Tuy nhiên, dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường, sự thiếu liên kết trong công tác giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội; sự thiếu quan tâm, quản lí của các bậc cha mẹ; ảnh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN VIẾT SỰ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH THPT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2NGUYỄN VIẾT SỰ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH THPT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Phan Văn Kha
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư, Tiến sĩ Phan Văn Kha đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình lập đề cương, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và chuyên viên Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định, Ban Giám hiệu, tập thể cán bộ giáo viên và học sinh các trường THPT trên địa bàn huyện Giao Thủy đã động viên giúp đỡ, tạo điều kiện và hợp tác giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận vănchắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy
cô giáo, các chuyên gia và các bạn đồng nghiệp
Hà Nội, tháng 8 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Viết Sự
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Viết Sự
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH THPT 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về GDPL 7
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động GDPL trong nhà trường 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Pháp luật, Ý thức pháp luật, Quy phạm pháp luật, Vi phạm pháp luật, Trách nhiệm pháp lý, Pháp chế, Nhà nước pháp quyền 9
1.2.2 Khái niệm quản lý 11
1.2.3 Khái niệm về giáo dục 14
1.2.4 Khái niệm giáo dục pháp luật 15
1.2.5 Khái niệm quản lí giáo dục pháp luật 17
1.3 Giáo dục pháp luật và hoạt động GDPL cho học sinh THPT 18
1.4 Quản lí hoạt động GDPL cho học sinh THPT 22
1.4.1 Lập kế hoạch quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT 22
1.4.2 Tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh THPT 24
1.4.3 Chỉ đạo, điều hành hoạt động GDPL cho học sinh THPT 26
1.4.4 Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch GDPL cho học sinh THPT 28
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động GDPL cho học sinh THPT 29
Trang 61.5.1 Đặc điểm của học sinh THPT 29
1.5.2 Yếu tố chủ quan 33
1.5.3 Yếu tố khách quan 35
Kết luận Chương 1 37
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH THPT HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH 38
2.1 Khái quát về tình hình phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục của huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 38
2.1.1 Tình hình phát triển kinh tế, xã hội huyện Giao Thủy 38
2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục huyện Giao Thủy 38
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng hoạt động GDPL và quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT 41
2.2.1 Mục đích khảo sát 41
2.2.2 Nội dung khảo sát 41
2.2.3 Phương pháp khảo sát 41
2.2.4 Tiêu chuẩn và thang đánh giá 42
2.2.5 Địa bàn nghiên cứu và mẫu khảo sát thực trạng 42
2.3 Thực trạng hành vi VPPL của học sinh các trường THPT 43
2.3.1 Tình hình học sinh VPPL trên địa bàn huyện 43
2.3.2 Các lỗi vi phạm pháp luật của học sinh THPT 47
2.3.3 Những nguyên nhân dẫn đến hành vi VPPL của học sinh THPT 48
2.4 Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh các trường THPT 49
2.4.1 Thực trạng nhận thức về GDPL cho học sinh THPT 49
2.4.2 Thực trạng thực hiện các nội dung GDPL cho học sinh THPT 51
2.4.3 Thực trạng các hình thức giáo dục pháp luật cho học sinh THPT 52
2.4.4 Thực trạng sử dụng các biện pháp để GDPL cho học sinh 54
2.4.5 Thực trạng đánh giá kết quả rèn luyện, thực hiện pháp luật của học sinh THPT 56
2.5 Thực trạng quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT 57
Trang 72.5.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục pháp luật cho học sinh THPT 57
2.5.2 Tổ chức chỉ đạo, thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT 59
2.5.3 Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT 62
2.6 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT 63
2.6.1 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh THPT 63
2.6.2 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT 65
2.7 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT 68
2.7.1 Những thành công 68
2.7.2 Những hạn chế 68
2.7.3 Nguyên nhân của những hạn chế 69
Kết luận Chương 2 72
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH THPT HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH 73
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 73
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 73
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 73
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 74
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 75
3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 75
3.2.1 Tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật cho giáo viên và cộng tác viên 75
3.2.2 Chỉ đạo thực hiện GDPL cho học sinh thông qua các môn học trong nhà trường 79
Trang 83.2.3 Tổ chức đa dạng hóa các hoạt động trải nghiệm theo các chủ điểm
giáo dục pháp luật 82
3.2.4 Xây dựng cơ chế tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để GDPL cho học sinh 84
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và kế hoạch GDPL cho học sinh trường THPT 87
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh THPT 89
3.4 Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh THPT 89
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 89
3.4.2 Mẫu và địa bàn khảo nghiệm 89
3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm, tiêu chí và thang đánh giá khảo nghiệm 90
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 90
Kết luận chương 3 95
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC
Trang 9GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê số trường, lớp, học sinh 39
Bảng 2.2: Thống kê chất lượng giáo dục toàn diện khối THPT Huyện Giao Thủy - Tỉnh Nam Định 39
Bảng 2.3 Cách cho điểm 42
Bảng 2.4 Mẫu khảo sát thực trạng GDPL và quản lí hoạt động GDPL cho học sinh 43
Bảng 2.5 Số trẻ em chưa thành niên VPPL ở huyện Giao Thủy 44
Bảng 2.6 Đánh giá biểu hiện của một số hành vi VPPL của học sinh THPT 45
Bảng 2.7 Đánh giá về các lỗi vi phạm pháp luật của học sinh THPT 47
Bảng 2.8 Đánh giá nguyên nhân những hành vi VPPL của học sinh 48
Bảng 2.9 Đánh giá mức độ quan trọng của nhận thức và về hoạt động GDPL cho học sinh THPT 50
Bảng 2.10 Mức độ đạt được về nhận thức của mục tiêu GDPL cho học sinh THPT 50
Bảng 2.11 Mức độ thực hiện các nội dung GDPL cho học sinh THPT 51
Bảng 2.12 Mức độ thực hiện hình thức GDPL cho học sinh THPT 52
Bảng 2.13 Mức độ sử dụng các biện pháp GDPL cho học sinh 54
Bảng 2.14 Thực trạng đánh giá kết quả rèn luyện, thực hiện giáo dục pháp luật của học sinh ở trường THPT 56
Bảng 2.15 Mức độ thực hiện xây dựng kế hoạch quản lý GDPL cho học sinh THPT 57
Bảng 2.16 Mức độ thực hiện xây dựng kế hoạch quản lý GDPL cho học sinh THPT theo thời gian 59
Bảng 2.17 Đánh giá thực trạng việc phối hợp giữa các lực lượng trong thực hiện tổ chức quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT 60
Bảng 2.18 Mức độ thực hiện chỉ đạo quản lí hoạt động GDPL cho học sinh thông qua giảng dạy các môn học 61
Bảng 2.19 Mức độ thực hiện kiểm tra và đánh giá quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT 62
Trang 11Bảng 2.20 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDPL cho
học sinh THPT (từ phía hiệu trưởng và nhà trường THPT) 64 Bảng 2.21 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục
pháp luật cho học sinh THPT 66 Bảng 3.1: Mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động GDPL cho học
sinh THPT huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 91 Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý GDPL
cho học sinh THPT huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 92 Bảng 3.3: Đánh giá mức độ phù hợp giữa tính cần thiết và tính khả thi của các
biện pháp quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT huyện Giao Thủy 93
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình đổi mới đất nước, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Nhà nước của dân, do dân và vì dân, đảm bảo Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là một trong những mục tiêu cơ bản của Đảng ta Vì vậy việc trang bị tri thức pháp luật, hình thành ý thức pháp luật để phát triển toàn diện nhân cách con người, tìm tòi các biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để đạt hiệu quả cao là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đặc biệt là nhiệm vụ của các cơ sở giáo dục và đào tạo, các nhà trường phổ thông Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác GDPL, Đảng, Nhà nước ta luôn
quan tâm đến công tác này Văn kiện lần thứ VI của Đảng đã xác định rõ: “Đưa việc dạy pháp luật vào hệ thống các trường học của Đảng và Nhà nước (kể cả các trường phổ thông, đại học) của các đoàn thể nhân dân Cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân dân” Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: "Đẩy mạnh giáo dục pháp luật, đạo đức, thẩm mĩ, môi trường, dân số, rèn luyện thể chất cho học sinh” Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX nêu: “Phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật” Nghị quyết Đại hội X, Đảng ta khẳng định: “Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, huy động lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia cuộc vận động thiết lập trật tự, kỷ cương và các hoạt động thường xuyên, xây dựng nếp sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật trong cơ quan nhà nước và trong toàn xã hội”
Để đảm bảo cho công tác GDPL được tiến hành thường xuyên, liên tục, Đảng
và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo: Ngày 09/12/2003, Ban Bí thư
Trung ương Đảng (khóa IX) đã ra Chỉ thị số 32/CT-TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân” Ngày 20/11/2009 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1928/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng công tác
Trang 13phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường”; Ngày 16/11/2010, Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư Liên tịch số: 30/2010/TTLT-BGDĐT-BTP Hướng dẫn việc phối hợp thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà
trường nhằm mục đích “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhà giáo
và người học” Ngày 04/4/2016, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 01-KL/TW, đề
ra nhiệm vụ: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật”
Công tác giáo dục pháp luật trong hệ thống giáo dục quốc dân trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực về cả nội dung, phương pháp và hình thức tiến hành Tuy nhiên, dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường, sự thiếu liên kết trong công tác giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội; sự thiếu quan tâm, quản
lí của các bậc cha mẹ; ảnh hưởng tiêu cực từ xã hội, sự hiểu biết pháp luật của học sinh còn nhiều hạn chế, mơ h ; k năng vận dụng kiến thức pháp luật vào thực tế cuộc sống chưa đảm bảo Chính từ đó đã dẫn đến ý thức chấp hành pháp luật của học sinh chưa tốt, thậm chí là có những hành vi coi thường pháp luật Vì vậy giáo dục cho học sinh có thói quen và lối sống tuân thủ Hiến pháp và pháp luật là một nội dung vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo hiện nay
Giao Thuỷ là huyện ven biển của tỉnh Nam Định, trong những năm qua, huyện Giao Thủy đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội Năm 2017 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định công nhận Giao Thủy là huyện đạt chuẩn Nông thôn mới
Các trường phổ thông nói chung, trường THPT ở Giao Thủy nói riêng, đã và đang đẩy mạnh các hoạt động GDPL để trang bị kiến thức, giáo dục hành vi cho học sinh, ngăn chặn các tác động xấu xâm nhập vào học sinh và nhà trường Tuy nhiên, hiện nay việc tổ chức giáo dục còn nhiều hạn chế, các nhà trường chưa có sự phối hợp đ ng bộ, thống nhất với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường, chưa huy động được tối đa các lực lượng toàn xã hội tham gia nên việc GDPL trong nhà
Trang 14trường còn mang tính lý thuyết, đơn lẻ, một chiều, hình thức Kết quả GDPL chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Thời gian qua, trên địa bàn huyện đã có không ít học sinh THPT không làm chủ được bản thân, sa ngã vào các tệ nạn xã hội dẫn đến sa sút về đạo đức, yếu kém về học tập hoặc có hành vi VPPL phải bỏ học Số học sinh THPT
vi phạm pháp luật có xu hướng tăng, làm vẩn đục môi trường văn hoá trong nhà trường Do đó, công tác giáo dục pháp luật cho học sinh THPT là vấn đề cấp thiết của huyện Giao Thủy hiện nay mà nhà trường giữ vai trò then chốt
Từ những lí do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật
cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” với mong muốn
nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác GDPL cho học sinh, đóng góp một phần vào công tác giáo dục pháp luật hiện nay cho học sinh nói chung và học sinh THPT huyện Giao Thủy nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THPT huyện Giao Thủy,
tỉnh Nam Định, nhằm góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của học sinh THPT trong bối cảnh hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lí giáo dục pháp luật cho học
sinh THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục pháp luật cho
học sinh THPT trên địa bàn huyện Giao Thủy, Tỉnh Nam Định
4 Giả thuyết khoa học
Những năm gần đây, hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh các trường THPTtrên địa bàn huyện Giao Thủy, Tỉnh Nam Định đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể xã hội, các cơ sở giáo dục và đào tạo ở địa phương quan tâm, nhưng hiệu quả còn thấp so với yêu cầu, việc phối hợp các lực lượng tham gia quá trình GDPL còn nhiều hạn chế Nếu đề xuất được hệ thống các biện pháp quản lý
Trang 15đ ng bộ, phù hợp thì chất lượng GDPL trong nhà trường THPT trên địa bàn huyện Giao Thủy sẽ được nâng cao, góp phần đáp ứng mục tiêu giáo dục, đào tạo của địa
phương và của cả nước trong thời kỳ CNH - HĐH
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu làm sở lí luận về quản lí hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trườngTHPT
5.2 Đánh giá thực trạng quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật ở các trường THPT huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của các trường THPT trên địa bàn huyện
5.4 Khảo nghiệm tính khả thi và mức độ cấp thiết của các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật đề xuất
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn chủ thể quản lý: Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh là trách
nhiệm của nhiều chủ thể quản lý: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, lãnh đạo các tổ chức chính trị xã hội trong nhà trường nhưng chủ thể quản lý chính trong luận văn được xác định là hiệu trưởng trườngTHPT, các chủ thể khác là chủ thể phối hợp trong
quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh
6.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu: 04 Trường THPT sở trên địa bàn huyện
Giao Thủy, tỉnh Nam Định (THPT Giao Thuỷ A, THPT Giao Thủy B, THPT Giao Thủy C, THPT Quất Lâm)
6.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu: thời gian 02 năm học, năm học 2016-2017,
năm học 2017-2018 và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDPL cho học sinh các trường trong những năm tiếp theo
6.4 Giới hạn đối tượng khảo sát: 200 chuyên gia, cán bộ quản lý, giáo viên, học
sinh và các lực lượng ngoài xã hội, trong đó:
- Khảo sát 05 chuyên gia
Trang 16- Khảo sát 50 cán bộ quản lý và giáo viên trong đó:
+ 16 cán bộ quản lý là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng các trường THPT huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
+ 34 giáo viên của 4 trường THPT trên địa bàn huyện
- Khảo sát 115 học sinh của 4 trường THPT trên địa bàn huyện
- Khảo sát 30 người thuộc lực lượng ngoài xã hội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các văn bản, tài liệu liên quan đến đề tài (các văn kiện của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, Điều lệ trường THPT, các tài liệu do Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Bộ Công an và chính quyền các cấp liên quan đến công tác giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên nói chung, học sinh THPT nói riêng, các tạp chí, sách về giáo dục pháp luật cho học sinh)
- Nghiên cứu các tài liệu lưu trữ, báo cáo tổng kết của Công an huyện, Sở
GD-ĐT và các trường THPT trên địa bàn huyện
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Để tiến hành điều tra và nghiên cứu thực tiễn hoạt động quản lý GDPL ở các
trường THPT trên địa bàn huyện Giao Thủy, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Tổng kết các kinh nghiệm quản lí hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THPT
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Nhằm thu thập các thông tin từ đội ngũ cán bộ quản lí, đội ngũ giáo viên và học sinh của các trường THPT huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định về thực trạng các biện pháp quản lí giáo dục pháp luật cho học
sinh ở các trường THPT huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
- Phương pháp quan sát: Nhằm thu thập các thông tin về thực trạng quản lí giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường THPT huyện Giao Thủy, Tỉnh Nam Định
- Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình tiến hành luận văn chúng tôi thường xuyên xin ý kiến chuyên gia về các lĩnh vực liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài Qua ý kiến chuyên gia, tác giả có thể điều chỉnh các nhận định, đề xuất
Trang 17- Phương pháp thống kê: Xử lý, phân tích để định lượng kết quả nghiên cứu
- Phương pháp khảo nghiệm: Khảo nghiệm để minh chứng tính khả thi của các giải pháp được đưa ra trong luận văn
7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán thống kê để xử lý các thông tin, xử lý các kết quả điều tra, kết quả nghiên cứu nhằm rút ra kết luận khoa học
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh THPT
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh THPT
trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO HỌC SINH THPT 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về GDPL
Giáo dục là con đường chính và nhanh nhất để mang tri thức đến cho con người, cung cấp cho họ sự hiểu biết về các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, khoa học kĩ thuật để họ được phát triển toàn diện, thích ứng với mọi lĩnh vực trong cuộc sống, chuẩn bị cho họ hành trang bước vào đời giúp họ nuôi sống bản thân và góp phần xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Tri thức pháp luật muốn truyền tải đến mọi người một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất tất yếu phải thông qua con đường giáo dục Do vậy, giáo dục pháp luật cho công dân nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng là một việc làm hết sức quan trọng kể cả trước mắt cũng như lâu dài Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông là vấn đề đặc biệt quan trọng trong các con đường giáo dục nói chung, có ý nghĩa chiến lược trong việc đào tạo, giáo dục để hình thành một cách vững chắc thế hệ công dân toàn cầu - thế hệ chủ nhân của đất nước có lối sống, lao động và làm theo Hiến pháp, pháp luật
Vấn đề GDPL có nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, luận án, luận văn, tài liệu tham khảo trong đó có nhiều công trình
nghiên cứu có giá trị lý luận và thực tiễn cao đó là: Giáo trình “Lý luận Nhà nước
và Pháp luật” do PGS.TS Lê Minh Tâm chủ biên, xuất bản năm 2000; Giáo trình “Bàn về giáo dục pháp luật” của PGS.TS Trần Ngọc Đường và TS Dương Thanh Mai, xuất bản năm 1995; cuốn “Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật” của PGS.TS Đào Trí Úc, xuất bản năm 1995 “Giáo dục pháp luật qua hoạt động báo chí” Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Hùng năm 2003 Luận văn thạc
sĩ của Ngô Thị Thu Hà năm 1997; “Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật ở nước ta- Thực trạng và giải pháp”
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động GDPL trong nhà trường
Giáo dục - đào tạo giữ vai trò đặc biệt quan trọng: Giáo dục đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, b i dưỡng nhân tài, nâng cao ý thức
Trang 19dân tộc, tinh thần trách nhiệm với bản thân và cộng đ ng, đặt nền tảng cho sự đổi mới
và phát triển khoa học công nghệ của đất nước đ ng thời có tác dụng mạnh mẽ đến tiến trình phát triển quốc gia Giáo dục phải đi trước một bước, giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, tạo nên sự phát triển nhanh và phát triển bền vững cho mỗi quốc gia Trong bối cảnh đó, giáo dục phải được đổi mới mạnh mẽ, phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo ở các cấp học, bậc học Trong điều kiện của yêu cầu đổi mới giáo dục đòi hỏi phải đổi mới hoạt động quản lí giáo dục trong đó
có quản lý GDPL
Quản lý các hoạt động giáo dục đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cơ quan và các nhà khoa học từ trước đến nay đặc biệt là trong thời kì đổi mới đất nước
Đã có những công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến s , luận văn thạc s , một số
bài viết đăng trên báo, tạp chí, tập san có giá trị cao trong thực tiến như: cuốn “Giáo
dục pháp luật trong nhà trường” của TS Nguyễn Đình Đặng Lục xuất bản năm
2000; cuốn “Giáo dục pháp luật trong trường phổ thông”; “Một số vấn đề lí luận
và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới”, NXB Bộ Tư pháp (1995); “Giải phóng, nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” Đặng Thị Thu Huyền (2009) - Đề tài Khoa học công nghệ - Mã
số B2009-37-09NV; “Phổ biến giáo dục pháp luật trong nhà trường”, Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Đình Đặng Lục (2012)
Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào giáo dục pháp luật và phổ biến giáo dục pháp luật cho học sinh, các nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh còn rất ít Đặc biệt, trên địa bàn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh Vì
vậy tác giả tập trung nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh THPT huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định” nhằm đổi mới, bổ sung và hoàn thiện
các nội dung giáo dục pháp luật chính cũng như những biện pháp quản lí hoạt động GDPL cho học sinh THPT trên địa bàn huyện
Trang 201.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Pháp luật, Ý thức pháp luật, Quy phạm pháp luật, Vi phạm pháp luật,
Trách nhiệm pháp lý, Pháp chế, Nhà nước pháp quyền
1.2.1.1 Pháp luật
Pháp luật là một hiện tượng xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị của một xã hội có giai cấp Pháp luật là công cụ sắc bén để thực hiện quyền lực Nhà nước, duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp nắm quyền Theo học thuyết Mác-Lênin, pháp luật chỉ phát sinh, t n tại và phát triển trong xã hội có giai cấp
Khi Nhà nước ra đời, pháp luật cũng xuất hiện, giai cấp nắm quyền đã sử dụng công cụ pháp luật để quản lí xã hội bên cạnh việc sử dụng các quy phạm đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán để duy trì trật tự xã hội Cũng như Nhà nước, bản chất của pháp luật thể hiện rõ tính giai cấp của nó, vì pháp luật phản ánh
ý chí của Nhà nước, của giai cấp nắm quyền Trong xã hội có giai cấp, pháp luật chính là yếu tố điều chỉnh giai cấp về các quan hệ xã hội, nhằm hướng các quan hệ
xã hội phát triển theo một mục tiêu, một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp nắm quyền, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội Bên cạnh tính giai cấp, pháp luật còn mang tính xã hội và có giá trị xã hội to lớn Bởi vậy, các quy phạm pháp luật là kết quả của sự chọn lọc tự nhiên trong xã hội Xã hội thông qua Nhà nước ghi nhận những cách xử sự hợp lí, khách quan phù hợp với lợi ích của số đông trong xã hội và được Nhà nước thể chế hoá thành những quy phạm pháp luật Giá trị xã hội của pháp luật thể hiện ở chỗ một quy phạm pháp luật vừa là thước
đo của hành vi con người, vừa là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiện tượng xã hội, là công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các quan hệ xã hội
Như vậy, pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính xã hội Hai thuộc tính này có mối quan hệ mật thiết với nhau Xét theo quan điểm hệ thống, không có pháp luật chỉ thể hiện duy nhất tính giai cấp, ngược lại, cũng không có pháp luật chỉ thể hiện tính xã hội
Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền lãnh đạo và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo
ra trật tự và ổn định trong xã hội
Trang 21Pháp luật Nhà nước XHCN Việt Nam là hệ thống các quy phạm do Nhà nước Việt Nam, đại diện cho quyền lực của giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đặt ra thể hiện ý chí, nguyện vọng và lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, có tính chất bắt buộc chung đối với toàn xã hội, nhằm điều chỉnh các quan hệ trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
1.2.1.2 Ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội được hình thành dưới sự tác động của toàn bộ mọi mặt đời sống xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người với pháp luật, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi
xử sự của con người, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội
1.2.1.3 Quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp nắm quyền để điều chỉnh các quan hệ xã hội
1.2.1.4 Vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật
và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ
Trang 221.2.1.7 Nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền là nhà nước đảm bảo tính tối cao của pháp luật, nhà nước bảo đảm và bảo vệ quyền tự do cá nhân và bảo đảm quan hệ trách nhiệm giữa nhà nước và cá nhân, hay nói một cách khác: Nhà nước pháp quyền là một hình thức chính trị pháp lý hợp lý để quản lý, xây dựng một xã hội văn minh, công bằng
Theo quan điểm điều khiển học: Quản lí là chắc năng của những hệ thống có
tổ chức, với bản chất khác nhau (xã hội, k thuật, sinh học ), nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động Quản lí là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lí là phương thức tác động có
chủ đích của chủ thể quản lí lên hệ thống bao g m hệ nguyên tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính hợp lí của
cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt được mục tiêu
Theo cách tiếp cận hệ thống: Quản lí là sự tác động của chủ thể quản lí đến
khách thể quản lí (hay đối tượng quản lí) nhằm tổ chức phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất - xã hội để đạt được mục đích đã định
Theo Các Mác, Quản lí là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lí (con người điều khiển con người) Ông coi quản lí là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội,
theo ông: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất
Trang 23với những vận động cá nhân của nhứng khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó” Như vậy, quản lí là loại lao động sẽ điều khiển mọi quá trình lao động phát
triển xã hội
Các nhà lí luận quốc tế như Frederich Taylor (1856-1915) - M , Henrifayol
(1841-1925) - Pháp, Maxweber (1864-1920) - Đức đều khẳng định: Quản lí là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội
Theo H.Koontz (người M ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường, trong đó, con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”
Theo Aonapy (người Nhật): “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống mà chủ yếu là việc tác động vào con người nhằm hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội xác định”
Theo Hà S H : “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ định), có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định"
Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lí là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lí, người tổ chức quản lí) lên khách thể (đối tượng quản lí) về các mặt chính trị, xã hội, văn hoá, kinh tế bằng một hệ thống các luật
lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”
Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lí là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (khách thể quản lí) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”
Theo Trần Kiểm: “Quản lí một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến”
Trang 24Ta thấy, dù cách diễn đạt khác nhau, song trong quan niệm của các nhà nghiên cứu khái niệm quản lí đều thể hiện: Quản lí là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội Lao động quản lí là điều kiện quan trọng để làm cho
xã hội loài người t n tại và phát triển Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lí Quản lí là một hoạt động được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm người trong xã hội Quản lí vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Chính vì vậy, trong hoạt động quản lí, người quản lí phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo để chỉ đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích
Từ đây có thể hiểu khái niệm quản lí như sau: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí và khách thể quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
1.2.2.2 Các chức năng của quản lí
Chức năng của quản lí là một dạng hoạt động quản lí chuyên biệt thông qua
đó chủ thể quản lí tác động vào khách thể quản lí nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định Theo quan điểm quản lí hiện đại, từ các hệ thống chức năng quản lí nêu trên,
có thể khái quát thành 4 chức năng quản lí: Chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng điều hành (lãnh đạo), chức năng kiểm tra, đánh giá Bốn chức năng
này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chu trình quản lí thống nhất
- Chức năng lập kế hoạch: Là khâu quan trọng nhất trong hoạt động quản lí
Lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của một tổ chức Nó chỉ ra các hoạt động, các biện pháp cơ bản và các điều kiện cần thiết
để thực hiện mục tiêu đó Kế hoạch là nền tảng của quản lí, là sự quyết định lựa chọn phương hướng hành động của một tổ chức và các bộ phận của nó phải tuân thủ theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức
- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền
hành và ngu n lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả Nhờ tổ chức hiệu quả mà người quản lí có thể phối hợp, điều phối ngu n lực tốt hơn Một tổ chức hình thành phù hợp sẽ phát huy
Trang 25được năng lực nội tại và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực
- Chức năng điều hành (lãnh đạo): Là quá trình nhà quản lí dùng ảnh hưởng
quyền uy của mình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức Vai trò của người lãnh đạo là phải chuyển được ý tưởng, quyết định của mình vào nhận thức của các thành viên, hướng những người trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị
- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản lí Quản
lí mà không kiểm tra thì coi như không quản lí Nhờ có hoạt động kiểm tra mà người quản lí đánh giá được kết quả của công việc, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những hạn chế, t n tại Từ đó, có biện pháp phù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổ chức lãnh đạo
Tóm lại: Chức năng quản lí có thể coi là những nhiệm vụ có tính nghề nghiệp
mà tất cả các nhà quản lí phải thực hiện trong quá trình quản lí của mình Các chức năng quản lí thể hiện bản chất của quá trình quản lí, việc thực hiện các chức năng quản lí là đảm bảo cho hoạt động quản lí t n tại và phát triển Các chức năng quản lí
có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó là cơ sở, điều kiện của nhau, đan xen, tương tác với nhau trong một quá trình quản lí đầy năng động, sáng tạo, nhằm đưa tổ chức tiếp cận mục tiêu đã xác định một cách hiệu quả
1.2.3 Khái niệm về giáo dục
Giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng nhất là giáo dục xã hội, được coi là lĩnh vực hoạt động của xã hội nhằm truyền đạt những kinh nghiệm xã hội, lịch sử chuẩn bị cho thế hệ trẻ trở thành lực lượng tiếp nối sự phát triển của xã hội, kế thừa và phát triển nền văn hóa của dân tộc và của cả loài người
Giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp hơn là giáo dục nhà trường, đó là quá trình tác động có tổ chức, có kế hoạch, có quy trình chặt chẽ nhằm mục đích cung cấp kiến thức, k năng, hình thành thái độ, hành vi cho thanh thiếu niên, xây dựng và phát triển nhân cách theo mô hình mà xã hội đương thời mong muốn Giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp hơn còn được xem là một trong năm mặt của giáo dục nhà trường Theo
Trang 26cách hiểu này hoạt động giáo dục tác động đến hệ thống giá trị, tư tưởng, tình cảm, đạo đức của đối tượng giáo dục
1.2.4 Khái niệm giáo dục pháp luật
GDPL là vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong khoa học giáo dục cũng như trong sự nghiệp giáo dục ở nước ta Khái niệm GDPL thường được quan niệm là một dạng hoạt động gắn liền với việc triển khai thực hiện pháp luật cũng như trong hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật
Có quan niệm cho rằng GDPL không phải là một bộ phận độc lập của hệ thống giáo dục ở trường phổ thông, nó là một bộ phận giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục đạo đức Một khi giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục đạo đức được tiến hành tốt thì hiển nhiên sẽ có sự tôn trọng pháp luật của công dân Tuyên truyền, phổ biến hay giải thích pháp luật là công việc, nhiệm vụ của cơ quan chuyên trách, của các phương tiện thông tin đại chúng của bộ máy tuyên truyền
Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng giáo dục pháp luật đ ng nghĩa với dạy và học pháp luật ở trong các nhà trường, còn việc tuyên truyền, phổ biến về pháp luật ở ngoài xã hội không phải là giáo dục pháp luật
Song có quan niệm lại cho rằng không có khái niệm GDPL Bởi vì pháp luật là quy tắc có tính bắt buộc chung, mọi người phải có nghĩa vụ tuân theo, muốn hay không muốn cũng phải làm theo Do đó, không cần phải đề cập đến khái niệm GDPL mà chỉ cần phổ biến pháp luật để mọi người tự tìm hiểu và có cách xử sự cho đúng pháp luật của nhà nước đã đề ra
Xuất phát từ nhận thức bản thân pháp luật của nhà nước đã có vai trò giáo dục thì chúng ta thấy mỗi quan niệm trên mới chỉ nhìn thấy GDPL ở một khía cạnh nào
đó, chưa thấy hết vai trò giáo dục chung của pháp luật đối với nhận thức và hành vi
xã hội của cá nhân
Theo chúng tôi, khái niệm GDPL trước tiên phải được hiểu theo nghĩa chung nhất đó là vấn đề giáo dục và là cả vấn đề pháp luật Quá trình hình thành ý thức con người là quá trình chịu ảnh hưởng thống nhất của các điều kiện khách quan và các nhân
tố chủ quan Trong đó, các điều kiện khách quan đóng vai trò là những nhân tố ảnh
Trang 27hưởng, các nhân tố chủ quan đóng vai trò là các nhân tố tác động GDPL là sự tác động của nhân tố chủ quan do các chủ thể có năng lực làm công tác giáo dục tiến hành Đó là các hoạt động có định hướng, có tổ chức thông qua nội dung, chương trình, phương pháp cụ thể của nhiều chủ thể (nhà trường, các tổ chức Đảng, chính quyền, cơ quan, đoàn thể ) nhằm hình thành ở khách thể những yếu tố chủ quan, trước hết là tri thức hiểu biết, tư tưởng, thái độ, tình cảm về pháp luật Đó chính là thiên chức của giáo dục tiến bộ
GDPL là hình thức cụ thể, là cái riêng, cái đặc thù và cũng là cái chung, cái phổ biến trong mối quan hệ với giáo dục Cụ thể là:
GDPL nhằm hình thành tri thức, tình cảm pháp luật ở mỗi cá nhân, hình thành thói quen xử sự, nếp sống phù hợp với quy định của pháp luật, từ đó, tự giác tuân thủ pháp luật, có thái độ, hành vi đúng đắn, tích cực trong việc sử dụng pháp luật Như vậy, mục đích của GDPL là hình thành môi trường chủ quan thuận lợi, phù hợp để từ đó chủ thể định hướng hành vi xã hội của mình theo những chuẩn mực
mà pháp luật quy định, góp phần tích cực tăng cường hiệu lực, hiệu quả của pháp luật Mục đích này mang cả ý nghĩa lí luận và thực tiễn
Mặt khác GDPL cũng có nội dung riêng, đó là sự tác động có định hướng để chuyển tải nội dung pháp luật (nguyên tắc, giá trị, quy phạm pháp luật) Những nội dung này phản ánh trong nó về các hiện tượng nhà nước và các hiện tượng xã hội như: quan hệ xã hội, trách nhiệm xã hội được thể hiện thông qua hình thức pháp lí Như khi giáo dục về trách nhiệm của con người trong xã hội thì đạo đức đề cập bằng phương diện đạo lí, còn pháp luật thì đề cập bằng nghĩa vụ, trách nhiệm pháp
lí dưới dạng những hành vi bắt buộc
Xét trên các vấn đề chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức và phương pháp giáo dục thì GDPL cũng có những nét riêng Chủ thể GDPL trước hết phải có những tri thức cần thiết về pháp luật và đời sống pháp luật; phải hiểu được nhân thân, hoàn cảnh, môi trường sống của đối tượng; phải biết cách truyền tải kiến thức pháp luật đến đối tượng; phải là hình mẫu trong việc tuân thủ theo pháp luật Đặc biệt, chủ thể giáo dục phải có khả năng minh họa những vấn đề xảy ra trong đời
Trang 28sống mà có ý nhĩa pháp lí dưới những thuật ngữ, những nguyên tắc, những quy định pháp luật cụ thể Nếu thiếu khả năng này, chủ thể giáo dục mất đi ý nghĩa thực tiễn Xét về vị trí, vai trò trong hệ thống giáo dục thì GDPL có vai trò chi phối rất lớn đối với các dạng giáo dục chính trị - xã hội khác Chính vì vậy, GDPL có sức mạnh, khả năng tác động ưu thế hơn so với ý thức, thái độ của đối tượng giáo dục Điều này
có ý nghĩa đối với đối tượng GDPL ở mọi lứa tuổi, giúp họ nhận thức đầy đủ về pháp luật như: bản chất, giá trị, thuộc tính Từ đó, các đối tượng giáo dục pháp luật sẽ có khả năng nhận thức (đúng - sai, cái lợi - hại) và tự kiềm chế hành vi để thực hiện đúng những quy định của pháp luật nhà nước đã đề ra
Từ những điều nêu trên, có thể nói về GDPL như sau: Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành
Với khái niệm nêu trên, GDPL không đơn thuần là sự tác động đơn giản, nhất thời
mà là một hệ thống các hoạt động có mục đích, có tổ chức với cấu trúc đ ng bộ của nó bao g m: chủ thể, khách thể, đối tượng, nguyên tắc, mục đích xác định
1.2.5 Khái niệm quản lí giáo dục pháp luật
Từ khái niệm quản lí và giáo dục pháp luật, luận văn xác định quản lí giáo dục
pháp luật là: Tác động có ý thức của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đưa hoạt động GDPL đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất Đó chính là việc trang bị, bồi dưỡng và nâng cao tri thức pháp luật; hình thành, tạo dựng lòng tin vào pháp luật; xây dựng thói quen vững chắc xử sự theo những đòi hỏi của pháp luật (hình thành lối sống và làm việc tuân theo pháp luật) cho các em học sinh, những chủ nhân tương lai của đất nước
Hoạt động quản lí GDPL bao g m các nội dung:
- Lập kế hoạch quản lí GDPL với mục tiêu, biện pháp rõ ràng, những bước đi
cụ thể và các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục pháp luật
- Tổ chức thực hiện, sắp xếp con người, công việc một cách khoa học, hợp lí
có tính khả thi cao, phối hợp với các lực lượng, các bộ phận để tạo ra các tác động
Trang 29thích hợp nhằm đạt hiệu quả Người quản lí phải thông báo kế hoạch, chương trình hoạt động đến các thành viên, các lực lượng trong và ngoài nhà trường Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng thành viên, xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên
- Xác lập quyền chỉ huy, điều hành của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lí, huy động mọi lực lượng thực hiện kế hoạch và điều hành mọi hoạt động diễn ra theo một trật tự nhất định
- Kiểm tra công việc diễn ra ở mọi giai đoạn trong quá trình quản lí nhằm vào việc đánh giá tiến độ, nhịp độ của quá trình quản lí so với kế hoạch, xác định mức độ đạt được so với mục tiêu đề ra Phát hiện sai sót, khuyết điểm cần khắc phục đ ng thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh tìm biện pháp giải quyết; rút ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình quản lí sau đạt hiệu quả hơn
1.3 Giáo dục pháp luật và hoạt động GDPL cho học sinh THPT
Từ khái niệm chung về GDPL ta có thể hiểu: GDPL cho học sinh là sự tác động có định hướng của chủ thể giáo dục lên đối tượng giáo dục là học sinh nhằm hình thành ở học sinh ý thức pháp luật, có tình cảm và thái độ đúng đắn với pháp luật, làm cơ sở cho sự hình thành hành vi và thói quen hành xử đúng quy định của pháp luật
1.3.1 Vai trò giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường THPT
Trong xu thế hội nhập toàn cầu, đòi hỏi mỗi người dân phải có sự phát triển toàn diện cả về trình độ, trí tuệ và hiểu biết về pháp luật để thích nghi Nhiệm vụ đào tạo ra những công dân toàn cầu được đặt lên vai ngành giáo dục - đào tạo Đó là cơ sở, là nền tảng, là yêu cầu bắt buộc để các em tự tin, vững bước vào cuộc sống
Vai trò của GDPL xuất phát từ vai trò và giá trị xã hội của pháp luật Pháp luật
là phương tiện để tổ chức đời sống nhà nước, đời sống xã hội; là công cụ để Nhà nước quản lí xã hội; là phương tiện để người công dân thực hiện lợi ích, nhu cầu, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình Bởi vậy, GDPL tạo ra khả năng hình thành các điều kiện và nhân tố thuận lợi cho hoạt động quản lí nhà nước, quản lí xã hội Về mặt lí luận, GDPL được coi là một trong những con đường hình thành ý thức của công dân
Trang 30Đối với hệ thống giáo dục phổ thông, GDPL không chỉ đơn thuần là một hoạt động thực tiễn mà nó là một bộ phận của khoa học giáo dục áp dụng trong trường phổ thông Vai trò của giáo dục pháp luật được thể hiện trước hết ở chỗ nó làm đầy
đủ hơn kiến thức văn hoá phổ thông Trong điều kiện đất nước hiện nay thì văn hoá pháp lí không thể tách rời văn hoá nói chung GDPL ở trường phổ thông có vai trò
hỗ trợ cho các hoạt động giáo dục khác, nhất là những bộ môn giáo dục xã hội như
m thuật, giáo dục công dân để hình thành nhân cách học sinh Bởi với các thuộc tính của mình, các quy tắc về tình cảm, thẩm mĩ, đạo đức không đủ sức để lí giải cho học sinh rất nhiều vấn đề cụ thể xảy ra trong cuộc sống, những đòi hỏi cụ thể
của yêu cầu “quản lí xã hội bằng pháp luật” Mặt khác, để học sinh có đầy đủ nhân
cách đúng với chuẩn mực xã hội, giáo dục phải trải qua một quá trình g m nhiều
bước khác nhau mà trong đó “Cái tối đa của pháp luật là cái tối thiểu của đạo đức” Bằng GDPL, học sinh sẽ nắm được những chuẩn mực của xã hội, từ đó rèn
luyện thói quen tuân thủ pháp luật Vì những lí do trên mà GDPL có vai trò vô cùng quan trọng đối với học sinh THPT, nhất là trong chiến lược phát triển giáo dục ngày nay của đất nước
1.3.2 Mục tiêu, nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường THPT
* Mục tiêu:
- Về kiến thức: Trang bị cho học sinh THPT tương đối có hệ thống những tri thức
cơ bản và cần thiết, phù hợp với độ tuổi về Nhà nước, về pháp luật, về nghĩa vụ, quyền con người, quyền công dân Trên cơ sở đó giúp học sinh hình thành niềm tin, tình cảm đúng đắn về pháp luật; định hướng cho các em sống và làm việc theo pháp luật trong tương lai Để giúp cho học sinh có tri thức, hiểu biết về pháp luật, phải chú trọng đổi mới nội dung, hình thức, đặc biệt là phương pháp dạy học các môn học có liên quan, nhất là môn Giáo dục công dân Bên cạnh đó cần trang bị cho các em hệ thống những tri thức, giá trị đạo đức, giá trị làm người
- Về thái độ: Trên cơ sở trang bị tri thức, hiểu biết về pháp luật để xây dựng
cho học sinh ý thức tôn trọng pháp luật, có ý thức tuân thủ pháp luật và đấu tranh với những biểu hiện vi phạm pháp luật trong xã hội
Trang 31- Về kỹ năng thói quen: K năng biểu hiện sống và làm việc theo pháp luật là
mục tiêu cuối cùng và cơ bản nhất của GDPL, đặc biệt là hình thành các thói quen tuân thủ pháp luật như: Thói quen tuân thủ và tôn trọng pháp luật, thói quen điều chỉnh thái độ và hành vi trên cơ sở pháp luật, thói quen thực hiện quyền và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật…
* Nội dung GDPL cho học sinh THPT:
- Thực hiện chương trình GDPL theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó tập trung vào pháp luật của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp sửa đổi năm 2013, Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Hành chính và Pháp lệnh xử phạt hành chính
- Luật về Khiếu nại Tố cáo của công dân
- Vấn đề quyền, nghĩa vụ của công dân quy định trong Hiến pháp
- Giáo dục ý thức pháp luật, đây là nội dung rất cơ bản
Từ những nội dung trên hình thành cho các em thói quen xử sự, nếp sống phù hợp với quy định của pháp luật, tự giác tuân thủ pháp luật, có thái độ, hành vi đúng
đắn, tích cực trong việc sử dụng pháp luật
1.3.3 Hoạt động GDPL – các phương pháp và các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường THPT:
* Phương pháp:
- Phương pháp thuyết phục: Đây là nhóm phương pháp tác động vào nhận thức,
tình cảm của học sinh để hình thành cho các em ý thức, thái độ tích cực với cuộc
sống qua khuyên giải, tranh luận, nêu gương
- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động: Đưa học sinh vào các hoạt động thực
tiễn, thông qua việc phân tích, xử lý tình huống cụ thể để tập dượt, hình thành ở học
sinh thái độ, hành vi và thói quen tuân thủ pháp luật
- Nhóm phương pháp kích thích hành vi: Là nhóm phương pháp tác động vào
động cơ, tình cảm của học sinh nhằm tạo nên tính tích cực hoạt động và khả năng điều chỉnh hành vi, khắc phục những hạn chế, sai lệch trong hành vi pháp luật
Nhóm này g m khen thưởng, trách phạt, thi đua
Trang 32* Hình thức: GDPL cho học sinh bằng nhiều con đường:
Giáo dục thông qua các môn học: Thông qua các môn học, các em được làm
quen với các kiến thức về pháp luật ở các khía cạnh khác nhau Trong các môn học, môn GDCD là một môn chủ đạo để GDPL cho học sinh Hệ thống các văn bản, các quy phạm pháp luật, các quyền và nghĩa vụ của công dân đã được đưa vào phân phối
chương trình và sách giáo khoa môn này
Thông qua các hoạt động trải nghiệm, Các hoạt động trải nghiệm là cách
GDPL cho học sinh nhẹ nhàng nhất Thông qua các tiết học ngoài giờ ở trường, các câu lạc bộ ở trường và địa phương, các hoạt động văn hoá, tham quan thực tế sẽ đưa các em vào tìm hiểu các kiến thức pháp luật, nâng cao hiểu biết của các em một cách nhẹ nhàng, tế nhị
Các hoạt động này nhằm hỗ trợ, bổ sung cho hình thức chính thức nhằm củng
cố, mở rộng và khơi sâu thêm sự hiểu biết của học sinh về pháp luật, quyền và nghĩa vụ công dân, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và hình thành thói quen tuân thủ pháp luật Trong hình thức này, đối với học sinh THPT cần chú trọng
hoạt động hướng nghiệp để thông qua đó giáo dục về nhận thức và ý thức pháp luật GDPL cho học sinh thông qua sự phối hợp giữa nhà trường với các LLGD
ngoài nhà trường, đặc biệt là gia đình Đây là con đường giáo dục cũng hết sức cần thiết Ngoài việc học ở trường, các em về sống giữa gia đình, với cộng đ ng địa phương Để GDPL cho các em được thường xuyên, cần kết hợp với các LLGD Làm như vậy GDPL mới đạt được hiệu quả cao
Tự giáo dục là con đường ý nghĩa nhất trong GDPL cho học sinh Quá trình tự
tu dưỡng, tự rèn luyện là quá trình lâu dài, liên tục và suốt đời mỗi con người Các kiến thức GDPL có đi vào và trở thành các hành vi ở mỗi em hay không là do sự tự
tu dưỡng, tự rèn luyện, tự ý thức của các em
Như vậy, các hoạt động GDPL cho học sinh THPT bao g m: Các hoạt động
GDPL thông qua dậy học các môn học; các hoạt động trải nghiệm; thông qua sự phối hợp giữa nhà trường với các LLGD ngoài nhà trường và hoạt động tự GDPL
của học sinh THPT
Trang 331.4 Quản lí hoạt động GDPL cho học sinh THPT
Quản lí GDPL cho học sinh là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đưa hoạt động GDPL đạt kết quả mong muốn bằng biện pháp hiệu quả nhất
Về bản chất, đó là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lí tức là hiệu trưởng lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động GDPL Thông qua các phương thức, biện pháp cụ thể nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GDPL cho học sinh
1.4.1 Lập kế hoạch quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT
Quản lý một hệ thống phức tạp đòi hỏi phải có một kế hoạch được xây dựng
từ trước
* Khái niệm: Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng của
quản lý Lập kế hoạch là chức năng rất quan trọng đối với mỗi nhà quản lý bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai, giúp nhà quản lý xác định được các chức năng khác còn lại nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra
Có rất nhiều khái niệm về chức năng lập kế hoạch Với mỗi quan điểm, mỗi cách tiếp cận khác nhau đều có khái niệm riêng nhưng tất cả đều biểu hiện đúng bản chất của phạm trù quản lý này
Nếu đứng trên góc độ ra quyết định thì:“Lập kế hoạch là một loại ra quyết định đặc thù để xác định một tương lai cụ thể mà các nhà quản lý mong muốn cho
tổ chức của họ” Quản lý có bốn chức năng cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh
đạo và kiểm tra Xét theo quan điểm này thì lập kế hoạch là chức năng khởi đầu và trọng yếu đối với mỗi nhà quản lý
Theo STEYNER thì: “Lập kế hoạch là một quá trình bắt đầu từ việc thiết lập các mục tiêu, quyết định các chiến lược, các chính sách, kế hoạch chi tiết để đạt được mục tiêu đã định Lập kế hoạch cho phép thiết lập các quyết định khả thi và bao gồm cả chu kỳ mới của việc thiết lập mục tiêu và quyết định chiến lược nhằm hoàn thiện hơn nữa”
Trang 34Theo cách tiếp cận này thì lập kế hoạch được xem là một quá trình tiếp diễn phản ánh và thích ứng được với những biến động diễn ra trong môi trường của mỗi
tổ chức, đó là quá trình thích ứng với sự không chắc chắn của môi trường bằng việc xác định trước các phương án hành động để đạt được mục tiêu cụ thể của tổ chức Như vậy, lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức để đạt được các mục tiêu đó Lập kế hoạch nhằm mục đích xác định mục tiêu cần phải đạt được là cái gì? và phương tiện để đạt được các mục tiêu đó như thế nào? Tức
là, lập kế hoạch bao g m việc xác định rõ các mục tiêu cần đạt được, xây dựng một chiến lược tổng thể để đạt được các mục tiêu đã đặt ra, và việc triển khai một hệ thống các kế hoạch để thống nhất và phối hợp các hoạt động
Kế hoạch là một tập hợp những hoạt động được sắp xếp theo lịch trình, có thời hạn, ngu n lực, ấn định những mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp tốt nhất… để
thực hiện một mục tiêu cuối cùng đã được đề ra
Lập kế hoạch là xác định các hành động cần thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, là việc ra quyết định mang tính đón đầu trước khi thực hiện hành động nhằm đạt một tương lai mong muốn
Từ những quan điểm trên, ta có thể khái quát việc lập kế hoạch giáo dục pháp luật cho học sinh là việc xác định các mục tiêu giáo dục pháp luật cần đạt được trong một thời hạn nhất định trên cơ sở lựa chọn các phương thức, phương tiện để đạt được các mục tiêu đó có sự phù hợp với những yêu cầu và nhiệm vụ của người học
và xã hội đặt ra
* Nội dung lập kế hoạch:
Việc xây dựng kế hoạch là chức năng quan trọng hàng đầu trong công tác quản lí vì thiếu kế hoạch, giáo dục khó đạt được kết quả cao Muốn có kế hoạch khả thi và hiệu quả cần đầu tư suy nghĩ để hoạch định vấn đề từ chung nhất đến vấn đề
cụ thể, chi tiết Từ những vấn đề mang tính chiến lược đến những vấn đề theo từng giai đoạn Khi xây dựng kế hoạch GDPL cho học sinh, hiệu trưởng cần chú ý đến những vấn đề cơ sở như sau:
Trang 35- Phân tích thực trạng việc quản lí thực hiện các nội dung GDPL trong năm học Thực trạng này được thể hiện trong báo cáo đánh giá tổng kết năm học Qua thực trạng đó, nhà trường rút ra được những ưu, nhược điểm của công tác GDPL, những vấn đề nào còn t n tại cần được sắp xếp để ưu tiên giải quyết từng vấn đề Những vấn đề đã làm tốt thì cần tiếp tục phát huy Từ thực trạng đó, nhà trường tiếp tục đưa ra các giải pháp để điều chỉnh công tác GDPL trong năm học tới để quá trình GDPL diễn ra thuận lợi và đạt kết quả cao
- Hiệu trưởng nghiên cứu các văn bản, nghị quyết về công tác GDPL cho HS, phân tích kế hoạch chung của ngành, của nhà trường, chỉ đạo xây dựng kế hoạch GDPL Trong đó, phải xây dựng được các nội dung giáo dục pháp luật, phải thể hiện mối quan hệ giữa GDPL với các mặt giáo dục khác, đ ng thời phải phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và nhà trường cũng như phù hợp với tâm sinh lí của học sinh Xác định các điều kiện GDPL như: thời gian, cơ sở vật chất, tài chính,
sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường
- Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch GDPL:
+ Kế hoạch phải thể hiện được tính khoa học, tính kế thừa, toàn diện và trọng tâm của công tác quản lí GDPL trong từng giai đoạn của năm học
+ Kế hoạch phải phát huy được những mặt mạnh, khắc phục những mặt còn hạn chế, đưa ra được chiều hướng giáo dục toàn diện cho học sinh
+ Kế hoạch phải xác định được mục tiêu giáo dục pháp luật, thể hiện được mối quan hệ giữa mục đích, phương pháp, nội dung, hình thức, kiểm tra, đánh giá Xác định được các biện pháp để thực hiện kế hoạch giáo dục pháp luật
+ Kế hoạch phải thể hiện được sự phân cấp quản lí trong nhà trường để đảm bảo được tính thống nhất, đ ng bộ
1.4.2 Tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh THPT
a Tổ chức nhân sự GDPL cho học sinh THPT
Thông thường, trong chức năng quản lí giáo dục chức năng tổ chức là chức năng thứ 2, tuy nhiên trong lĩnh vực hoạt động quản lí giáo dục thì chức năng tổ chức (hay công tác tổ chức) lại là khâu đầu tiên của một quá trình quản lí
Trang 36* Khái niệm tổ chức:
Tổ chức có thể được định nghĩa theo các cách khác nhau Triết học định nghĩa
“Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật không thể tồn tại mà không
có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật”
Theo Ducan (1981), tổ chức là một tập hợp các cá nhân riêng lẻ tương tác lẫn nhau, cùng làm việc hướng tới những mục tiêu chung và mối quan hệ làm việc của họ được xác định theo cơ cấu nhất định Theo định nghĩa này, yếu tố con người được coi
trọng hơn những ngu n lực khác của tổ chức (máy móc, nhà xưởng, công nghệ, …) Ở một giới hạn nào đó, con người trong tổ chức cần phải làm việc hướng tới mục tiêu chung và những hoạt động của họ cần phải được phối hợp để đạt mục tiêu đó Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng tất cả mọi người trong tổ chức đều có những mục tiêu và sự ưu tiên cho các mục tiêu giống nhau, và không phải tất cả các mục tiêu đều
rõ ràng đối với tất cả mọi người Theo đó, mối quan hệ của con người trong tổ chức được xác định theo cơ cấu nhất định
Bên cạnh đó, tổ chức cũng được coi là một hệ thống các hoạt động do hai hay nhiều người phối hợp hoạt động với nhau nhằm đạt được mục tiêu chung
Khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức với ý nghĩa hẹp là “tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó”
Qua đó, ta có thể đưa ra một định nghĩa về tổ chức đó là: Tập hợp của con người trong xã hội có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu xác định; được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật nhằm gắn kết con người với nhau bởi những mục đích xác định và hành động để đạt đến mục tiêu chung
Chức năng tổ chức của quản lý giáo dục là thiết kế cơ cấu, phương thức và quyền hạn hoạt động của các bộ phận (cơ quan) quản lý giáo dục sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức Đây là chức năng phát huy vai trò, nhiệm vụ, sự vận hành
và sức mạnh của tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của quản lí
Trang 37* Nội dung tổ chức bộ máy giáo dục pháp luật:
Có thể nói tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh là một công cụ Nhiệm vụ của nó càng chuyên sâu thì khả năng hoạt động có hiệu quả càng cao Muốn tổ chức
bộ máy giáo dục pháp luật cho học sinh đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải được xây dựng trên các nội dung sau:
- Xác định cơ cấu của tổ chức cho hoạt động pháp luật: phải gắn với mục đích, mục tiêu của hệ thống, phải gắn với nội dung công việc cụ thể Vì cơ cấu tổ chức là công cụ để thực hiện mục tiêu của hệ thống
- Xây dựng nhiệm vụ của từng bộ phận trong cơ cấu tổ chức tham gia GDPL: Việc xây dựng cơ cấu tổ chức phải bảo đảm nguyên tắc chuyên môn hóa, cân đối và dựa vào nhiệm vụ cụ thể Con người trong cơ cấu tổ chức phải được sắp xếp phù hợp với chuyên ngành đào tạo Phải cụ thể hóa nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của từng bộ phận, từng cá nhân
- Xây dựng cơ chế làm việc, tổ chức điều hành hoạt động giáo dục pháp luật Xây dựng tiêu chuẩn hóa trong tổ chức giúp cho nhà QL và các thành viên đánh giá
và tự đánh giá công việc của mình
- Tập huấn cho các lực lượng tham gia công tác giáo dục pháp luật
b Tổ chức các hoạt động GDPL cho học sinh THPT
- Tổ chức các hoạt động GDPL thông qua dạy học các môn học
- Tổ chức các hoạt động GDPL thông qua các hoạt động trải nghiệm, theo chủ điểm
- Tổ chức các lực lượng phối hợp hoạt động GDPL
1.4.3 Chỉ đạo, điều hành hoạt động GDPL cho học sinh THPT
* Khái niệm lãnh đạo:
Lãnh đạo là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong các tài liệu, sách viết về quản lý và các văn bản pháp lý của Nhà nước Có nhiều cách hiểu khác nhau
về thuật ngữ này
- Theo cách thức: Thì lãnh đạo được định nghĩa “Lãnh đạo là làm thế nào để các cá nhân và các tập thể đều nhận thấy rằng những mục tiêu theo đuổi hợp với nguyện vọng của mình và khi hoàn thành với những mục tiêu ấy, những nguyện
Trang 38vọng cá nhân cũng được thoả mãn” Theo cách tiếp cận này, để lãnh đạo được tập
thể thì người lãnh đạo phải nhận thức được mục tiêu của các cá nhân trong tập thể
và kết hợp hài hoà lợi ích chung của tập thể
- Ở góc độ khả năng thì: “Lãnh đạo là khả năng ảnh hưởng đến hành vi của người khác Trong tổ chức người lãnh đạo dùng ảnh hưởng để hình thành mục tiêu”
Theo định nghĩa này để lãnh đạo được tổ chức thì người lãnh đạo phải có những khả năng đặc biệt để ảnh hưởng đến những người khác, đó chính là quyền lực
- Ở góc độ nghệ thuật: “Lãnh đạo là nghệ thuật nhấn mạnh việc đạt được các mục tiêu tương hỗ thông qua phối hợp và thúc đẩy các cá nhân và các nhóm”
Lãnh đạo là làm việc với con người mà mỗi một cá nhân lại có những nhu cầu vật thể và tinh thần riêng, vì vậy để đạt được mục tiêu của tổ chức hoặc của người lãnh đạo thì người lãnh đạo phải nắm bắt được nhu cầu, động cơ của người khác và
từ đó tìm ra cơ chế cũng như phương tiện tác động lên động cơ đó để thúc đẩy họ hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đã định
Như vậy, Lãnh đạo là quá trình tác động của người lãnh đạo đến các thành viên của tổ chức (cấp dưới) để hướng dẫn và thúc đẩy, làm cho họ nhiệt tình, tự giác
nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu đã định
* Nội dung lãnh đạo, điều khiển quản lý hoạt động GDPL cho học sinh THPT:
Trong lãnh đạo có lãnh đạo chính thức và phi chính thức Lãnh đạo chính thức được mọi người trong đơn vị hoặc tổ chức thừa nhận và tuân thủ, nó ảnh hưởng đến cấp dưới chủ yếu trên cơ sở quyền hành mà tổ chức trao cho chức vụ đó Còn lãnh đạo phi chính thức được mọi người trong nhóm phi chính thức tuân thủ một cách tự nhiên và vô thức nó ảnh hưởng đến người khác trên cơ sở quyền uy cá nhân Đối với công tác lãnh đạo điều khiển GDPL cho học sinh THPT, đòi hỏi người lãnh đạo phải thực hiện tốt các nội dung, đó là:
- Ra các quyết định giáo dục pháp luật bằng văn bản Thông qua kế hoạch đầu năm học, các văn bản của ngành dọc và các cơ quan có liên quan, Hiệu trưởng xây dựng, triển khai các văn bản chỉ đạo về công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường, các nội qui, qui định… để giáo viên, học sinh thực hiện nhằm đạt được mục tiêu giáo dục pháp luật nhất định
Trang 39- Tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật Người Hiệu trưởng lãnh đạo, chỉ đạo,
tổ chức các hoạt động giáo dục pháp luật trong nhà trường thông qua các môn học, thông qua các buổi sinh hoạt ngoại khóa, các tiết sinh hoạt đầu tuần, qua các hội thi
…liên kết, phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nhà trường để giáo dục pháp luật cho học sinh nhằm đạt hiệu quả cao nhất
1.4.4 Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch GDPL cho học sinh THPT
Kiểm tra là chức năng cố hữu của quản lí, không có kiểm tra sẽ không có quản
lí Kiểm tra là chức năng xuyên suốt trong quá trình quản lý và là chức năng của
mọi cấp quản lý
* Khái niệm kiểm tra:
Kiểm tra là những hoạt động của chủ thể quản lí nhằm đánh giá và xử lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức, từ đó, tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết, chức năng kiểm tra bao g m: Xây dựng định mức và tiêu chuẩn, các chỉ số công việc, phương pháp đánh giá; Rút kinh nghiệm và điều chỉnh
*Nội dung kiểm tra việc thực hiện kế hoạch GDPL cho học sinh THPT:
Trong quản lí GDPL, việc kiểm tra đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng Việc kiểm tra đánh giá giúp chúng ta xác định rõ kết quả đạt được từ đó người quản lí sẽ có những điều chỉnh kịp thời trong quá trình thực hiện các kế hoạch phổ biến và nâng cao chất lượng GDPL Việc kiểm tra đánh giá còn có tác động gián tiếp lên người học về ý thức chấp hành các nội duy, quy định, quy chế trong nhà trường Các bước kiểm tra bao g m:
1 Xây dựng các tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn là những chỉ tiêu thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ
2 Đo đạc việc thực hiện: Kiểm tra việc thực hiện GDPL đã xác định
3 Điều chỉnh sai lệch: Khi tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật nhằm làm cho toàn bộ hệ thống đạt mục tiêu đã định, qua đó nhằm điều chỉnh, uốn nắn sai lệch so với mục tiêu, kế hoạch
4 Tổng hợp kết quả kiểm tra các bộ phận thực hiện nhiệm vụ tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật;
5 Tổng kết rút kinh nghiệm công tác giáo dục pháp luật
Trang 401.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động GDPL cho học sinh THPT
GDPL xét trên phương diện rộng góp phần đặc biệt quan trọng trong thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng đặt ra Nói như vậy, không có nghĩa là đề cao vị trí, vai trò của GDPL trong nhà trường mà xuất phát từ yêu cầu thực tế khách quan Nhà nước không thể thiếu pháp luật Bản thân pháp luật không thể tự đến với mỗi người, với cuộc sống mà phải thông qua quá trình tác động có định hướng, có mục đích - đó là GDPL Mục đích tổng quát, mục đích cuối cùng của GDPL là góp phần hình thành và nâng cao ý thức pháp luật, nâng cao văn hoá pháp lý của từng cá nhân và toàn xã hội GDPL
là một nhiệm vụ, một mục tiêu không thể tách rời khỏi bản chất của giáo dục Để hoạt động GDPL cho học sinh trong nhà trường THPT đạt hiệu quả cao, đòi hỏi chịu sự tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố:
1.5.1 Đặc điểm của học sinh THPT
1.5.1.1 Đặc tâm, sinh lý
Học sinh Trung học phổ thông ở tuổi chưa thành niên (15-18 tuổi) lứa tuổi này
có một vị trí đặc biệt quan trọng trong thời kì phát triển của mỗi con người, là thời kì chuyển tiếp từ thời tuổi thơ sang tuổi trưởng thành Đây là thời kì phát triển phức tạp nhất, các em ở trong giai đoạn phát triển mạnh về thể lực, tâm lý, sinh lý là thời kỳ
chuyển tiếp từ tuổi “trẻ con” sang tuổi “người lớn”, là giai đoạn các em tích cực tham
gia các hoạt động xã hội, thâm nhập cuộc sống, từ đó hình thành phẩm chất của người công dân Đặc điểm của sự phát triển nhân cách học sinh THPT là “tự ý thức” gắn liền với nhu cầu nhận thức Các phẩm chất tâm lý, ý thức đạo đức trong nhân cách được đánh giá cả trên bình diện các mục đích và nguyện vọng cụ thể trong cuộc sống Sự đánh giá không theo hiện tại mà theo tương lai Ở lứa tuổi này luôn luôn thể hiện những phẩm chất mang tính đặc trưng như: năng lực trí tuệ d i dào, ý chí cảm xúc mãnh liệt, nhạy bén, sáng tạo và thích tìm tòi cái mới trong cuộc sống Tuy nhiên, ở một số trường hợp những phẩm chất này lại thường gắn liền với sự b ng bột, thiếu chín chắn, dễ bị ảnh hưởng do tác động ngoại cảnh Ở lứa tuổi này, các em cũng có nhu cầu mạnh mẽ về tình bạn, tình yêu… Bên cạnh đó, các em cũng bước đầu xây dựng cho mình những quan điểm riêng, quyết định tương lai của bản thân,