1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở các trường mầm non quận cầu giấy, thành phố hà nội

145 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI .... Về nhận thức của CBQL, GV v

Trang 1

ĐỖ THỊ HƯƠNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NUÔI DƯỠNG CHĂM SÓC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG

TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON

QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐỖ THỊ HƯƠNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NUÔI DƯỠNG CHĂM SÓC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG

TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON

QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Từ Đức Văn

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu và các thầy, cô giáo của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II, các thầy cô trực tiếp tham gia giảng dạy và quản lý đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS.Từ Đức Văn

đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn lãnh đạo Sở GD&ĐT thành phố Hà Nội; Lãnh đạo và cán bộ chuyên môn Phòng Giáo dục và Đào tạo, CBQL và giáo viên các trường mầm non trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã tham gia đóng góp ý kiến, cung cấp thông tin cho tôi trong quá trình điều tra, nghiên cứu

Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo và giáo viên Trường mầm non Sao Mai nơi tôi đang công tác, cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và những người thân yêu trong gia đình đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu, giúp đỡ tôi hoàn thiện luận văn cũng như hoàn thành khóa học này

Mặc dù bản thân tôi đã có nhiều cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự quan tâm, chỉ bảo của Quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu được trọn vẹn hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2018 Tác giả

Đỗ Thị Hương

Trang 4

Tôi xin cam đoan: đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Tôi cũng xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đã dược chỉ rõ nguồn gốc Tôi xin chịu trách nhiệm

về nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Hương

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.2 Một số khái niệm công cụ 14

1.2.1 Khái niệm quản lý giáo dục 14

1.2.2 Quản lý trường mầm non 16

1.2.3 Khái niệm nuôi dưỡng, chăm sóc 17

1.2.4 Khái niệm kỹ năng sống 19

1.2.5 Khái niệm tự phục vụ 20

1.2.6 Khái niệm phát triển kỹ năng tự phục vụ: 20

1.2.7 Mối quan hệ của nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở trường mầm non 21

1.3 Hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ trong trường mầm non 23

1.3.1 Đặc điểm sự phát triển của thể chất, tâm lý trẻ mầm non 23

1.3.2 Đặc điểm phát triển các kỹ năng tự phục vụ của trẻ mầm non 24

1.3.3 Lý luận về hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở trường mầm non 25

1.4 Lý luận về quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở các trường mầm non 36

Trang 6

1.4.2 Tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc theo hướng phát

triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ hàng ngày 38

1.4.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc ở trường mầm non theo hướng tăng cường cho trẻ phát triển kỹ năng tự phục vụ 40

1.4.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ 43

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở trường mầm non 44

1.5.1 Các yếu tố khách quan: 44

1.5.2 Các yếu tố chủ quan 46

Kết luận chương 1 48

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 49

2.1 Vài nét tình hình kinh tế chính trị, văn hóa, giáo dục quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 49

2.1.1 Vài nét về tình hình kinh tế chính trị, văn hóa, xã hội 49

2.1.2 Vài nét về tình hình giáo dục quận cầu Giấy 50

2.1.3 Vài nét về tình hình giáo dục mầm non quận cầu Giấy 51

2.2 Tổ chức tiến hành khảo sát thực trạng 53

2.2.1 Mục đích khảo sát 53

2.2.2 Nội dung khảo sát 53

2.2.3 Phương pháp khảo sát 53

2.2.4 Địa bàn và thời gian khảo sát 54

2.2.5 Xử lý, đánh giá kết quả khảo sát thực trạng 54

Trang 7

thành phố Hà Nội 55

2.3.1 Nguồn nhân lực (CBQL, GV) thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ 55

2.3.2 Thực trạng hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở các trường 56

2.3.3 Cơ sở vật chất, các điều kiện phục vụ công tác nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 64

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở các trường mầm non quận Cầu Giấy 66

2.4.1 Về nhận thức của CBQL, GV về quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở các trường mầm non quận Cầu Giấy 66

2.4.2 Về thực trạng các nội dung quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 67

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 80

2.6 Đánh giá khái quát thực trạng quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở các trường mầm non quận Cầu Giấy 82

2.6.1 Những mặt tích cực 83

2.6.2 Những mặt hạn chế 83

2.6.3 Nguyên nhân của những hạn chế 84

Kết luận chương 2 85 CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ

Trang 8

3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 86 3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ theo yêu cầu độ tuổi 86 3.1.2 Đảm bảo tính khả thi trong các biện pháp 86 3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo thực tiễn hoạt động quản lý nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ mầm non 87 3.1.4 Đảm bảo tính đồng bộ của hoạt động quản lý nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở trường mầm non 87 3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở các trường mầm non Quận Cầu Giấy 88 3.2.1 Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các trường mầm non về hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 88 3.2.2 Đổi mới việc lập kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ trong các nhà trường 90 3.2.3 Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ tới đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trong các nhà trường 94 3.2.4 Chú trọng kiểm tra, đánh giá hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ tại các trường 99 3.2.5 Phối kết hợp các lực lượng trong việc quản lý các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ tại các trường 102 3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 104 3.4 Kiểm chứng tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 105

Trang 9

1 Kết luận 112

2 Khuyến nghị 113 2.1 Đối với UBND quận Cầu Giấy và Phòng Giáo dục - Đào tạo quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 113 2.2 Đối với lãnh đạo các trường mầm non trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 114 2.4 Đối với gia đình trẻ 114

Trang 10

Tự phục vụ

Trang 11

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa thông tin với các chức năng trong chu trình quản

lý 15

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa chăm sóc và giáo dục trẻ MN 22

Bảng 2.1: Thống kê số lượng, trình độ đội ngũ quản lý trường MN 55

Bảng 2.2: Thống kê số lượng, trình độ đội ngũ giáo viên trường MN 56

Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả khảo sát nhận thức của CBQL, GV các trường mầm non Quận Cầu Giấy, TP Hà Nội về mức độ quan trọng của công tác nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 57

Bảng 2.4 Tổng hợp kết quả khảo sát về thực trạng mức độ thực hiện nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ ở trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 58

Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả khảo sát về thực trạng mức độ hiệu quả nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ ở trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 59

Bảng 2.6 Tổng hợp kết quả khảo sát về mức độ thực hiện của GV sử dụng các phương pháp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ ở trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 60

Bảng 2.7 Tổng hợp kết quả khảo sát về mức độ hiệu quả của GV sử dụng các phương pháp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ ở trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 61

Bảng 2.8 Tổng hợp kết quả khảo sát đánh giá của CBQL, GV về kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụcho trẻ ở trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 62

Bảng 2.9: Tổng hợp điều kiện phục vụ công tác nuôi dưỡng, chăm sóc của các trường MN năm học 2016 – 2017 64

Trang 12

nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng TPV cho trẻ 66Bảng 2.11 Tổng hợp kết quả khảo sát mức độ thực hiện các nội dung quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 68Bảng 2.12 Tổng hợp kết quả khảo sát mức độ hiệu quả các nội dung quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 69Bảng 2.13 Tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng mức độ thực hiện công tác lập kế hoạch hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng

tự phục vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 71Bảng 2.14 Tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng mức độ hiệu quả công tác lập

kế hoạch hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục

vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 722.4.2.2 Thực trạng công tác tổ chức hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 73Bảng 2.15 Tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng mức độ thực hiện công tác

tổ chức hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 74Bảng 2.16 Tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng mức độ hiệu quả công tác tổ chức hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục

vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 742.4.2.3 Thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 76

Trang 13

phục vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 76Bảng 2.18 Tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng mức độ hiệu quả công tác chỉ đạo hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 77Bảng 2.19 Tổng hợp kết quả khảo sát mức độ thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 79Bảng 2.20 Tổng hợp kết quả khảo sát mức độ hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 79Bảng 2.21 Tổng hợp kết quả khảo sát thực trạngcác yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non quận Cầu Giấy 81Bảng 3.1 Đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất 106Bảng 3.2 Đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp 108Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả đánh giá mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 109

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mục tiêu của giáo dục mầm non được quy định tại Điều 22 Luật Giáo dục: “Là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một”[31]

Trong quá trình trưởng thành và phát triển của một con người, lứa tuổi

2 - 5 tuổi hay còn gọi là giai đoạn tuổi mầm non là thời kỳ phát triển quan trọng nhất Trẻ không chỉ hoàn thiện về thể chất mà còn phải được rèn luyện

về mặt ý thức và tư duy Vì vậy, cùng với gia đình, trường mầm non có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và giáo dục mọi mặt cho trẻ

Đất nước ta đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với nhu cầu hội nhập quốc tế, đòi hỏi mỗi con người vừa phải có sức khỏe vừa phải năng động, tự chủ, sáng tạo để làm việc Để đáp ứng yêu cầu này, từ khi độ tuổi trẻ còn nhỏ cần giáo dục cho trẻ các kỹ năng sống cần thiết trong dó có kỹ năng tự phục vụ

Kỹ năng tự phục vụ là một trong những kỹ năng sống rất quan trọngcần phải rèn luyện cho trẻ Thực tế trẻ tuổi mầm non rất thích tự làm những công việc vừa sức của mình để phục vụ bản thân Từ những việc đơn giản như đánh răng rửa mặt, thay đồ, đi vệ sinh hay tự rửa tay, lau mặt… Nếu cho trẻ

tự làm những việc này và có sự động viên của người lớn, trẻ sẽ rất hứng thú

và tích cực hơn trong việc tự phục vụ bản thân Việc tự làm những công việc chăm sóc bản thân không những giúp trẻ trở nên năng động, tự lập hơn mà còn tạo tiền đề tích cực để trẻ phát triển trong tương lai: Đó là tính chủ động, không ỷ lại

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, đời sống của một bộ phận người dân cũng được nâng cao Mỗi gia đình chỉ có 1 - 2 con, chính vì vậy, phụ huynh học sinh lại thường quá quan tâm, chăm sóc đến mọi hoạt động của trẻ Đặc biệt, cách chăm sóc trẻ trong hoạt động ăn uống và các hoạt động

Trang 15

khác rất chiều chuộng và làm hết mọi việc cho trẻ Không ít trẻ mầm non vì quá được cưng chiều, cha mẹ làm thay hết mọi việc nên trẻ có thói quen ỷ lại

và chỉ biết trông chờ người khác phục vụ Thiếu kỹ năng tự phục vụ sẽ dẫn đến hệ lụy trẻ lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia vào các hoạt động của tập thể Nếu trẻ không có kỹ năng tự phục vụ bản thân, trẻ sẽ không thể chủ động trong cuộc sống hiện đại Đây sẽ là một khó khăn lớn cho trẻ trong quá trình trưởng thành và phát triển của trẻ sau này

Những năm gần đây cấp học mầm non đang tiến hành đổi mới chương trình giáo dục trẻ Trong đó, đặc biệt coi trọng việc tổ chức các hoạt động phù hợp sự phát triển của từng cá nhân trẻ, khuyến khích trẻ hoạt động một cách chủ động, tích cực, mạnh dạn hồn nhiên, các hoạt động đều hướng tới "lấy trẻ làm trung tâm" Chính vì vậy, công tác giáo dục các kỹ năng sống nói chung

và kỹ năng tự phục vụ nói riêng cũng được cấp học mầm non rất chú trọng

Thực tế công tác nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ tại các trường mầm non quận Cầu Giấy đã triển khai thực hiện rất tốt theo các chương trình hướng dẫn Công tác giáo dục kỹ năng tự phục vụ đã được lồng ghép trong các hoạt động Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những bất cập, nhận thức của một số giáo viên còn hạn chế, chưa coi trọng việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, hình thức giáo dục còn khiên cưỡng, nội dung chưa phong phú Công tác tuyên truyền với phụ huynh còn hạn chế nên việc phối kết hợp giữa gia đình

và nhà trường trong công tác này hiệu quả chưa cao

Xuất phát từ các lý do trên, tôi chọn cho mình đề tài: “Quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở các trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu, nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nói riêng và nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nói chung tại các trường mầm non quận Cầu Giấy

Trang 16

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích lý luận, đánh giá đúng thực trạng của việc quản lý các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ của trẻ trong các trường mầm non quận Cầu Giấy, đề xuất các biện pháp nhằm giúp Hiệu trưởng các trường mầm non quản lý tốt hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ tại các trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ tại trường mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng

tự phục vụ cho trẻ tại các trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất và áp dụng cho Hiệu trưởng các trường mầm non quận Cầu Giấy các biện pháp quản lý công tác nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục cho trẻ thì việc tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ tại các trường mầm non tại quận Cầu Giấy sẽ đạt hiệu quả cao hơn, góp phần nâng cao kết quả chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non nói chung

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục cho trẻ ở trường mầm non

- Khảo sát thực trạng việc quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ tại các trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ tại các trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Trang 17

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác quản lý của hiệu trưởng các trường mầm non, trong đó nội dung quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc một số nhóm kỹ năng tự phục vụ cho trẻ: Nhóm kỹ năng tự phục vụ trong hoạt động ăn uống, nhóm kỹ năng tự phục vụ trong giờ ngủ, nhóm kỹ năng tự phục vụ trong giờ đón trả trẻ

- Giới hạn đối tượng khảo sát: 132

+ CBQL (Hiệu trưởng, hiệu phó, Phòng GD&ĐT): 18 người + Giáo viên: 114 người

- Giới hạn địa bàn nghiên cứu:

+ Trường mầm non Sao Mai, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội + Trường mầm non Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội + Trường mầm non Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội + Trường mầm non Họa Mi, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội + Trường mầm non Tuổi Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

Nghiên cứu một số văn bản chỉ đạo của Chính phủ và Bộ GD&ĐT có nội dung liên quan đến công tác quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non

Nghiên cứu mục đích, ý nghĩa, nội dung, tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục cho trẻ ở các trường mầm non trong quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Khi nghiên cứu hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc theo hướng phát triển

kỹ năng tự phục vụ cho trẻ tại các trường mầm non quận Cầu Giấy, cần nghiên cứu về hoạt động quản lý của Hiệu trưởng và các hoạt động lập kế hoạch chăm sóc trẻ của giáo viên, các hoạt động tự phục vụ của trẻ để làm bộc lộ rõ các biện pháp quản lý của nhà trường về công tác nuôi dưỡng chăm sóc theo hướng phát triển các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ của nhà trường

Trang 18

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ: Nghiên cứu hồ sơ hoạt động, kế hoạch lồng ghép giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ của giáo viên và cán bộ quản lý để làm rõ được thực trạng quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển các kỹ năng tự phục vụ cho trẻ của nhà trường

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng các phiếu câu hỏi, điều tra đã được thiết kế theo quy trình để thu thập thông tin

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn, đối thoại với CBQL, GV, phụ huynh và một số trẻ để tìm hiểu, làm rõ thêm một số nội dung của thực trạng đã khảo sát, điều tra

- Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát dự giờ giáo viên, quan sát trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày để thu thập thông tin cần thiết phục vụ việc nghiên cứu đề tài

- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong việc xử lý những số liệu điều tra, khảo sát để từ đó rút ra các kết luận chính xác

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung cơ bản trình bày trong 3 chương sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở trường mầm non

Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở các trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở các trường mầm non quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Trang 19

Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của trường mầm non là

tổ chức hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Vì vậy, quản lý công tác nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ phải được quan tâm sát sao Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vấn đề quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ ở trường mầm non đã được nghiên cứu từ rất sớm và được thực hiện nhiều góc

độ cũng như phương pháp nghiên cứu khác nhau

1.1.1 Những nghiên cứu về quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ mầm non tại các nước trên thế giới

Nhà giáo dục nổi tiếng Italia, bà Maria Montessori (1879 - 1952) đã từng nói: "Nếu sự cứu rỗi con người thì điều đó phải bắt đầu từ đứa trẻ, bởi vì đứa trẻ là kẻ sáng tạo hương hồn nhân loại" [13; tr.1] Các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về giáo dục mầm non cũng đã khẳng định lứa tuổi mầm non

là giai đoạn đầu của cuộc sống: "Phi giáo dục mầm non thì bất thành nhân cách" Những nghiên cứu gần đây về sinh học, về sự tác động của giáo dục đối với lứa tuổi này lại càng khẳng định vị trí, vai trò của Giáo dục mầm non

là hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Vấn đề nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ mầm non đã được nghiên cứu từ rất sớm và được thực hiện bằng nhiều góc độ cũng như phương pháp khác nhau, chẳng hạn:

Tác giả V.X.Mukhina với công trình Tâm lý học mẫu giáo nghiên cứu

về đặc trưng tâm lý của trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo; Tác giả Winhem Preyer với tác phẩm Trí óc của trẻ em đã miêu tả chi tiết về sự phát triển của trẻ em trên phương diện vận động, hình thành ngôn ngữ và trí nhớ cụ thể thông qua cậu bé Alex; Tác giả Erikson với Trẻ em và xã hội nghiên cứu về

Trang 20

sự phát triển của trẻ em, cách đối xử và giáo dục trẻ [34; tr.5].

Còn tác giả A.V.Petrovski lại tập trung nghiên cứu điều kiện hình thành các kỹ năng hoạt động nói chung và kỹ năng hoạt động độc lập của trẻ; Jonh.B.Watson với công trình chăm sóc về tâm lý cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

đã nghiên cứu về tâm lý của trẻ ngay từ khi mới sinh và cách chăm sóc chúng Các tác giả D.B.Enconhin, V.V.Davudov nghiên cứu cụ thể về kỹ năng hành động với mô hình của trẻ đối với sự phát triển trí tuệ và các thao tác trí tuệ; A.V.Daparogiet, Đ.B Enconhin và các cộng sự của họ đã dành nhiều sự quan tâm nghiên cứu giao tiếp của trẻ và vai trò của giao tiếp trong sự phát triển tâm lí; Cách tiếp cận của E.E Kraxova giải quyết vấn đề bức xúc của sự chuẩn bị cho trẻ học tập ở trường phổ thông đã chỉ ra rằng cùng với các sơ đồ trí tuệ có các hình thức hợp tác với người lớn và với bạn cùng tuổi Tác giả A.B.Zaporojet với Cơ sở tâm lý học của giáo dục mẫu giáo tập trung nghiên cứu chuyên biệt về trẻ nhỏ từ lúc mới sinh đến 6 tuổi [34; tr 5-6]

Tác giả Côvaliôp trong công trình nghiên cứu của mình đã rất chú trọng đến việc giáo dục lao động tự phục vụ cho trẻ Tác giả cho rằng: “Thói quen

là bản tính thứ hai của con người Khi có thói quen lao động, nếu không làm việc người ta không chịu được v.v Như vậy theo Côvaliôp một khi đã có thói quen lao động thì con người sẽ chủ động thực hiện công việc, nếu như không thực hiện thường xuyên thì họ sẽ cảm thấy khó chịu, buồn bực Vì vậy, đối với trẻ em một khi các kỹ năng tự phục vụ đã hình thành thì cần được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục để chúng trở thành nhu cầu của trẻ, nếu không các em sẽ thấy khó chịu Tác giả cũng nhấn mạnh rằng việc trẻ chủ động thực hiện các công việc tự phục vụ sẽ mang lại cho chúng niềm vui, niềm tự hào đó là động lực thôi thúc các em thực hiện lao động tự phục vụ Vì vậy tác giả cho rằng giáo viên cần tạo được niềm vui, sự hứng thú cho trẻ trong quá trình trẻ thực hiện hoạt động tự phục vụ, điều đó mang lại hiệu quả cao trong việc giáo dục lao động tự phục vụ cho trẻ [3; tr.5-6]

Tác giả R.G.Nhechacva đã nhấn mạnh ý nghĩa của việc giáo dục, rèn

Trang 21

luyện thói quen lao động tự phục vụ đối với sự hình thành nhân cách trẻ mẫu giáo Trong "Giáo dục trẻ mẫu giáo trong lao động", tác giả đã khẳng định Lao động tự phục vụ đối với trẻ nhỏ như ăn mặc, vệ sinh cá nhân, giúp người lớn làm những công việc vừa sức là biện pháp tốt nhất để hình thành khả năng tự lập cho trẻ Tác giả cho rằng cần phải giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ngay từ lứa tuổi mẫu giáo để trẻ có nhu cầu thực hiện hành động tự phục vụ một cách tự giác Cũng theo tác giả, để hình thành được những kỹ năng kỹ xảo, thói quen lao động, kỹ năng tự phục vụ cho trẻ thì công tác rèn luyện cần phải tiến hành thường xuyên, tỉ mỉ theo từng bước cụ thể trong một thời gian liên tục Nhechacva cũng đề xuất một số phương pháp như: Làm mẫu từng thao tác, giải thích bằng lời, nêu gương, tập luyện hàng ngày, sử dụng trò chơi, sử dụng trực quan, để dạy trẻ trong giờ học, trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày Theo tác giả, giáo viên phải củng cố thói quen cho trẻ bằng cách nhắc nhở thường xuyên và bằng sự rèn luyện hàng ngày của trẻ [3; tr.7]

A.X.Macarenco và N.K.Krupcaia - nhà giáo dục lớn người Nga, rất quan tâm tới việc giáo dục trẻ thông qua lao động, giáo dục kỹ năng tự phục

vụ cho trẻ, nguyên tắc lý tưởng là phải làm thế nào cho bản thân lao động có tính hấp dẫn học sinh và kích thích trẻ cố gắng, đạt được những kết quả tốt đẹp Theo hai tác giả, trong lĩnh vực lao động không dùng khen thưởng và trách phạt, tác giả cho rằng: “Nhiệm vụ lao động và sự hoàn thành nhiệm vụ

đó đã khiến cho nhi đồng vui sướng thoải mái rồi Khi thừa nhận công tác của các em là tốt thì đó phải là cái phần thưởng rất quý đối với lao động của các em” Còn đối với trẻ mầm non, cần phải giáo dục trẻ thói quen sinh hoạt, thói quen văn hóa, ý thức tự lập, khả năng tự kiềm chế, tinh thần vượt khó ý thức trách nhiệm đối với bản thân và mọi người Tác giả quan tâm trước tiên tới giáo dục và phát triển kỹ năng tự phục vụ ở trẻ thông qua trò chơi, chính trò chơi phát triển rất nhiều kỹ năng ở trẻ [3; tr.7-8]

Trang 22

Như vậy, nghiên cứu về giáo dục mầm non nói chung và hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non được các nhà tâm lý học, các nhà giáo dục trên thế giới nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau, với nhiều cách tiếp cận Tuy vậy, việc nghiên cứu về quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ còn ít và chưa đáp ứng được thực tiễn giáo dục các nước trên thế giới

1.1.2 Những nghiên cứu về quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ mầm non tại Việt Nam

Nghiên cứu về hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ mầm non và công tác quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ trong trường mầm non đã được một số tác giả, nhà giáo dục, nhà quản lý giáo dục ở Việt Nam nghiên cứu, tìm hiểu, đề cập đến ở các khía cạnh khác nhau như:

Các tác giả Phạm Thị Châu, Chu Mạnh Nguyên đã biên soạn nhiều giáo trình, tài liệu để bồi dưỡng cho CBQL và GV mầm non vào hè từng năm học nhằm cập nhật các chủ trương, chính sách mới, hướng dẫn nâng cao kỹ năng quản lý, kỹ năng sư phạm, chuyên môn Để đạt được mục tiêu nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ đòi hỏi người CBQL, GV, NV cần có kiến thức kỹ năng cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra Trẻ phải được chăm sóc, nuôi dưỡng theo khoa học trong một môi trường thật tốt để có thể phát triển toàn diện GDMN là khâu đầu tiên của quá trình đào tạo nhân cách con người mới Việt Nam, có nhiệm vụ hình thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới, làm cho trẻ phát triển toàn diện, hài hòa và cân đối, tạo điều kiện tốt cho những bước phát triển sau này, xây dựng cho mỗi trẻ một nền tảng nhân cách vừa khỏe khoắn, vừa mềm mại, đầy sức sống cả về thể chất lẫn tinh thần và chuẩn bị cho trẻ khả năng học tập tốt ở lớp một [9]

Tác giả Nguyễn Thu Hiền có nghiên cứu về việc chăm sóc sức khoẻ trẻ

em, trong đó tác giả rất quan tâm đến thời gian hoạt động, ăn, ngủ của trẻ ở trường MN chiếm tỷ lệ khá lớn so với thời gian trong ngày Vì vậy, cùng với gia đình, trường MN có vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc

Trang 23

sức khỏe cho trẻ Điều đó đòi hỏi mỗi CB, GV, NV nuôi dưỡng cần có những kiến thức cơ bản về dinh dưỡng và sức khoẻ của trẻ lứa tuổi MN [17] Trong giáo trình Dinh dưỡng trẻ em do tác giả Lê Thị Mai Hoa biên soạn cũng đề cập rất nhiều đến chế độ dinh dưỡng của trẻ, từ đó đòi hỏi người quản lý và đặc biệt là các NV nuôi dưỡng cần quan tâm đến các hoạt động này Nếu được nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe, giáo dục đúng cách, được sống trong một môi trường thuận lợi và được mọi người thương yêu sẽ phát triển thuận lợi, khỏe mạnh [18]

Hay bất kỳ trong trường mầm non nào cũng không thể thiếu cuốn sách

“Hướng dẫn và gợi ý thực hiện chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ từ 3 đến

36 tháng, từ 3 đến 4 tuổi, từ 4 đến 5 tuổi và từ 5 đến 6 tuổi” do nhóm tác giả:

Lê Thị Ngọc Ái, Lê Thị Đức, Hồ Lam Hồng, Nguyễn Kỳ Minh Nguyệt, Vũ Thị Hồng Tâm, Nguyễn Thị Thư, Phùng Thị Tường, Nguyễn Thị Tuất, Tào Thị Hồng Vân biên soạn Đây là cuốn sách giúp tất cả giáo viên trong các trường mầm non dựa vào đó xây dựng chế độ sinh hoạt một ngày cho trẻ khi

ở trường như: chế độ chăm sóc bữa ăn, chế độ chăm sóc giờ ngủ, chế độ vệ sinh cá nhân trẻ, chế độ vệ sinh cá nhân cô Quản lý của các trường mầm non dựa vào đó để nắm bắt được cách tiến hành sinh hoạt một ngày của giáo viên [34; tr.8-9]

Ngoài ra, có thể kể đến nhiều đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành khoa học giáo dục nghiên cứu về vấn đề này như:

Tác giả Nguyễn Thị Hòa với đề tài Biện pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi (Luận

án Tiến sĩ Giáo dục học, 2003); tác giả Hoàng Thị Phương trong công trình nghiên cứu Một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5

- 6 tuổi (Luận án tiến sĩ, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) [29]

Tác giả Lê Thị Thái Hạnh có đề tài Luận văn Thạc sỹ QLGD “Biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non

Trang 24

thành phố Hạ Long” (năm 2013) đã nghiên cứu, hệ thống khái quát cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trường mầm non; Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non thành phố Hạ Long và đề xuất ba nhóm biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non thành phố

Hạ Long nhằm nâng cao chất lượng giáo dục [16]

Năm 2009, tác giả Tào Thị Hồng Vân đã bảo vệ thành công Đề tài Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Vệ sinh xã hội học và tổ chức y tế “Chăm sóc sức khỏe trẻ mẫu giáo trong trường mầm non - đề xuất giải pháp can thiệp” Luận án đã chỉ ra thực trạng, những bất cập trong chăm sóc sức khoẻ cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non nông thôn hiện nay; đề xuất và triển khai thực nghiệm 4 biện pháp chính có tính khả thi cao gồm: (1) Nâng cao vai trò

và trách nhiệm của giáo viên về theo dõi tình trạng thể lực sức khoẻ của trẻ để phát hiện sớm trẻ mắc bệnh và đề phòng trẻ suy dinh dưỡng (2) Phối hợp các biện pháp giáo dục sức khoẻ theo hướng tích hợp các chủ đề, đáp ứng yêu cầu đổi mới (3) Nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành chăm sóc sức khoẻ cho trẻ của cán bộ, giáo viên và cha mẹ (4) Nâng cao năng lực quản lý chăm sóc sức khoẻ của cán bộ kiêm nhiệm về y tế học đường [37]

Tác giả Đỗ Thị Bắc (2015) [3] đã cho rằng Giáo dục kỹ năng sống nói chung cũng như giáo dục kỹ năng tự phục vụ nói riêng cho trẻ mẫu giáo bé ở trường mầm non đều nhằm giúp trẻ có những kỹ năng cơ bản phục vụ cho bản thân thích ứng với cuộc sống hàng ngày, bồi dưỡng tình yêu lao động cho trẻ

Đề tài tập trung nghiên cứu giáo dục một số kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé là: Nhóm kỹ năng tự phục vụ trong giờ ăn, nhóm kỹ năng tự phục vụ trong giờ ngủ, nhóm kỹ năng tự phục vụ trong giờ đón trẻ, nhóm kỹ năng tự phục vụ trong giờ trả trẻ, nhóm kỹ năng tự phục vụ trong hoạt động học tập, vui chơi Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực trạng giáo dục kỹ năng tự phục

vụ cho trẻ mẫu giáo bé ở các trường mầm non thành phố Thái Nguyên, tác giả cũng đã đề xuất biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé

Trang 25

góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé nói riêng, hiệu quả giáo dục mầm non ở các trường mầm non thành phố Thái Nguyên nói chung

Trong công trình nghiên cứu của mình, hai tác giả Nguyễn Thị Phong, Trần Thanh Tùng [28] cho rằng để hình thành cho trẻ các kỹ năng tự phục vụ lao động như lau mặt, rửa tay, chải tóc, mặc quần áo thì cô giáo phải dạy từ động tác đơn giản đến phức tạp, phải tạo điều kiện cho trẻ được tập luyện thường xuyên Hai tác giả đưa ra yêu cầu và trình tự thực hiện từng kỹ năng

tự phục vụ, vệ sinh thân thể một cách chi tiết, cụ thể

Tác giả Nguyễn Thị Thư [35] nêu lên sự cần thiết của việc giáo dục và rèn luyện cho trẻ những kỹ năng thói quen tốt trong cuộc sống trong đó có kỹ năng tự phục vụ Theo tác giả, để giáo dục một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất thì việc giáo dục kỹ năng cần tiến hành mọi lúc, mọi nơi, tận dụng cơ hội trong hoạt động hàng ngày Tác giả đã chỉ ra mối liên quan mật thiết giữa vai trò của truyền thống gia đình, vai trò của cá nhân trẻ và tính hứng thú của chính quá trình giáo dục đến kết quả hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ

Tác giả Mai Ngọc Liên đã nghiên cứu một số biện pháp giáo dục tính

tự lực cho trẻ thông qua hoạt động tự phục vụ Tác giả cho rằng cần giáo dục cho trẻ tính tự lập ngay từ nhỏ bằng các biện pháp khác nhau như động viên, khuyến khích, tổ chức trò chơi [25] Tác giả Nguyễn Thị Luyến nghiên cứu hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề cho trẻ 4-5 tuổi thông qua hoạt động tự phục vụ của trẻ ở trường mầm non, trên cở sở điều tra thực trạng tác giả đã xây dựng các biện pháp để giáo dục kỹ năng giải quyết vấn đề qua hoạt động

tự phục vụ của trẻ [26] Tác giả Nguyễn Thanh Huyền đã nghiên cứu các biện pháp tăng cường tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày tại trường mầm non, trong đó các biện pháp giáo dục quan trọng được tác giả chỉ ra như tác động tới nhận thức bằng cách kể chuyện, rèn

kỹ năng tự đánh giá thông qua hoạt động của trẻ ở trường mầm non [22]

Trang 26

Và các bài viết của tác giả Tào Thị Hồng Vân đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như: bài viết “Bàn về cách đánh giá chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non - Quan niệm

và nội dung”; Tạp chí Giáo dục, số 8/2007; bài viết “Thực trạng việc đảm bảo môi trường chăm sóc sức khỏe cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non nông thôn, đáp ứng yêu cầu đổi mới”, Tạp chí y học thực hành, số 8/2008 đã nghiên cứu khá rõ nét về hoạt động chăm sóc sức khỏe trẻ mẫu giáo từ việc đảm bảo môi trường đến hoạt động đánh giá, kiểm tra chất lượng đáp ứng yêu cầu đổi mới [38], [39]

1.1.3 Đánh giá chung những nghiên cứu về quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non

Có thể nhận thấy, qua sự khái lược về một số công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn của các tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi thấy việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ mầm non cũng như quản lý hoạt động này là cần thiết, quan trọng Đến nay, trên thế giới và ở nước ta đã có những nghiên cứu về tâm, sinh lý trẻ em lứa tuổi mầm non và sự phát triển tâm, sinh lý thông qua hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ cũng như việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ được nhiều nhà nghiên cứu trong

và ngoài nước quan tâm Các tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng, vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ đối với sự phát triển của trẻ Một số công trình đã nghiên cứu các biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ thông qua các hình thức khác nhau như lao động, vui chơi, học tập,

Việc nghiên cứu về quản lý hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ mầm non còn có khoảng trống nhất định, đặc biệt là nghiên cứu quản lý hoạt động nuôi dưỡng , chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và cụ thể về vấn đề chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non dựa trên điều kiện thực tiễn và đề xuất các biện pháp áp dụng chúng trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội Vì

Trang 27

vậy, dựa vào kết quả trên, tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu về hoạt động quản

lý nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ trường mầm non theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, góp phần làm phong phú thêm thông tin lý luận và thực tiễn về vấn đề này

1.2 Một số khái niệm công cụ

1.2.1 Khái niệm quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một lĩnh vực chuyên ngành, cũng như quản lý xã hội, là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Hiện nay cũng có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý giáo dục Có thể thấy một số quan điểm lớn như:

Theo H.Koontz trong cuốn "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" đã định nghĩa về quản lý giáo dục là "Tập hợp những biện pháp nhằm đảm bảo được

sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo

sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như mặt chất lượng” [24] Theo đó, QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như những qui luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (Hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy – học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”[30]

Như vậy, Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục nói chung và của từng nhà trường nói riêng đạt hiệu quả nhất

Trang 28

Khi nghiên cứu, tìm hiểu về khái niệm quản lý giáo dục, tôi tiếp cận về

hệ thống các chức năng quản lý Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong trong quá trình quản lý Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung đa số các tác giả đều thống nhất ở bốn chức năng cơ bản:

Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa thông tin với các chức năng

trong chu trình quản lý

- Chức năng lập kế hoạch: Là chức năng hạt nhân của quá trình quản

lý Kế hoạch là tập hợp những mục tiêu cơ bản được sắp xếp theo một trình tự nhất định cùng với một chương trình cụ thể để đạt được mục tiêu đã đề ra Kế hoạch được xây dựng xuất phát từ đặc điểm tình hình của tổ chức và những mục tiêu đã định sẵn mà tổ chức có thể hướng tới và đạt được dưới sự tác động có định hướng của nhà quản lý

- Chức năng tổ chức: Là chức năng quan trọng của quá trình quản lý, đảm bảo tạo thành sức mạnh của tổ chức để thực hiện thành công kế hoạch đã

đề ra Chức năng tổ chức được hiểu là việc sắp xếp, phân công các nhiệm vụ, phân bố các nguồn lực một cách tối ưu nhằm làm cho tổ chức vận hành theo

kế hoạch, đạt được mục tiêu đề ra

- Chức năng chỉ đạo: Là chức năng đặc thù của người quản lý, thể hiện

Kiểm tra

Kế hoạch

Tổ chức Thông tin

Chỉ đạo

Trang 29

rõ nét năng lực của người quản lý Đó là sự điều hành, điểu chỉnh hoạt động của hệ thống nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã đề ra để đạt được mục tiêu đã định Chức năng này đòi hỏi người quản lý phải luôn theo sát các hoạt động, các trạng thái vận hành của hệ thống để kịp thời phát hiện những khiếm khuyết trong quá trình vận hành hệ thống và đưa ra được những giải pháp điều chỉnh kịp thời sao cho hệ thống vận hành theo đúng kế hoạch và thực hiện được mục tiêu quản lý

- Chức năng kiểm tra đánh giá: Là phương thức hoạt động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm thu thập thông tin phản hồi, đánh giá và

xử lý các kết quả vận hành của tổ chức, từ đó ra các quyết định quản lý điều chỉnh nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra

Tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin Thông tin đầy

đủ, kịp thời, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch Thông tin tạo nên mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức Nó giúp truyền tải mệnh lệnh chỉ đạo và phản hồi hai chiều trong một tổ chức, giúp người quản

lý thực hiện các chức năng của mình nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức

1.2.2 Quản lý trường mầm non

* Quản lý nhà trường: là quản lý giáo dục được thực hiện trong phạm

vi xác định của một đơn vị giáo dục là nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội Quản lý nhà trường là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý (giảng viên, giáo viên, nhân viên và người học, …) nhằm đưa các hoạt động đào tạo và giáo dục của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục

* Quản lý trường mầm non: là quá trình vận dụng nguyên lý, khái niệm, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mầm non Quản lý trường mầm non là sự tác động

có chủ đích của hiệu trưởng trường mầm non đến cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, phụ huynh học sinh trong trường mầm non nhằm đạt mục tiêu

Trang 30

chăm sóc giáo dục trẻ mầm non theo quy định Hay nói khác đi, quản lý trường mầm non là sự tác động có ý thức của nhà quản lý trường mầm non (trực tiếp là hiệu trưởng) nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ, những hoạt động của giáo viên, nhân viên và trẻ mầm non, huy động các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan và thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục mầm non ở trong các cơ sở giáo dục mầm non

1.2.3 Khái niệm nuôi dưỡng, chăm sóc

Nuôi dưỡng được hiểu là sự nuôi nấng và chăm sóc để tồn tại sức khỏe

và phát triển, phải thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể đang phát triển

Chăm sóc được hiểu là những hành động cần thiết phải làm để thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của người được chăm sóc theo cách mà họ mong muốn Chăm sóc là một trong hai hoạt động cơ bản của bậc học mầm non, là hoạt động đặc thù của ngành học giáo dục mầm non so với các cấp học khác Hoạt động chăm sóc bao gồm rất nhiều những hành động khác nhau với những kết quả cụ thể khác nhau nhưng cùng thực hiện mục tiêu chung: đảm bảo cho trẻ an toàn và phát triển bình thường về mặt thể chất và tâm lý Hoạt động chăm sóc trẻ thường được gọi là nuôi, bao gồm: giữ cho trẻ an toàn, cho trẻ ăn, uống, làm vệ sinh, giúp trẻ có các kỹ năng hợp vệ sinh

Theo quy định tại Điều 24, Điều lệ trường mầm non khẳng định: Hoạt động chăm sóc trẻ em bao gồm các nội dung chính là:

- Việc nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục trẻ được tiến hành thông qua các hoạt động theo quy định của chương trình GDMN

- Hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc trẻ em bao gồm: Chăm sóc dinh dưỡng; chăm sóc giấc ngủ; chăm sóc vệ sinh; chăm sóc sức khỏe và đảm bảo

an toàn

Các hoạt động này liên quan đến việc hình thành một số nề nếp, thói quen tốt trong sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu sinh lý của trẻ, tạo cho trẻ trạng thái thoải mái, vui vẻ Một số nội dung giáo dục có thể được thực hiện trong thời

Trang 31

điểm diễn ra hoặt động này như: Rèn thói quen rửa tay, lau mặt trước khi ăn

và lau miệng, xúc miệng nước muối sau ăn, dọn dẹp đồ dùng sau khi ăn, xếp, cất đồ dùng ngăn nắp sau khi ngủ, nhận biết và cảm nhận về các món ăn, nhận biết và phòng tránh các tai nạn nguy hiểm

- Việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em còn thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em cho các cha mẹ trẻ và cộng đồng [6]

Hoạt động nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ có vai trò rất quan trọng trong

sự phát triển toàn diện cả về thể chất và trí tuệ đối với trẻ ở độ tuổi MN Bởi

vì đây là giai đoạn tăng trưởng thể chất rất mạnh mẽ, đặc biệt não bộ, hệ thần kinh của trẻ phát triển vượt trội, nó quyết định quan trọng trong toàn bộ sự phát triển chung của con người Chính vì vậy, công tác tổ chức thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe trẻ trong các cơ sở GDMN đã được xác định là nhiệm vụ vô cùng quan trọng Hoạt động nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ được thực hiện trên những nguyên tắc sau:

- Nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ cho trẻ căn cứ vào đặc điểm sức khoẻ, dinh dưỡng, tính cách của từng trẻ, từng nhóm lớp, từng lứa tuổi

- Chế độ ăn chất lượng, phương pháp, hợp lý kết hợp với việc tạo không khí bữa ăn vui vẻ, vệ sinh là điều kiện để mỗi trẻ khoẻ mạnh, khôn lớn

- Từ giấc ngủ, bữa ăn đến việc tổ chức hoạt động học tập, vui chơi đều liên quan trực tiếp đến sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tinh thần của trẻ Như vậy, khâu nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe thực ra không tách rời khâu giáo dục Nó đòi hỏi mỗi GVMN năng lực toàn diện và lòng yêu trẻ để có khả năng điều hoà các nhu cầu của trẻ

Hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ mầm non là quá trình tác động của cán bộ, giáo viên, nhân viên trong cơ sở giáo dục mầm non lên cơ thể trẻ trong độ tuổi từ 3 tháng đến 6 tuổi một cách hợp lý, khoa học, giúp trẻ phát triển cân đối, hài hòa về thể trạng sức khỏe, tinh thần vui vẻ, hoạt bát, phòng

Trang 32

chống bệnh tật, hướng tới mục đích thiết yếu là trẻ phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần

1.2.4 Khái niệm kỹ năng sống

1.2.4.1 Kỹ năng

Tác giả Vũ Dũng đã định nghĩa: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [12]

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kĩ thuật mà còn biểu hiện năng lực của con người” [32]

Trong luận văn này, chúng tôi cho rằng: Kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm một cách linh hoạt để thực hiện có kết quả một hành động nào đó trong những điều kiện phù hợp

1.2.4.2 Kỹ năng sống

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), kĩ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày [5] Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này [5]

Theo Nguyễn Thanh Bình: Kĩ năng sống là năng lực, khả năng tâm lý -

xã hội của con người có thể ứng phó với những thách thức trong cuộc sống, giải quyết các tình huống một cách tích cực và giao tiếp có hiệu quả [5]

Trang 33

Từ các quan niệm trên, theo chúng tôi, kỹ năng sống là thao tác, hành động của mỗi cá nhân được hình thành thông qua những trải nghiệm của cá nhân đó trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của con người Kỹ năng sống giúp cho con người có thể làm chủ bản thân, có khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống Kĩ năng sống bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy trong não bộ của con người Kĩ năng sống có thể hình thành một cách tự nhiên, thông qua giáo dục hoặc tự rèn luyện của con người

1.2.5 Khái niệm tự phục vụ

Lao động tự phục vụ là hình thức lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày nhằm chăm sóc cho bản thân như tắm rửa, thay quần

áo, thu dọn giường ngủ, chải đầu, đi giầy dép [1, tr.204]

Theo Nguyễn Thị Hòa [19], kỹ năng tự phục vụ của trẻ là năng lực của một cá nhân, được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày, chăm sóc cho bản thân như tắm rửa, ăn uống… Tác giả cho rằng người

có kỹ năng tự phục vụ là người có nhận thức và kỹ năng trong các hoạt động

tự phục vụ bản thân

Theo Lê Thu Hương [23], kỹ năng tự phục vụ là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó, được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc phục vụ cho chính mình (như: tự nấu ăn, tự giặt quần áo )

Có thể hiểu: Kỹ năng tự phục vụ là sự thực hiện hành động của một cá nhân để giải quyết tình huống hay công việc phục vụ cho chính mình mà không cần sự giúp đỡ của người khác, như tự nấu ăn, tự vệ sinh cá nhân, tự xúc ăn, tự rửa mặt… Kỹ năng tự phục vụ là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc phục vụ cho chính mình

1.2.6 Khái niệm phát triển kỹ năng tự phục vụ:

Trang 34

Có quan niệm cho rằng “phát triển” là “vận động”, có quan niệm “phát triển” là “tiến bộ”.v.v… Phát triển theo chủ nghĩa duy vật biện chứng chính là

sự thay đổi một cách có tổ chức, chủ động thay đổi theo chiều hướng đi lên, mang tính tích cực, hiệu quả Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có sự vật, là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật

Như vậy, khi bàn đến phát triển, chúng ta cần quan tâm đến các vấn đề:

Có sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn; Có sự kế thừa những gì đã và đang tồn tại trước đó; Kết quả mang lại hạn chế được các rủi ro và tiết kiệm được các nguồn tài nguyên (cơ sở vật chất, tài chính,…)

Phát triển kỹ năng tự phục vụ là là quá trình hình thành, nâng cao kỹ năng tự phục vụ, giúp mỗi cá nhân (trẻ mầm non) chủ động lựa chọn cách thức, con đường để tích lũy kinh nghiệm, dựa trên mục đích của từng cá nhân

để hoàn thiện bản thân và hội nhập với môi trường xã hội

Tuy nhiên, do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi mầm non, trẻ chưa đủ nhận thức, kinh nghiệm để lựa chọn những kỹ năng, cách thức hình thành kỹ năng, Vì vậy, người lớn phải làm nhiệm vụ đó thay cho các em Ví dụ, trong gia đình thì cha mẹ có trách nhiệm định hướng, tạo điều kiện để con cái thể hiện bản thân, rèn luyện kỹ năng tự phục vụ Ở nhà trường phải tổ chức hoạt động rèn luyện kỹ năng một cách có kế hoạch, có sự định hướng, rõ ràng và

có môi trường thực hành Còn ở xã hội, thường xuyên tổ chức những hoạt động mang tính chất cộng đồng, nhằm phát triển nhiều kỹ năng, khả năng của các em

1.2.7 Mối quan hệ của nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở trường mầm non

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ là một bộ phận quan trọng của giáo dục lao động, nhằm hình thành những phẩm chất của người lao động mới như yêu lao động, quý trọng người lao động Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu

Trang 35

giáo giúp trẻ nắm được các kỹ năng đơn giản, phục vụ cho sinh hoạt và chuẩn

bị cho trẻ tham gia vào đời sống lao động sau này

Theo Hồ Lam Hồng [20], giáo dục kỹ năng tự phục vụ là quá trình tác động của giáo viên tới trẻ nhằm giáo dục cho trẻ những cách thức tiến hành công việc hàng ngày để phục vụ bản thân trẻ như ăn uống, vệ sinh cá nhân…

để giáo dục cho trẻ thói quen tốt, và khả năng tự chủ, chủ động trong sinh hoạt

Như vậy, theo chúng tôi: “Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ là quá trình, do các nhà giáo dục tổ chức nhằm phát triển ở cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó, được sử dụng để giải quyết tình huống thực hiện công việc tự phục vụ cho chính bản thân của đối tượng được giáo dục”

Như vậy, chăm sóc và giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ là hai hoạt động có mối quan hệ biện chứng, mật thiết, thống nhất với nhau, có thể khái quát qua sơ đồ 1.2 như sau:

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa chăm sóc và giáo dục trẻ MN

CBQL trường

MN

Giáo viên Nhân viên

Trẻ mầm non Giáo Chăm dục sóc

Trang 36

1.3 Hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ trong trường mầm non

1.3.1 Đặc điểm sự phát triển của thể chất, tâm lý trẻ mầm non

Trẻ MN là các trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi học ở các trường MN, được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để phát triển tốt về thể chất và tâm lý để tạo

cơ sở ban đầu cho sự phát triển ở các giai đoạn tiếp theo Đặc biệt là tạo được tiền đề tốt cho việc thích nghi và thực hiện các hoạt động học tập ở trường phổ thông Từ đó, việc chăm sóc, giáo dục trẻ 5 tuổi ở các trường MN phải hình thành được những cơ sở của phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội trên cơ sở những tư chất và năng khiếu của bản thân trẻ Các tư chất và năng khiếu này cần được phát hiện và rèn luyện, phát triển qua hoạt động tích cực của trẻ trong quá trình tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của nhà trường ở các độ tuổi

Nếu như nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc ở chương trình Chăm sóc giáo dục trước kia chỉ được coi như là một bộ phận, một nội dung để hỗ trợ cho các hoạt động học tập của trẻ ở trường mầm non thì trong Chương trình Giáo dục mầm non được ban hành theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009 và được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 28/2016/TT-BGDĐT ngày 30/12/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng (giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe) đã được quan tâm và coi đó như là một nhiệm vụ chính song song với nhiệm vụ giáo dục trẻ trong các trường mầm non và đây cũng là một trong những nội dung quyết định sự thành công của chương trình

Việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ trong trường mầm non được tiến hành thông qua một đến ba hoạt động theo quy định của chương trình giáo dục mầm non Nội dung chính của hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non là: chăm sóc dinh dưỡng; chăm sóc sức khỏe và hoạt động tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em cho các cha mẹ trẻ và cộng đồng (Kiến thức về chế độ dinh dưỡng cho trẻ, chăm

Trang 37

sóc giấc ngủ, chăm sóc vệ sinh, chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo an toàn )

1.3.2 Đặc điểm phát triển các kỹ năng tự phục vụ của trẻ mầm non Xuất phát từ đặc điểm quá trình hình thành nhu cầu lao động tự phục

vụ, trẻ mầm non có tính độc lập và nhu cầu tự khẳng định mình đang phát triển mạnh mẽ trẻ quan sát thế giới xung quanh, tiếp thu những vốn kinh nghiệm nhất định từ môi trường xung quanh về cách sử dụng đồ dùng, dụng cụ…Trẻ biết hành động theo những kinh nghiệm học được từ những gì trẻ nhìn thấy (bắt chước), trẻ có nhu cầu muốn làm như người lớn, giống người lớn Vì vậy nhu cầu lao động tự phục vụ của trẻ được hình thành, đây là thời điểm tốt để giáo dục lao động tự phục vụ

Lao động tự phục vụ của trẻ có tính mục đích: Trong hoạt động lao động tự phục vụ của trẻ, giáo viên đặt ra mục đích cho trẻ Song ở lứa tuổi trẻ lại gặp những hành động theo trình tự, hành động được lặp đi lặp đi lặp lại nhiều lần, dần dần trẻ hiểu hành động và đó là hành động định hướng đơn giản đầu tiên Như vậy, từ những hành động định hướng theo trình tự, trẻ chuyển sang chơi với đồ vật, trong quá trình chơi trẻ dần dần hiểu những hoạt động dẫn đến mục đích tuy đơn giản nhưng đã nổi rõ trong ý thức trẻ Trẻ có khả năng thực hiện được mục đích đề ra, có thể hoạt động cá nhân hoặc hoạt động chung theo nhóm (2 - 3 trẻ), dưới sự phân công của giáo viên, trẻ cố gắng hoạt động để đạt được kết quả mà đã được giáo viên định hướng [1] Trẻ

có khả năng tự đặt mục đích và thực hiện mục đích Trẻ có thể đặt mục đích trong công việc quen thuộc hàng ngày như xếp đồ chơi lên giá, tự xúc ăn, tự uống nước, tự lau mặt, lau miệng, rửa tay

Lao động tự phục vụ của trẻ có tính kế hoạch: Trong hoạt động lao động tự phục vụ tính tích cực sáng tạo của trẻ có ý nghĩa quan trọng Trẻ suy nghĩ đến công việc sắp làm, chọn thời điểm, đồ dùng cần thiết, khắc phục khó khăn để đạt kết quả đề ra, đó là việc xây dựng kế hoạch hoạt động Giáo viên thường giúp trẻ xây dựng kế hoạch lúc ban đầu, giáo viên hướng dẫn trẻ theo trình tự logic, lúc đầu làm gì, sau đó làm gì, tiếp đến làm gì và cuối cùng làm

Trang 38

gì, sau đó khích lệ trẻ tự đặt kế hoạch sao cho hợp lí Khi trẻ có khả năng đặt

kế hoạch thì kế hoạch được thực hiện dần dần từ hành động đơn giản đến phức tạp cuối cùng là đạt được mục đích theo kế hoạch định sẵn

Lao động tự phục vụ của trẻ là hoạt động có kết quả: Hoạt động lao động tự phục vụ bao giờ cũng nhằm đạt tới một kết quả Trong lao động kết quả là thành phần bắt buộc cần phải có, với trẻ mầm non thì kết quả đạt được

có ý nghĩa như một yếu tố sư phạm có tác dụng giáo dục cho trẻ hứng thú lao động, trẻ biết đánh giá kết quả, so sánh với bạn Giáo viên nhận xét, xác nhận, tuyên dương khuyến khích những thành tích của trẻ góp phần quyết định thái

độ trong lao động tự phục vụ của trẻ

Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ rất cần thiết, ngoài việc chăm sóc giữ gìn vệ sinh để tránh mắc bệnh, cơ thể luôn khỏe mạnh còn giúp trẻ rèn luyện một số phẩm chất đạo đức quan trọng như tính độc lập, tính tự giác, tính kế hoạch, tính kiên trì và tính tích cực, góp phần giúp trẻ phát triển nhân cách toàn diện Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ là phương tiện cần thiết

để trẻ tham gia đời sống xã hội, thích ứng với môi trường xung quanh Kỹ năng tự phục vụ rất cần thiết để giúp trẻ sống khỏe mạnh, sống an toàn, thích ứng với những thay đổi của cuộc sống hàng ngày Xã hội ngày càng phát triển, đòi hỏi có những con người khỏe mạnh, năng động, có tri thức, văn minh, lịch sự Giáo dục tốt kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo sẽ giúp trẻ tự chủ, tự tin trong cuộc sống, là nền tảng trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo con người mới của xã hội trong thời đại mới

1.3.3 Lý luận về hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc theo hướng phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở trường mầm non

1.3.3.1 Mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục mầm non

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa

XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ rõ: Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1 [2]

Trang 39

Trong Chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành nêu rõ: Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối

đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo

và cho việc học tập suốt đời [7]

* Mục tiêu của hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ ở trường MN, theo chúng tôi được thể hiện qua 5 nội dung cơ bản sau:

- Mục tiêu về phát triển thể chất: Giúp trẻ phát triển khỏe mạnh, cân nặng và chiều cao phát triển bình thường theo lứa tuổi; Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế; Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động, vận động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian;

- Mục tiêu về phát triển nhận thức: Giúp trẻ ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các sự vật, hiện tượng xung quanh; Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý, ghi nhớ có chủ định; Có khả năng phát hiện

và giải quyết các vấn đề đơn giản theo những cách khác nhau;

- Mục tiêu về phát triển ngôn ngữ: Giúp trẻ có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp hàng ngày; Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (lời nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ ); Diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hóa trong cuộc sống hàng ngày; Có khả năng nghe và kể lại sự việc, kể lại truyện; Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhịp điệu của bài thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi

- Mục tiêu về phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội: Giúp trẻ có ý thức

về bản thân; Có khả năng nhận biết và thể hiện tình cảm với con người, sự vật, hiện tượng xung quanh; Có một số phẩm chất cá nhân, mạnh dạn, tự tin,

tự lực; Có một số kĩ năng sống: Tôn trọng, hợp tác, thân thiện, quan tâm, chia

Trang 40

sẻ; Thực hiện một số quy tắc, một số quy định gần gũi, đơn giản trong sinh hoạt gia đình, trong trường lớp MN, và những nơi công cộng

- Mục tiêu về phát triển thẫm mỹ: Giúp trẻ có khả năng cảm nhận vẻ đẹp trong thiên nhiên, cuộc sống và trong tác phẩm nghệ thuật; Có khả năng thể hiện cảm xúc, sáng tạo trong các hoạt động âm nhạc, tạo hình; Yêu thích, hào hứng tham gia vào các hoạt động nghệ thuật

* Nội dung hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ mầm non

Ở trường MN, nội dung chương trình nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục Chương trình GDMN là căn cứ để triển khai và chỉ đạo công tác nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các cơ sở GDMN trong cả nước, đồng thời là căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng giáo viên MN Tăng cường cơ sở vật chất và đảm bảo các điều kiện thực hiện chương trình GDMN có chất lượng

Thực hiện tốt các nội dung nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1 cụ thể:

- Trẻ khỏe mạnh, cơ thể phát triển cân đối

- Thực hiện các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế

- Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động: Vận động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian

- Thực hiện được một số vận động của đôi tay một cách khéo léo

- Có một số thói quen, kỷ luật tốt về giữ gìn sức khỏe, vệ sinh cá nhân,

vệ sinh môi trường và biết cách đảm bảo sự an toàn

Theo chương trình giáo dục mầm non được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành [7], [8], chúng tôi thấy: Hoạt động nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ ở trường MN gồm bốn nội dung cơ bản sau:

Nội dung 1: Tổ chức ăn: xây dựng chế độ ăn, khẩu phần ăn phù hợp với

độ tuổi

Ngày đăng: 23/04/2019, 08:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w