầng đất, cấu trúc vật lý đất, hàm lượng các chất dinh dưỡng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối Vì vậy, khả năng sinh trưởng của rừng trồng trên các loại đất khác nhau cũng khác nhau Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông P.patula ở Swaziland, Evans (1974) Đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài cây này có quan hệ chặt với các yếu tố địa hình và đất đai

Theo nghiên cứu của Pandey D (1983) [21] việc khảo sát rừng trồng ở các điều kiện lập địa khác nhau đã cho thấy loài Bạch đàn Eucalyptus camaldulensis được trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau đã cho thấy: nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm thì năng suất chỉ đạt từ 5-10m3/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất

có thể đạt tới 30m3/ha/năm Như vậy, lại một lần nữa khẳng định điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau

Khi nghiên cứu về sản lượng trồng Bạch đàn ở Brazil, Golcalves J.L.M

và cộng sự (2004) [19] cho rằng năng suất rừng trồng là sự kết hợp thích hợp giữa kiểu gen với điều kiện lập địa và kỹ thuật canh tác Ngoài ra, tác giả còn

Trang 15

cho thấy giới hạn của sản lượng rừng có liên quan đến các yếu tố môi trường theo thứ tự múc độ quan trọng sau đây: Nước > dinh dưỡng > độ sâu tầng đất

Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy việc xác định vùng trồng và điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết và đây cũng chính

là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng của rừng trồng

2.1.1.3 Những nghiên cứu về lâm sinh

Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đặc biệt là ở những nơi đất xấu Trên thế giới, việc áp dụng bón phân cho rừng trồng bắt đầu từ những năm 1950 Trong vòng 1 thập kỷ, diện tích rừng được bón phân

đã tăng lên 100.000 ha/năm ở Nhật Bản, Thụy Điển và Phần Lan Đến năm

1980, diện tích rừng được bón phân trên thế giới đã đạt gần 10 triệu ha

Về vấn đề này đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm và đi sâu nghiên cứu, điển hình là công trình nghiên cứu của (Mello,1976) [20] ở Brazin Tác giả cho thấy Bạch đàn (Eucalyptus) sinh trưởng khá tốt ở công thức không phân bón, nếu phân bón phân NPK thì năng suất rừng trồng tăng lên trên 50% Mật độ trồng rừng ban đầu cũng là một trong những biện pháp

kỹ thuật lâm sinh quan trọng ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Đối với mỗi dạng lập địa, mỗi cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh khác rừng đều có cách sắp xếp khác nhau

Những kết quả nghiên cứu trên, một lần nữa đã khẳng định bón phân cho rừng trồng mang lại những hiệu quả rõ rệt: Nâng cao tỷ lệ sống, tăng sức

đề kháng của cây đối với các điều kiện bất lợi của môi trường, tăng sinh trưởng, nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm rừng trồng

Trang 16

Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình là các công trình nghiên cứu của tác giả sau:

Julian Evans (1992) [18] khi nghiên cứu mật độ rừng trồng cho Bạch đàn

E Deglupta ở Papua New Guinea đã bố trí 4 công thức có mật độ khác nhau (2.985 cây/ha; 1.680 cây/ha; 1.075 cây/ha và 750 cây/ha), số liệu thu được sau

5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm dần của mật độ, nhưng tổng diện tích ngang lại tăng theo chiều của mật độ, điều này có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp Tuy lượng tăng trưởng về đường kính cao hơn, nhưng trữ lượng gỗ cây đứng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng ở mật độ cao Trong một nghiên cứu khác với cây Thông P caribeae ở Quensland – Australia, tác giả cũng đã thí nghiệm với 5 công thức mật độ khác độ khác nhau (2.200 cây/ha; 1.680 cây/ha; 1.075 cây/ha và 750 cây/ha), sau hơn 9 năm trồng cũng thu được kết quả tương tự Nhưng ở các công thức trồng mật độ thấp (750 cây/ha – 1.075 cây/ha) có đường kính trung bình đạt từ 20,1 – 20,9cm, số cây đạt đường kính (D1.3)> 10cm chiếm 84%- 86% Ở công thức mật độ cao đường kính chỉ đạt 16,6 – 17,8cm, số cây có đường kính (D1.3)>10cm chỉ chiếm 71% - 76%

Từ các kết nghiên cứu trên cho thấy mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì vậy cần căn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho phù hợp

2.1.1.4 Nghiên cứu về chính sách và thị trường

Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất chính là hiệu quả về kinh tế Sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài Đồng thời, phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ áp dụng đối với người dân Theo nghiên cứu của (Thomas

và patrick B Durst, 2004) [23] để phát triển trồng rừng sản xuất đạt hiệu quả

Trang 17

kinh tế cao, ngoài sự đầu tư tập trung về kinh tế và kỹ thuật còn phải chú ý nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường Nhận biết được 2 vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất này nên tại các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Canada, nghiên cứu về kinh

tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Trên quan điểm “thị trường là chìa khoá của quá trình sản xuất” các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá

Trên quan điểm về sở hữu rừng trồng có thể phân theo các hình thức sở hữu sau:

- Sở hữu công cộng hay sở hữu Nhà nước

- Sở hữu tư nhân: Rừng trồng thuộc hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các nhà máy chế biến gỗ

- Sở hữu tập thể: Rừng trồng thuộc các tổ chức xã hội

Dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua Liu Jinlong đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát triển trồng rừng như:

+ Rừng và đất rừng được tư nhân hóa

+ Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của nhà nước

+ Giảm thuế đánh vào các lâm sản

+ Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng

+ Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng rừng

Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ khâu quản lý chung về vấn đề đất đai, thuế và cả mỗi quan hệ giữa doanh nghiệp và người

Trang 18

dân Có thể nói đây không chỉ là những đòn đẩy thúc đẩy tư nhân tham gia trồng rừng mà còn gợi ý những định hướng quan trọng cho phát triển rừng trồng sản xuất tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Qua những nghiên cứu trên các tác giả cho biết hiện nay có 3 vấn đề quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các quốc gia Đông Nam Á chính là:

+ Quy định rõ ràng về quyền sử hữu đất

+ Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ trồng rừng

+ Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân

Đây cũng chính là vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam

đã và đang giải quyết để thu hút nhiều thành phần tham gia trồng rừng sản xuất, đặc biệt là nguồn vốn, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho trồng rừng

Vì vậy, để phát triển trồng rừng sản xuất có hiệu quả kinh tế cao là trồng rừng cung cấp nguyên cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình thức tổ chức kinh doanh sản xuất rừng trồng

2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ngành Lâm nghiệp nước ta đã có những bước tiến đáng kể trong những năm qua Cùng với những đổi mới về công tác quản lý, hoạt động nghiên cứu khoa học về xây dựng và phát triển rừng cũng rất được quan tâm Các chương trình, dự án trồng rừng với quy mô lớn được thực hiện trên khắp cả nước với nhiều mô hình rừng trồng sản xuất được thiết lập, nhiều biện pháp kỹ thuật đã được đúc rút xây dựng thành quy trình, quy phạm, phục vụ đắc lực cho công tác trồng rừng trong đó có trồng rừng sản xuất Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu, đánh giá liên quan tới trồng rừng ở nước ta thuộc các lĩnh vực sau đây :

Trang 19

2.1.2.1 Đặc điểm của cây Keo

Ở Việt Nam, cây Keo lai tự nhiên được Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn

và các cộng sự thuộc Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (RCFTI) phát hiện đầu tiên tại Ba Vì (Hà Tây cũ) và vùng Đông Nam Bộ vào năm 1992 Tiếp theo đó, từ năm 1993 cho đến nay Lê Đình Khả và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về cải thiện giống cây Keo lai, đồng thời đưa vào khảo nghiệm một số giống Keo lai có năng suất cao tại Ba Vì (Hà Tây cũ) được

ký hiệu là BV; Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh cũng chọn lọc một số dòng được ký hiệu là KL

Lê Đình Khả và các cộng sự (1997, 1999, 2006) [10,11,9] khi nghiên cứu về các đặc trưng hình thái và ưu thế lai của Keo lai đã kết luận Keo lai có tỷ trọng gỗ và nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa hai loài bố mẹ Keo lai có ưu thế lai về sinh trưởng so với Keo tai tượng và Keo lá tràm, điều tra sinh trưởng tại rừng trồng khảo nghiệm 4,5 năm tuổi

ở Ba Vì (Hà Tây cũ) cho thấy Keo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo tai tượng từ 1,2 - 1,6 lần về chiều cao và từ 1,3 - 1,8 lần về đường kính, gấp 2 lần về thể tích Tại Sông Mây (Đồng Nai) ở rừng trồng sau 3 năm tuổi Keo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo lá tràm 1,3 lần về chiều cao; 1,5 lần về đường kính Một số dòng vừa có sinh trưởng nhanh vừa có các chỉ tiêu chất lượng tốt đã được công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật là các dòng BV5, BV10, BV16, BV32, BV33 Khi nghiên cứu sự thoái hóa và phân ly của cây Keo lai, (Lê Đình Khả ,1997) [10] đã khẳng định: Không nên dùng hạt của cây Keo lai để gây trồng rừng mới Keo lai đời F1 có hình thái trung gian giữa hai loài bố mẹ và tương đối đồng nhất, đến đời F2 Keo lai có biểu hiện thoái hóa và phân ly khá rõ rệt, cây lai F2 sinh trưởng kém hơn cây lai F1 và có biến động lớn về sinh trưởng Do đó, để phát triển giống Keo lai vào sản xuất thì phải dùng phương pháp nhân giống bằng hom hoặc nuôi cấy

Trang 20

mô từ những dòng Keo lai tốt nhất đã được công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật

Đoàn Thị Mai (1997) [12] thông báo kết qảu nhân giống một số dòng keo lai bằng kỹ thuật nuôi cấy mô, cũng cho kết quả tương tự như tác giả

Lê Đình Khả và Cs (1999) [11] nốt sần và khả năng cải tạo đất của cây keo lai đã thong báo kết quả ở giai đoạn 3 tháng tuổi, số lượng và khối lượng nốt sần trên rễ của cây keo lai gấp 3-10 lần các loài keo bố, mẹ Một số khác

có tính chất trung gian

Dưới tán rừng 5 tuổi số tế bào vi sinh vật và vi khuẩn cố định đạm trong 1 gam đất dưới tán rừng keo lai cao hơn rõ rệt so với keo lai bố, mẹ Đất dưới tán rừng keo lai được cải thiện hơn đất dưới tán rừng keo của bố, mẹ

2.1.2.2 Nghiên cứu về điều kiện lập địa

Nghiên cứu điều kiện lập địa tức là nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng sinh trưởng của thực vật rừng với các yếu tố của môi trường thông qua khí hậu,địa hình, đất đai Xác định lập địa nghĩa là tìm hiểu các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng và quyết định tới sự hình thành các kiểu quần thể thực vật khác nhau và năng suất sinh trưởng của chúng (Ngô Quang Đê và cộng sự, 2001) [3] Đề cập đến vấn đề này, tại Việt Nam đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu, điển hình là các công trình nghiên cứu của (Đỗ Đình Sâm và cộng sự 1994) [14] khi đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ, các tác giả đã căn cứ vào 3 nội dung cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau đó là đơn vị sử dụng đất, tiềm năng sản xuất của đất và độ thích hợp của cây trồng Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng vùng Đông Nam

Bộ có tiềm năng sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khá lớn, diện tích đất thích hợp để phát triển các loài cây lâm nghiệp chiếm từ 70-80%, đặc biệt

là các loài cây cung cấp gỗ nguyên liệu công nghiệp như một số loài Bạch đàn và Keo

Trang 21

Ngoài ra, vùng Đông Nam Bộ còn thích hợp để trồng rừng sản xuất gỗ lớn như : Tếch, Sao và Dầu nước Khi nghiên cứu tiêu chuẩn phân chia lập địa cho rừng trồng cây công nghiệp tại một số vùng sinh thái ở Việt Nam, cũng đã nhận định có 4 yếu tố ảnh hưởng khả năng sinh trưởng của rừng trồng công nghiệp, bao gồm : 1) đá mẹ và các loại đất; 2) độ dày tầng đất và

tỷ lệ đá lẫn; 3) độ dốc; 4) thảm thực vật chỉ thị

Khi nghiên cứu phương pháp đánh giá về sản lượng rừng trồng Keo lai

ở vùng Đông Nam Bộ, (Phạm Thế Dũng và Hồ Văn Phúc, 2004) [2] đã chỉ ra rằng Keo lai cho năng suất khác nhau trên các điều kiện lập địa khác nhau Sau 7 năm trồng, năng suất cao nhất đạt 33m3/ha/năm trên đất feralit đỏ vàng nền Sa thạch ở trạm Phú Bình, sau 6 năm trồng chỉ đạt 25m3/ha/năm trên đất xám nền Phù sa cổ ở trạm Bầu Bàng Như vậy, trên các loại đất khác nhau thì khả năng sinh trưởng cũng khác nhau, mặc dù được áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh như nhau nhưng trên đất feralit đỏ vàng Keo lai sinh trưởng tốt hơn trên đất xám phù sa cổ

Để xác định điều kiện lập địa thích hợp cho mỗi loài cây trồng là một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao năng suất rừng trồng

2.1.2.3 Nghiên cứu cải thiện giống

Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm canh Không có giống được cải thiện theo mục đích kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao Trong thực tế đã cho thấy, cây rừng nói chung nếu chọn được giống tốt thì sản lượng gỗ có thể tăng từ 10-20%, có khi tăng tới 30% so với giống bình thường Đối với giống lai đã được chọn lọc của các loài cây mọc nhanh có thể tăng từ 50-100% sản lượng gỗ so với giống bố mẹ

Vì vậy, cải thiện giống cây rừng là nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác Năm 1993, Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã có Quyết định ban hành "Qui phạm xây

Trang 22

dựng rừng giống và vườn giống", "Qui phạm xây dựng rừng giống chuyển hóa", trong đó qui định rõ các tiêu chuẩn về chọn lọc xuất xứ giống và cây giống cũng như các phương thức khảo nghiệm giống và xây dựng rừng giống, vườn giống (Lê Đình Khả, 1997) [10]

Từ năm 1980 trở lại đây hoạt động cải thiện giống cây rừng mới được đẩy mạnh trong cả nước Các hoạt động trong thời gian đầu chủ yếu là khảo nghiệm loài và xuất xứ các loài cây trồng rừng chủ yếu ở một số vùng sinh thái chính trong nước như Bạch đàn, Keo, Phi lao…Vào đầu những năm

1990, việc phát hiện ra giống Keo lai tự nhiên giữa Keo lá tràm và Keo tai tượng đã thúc đẩy các hoạt động khảo nghiệm chọn lọc nhân tạo và nhân giống vô tính phát triển Trong những năm gần đây, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Trung tâm phát triển lâm nghiệp Phù Ninh thuộc tổng công ty Giấy Việt Nam cùng một số cơ

sở nghiên cứu lâm nghiệp các tỉnh đã nghiên cứu thành công lai giống nhân tạo cho các loài Keo, Bạch đàn và Thông (Lê Đình Khả, 1999) [11] Trong khoảng hơn 10 năm gần đây, công tác nghiên cứu cải thiện giống đã đạt được những thành tựu đáng kể Từ khảo nghiệm hàng chục giống Keo lai đã có 4 dòng có năng suất cao và thích hợp với nhiều vùng sinh thái đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia

là BV10; BV16; BV32; BV33 (Lê Đình Khả, 1999) [11] Gần đây một số dòng khác cũng đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống tiến bộ

kỹ thuật là BV71; BV73; BV75; TB3; TB5; TB6; TB12; BT1; BT7; BT11; KL2; KL20; KLTA3 (Lê Đình Khả, 1999) [11]

Lai giống nhân tạo giữa các cây trội đã được chọn lọc từ các xuất xứ có triển vọng nhất của Keo tai tượng và Keo lá tràm cùng một số dòng Keo lai tự nhiên như BV10, BV16, BV32, BV33 đã được thực hiện trong các năm 1997-

1999 tại Ba Vì (Hà Tây cũ), từ thụ phấn có kiểm soát đã thu được 10 tổ hợp

Trang 23

lai đầu tiên Những tổ hợp lai này có sinh trưởng tương đối nhanh, có thân cây

thẳng, cành nhánh nhỏ, ngọn phát triển tốt, đây chính là cơ sở khoa học làm tiền đề để phát triển gỗ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong nước cũng như xuất khẩu trong những năm tới (Lê Đình Khả, 1999) [11]

2.1.2.4 Những nghiên cứu về trồng rừng nguyên liệu công nghiệp

Ở Việt Nam, trong những thập kỷ vừa qua, vấn đề trồng rừng và kinh doanh rừng trồng ngày càng được quan tâm Bên cạnh những cây bản địa được gây trồng thành công như: mỡ, tre luồng, thông nhựa thì một số loài cây mọc nhanh như : keo, bạch đàn, với nhiều xuất xứ cũng được tham gia vào cơ cấu cây trồng trong lâm nghiệp

Trồng rừng công nghiệp đã có nhiều tác giả nghiên cứu Những năm

1992 - 1995, trong khuôn khổ của chương trình KN03 - 03 năm 2001, (Hoàng Xuân Tý và cs ) [15] và các cộng sự đã tiến hành đề tài KN03 - 13 “Nâng cao công nghệ thâm canh rừng trồng (Keo, Bạch đàn), sử dụng cây họ đậu để cải tạo đất và nâng cao sản lượng rừng ở vùng Đông Nam Bộ” Nhóm tác giả đã

đề ra một tổ hợp phân hữu cơ vi sinh để bón lót hữu hiệu cho bạch đàn ở vùng Sông Bé gồm: 25 gam urê + 50 gam Supe lân + 10 gam KCL + 100 đến 200 gam than bùn đã hoạt hoá Công thức cho bón thúc là 75 gam urê + 125 gam Supelân Các tác giả cũng kiến nghị không nên trồng mật độ thưa 1111 cây /ha vì tán quá thưa, tạo điều kiện cho cỏ Mỹ phát triển, không có lợi cho sinh trưởng của cây trồng và tốn công làm cỏ Với hai loài keo tai tượng và keo lá tràm, nhóm tác giả cũng đưa ra kết luận, công thức bón phân tốt nhất cho bón lót là 100 gam NPK + 160 gam than bùn hoặc 100gam NPK + 100 gam than bùn + Bo + Zn ở mật độ 1666 cây/ha, cả hai loài keo cho năng suất cao nhất sau 40 tháng Bằng cách tính toán giá thành phân bón và công chăm sóc, các tác giả cũng đã bắt đầu tính toán hiêu quả kinh tế của việc làm đất và bón

Trang 24

phân và đi đến nhận định là, nếu bón phân có thể thu lợi từ 498.000đ/ha đến 870.000đ/ha sau thời gian 40 tháng

Mai Đình Hồng (2002) [4] nghiên cứu sinh trưởng của các dòng Bạch đàn chọn lọc PN2, PN14 trong trồng rừng sản xuất, phục vụ nguyên liệu giấy vùng trung tâm, đã thông báo kết quả sinh trưởng của bạch đàn urophylla ở các lập địa khác nhau rất khác nhau, trữ lượng cây đứng sau sáu năm ở hai khu vực vạn xuân thuộc Huyện Tam Nông Phú Thọ là 123 m3 /ha và khu vực Huyện Đoan Hùng, Phú Thọ là 155m3 /ha Sinh trưởng ở vùng trồng khác nhau cũng khác nhau rất lớn, rừng trồng sau 3 năm tuổi ở vùng Hữu Lũng - Lạng Sơn là 104 m3/ha, ở Đoan Hùng, Phú Thọ là 75 m3/ha, còn ở Vạn xuân chỉ là 66m3 /ha Khi phân tích kinh tế rừng trồng thâm canh, tác giả cho rằng vay vốn để trồng rừng nguyên liệu công nghiệp với lãi suất 0,54% trên tháng, thì tiền lãi vay phải trả là 6.273.000 đồng/chu kỳ 8 năm, khi khai thác rừng đạt 89 m3 gỗ thương phẩm/8 năm thì hoà vốn, nếu năng suất đạt 130 m3 gỗ thương phẩm (tương ứng 160 m3 trữ lượng cây đứng, tức là tăng trưởng bình quân 20 m3/ha/năm) thì có lãi 8.100.000 đồng/ha Chính phủ chỉ đạo nhà máy phải gắn chặt với vùng nguyên liệu để giá mua nguyên liệu cho người sản xuất được cao hơn Nếu giá cây nguyên liệu giấy được cải thiện thì hiệu quả rừng trồng còn cao hơn nữa

Đoàn Thị Mai (1997) [12] đã đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất canh tác trong lâm nghiệp và vùng nguyên liệu giấy Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng suất rừng trồng công nghiệp và lập địa gây trồng có quan hệ mật thiết với nhau Tác giả đã dựa vào độ dốc, thực bì đặc trưng và độ sâu tầng đất để phân dạng lập địa trồng rừng keo tai tượng ở vùng trung tâm thành 5 dạng, đánh giá sinh trưởng của keo tai tượng, 8 tuổi, mật độ từ 930 - 1100 cây /ha trên các dạng lập địa

Trang 25

Trong khi đó ở Đông Nam Bộ, điều tra năng suất rừng trồng keo tai tượng cũng nhận thấy, độ dầy tầng đất và loại đất có ảnh hưởng lớn tới năng suất rừng Ở Bầu Bàng trên đất xám, tầng đất dày năng suất rừng 8 tuổi, mật

độ 1600 cây/ha, đạt 16-22 m3/ha/năm, còn ở Sông Mây, đất mỏng lớp hơn, trên phiến sét năng suất đạt 15-19 m3/ha/năm Ở Minh Đức (Bình Dương) trên đất xám dày, năng suất rừng 6 tuổi đạt khá cao, từ 25-29 m3/ha/năm Năng suất rừng trồng còn phụ thuộc nhiều vào giống, làm đất và bón phân Các kết quả điều tra đánh giá thấy, giống được cải thiện, làm đất và bón phân hợp lý đều nâng cao năng suất rừng trồng Keo lá tràm các trị số tương ứng là 34,4

so với 20,2 m3/ha/năm Rõ ràng là để nâng cao năng suất rừng trồng công nghiệp, cần phải chọn giống đã được cải thiện, phải chọn lập địa phù hợp để phát huy năng suất, tiềm năng của nguồn giống đã cải thiện, cần tiến hành thâm canh rừng trồng thông qua các biện pháp làm đất, bón phân hợp lý Với keo tai tượng và keo lai, đạt năng suất 25 đến 30 m3/ha/năm, sau 7-8 năm kinh doanh với lãi suất vay 7%, thì tỷ suất lãi nội bộ IRR có thể đạt 18-20% nghĩa

là trồng rừng có lãi Nếu trữ lượng đạt 70 m3/ha sau 8 năm, năng suất chỉ đạt gần 9 m3/ha/năm, thì với lãi suất 7%/năm ,người trồng rừng sẽ không có lãi,tỷ suất lãi nội tại IRR chỉ đạt 7,68% Theo tính toán năng suất phải đạt 12 m3

/ha/năm thì lãi nội tại IRR có thể đạt 10,2 %, nghĩa là trồng rừng mới có lãi Đây là cơ sở quan trọng trong kinh doanh rừng trồng công nghiệp, cần thiết phải đạt năng suất tối thiểu mới có thể tạo được lợi ích từ trồng rừng khi vay vốn ngân hàng 7%/năm để đầu tư

2.1.2.5 Nghiên Cứu về chính sách vào thị trường

Chính phủ nước ta đang từng bước xây dựng, điều chỉnh và bổ sung một

số chính sách như : Luật đất đai 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004; các Nghị định 01/CP ngày 01 tháng 01 năm 1995 Ban hành Bản quy định về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm

Trang 26

nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước, nhằm đáp ứng các mục tiêu là quản lý, bảo vệ và phát triển được vốn rừng tự nhiên hiện có, bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen quý hiếm, bảo tồn các loài đặc hữu, bảo vệ nguồn nước và đảm bảo an ninh môi trường và khai thác hợp

Võ Nguyên Huân (1997) [5] đánh giá hiệu quả giao đất giao rừng ở Thanh Hoá, từ việc nghiên cứu các loại hình chủ rừng sản xuất đưa ra khuyến nghị các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nội lực của chủ rừng trong quản lý

và sử dụng bền vững Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra những khó khăn và hạn chế của chính sách giao đất khoán rừng đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao đất lâm nghiệp và khoán bảo vệ rừng

Đỗ Doãn Triệu (1997) [16] với nghiên cứu xây dựng một số luận cứ khoa học và thực tiễn góp phần hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu

tư nước ngoài vào trồng rừng nguyên liệu công nghiệp

Nghiên cứu thị trường lâm sản cũng được nhiều tác giả quan tâm vì đây

là vấn đề có quan hệ mật thiết tới trồng rừng, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu như sau:

Võ Đại Hải (2004) [8] trong nghiên cứu về yếu tố đầu vào và đầu ra trong sản xuất nông lâm sản hàng hoá ở miền núi phía Bắc, tác giả đã phân tích những lợi thế cũng như bất lợi và hiệu quả của sản xuất nông sản hàng hoá ở miền núi

Ngày đăng: 23/04/2019, 10:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w