Trên cơ sở tổng hợp cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với người cai nghiện đã làm rõ hơn các khái niệm, nội dung, phương pháp, nhiệm vụ, vai trò của công tác xã hội trong hỗ trợ điều
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
“CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC – LAO ĐỘNG XÃ HỘI (NAY LÀ CƠ SỞ CAI NGHIỆN MA TÚY)
TỈNH KHÁNH HÕA”
Cơ quan chủ trì đề tài: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Khánh Hòa
Cơ quan thực hiện đề tài: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
Chủ nhiệm đề tài: ThS Phạm Đức Tân
Nha Trang, tháng 7 năm 2018
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
“CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ CHO NGƯỜI NGHIỆN
MA TÖY TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC – LAO ĐỘNG XÃ HỘI
(NAY LÀ CƠ SỞ CAI NGHIỆN MA TÖY) TỈNH KHÁNH HÕA”
Cơ quan thực hiện đề tài Cơ quan chủ trì đề tài
Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa Sở Lao động – Thương binh
và Xã hội tỉnh Khánh Hòa
Chủ nhiệm đề tài
Nha Trang, tháng 7 năm 2018
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 3
1 Trên thế giới 3
2 Tại Việt Nam 4
Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
I MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 7
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 7
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 8
IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 8
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
1 Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu 9
2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 9
3 Phương pháp phỏng vấn sâu 9
4 Phương pháp quan sát 10
5 Phương pháp thống kê toán học 10
6 Phương pháp tham quan, học tập kinh nghiệm 10
7 Phương pháp tổ chức hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia 11
Chương 3: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 12
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CTXH ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY 12
1.1 Một số khái niệm liên quan 12
Trang 41.1.1 Khái niệm ma túy 12
1.1.2 Khái niệm nghiện ma túy 13
1.1.3 Khái niệm người nghiện ma túy 13
1.1.4 Khái niệm người cai nghiện ma túy 13
1.1.5 Khái niệm công tác xã hội 14
1.2 Các thuyết ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm 14
1.3 Nhu cầu chung và nhu cầu của người nghiện ma túy 15
1.3.1 Nhu cầu cơ bản của con người 15
1.3.2 Nhu cầu của người nghiện ma túy 16
1.4 Các chính sách hỗ trợ đối với người nghiện ma túy 18
1.5 Các hoạt động hỗ trợ cho người nghiện ma túy 20
1.6 Vai trò của nhân viên hỗ trợ xã hội 21
II CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGIỆN MA TÚY 23
2.1 Yếu tố đặc điểm của người nghiện ma túy 23
2.2 Yếu tố thuộc về gia đình người cai nghiện ma túy 26
2.3 Yếu tố cộng đồng 26
2.4 Yếu tố thuộc về cơ chế chính sách và nguồn nhân lực 27
2.5 Yếu tố thuộc về nhân viên CTXH 28
III THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY TẠI CƠ SỞ CAI NGHIỆN MA TÚY TỈNH KHÁNH HÒA 29
3.1 Khái quát về trung tâm giáo dục – lao động xã hội (Cơ sở cai ngiện ma túy) tỉnh Khánh Hòa 29
3.2 Thực trạng công tác xã hội hỗ trợ đối với người cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa 30
3.2.1 Đội ngũ cán bộ, nhân viên Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa 30
3.2.2 Công tác tiếp nhận, quản lý học viên 32
Trang 53.2.3 Các hoạt động hỗ trợ trong điều trị cho người nghiện ma túy
tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa 33
3.2.3.1 Hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ: 33
3.2.3.2 Hỗ trợ nâng cao năng lực (kiến thức, thái độ, kỹ năng) 34
3.2.3.3 Hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm 35
3.2.3.4 Công tác khảo sát lập hồ sơ quản lý trường hợp 36
3.2.4 Về người cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa 37
3.2.5 Đánh giá tiến trình công tác xã hội đối với người nghiện ma túy 44
3.2.6 Đánh giá hoạt động công tác xã hội 49
3.3 Đánh giá thực trạng các yếu tố tác động đến hoạt động xtxh hỗ trợ điều trị cho người nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh khánh Hòa 53
3.3.1 Yếu tố đặc điểm riêng của người nghiện ma túy 53
3.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài 57
3.3.2.1 Yếu tố từ cơ chế, chính sách đối với người nghiện ma túy 57
3.3.2.2 Yếu tố thuộc về gia đình người cai nghiện ma túy 58
3.3.2.3 Yếu tố thuộc về năng lực, trình độ của nhân viên công tác xã hội 59
3.3.2.4 Yếu tố thuộc về nguồn lực của Cơ sở 61
3.4 Thực hành mô hình công tác xã hội nhóm tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa 62
3.4.1 Quy trình thành lập nhóm 62
3.4.2 Các bước thực hiện buổi sinh hoạt nhóm 63
34.3.Đánh giá về hiệu quả của công tác xã hội nhóm 67
IV MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY TẠI CƠ SỞ 69
4.1 Kết nối nguồn lực 69
4.1.1 Kết nối với gia đình 69
4.1.2 Kết nối với cộng đồng 69
Trang 64.1.3 Kết nối hỗ trợ học nghề, tìm kiếm việc làm 70
4.1.4 Kết nối cho người nghiện tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, pháp lý, giáo dục… 70
4.1.5 Người nghiện tiếp cận dịch vụ tư vấn điều trị nghiện 70
4.2 Công tác xã hội là một phương pháp thực hiện nằm trong hợp phần điều trị cai nghiện ma túy (bao gồm cả chăm sóc sau điều trị) 71
4.3 Điều trị nghiện cần đáp ứng các nhu cầu đa dạng của người nghiện chứ không phải chỉ tập trung vào vấn đề ma túy của họ 72
4.4 Điều trị nghiện không chỉ là điều trị cho bản thân người nghiện mà điều trị cho tất cả các thành viên trong gia đình, cộng đồng 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Kiến nghị 76
PHỤ LỤC 81
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HIV (Human Immuno-deficiency
AIDS (Acquired Immuno
Deficiency Syndrome) Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Về giới tính của cán bộ, nhân viên 30
Bảng 3.2 Phân tích về độ tuổi của cán bộ, nhân viên 30
Bảng 3.3 Phân tích về thời gian, kinh nghiệm công tác của cán bộ, nhân viên 31 Bảng 3.4 Phân tích về trình độ của cán bộ, nhân viên 31
Bảng 3.5 Công tác tiếp nhận, quản lý học viên cai nghiện 32
Bảng 3.6 Công tác hỗ trợ chăm sóc sức khỏe 33
Bảng 3.7 Hỗ trợ nâng cao năng lực 34
Bảng 3.8 Hỗ trợ dạy nghề và định hướng việc làm 35
Bảng 3.9 Độ tuổi của học viên đang cai nghiện ma túy tại Cơ sở 37
Bảng 3.10 Tình trạng hôn nhân của học viên 37
Bảng 3.11 Trình độ học vấn, chuyên môn của học viên 39
Bảng 3.12 Tình trạng việc làm của học viên 40
Bảng 3.13 Hoàn cảnh kinh tế của học viên 40
Bảng 3.14 Tình trạng sử dụng ma túy của học viên 41
Bảng 3.15 Loại ma túy sử dụng của học viên 42
Bảng 3.16 Hình thức sử dụng 43
Bảng 3.17 Tham gia điều trị nghiện, cai nghiện 43
Bảng 3.18 Nhu cầu của người nghiện tham gia các hoạt động CTXH 44
Bảng 3.19 Tình trạng tham gia công tác xã hội của học viên 44
Bảng 3.20 Tham gia một trong các hoạt động công tác xã hội 46
Bảng 3.21 Hình thức tham gia sinh hoạt tại Cơ sở 47
Bảng 3.22 Đánh giá hoạt động CTXH đã triển khai 49
Bảng 3.23 Mức độ phục hồi của học viên sau thời gian tham gia hoạt động công tác xã hội 51
Bảng 3.24 Yếu tố do đặc điểm của người nghiện ma túy 54
Bảng 3.25 Yếu tố từ cơ chế, chính sách đối với người nghiện ma túy 57
Bảng 3.26 Yếu tố thuộc về gia đình người cai nghiện ma túy 58
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tổng hợp về độ tuổi và tình trạng hôn nhân của học viên 38
Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn của học viên 39
Biểu đồ 3.3 Tổng hợp về tình trạng việc làm và thu nhập của học viên 41
Biểu đồ 3.4 Tình trạng tham gia công tác xã hội 45
Biểu đồ 3.5 Đang tham gia một trong các hoạt động công tác xã hội 46
Biểu đồ 3.6 Hình thức tham gia sinh hoạt 48
Biểu đồ 3.7 Đánh giá hoạt động công tác xã hội 50
Biểu đồ 3.8 Mức độ phục hồi sau thời gian tham gia CTXH 52
Biểu đồ 3.9 Đặc điểm của người nghiện ma túy 54
Trang 101
MỞ ĐẦU
Theo báo cáo của Bộ Công an tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác năm 2017, triển khai công tác năm 2018 của Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tội phạm ma túy, mại dâm diễn ra ngày 08/12/2017, tính đến giữa tháng 11/2017 số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý là 222.582 người, tăng 11.831 người so với cùng kỳ năm 2016 Trong
đó, 67,5% người nghiện đang sinh sống ngoài cộng đồng, 13,5% người nghiện đang cai nghiện tại các cơ sở cai nghiện ma túy, 19% người nghiện ở trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng Trong khi 50% người nghiện vẫn sử dụng heroin thì ở nhiều địa phương có tỷ lệ trên 80% người nghiện chuyển sang sử dụng ma túy tổng hợp như: Trà Vinh (90,7%), Đà Nẵng (86%, Quảng Trị (84%)
Theo thống kê của công an tỉnh Khánh Hòa, đến ngày 15/11/2017 số người nghiện có hồ sơ quản lý là 1.295 người, cụ thể: thành phố Nha Trang 445 người, thành phố Cam Ranh 183 người, huyện Diên Khánh 96 người, huyện Vạn Ninh 194 người, thị xã Ninh Hòa 185 người, huyện Cam Lâm 50 người, huyện Khánh Vĩnh 05 người So với cuối năm 2016 tăng 102 người Loại ma túy
sử dụng: Heroin 853 người (65,9%); Ma túy tổng hợp 312 người (24,1%); Cần
sa 130 người (10%) Có 101/140 xã, phường, thị trấn ở 7/8 huyện, thị xã, thành phố có người nghiện ma túy; trong đó có 20 đơn vị trọng điểm loại III, 01 đơn vị trọng điểm loại II về ma túy
Trên cơ sở tổng hợp cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với người cai nghiện đã làm rõ hơn các khái niệm, nội dung, phương pháp, nhiệm vụ, vai trò của công tác xã hội trong hỗ trợ điều trị cho người nghiện ma túy cai nghiện, tái hòa nhập cộng đồng, ổn định sức khỏe và cuộc sống
Đề tài cũng chỉ ra những vấn đề lý luận chính về tiến trình công tác xã hội nhóm, công tác xã hội cá nhân đối với người cai nghiện ma túy cũng như vai trò và nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội đối với nhiệm vụ này Kết quả nghiên cứu lý luận của đề tài góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về công tác xã hội với người cai nghiện ma túy đang cai nghiện
Kết quả nghiên cứu thực trạng công tác xã hội đối với người cai nghiện
ma túy tại Trung tâm Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Khánh Hòa (nay là Cơ
Trang 11đó các Cơ sở nhận ra các điểm yếu, các thiếu sót để có các giải pháp điều chỉnh thích hợp, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong các hoạt động điều trị nghiện
Trong quá trình triển khai hoạt động CTXH tại Cơ sở nhận thấy đây là hoạt động rất bổ ích và có ý nghĩa thiết thực đối với không chỉ bản thân người nghiện mà còn có ý nghĩa đối với gia đình, cộng đồng và xã hội Cũng như một người bình thường, người nghiện cũng có tất cả các nhu cầu cần được đảm bảo,
họ có quyền được tiếp cận tất cả các dịch vụ Tuy nhiên trên thực tế hiện nay người nghiện chưa được đảm bảo đầy đủ các quyền của con người, họ chịu nhiều thiệt thòi đặc biệt sự sự kỳ thị, xa lánh của gia đình và cộng đồng dẫn đến các dịch vụ hỗ trợ đối với người nghiện chưa đảm bảo
Chính vì vậy nhóm nghiên cứu nghiên cứu thực trạng và giải pháp ứng dụng khoa học về Công tác xã hội hỗ trợ điều trị cho người nghiện ma túy tại Trung tâm Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Khánh Hòa (nay là Cơ sở cai nghiện
ma túy tỉnh Khánh Hòa) là hết sức cần thiết
Trang 123
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
Trợ giúp cho người cai nghiện là một vấn đề cần được quan tâm nhằm giúp cho họ có được những điều kiện tốt nhất đáp ứng nhu cầu cai nghiện, nâng cao năng lực và phát huy được những thế mạnh của bản thân, vượt qua mặc cảm, tự ti để vươn lên trong cuộc sống, cho nên vấn đề này đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, cách nhìn khác nhau
Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều ấn phẩm được đề cập trên các báo, luận án, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đề cập đến vấn đề hỗ trợ cho người cai nghiện:
Callahan R.J (1997) trong “Addition - Anxiety conection” đã nghiên cứu vấn đề nghiện và tác nhân nghiện bằng quan điểm tiếp cận tâm lý trị liệu nhận thức Với quan điểm này, ông cho rằng nguyên nhân của nghiện ngập và thôi thúc một số người sử dụng các chất gây nghiện chính là những cảm xúc tiêu cực mà họ phải trải nghiệm Đồng thời đã phát hiện ra mối liên hệ giữa nghiện và sự sợ hãi Với phát hiện này đã giúp tìm ra phương pháp chữa trị cho hầu hết các nguyên nhân gây nghiện Phương pháp trị liệu này là tìm cách vượt qua được sự lo hãi và gọi đó là: Liệu pháp trường tư duy.[27]
Richardson, Myers, Bing (2002) cho rằng sự rối loạn tâm trạng, cảm giác lo âu dự báo khả năng nghiện ma túy nặng Nếu như sự nhận thức về cái tôi hiệu quả là chìa khóa của các nghiên cứu ở trên thì quan điểm của thuyết hiện tượng là đại diện thì cái tôi phải có thêm tác nhân khác đi kèm nữa mới dẫn đến nghiện Tác nhân đó có thể là những đau đớn về sự thất bại của cá nhân Trong quá trình nghiên cứu ở nhiều đối tượng khác nhau đã thấy có một mối liên hệ chặt chẽ giữa nghiện, tự nhận thức cao và sự trải nghiệm các thất
Trang 134
bại cá nhân Theo sự giải thích của cách tiếp cận này thì nhiều cá nhân đã dùng chất gây nghiện để làm giảm bớt mức độ nhận thức về nỗi đau cũng như những trải nghiệm âm tính trong cuộc sống của mình Việc phát hiện ra mối liên hệ giữa nghiện với tự nhận thức và tần suất của các thất bại cá nhân mở đường cho việc trị liệu người nghiện ở chính “cái tôi” của họ để họ có khả năng ứng phó với những khó khăn thất bại xảy ra trong cuộc sống.[29]
Tài liệu này đã giúp cho nhóm nghiên cứu triển khai các hoạt động sinh hoạt nhóm và tư vấn tâm lý giúp cho người nghiện trải nghiệm lại những vấn
đề mà họ đã trải qua Trên cơ sở đó tìm ra biện pháp can thiệp tốt nhất đối với người nghiện, giúp họ nhận ra vấn đề của chính họ
2 Tại Việt Nam
Hai tác giả Phan Xuân Biên và Hồ Bá Thâm đồng chủ biên, “Tâm lý học giáo dục nhân cách người cai nghiện ma túy từ thực tế thành phố Hồ Chí Minh”, xuất bản năm 2004 là một công trình nghiên cứu công phu của nhiều
tác giả về nguyên nhân, đặc điểm tâm lý, công tác giáo dục nhân cách, đạo đức xã hội dành cho những người liên quan đến nghiện ma túy Các tác giả cho rằng, người nghiện là người rối loạn về tâm lý, không làm chủ được hành
vi của mình, từ không làm chủ được bản thân, họ hành động chủ yếu theo ham muốn bản năng, dẫn tới lệch chuẩn xã hội, khủng hoảng nhân cách, tha hóa, rối loạn nhân cách và việc cai nghiện, phục hồi nhân cách, sửa đổi và phát triển nhân cách người cai nghiện thành công hay không phụ thuộc vào thái độ, tình thương, trách nhiệm của cộng đồng, gia đình, xã hội và bản thân người nghiện Do vậy, công tác điều chỉnh tâm lý, giáo dục, phục hồi nhân cách cho người cai nghiện và những giải pháp giúp người sau cai nghiện ma túy trở về với gia đình, cộng đồng được thực hiện bằng biện pháp tâm lý.[19]
Tác giả Phan Thị Mai Hương, “Thanh niên nghiện ma túy nhân cách và hoàn cảnh xã hội” (2005) là một cách tiếp cận mới về thanh niên nghiện ma
tuý - từ góc độ của tâm lý học Tác giả đã phân tích, hệ thống hoá những lý luận về đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội và sự ảnh hưởng của chúng trong việc nghiên cứu hành vi của người nghiện ma tuý, cũng như quan điểm
về việc giải quyết chúng trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu chỉ ra một số đặc điểm nhân cách và hoàn cảnh xã hội nổi trội của thanh niên nghiện ma tuý, mối quan hệ giữa các đặc điểm với hành vi nghiện Trong đó, vai trò gia đình được
Trang 145
tác giả tìm hiểu ở khía cạnh môi trường gia đình gắn với vị thế kinh tế, xã hội
có ảnh hưởng đến đặc điểm nhân cách và mức độ nghiện của thanh niên nghiện
ma túy, cách quản lý của cha mẹ với con Trên cơ sở đó, việc ngăn ngừa hành
vi nghiện ma tuý và việc cai nghiện ma tuý ở thanh niên cần phải kết hợp giữa tri thức và biện pháp của tâm lý học Kết quả nghiên cứu đã định hướng về hướng giáo dục và ứng xử thích hợp với người nghiện ma tuý cũng như góp phần ngăn ngừa việc lạm dụng ma tuý ở thanh thiếu niên.[18]
Nhóm tác giả Nguyễn Thanh Hiệp và cộng sự với đề tài “Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng dẫn đến nghiện ma túy lần đầu ở người sau cai nghiện ma túy tại Cơ sở giáo dục dạy nghề và giải quyết việc làm Bình Đức và Đức Hạnh” đã phân tích đặc điểm, hoàn cảnh xã hội của người nghiện ma tuý lần
đầu Theo kết quả nghiên cứu, các yếu tố ảnh hưởng đến lý do nghiện ma túy lần đầu bao gồm có yếu tố bản thân, gia đình và bạn bè Trong đó, tác động của bạn bè có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi sử dụng ma túy của người nghiện Nếu có thêm các yếu tố nguy cơ về gia đình và bản thân, người nghiện càng dễ dàng chịu sự tác động của bạn bè hơn và thúc đẩy họ sử dụng ma túy sớm hơn.[15]
Các nghiên cứu của Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổ chức Chemonics (2012) đã đưa ra số liệu liên quan đến các vấn đề hạn chế trong đào tạo nghề và giải quyết việc làm thỏa mãn người cai nghiện ma túy cho người sau cai nghiện ma túy những khó khăn, thách thức từ các mô hình trợ giúp hiện tại Nghiên cứu đã đề xuất cho Chính phủ Việt Nam trong việc hỗ trợ học nghề, thỏa mãn nhu cầu việc làm của người cai nghiện ma túy Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ đi theo hướng nghiên cứu xã hội học chứ chưa đi sâu nghiên cứu nhu cầu việc làm của người cai nghiện ma túy dựa trên lý luận khoa học tâm lý Đặc biệt chưa xây dựng được thang đo mức độ biểu hiện nhu cầu việc làm dưới góc độ tâm lý học (Tạp chí phòng chống tệ nạn xã hội tháng 8 năm 2012, Hà Nội)
Nguyễn Ngọc Lâm (2014), Tài liệu công tác xã hội với nhóm, sách phát hành tại trường Đại học mở thành phố Hồ Chí Minh trình bày các phương pháp
xã hội nhóm đối với các thân chủ có cùng vấn đề, môi trường sinh hoạt này ảnh hưởng đến sự thay đổi hành vi theo hướng tích cực Sự tham gia tích cực của các thành viên nhóm giúp điều hòa nhóm Qua đó đánh giá sự chuyển biến hành vi của từng cá nhân cũng như quá trình phát triển của nhóm Mục tiêu đạt
Trang 156
được hay không phụ thuộc vào thực tế, am hiểu năng động nhóm Kỹ năng can thiệp của nhân viên công tác xã hội giúp giải quyết vấn đề và thực hiện đúng vai trò của mình.[16]
Tại Khánh Hòa nói riêng, cũng như ở Việt Nam, hiện nay đã áp dụng rất nhiều hình thức, phương pháp cai nghiện nhưng hiệu quả thấp, số người tuân thủ điều trị không nhiều, tỷ lệ tái sử dụng ma túy ở mức rất cao Ứng dụng công tác xã hội trong điều trị nghiện ma túy là vấn đề khá mới ở Việt Nam Nghề công tác xã hội cũng là một nghề mới và chưa phổ biến nên việc triển khai các hoạt động công tác xã hội đối với người cai nghiện ma túy còn rất nhiều hạn chế Nhận thấy việc triển khai các hoạt động công tác xã hội, đặc biệt là công tác xã hội nhóm, cá nhân đối với người cai nghiện đang điều trị nghiện tại các Cơ sở cai nghiện có ý nghĩa thiết thực, mang tính thực tiễn cao nên triển khai nghiên cứu một cách đầy đủ toàn diện từ cơ sở lý luận đến thực tiễn sẽ đưa ra các giải pháp phù hợp trong việc điều trị nghiện ma túy
Vì CTXH hỗ trợ điều trị cho người nghiện ma túy ở Việt Nam là một lĩnh vực mới, trước đây hệ thống các trường Đại học trên cả nước không có nội dung này Mới đây trường Đại học Lao động xã hội phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội xây dựng nội dung chương trình về CTXH đối với người nghiện ma túy và chính thức đưa vào đào tạo Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, người lao động làm việc trong lĩnh vực này vì thế cũng không có chuyên môn, từ năm 2016 đến nay đội ngũ cán bộ CCVCNLĐ làm việc tại các cơ sở cai nghiện ma túy bắt đầu tham gia các lớp tập huấn ngắn hạn về công tác điều trị nghiện để có hình dung đầy đủ về công việc của mình Chính vì vậy những tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực này ở Việt Nam đa
số vẫn đang ở vấn đề lý luận là chính, vấn đề ứng dụng thực tiễn còn thiếu Những nghiên cứu trên có ý nghĩa hỗ trợ rất lớn cho đề tài tham khảo để trên
cơ sở đó vận dụng với thực tế của Cơ sở để có một đề tài nghiên cứu kết hợp
lý luận với thực tiễn Từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp với thực tiễn
Trang 167
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp ứng dụng khoa học về CTXH trong hỗ trợ điều trị cho người nghiện ma túy tại Trung tâm Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Khánh Hòa (nay là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa)
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Nội dung 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
- Luận giải về sự cần thiết, tính cấp bách của đề tài
2 Nội dung 2 Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác xã hội đối với người nghiện ma túy
- Một số khái niệm liên quan
- Công tác xã hội đối với người nghiện ma túy
- Các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH đối với người nghiện ma túy
3 Nội dung 3 Thực trạng CTXH đối với người nghiện ma túy tại Cơ
sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
- Khái quát về Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
- Thực trạng CTXH đối với người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện
ma túy tỉnh Khánh Hòa
- Đánh giá thực trạng những yếu tố tác động đến hoạt động CTXH đối với người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
- Xác định mức độ tác động của các yếu tố
4 Nội dung 4 Xây dựng mô hình và trình diễn mô hình
Mô hình ứng dụng CTXH đối với người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
Trang 178
5 Nội dung 5 Giải pháp ứng dụng khoa học về CTXH trong hỗ trợ điều trị cho người nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Thực trạng công tác xã hội đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn
Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Phạm vi về thời gian: Từ ngày 4/2017 đến 8/2018
2 Phạm vi về không gian: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
4 Phạm vi về khách thể nghiên cứu
- 100 học viên đang cai nghiện tại Cơ sở
- 20 Cán bộ, nhân viên đang làm việc Cơ sở
- 02 Cán bộ quản lý của Cơ sở
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Trong công tác xã hội hỗ trợ cho người nghiện ma túy gồm hỗ trợ một cách toàn diện tất cả các mặt, các lĩnh vực liên quan đến người nghiện Tuy nhiên với điều kiện nghiên cứu trong thời gian ngắn và giới hạn trong Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa nên
đề tài chỉ tập trung hỗ trợ cho bản thân người đang cai nghiện tại Cơ sở chưa thực hiện được các vấn đề kết nối điều trị với cộng đồng và điều trị cho gia đình người nghiện
V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Xác định những vấn đề lý luận cơ bản về công tác xã hội đối với người cai nghiện ma túy
2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác xã hội đối với người cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
Trang 189
3 Đề xuất giải pháp ứng dụng công tác xã hội đối với người cai nghiện
ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu
Là phương pháp thu thập thông tin từ các công trình nghiên cứu và các tài liệu có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước Phương pháp này được áp dụng để phân tích các tài liệu như:
- Tra cứu các quy định của Quốc tế trong lĩnh vực điều trị cai nghiện cho người nghiện chất; các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về người nghiện ma túy và các dịch vụ hỗ trợ đối với họ ví dụ như: Luật phòng, chống ma túy; Luật giáo dục; Luật việc làm, Đề án về công tác đổi mới công tác cai nghiện ma túy của Chính phủ đến năm 2020, Nghị định của Chính phủ quy định chế độ hỗ trợ đối với người nghiện ma túy
- Nghiên cứu các tài liệu về báo cáo, thống kê, văn bản của các cơ quan,
tổ chức có liên quan đến vấn đề của người nghiện ma túy và CTXH hỗ trợ cho người nghiện ma túy
- Nghiên cứu một số công trình của các tác giả nghiên cứu trong và ngoài nước về CTXH đối với người nghiện ma túy hiện nay
2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Là phương pháp điều tra xã hội học nhằm thu thập thông tin bằng cách lập một bảng hỏi cho nhóm đối tượng cần nghiên cứu trong một không gian, thời gian nhất định
Đề tài sẽ điều tra bằng bảng hỏi đối với 100 khách thể là người nghiện
ma túy đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa để tìm hiểu thực trạng hoàn cảnh, nhu cầu, đánh giá mức độ thích ứng của họ đối với công tác xã hội đang triển khai tại Cơ sở
3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu thực trạng, những mong muốn, nguyện vọng, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ và thái độ của người ấy
Trang 1910
Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu một số người nghiện, cán bộ nhân viên
và cán bộ lãnh đạo quản lý đang công tác tại Cơ sở để tìm hiểu sâu hơn, lý giải nguyên nhân về các vấn đề nghiên cứu của đề tài
Phương pháp tiến hành phỏng vấn sâu 22 khách thể, trong đó gồm 02 cán bộ lãnh đạo và 20 cán bộ, nhân viên công tác xã hội có liên quan đến hoạt động công tác xã hội cho người cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
4 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là một phương pháp mang tính chọn lựa, có hệ thống và có mục đích để nhìn và lắng nghe về một tương tác hay một hiện tượng khi nó xảy ra Quan sát là một cách để thu thập dữ liệu sơ cấp
Quan sát về môi trường sống, sinh hoạt hằng ngày, thái độ giao tiếp của người nghiện, nhân viên công tác xã hội với người xung quanh
Trực tiếp tham gia các hoạt động công tác xã hội đang diễn ra tại Cơ
sở Quan sát các hoạt động hỗ trợ cho người nghiện đang thực hiện, trực tiếp quan sát nhân viên công tác xã hội, người nghiện ma túy để đánh giá thái độ, chất lượng, hiệu quả của tiến trình công tác xã hội
Chủ nhiệm đề tài sẽ trực tiếp, thường xuyên quan sát hoạt động điều trị nghiện tại Cơ sở, trực tiếp tham gia 10 buổi sinh hoạt, 10 buổi tư vấn cá nhân
5 Phương pháp thống kê toán học
Dùng phương pháp thống kê toán học để phân tích các số liệu điều tra và số liệu thống kê Cụ thể nghiên cứu sẽ sử dụng chương trình Excel để xử lý số liệu
6 Phương pháp tham quan, học tập kinh nghiệm
Tham quan, học tập kinh nghiệm là một phương pháp học tập thực tế
để các thành viên tham gia học hỏi kiến thức, kinh nghiệm thực tế, các mô hình, cách làm hay và hiệu quả trong một lĩnh vực nào đó để rồi áp dụng vào cuộc sống, công việc của cơ quan mình
Chủ nhiệm đề tài và các thành viên trực tiếp đến tham quan, học tập kinh nghiệm ứng dụng công tác xã hội trong điều trị nghiện tại các Cơ sở tỉnh bạn
Trang 2011
7 Phương pháp tổ chức hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia
Hội thảo là cuộc thảo luận về một hoặc một số vấn đề nào đó có tính khoa học, lý luận và thực tiễn đang đặt ra Mục đích của hội thảo là làm sáng
tỏ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của vấn đề, đề xuất, kiến nghị hoặc dự báo vấn đề một cách có cơ sở khoa học
Nội dung của cuộc hội thảo xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, cấp bách của công tác điều trị nghiện hiện nay, giúp nhóm nghiên cứu định hướng và lựa chọn phương pháp giải quyết những khó khăn đang đặt ra
Chủ nhiệm đề tài tổ chức 02 buổi hội thảo, lấy ý kiến các chuyên gia, các tham luận và các báo cao thực tiễn của các thành viên tham gia hội thảo
Trang 2112
Chương 3 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CTXH ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÖY
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm ma túy
- Theo Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy số 13/VBHN-VPQH ngày 23/7/2013 đã giải thích một số từ ngữ: Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng
- Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra định nghĩa: Ma tuý là bất
cứ chất nào khi đưa vào cơ thể con người có tác dụng làm thay đổi một số chức năng của cơ thể và làm cho con người lệ thuộc vào nó
- Theo Liên hợp quốc: Ma tuý là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi đưa vào cơ thể con người nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái, ý thức và sinh lý Nếu lạm dụng ma tuý con người sẽ phụ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương, nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng
- Theo Bộ Luật hình sự Việt Nam: Ma tuý bao gồm: nhựa cây thuốc phiện; nhựa cần sa; cao côca; lá, hoa, quả của cây cần sa; lá cây côca; quả thuốc phiện khô; quả thuốc phiện tươi; herôin; côcain; các chất ma tuý khác ở thể lỏng; các chất ma tuý ở thể rắn
- Theo Từ điển tiếng Việt: ma tuý là tên gọi chung các chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dần quen thành nghiện
Như vậy Ma tuý là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức
và sinh lý của người đó Nếu lạm dụng ma tuý, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng
Trang 2213
1.1.2 Khái niệm nghiện ma túy
- Sổ tay chẩn đoán của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (APA) định nghĩa
về nghiện như sau: “Các triệu chứng bao gồm hiện tượng dung nạp (cần phải tăng liều lượng sử dụng để đạt được khoái cảm), sử dụng ma túy để giảm các triệu chứng cai, không thể giảm liều sử dụng thuốc hay ngừng sử dụng và tiếp tục sử dụng dù biết nó có hại cho bản thân hay những người khác” Bản chất của nghiện ngoài những khía cạnh liên quan đến hành vi, tâm lý và xã hội, nghiện là một căn bệnh làm thay đổi các tế bào thần kinh trong não do sử dụng ma túy nhiều lần
- Theo tổ chức y tế thê giới (WHO) thì nghiện ma tuý là tình trạng lệ thuộc về mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc cả hai khi một người sử dụng ma tuý lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma tuý và tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm thấy sự bức bách phải dùng ma tuý để có được những hiệu ứng ma tuý về mặt tâm thần của ma tuý và thoát khỏi sự khó chịu, vật vã do thiếu ma tuý Tình trạng lệ thuộc này có thể kèm theo hiện tượng quen ma tuý hoặc không, và một người có thể bị lệ thuộc vào nhiều lọai ma tuý
- Trong đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm nghiện ma túy trong Quyết định số 2596/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt: Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020:
Nghiện ma túy là bệnh mãn tính do rối loạn của não bộ, điều trị nghiện ma túy là một quá trình lâu dài bao gồm tổng thể các can thiệp hỗ trợ về y tế, tâm
lý, xã hội làm thay đổi nhận thức, hành vi nhằm giảm tác hại của nghiện ma túy và giảm tình trạng sử dụng ma túy trái phép
1.1.3 Khái niệm người nghiện ma túy
Theo Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy số 13/VBHN-VPQH ngày 23/7/2013: Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này
1.1.4 Khái niệm người cai nghiện ma túy
Trong đề tài này xác định khái niệm người cai nghiện ma túy như sau: Người cai nghiện ma tuý là người đang sử dụng các biện pháp để chấm dứt việc sử dụng ma tuý, không còn lệ thuốc vào các chất ma tuý gây nghiện
Trang 2314
1.1.5 Khái niệm công tác xã hội
- Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai, Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội (Bùi Thị Xuân Mai, 2012)[4]
- Khái niệm nhóm: Nhóm là tập hợp những con người có hành vi tương tác nhau trên cơ sở kỳ vọng chung, bao gồm một số vị trí, vai trò để thực hiện các mục tiêu chung.[22]
- Khái niệm công tác xã hội nhóm: Công tác xã hội nhóm nhóm là phương pháp trong công tác xã hội nhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng
xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân.[22]
- Khái niệm hỗ trợ xã hội: Tài liệu tập huấn của Trung tâm sáng kiến và phát triển cộng đồng (SCDI) định nghĩa: Hỗ trợ xã hội là một tiến trình tương tác giữa nhân viên hỗ trợ và NSDMT nhằm nâng cao khả năng đối phó vấn
đề, tăng cường sự tự tin, phát triển lòng tự trọng thông qua việc kết nối NSDMT tới các nguồn lực của gia đình, cộng đồng và xã hội Từ đó giúp NSDMT giải quyết các vấn đề, đáp ứng các nhu cầu và phát triển một cách độc lập và bền vững
1.2 Các thuyết ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm
- Thuyết hệ thống: Nhóm là hệ thống các yếu tố tương tác lẫn nhau
Theo Parsons (1951), nhóm là hệ thống xã hội với những thành viên tùy thuộc lẫn nhau để duy trì trật tự và sự cân bằng như một thể thống nhất, huy động tài nguyên và hành động để đáp ứng các nhu cầu để được tồn tại
- Thuyết Tâm lý năng động: Nhóm ảnh hưởng lên hành vi con người:
Freud (1922) và Frank Moreno (Psychodrama – Tâm kịch) Qua nhóm, cá nhân nhìn lại kinh nghiệm sống của mình, xem xét lại các mâu thuẫn chưa được giải quyết
- Thuyết học hỏi (Bandurra, 1977): Hành vi của thành viên nhóm đóng
vai trò tác động, kích thích thành viên khác Nếu A ứng xử như thế nào đó và
Trang 2415
B đồng tình thì A tiếp tục ứng xử như thế, còn ngược lại thì A sẽ không ứng
xử như thế trong tương lai
- Thuyết hiện trường (Field): Kurt Lewin (1947): Nhóm có khoảng
không gian sống, có vị trí so với vật thể khác trong không gian đó và vượt qua các trở ngại Có 6 khái niệm để hiểu nguồn lực trong nhóm: Vai trò, quy tắc, quyền lực, sự gắn kết, sự đồng thuận và sự phối hợp
- Thuyết trao đổi xã hội: Chú trọng đến hành vi cá nhân của thành viên
nhóm Đối với cá nhân, quyết định thể hiện hành vi dựa trên sự so sánh giữa thưởng và phạt xuất phát từ các hành vi
1.3 Nhu cầu chung và nhu cầu của người nghiện ma túy
1.3.1 Nhu cầu cơ bản của con người
Nhu cầu là một trong những nguồn gốc nội tại nảy sinh tính tích cực hoạt động của con người, là trạng thái tâm lý khi cá nhân cảm thấy cần phải
có những điều kiện nhất định để bảo đảm sự tồn tại và phát triển của mình, trạng thái tâm lý đó kích thích tính tích cực hoạt động của con người nhằm đạt được những điều mình muốn
Hình 1 Thang nhu cầu của Maslow
Nhu cầu cơ bản nhất của con người: nhu cầu thể chất và sinh lý Đó là những nhu cầu về ăn, ở, mặc… đây là mạnh mẽ nhất vì sự sống của con người phụ thuộc vào những điều này Người bình thường nên có đầy đủ những nhu cầu này, ngoài ra họ còn rất cần có những nhu cầu vật chất thiết thực hơn cho sức khỏe của họ
Khi các nhu cầu về thể chất, sinh lý được đảm bảo và các yếu tố này
Trang 2516
không còn chi phối đến suy nghĩ và hành vi thì con người có thể tập trung vào nhu cầu được an toàn: an toàn về thông tin, an toàn về cuộc sống, an toàn về thể trạng, an toàn trong quá trình điều trị nghiện…
Khi con người cảm thấy tương đối an toàn và yên tâm, họ sẽ hướng đến nhu cầu yêu thương, được yêu mến Con người nhận được sự yêu thương, quý mến và cảm nhận rằng mình có mối liên hệ với những người xung quanh như: những người thân trong gia đình, hàng xóm láng giềng, cộng đồng, đồng nghiệp và cả những người chăm sóc, yêu thương
Khi các nhu cầu nêu trên đã được đảm bảo thì nhu cầu được quý trọng
sẽ là một tất yếu Mọi người đều mong muốn được người khác yêu thương, quý trọng Điều này làm cho họ cảm thấy hạnh phúc, họ thấy được giá trị của cuộc sống, giá trị của chính bản thân họ Mỗi người sẽ cảm thấy tự tin hơn, yêu thương người khác hơn, sống có trách nhiệm đối với bản thân, người thân
và cộng đồng
Khi các nhu cầu nêu trên được thỏa mãn, thì đó chính là lúc nhu cầu được tự khẳng định của con người xuất hiện Nhu cầu tự khẳng định chính là nhu cầu khẳng định chính mình mong muốn và được làm những việc mọi người muốn làm Trong cuộc sống, khi nhu cầu tự khẳng định mình tăng lên chính là lúc con người nhìn nhận rõ nhất bản thân của họ, họ xác định tâm lý vững vàng, khẳng định bản thân, quyết đoán, bản lĩnh Đây chính là lúc con người đưa ra các quyết định sáng suốt dẫn đến thành công trong cuộc sống
1.3.2 Nhu cầu của người nghiện ma túy
Cũng là con người, người nghiện ma túy cũng có nhu cầu chung như mọi người khác Tuy nhiên do bị lệ thuộc vào ma túy, họ có những đặc điểm
về sức khỏe, tinh thần, nhận thức, tâm lý, hành vi riêng nên họ còn có các nhu cầu rất riêng
- Nhu cầu được chăm sóc, phục hồi sức khỏe: Trải qua thời gian sử
dụng ma túy, người nghiện lệ thuộc một cách toàn diện vào chất gây nghiện, sức khỏe giảm sút, suy kiệt, tinh thần hoang mang, hoảng loạn mất tự chủ Nhu cầu đầu tiên của người nghiện là mong muốn được chăm sóc, điều trị, phục hồi sức khỏe về thể chất và tinh thần Họ mong muốn được nghỉ ngơi,
ăn uống, chăm sóc để sức khỏe dần dần hồi phục thể chất, tinh thần được thư
Trang 2617
giãn Họ luôn mong muốn có một sức khỏe như người bình thường để được sống, sinh hoạt, lao động và trước hết là để được tồn tại
- Nhu cầu về tài chính: Người nghiện ma túy có nhu cầu về tài chính rất
lớn, họ luôn muốn có tiền để mua ma túy sử dụng và nhu cầu cơ thể ngày càng cao, chi phí để mua đủ ma túy dùng là rất lớn Ngoài ra họ luôn cần tiền
để trang trải cho cuộc sống hàng ngày, cho việc điều trị bệnh do sức khỏe giảm sút và đặc biệt là chi phí cho các cuộc hút, chích, ăn chơi, nhậu nhẹt, thác loạn là vô cùng khủng khiếp Họ cũng thường là những người không đảm bảo tài chính chi cho chính bản thân họ do không có việc làm thu nhập
ổn định Từ đó, họ thường bất chấp tất cả để có tiền chi trả cho nhu cầu của bản thân Họ luôn sẵn sàng phạm tội giết người, cướp của, trộm cắp, lừa đảo làm ảnh hưởng đến tài sản, tính mạng của những người xung quanh, làm mất trật tự an toàn xã hội
- Nhu cầu được cảm thông, chia sẻ: Bên cạnh việc bị tổn thương về sức
khỏe thể chất, tinh thần, người nghiện ma túy còn bị người thân, bạn bè, gia đình và xã hội kỳ thị Họ thường bị xa lánh, xua đuổi, miệt thị Trong thâm tâm của họ luôn mong muốn được mọi người quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ họ Trong khía cạnh nào đó họ mong muốn được sống an toàn, được bao bọc, che chở của những người xung quanh Nhu cầu được cảm thông, chia sẻ yêu thương luôn tồn tại trong họ, thôi thúc họ như một sự thật hiển nhiên của cuộc sống
- Nhu cầu về việc làm, thu nhập: Hiện nay, ở Việt Nam một người bình
thường, được đào tạo tốt, có đạo đức tốt cũng không dễ có được việc làm ổn định và có thu nhập đảm bảo cuộc sống Nhu cầu việc làm, thu nhập của người nghiện ma túy gần như là không thể thực hiện Họ chủ yếu làm các công việc tay chân, có tính thời vụ, thu nhập thấp như: phụ hồ, xây dựng, làm thuê, đi biển, làm nông, phụ giúp gia đình nhu cầu về việc làm của họ là chính đáng và luôn là nhu cầu hàng đầu của họ để có cuộc sống ổn định, từ đó tham gia các chương trình điều trị nghiện thích hợp
- Nhu cầu được tham gia điều trị nghiện: Do nhận thức chưa đúng về
tình trạng nghiện cũng như loại ma túy sử dụng, người mới sử dụng ma túy hoặc sử dụng trong thời gian ngắn đều không hiểu hết tác hại của ma túy nên không muốn tham gia điều trị nghiện, đôi khi còn chống đối khi được người thân, gia đình đưa đi cai nghiện Tuy nhiên sau thời gian sử dụng dẫn đến
Trang 2718
nghiện và thậm trí nghiện rất nặng Lúc này người nghiện mới nhận ra tác hại của ma túy, cơ thể bị hủy hoại, tinh thần bị hoảng loạn Đây chính là lúc nảy sinh nhu cầu được tham gia điều trị nghiện Người nghiện nảy sinh mong muốn sức khỏe, tinh thần được phục hồi để trở lại cuộc sống bình thường Lúc này nhu cầu bức thiết của họ là được tham gia chương trình điều trị nghiện thích hợp Nhu cầu này nảy sinh như một sự tất yếu khách quan Người nghiện ma túy chỉ tích cực tham gia điều trị nghiện khi họ nhận ra được nhu cầu của chính bản thân họ
- Nhu cầu được tự khẳng định: Cũng như mọi người, người nghiện ma
túy luôn muốn tự khẳng định mình Nhất là khi họ đang tích cực tham gia một chương trình điều trị nghiện Họ luôn biết không dễ từ bỏ ma túy nhưng họ có
sự nỗ lực bản thân, họ muốn khẳng định cho mọi người biết là họ hoàn toàn
có khả năng từ bỏ được ma túy Một số người nghiện thật sự quyết tâm họ đã
bỏ được ma túy, không chỉ vậy họ tích cực, hăng say lao động sản xuất, làm việc để lo cho bản thân và cả gia đình họ Nhu cầu tự khẳng định nảy sinh trong suy nghĩ, hành động của người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy là tín hiệu lạc quan cho một người đi từ nghiện ngập đến thành công trong cuộc sống
1.4 Các chính sách hỗ trợ đối với người nghiện ma túy
- Nghị định 80/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 147/2003/NĐ-CP về cai nghiện ma túy tự nguyện và Nghị định 135/2004/NĐ-CP về áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh… đã được Chính phủ ban hành ngày 17/5/2018 Trong đó quy định chính sách hỗ trợ với người cai nghiện ma túy
tự nguyện tại các cơ sở cai nghiện ma túy công lập được hưởng các chính sách hỗ trợ sau:
+ Nhà nước bảo đảm tiền thuốc cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần cho người cai nghiện ma túy tự nguyện tại các cơ sở cai nghiện ma túy công lập;
+ Nhà nước hỗ trợ 95% chi phí sàng lọc, đánh giá mức độ nghiện, thực hiện các dịch vụ xét nghiệm; điều trị nhiễm trùng cơ hội đối với thương binh, người nghèo, người cao tuổi cô đơn, trẻ mồ côi; người nhiễm chất độc hóa học… + Địa phương hỗ trợ tiền ăn hàng tháng, tiền mặc, đồ dùng sinh hoạt ít nhất bằng 70% định mức đối với người nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp
Trang 2819
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc…
+ Thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tối thiểu là 06 tháng, gồm: Điều trị cắt cơn, giải độc và phục hồi sức khỏe; giáo dục, phục hồi hành vi, nhân cách; lao động trị liệu, tư vấn hướng nghiệp, dạy nghề, chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện
+ Thời gian điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần và phục hồi sức khỏe tối thiểu là 20 ngày
- Điều 27 Luật Thanh niên 2005, số 53/2005/QH11 quy định Chính sách của Nhà nước đối với thanh niên khuyết tật, tàn tật, thanh niên nhiễm HIV/AIDS, thanh niên sau cai nghiện ma tuý, sau cải tạo:
+ Có chính sách cho thanh niên khuyết tật, thanh niên tàn tật được học văn hoá, học nghề, giải quyết việc làm phù hợp, được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ; được miễn, giảm học phí ở các cơ sở giáo dục công lập; được miễn, giảm viện phí khi khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế của Nhà nước; tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động văn hoá, thể thao
+ Thanh niên nhiễm HIV/AIDS, thanh niên sau cai nghiện ma tuý, sau cải tạo được tạo điều kiện chữa bệnh, chăm sóc, phục hồi sức khoẻ, học văn hoá, học nghề, giải quyết việc làm, xoá bỏ mặc cảm vươn lên hoà nhập cộng đồng
+ Thanh niên nhiễm HIV/AIDS không có nơi nương tựa hoặc gia đình không có điều kiện chăm sóc được tổ chức chăm sóc tại các cơ sở do Nhà nước, tổ chức, cá nhân thành lập theo quy định của pháp luật
+ Khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân tham gia chăm sóc, giúp đỡ thanh niên khuyết tật, thanh niên tàn tật, thanh niên nhiễm HIV/AIDS, thanh niên sau cai nghiện ma tuý, sau cải tạo hoà nhập cộng đồng
- Điều 14 Nghị định 120/2007/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Luật Thanh niên quy định như sau:
+ Thanh niên sau cai nghiện ma tuý hoặc sau cải tạo được chính quyền
cơ sở, gia đình và các tổ chức tiếp nhận, tư vấn về nghề nghiệp, việc làm; tạo điều kiện học nghề, tìm việc làm, vay vốn sản xuất, kinh doanh; tạo điều kiện tham gia các hoạt động xã hội để hoà nhập cộng đồng
+ Thanh niên sau cai nghiện ma tuý hoặc sau cải tạo của hộ nghèo hoặc gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn được chính quyền địa phương xác
Trang 29ma tuý áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú:
+ Hỗ trợ tư vấn: Người sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú được tư vấn miễn phí về tâm lý, xã hội liên quan đến vấn đề phòng, chống ma tuý, tái hoà nhập cộng đồng
Chi hỗ trợ cho người được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là cấp xã) phân công trực tiếp tham gia quản lý sau cai nghiện ma tuý (theo quy định tại Điều 9, Nghị định số 94/2009/NĐ-CP) tư vấn về tâm lý, xã hội cho người sau cai nghiện ma tuý với mức như sau: 20.000 đồng/buổi tư vấn/người sau cai nghiện ma tuý; 30.000 đồng/buổi tư vấn/nhóm người sau cai nghiện ma tuý (từ hai người trở lên)
+ Hỗ trợ học nghề: Người sau cai nghiện ma tuý nếu có nhu cầu học nghề được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét hỗ trợ một lần kinh phí học nghề trình độ sơ cấp nghề: 1.000.000 đồng/người/khóa học nghề
Căn cứ đơn đề nghị hỗ trợ kinh phí học nghề của người sau cai nghiện
ma tuý và biên lai thu học phí của cơ sở đào tạo nghề, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét hỗ trợ kinh phí học nghề cho người sau cai nghiện ma tuý
+ Các mức hỗ trợ quy định tại Điều này là mức tối thiểu, tuỳ theo khả năng, điều kiện cụ thể, Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định mức hỗ trợ cao hơn để tạo điều kiện cho người sau cai nghiện ma tuý có việc làm, thu nhập ổn định
1.5 Các hoạt động hỗ trợ cho người nghiện ma túy
- Nhân viên hỗ trợ xã hội: Là người có kinh nghiệm chuyên môn và được đào tạo cơ bản về các kiến thức, kỹ năng hỗ trợ xã hội với người nghiện chất Thông qua các triết lý, nguyên tắc, nhân viên xã hội sẽ hỗ trợ người nghiện ma túy nâng cao khả năng giải quyết vấn đề, kết nối, điều phối các nguồn lực nhằm hỗ trợ người nghiện ma túy giải quyết vấn đề và đáp ứng
Trang 3021
những nhu cầu thiết thực của họ Ngoài ra nhân viên hỗ trợ xã hội còn tương tác với các nhóm, cơ quan, tổ chức nhằm tạo ra môi trường hỗ trợ tốt nhất cho người nghiện chất
- Dịch vụ xã hội: Là hoạt động đáp ứng nhu cầu của cá nhân và cộng đồng để nâng cao năng lực có việc làm và khả năng hội nhập xã hội nhằm đảm bảo các giá trị và chuẩn mực được xã hội thừa nhận (Thuật ngữ an sinh
xã hội Việt Nam, 2011)
- Các hoạt động hỗ trợ xã hội với người sử dụng ma tuý: Để người nghiện ma túy có thể được điều trị, đặc biệt là phục hồi, công tác hỗ trợ xã hội cho người sử dụng ma túy bao gồm hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, học nghề, tìm/ tạo việc làm; hỗ trợ gia đình người nghiện để giảm bớt căng thẳng cho gia đình do liên quan đến sử dụng ma túy và giúp đỡ con em điều trị phục hồi; hỗ trợ các nhóm bao gồm các nhóm có cùng đặc điểm và sở thích trong điều trị, phục hồi; hỗ trợ pháp lý; sự tham gia của cộng đồng, hỗ trợ chuyển gửi, kết nối
1.6 Vai trò của nhân viên hỗ trợ xã hội
- Vai trò hỗ trợ nâng cao năng lực cho người nghiện ma túy Nhân viên
xã hội sẽ là người đồng hành cùng người nghiện ma túy và luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để hỗ trợ người nghiện ma túy giải quyết các vấn đề của
họ Nhân viên xã hội trong vai trò này sẽ làm các hoạt động cụ thể như tác động, rỡ bỏ các rào cản ngăn việc người sử dụng ma túy tiếp cận các dịch vụ cai nghiện; huy động các nguồn lực, giúp họ một số công việc giấy tờ hành chính để hỗ trợ người sử dụng ma túy cai nghiện và vươn lên trong cuộc sống
Ví dụ như người nghiện ma túy đã cai nghiện thành công và có nguyện vọng muốn tìm việc làm Tuy nhiên việc khai hồ sơ giấy tờ khá phức tạp Nhân viên xã hội trong vai trò này sẽ cùng người nghiện ma túy hoàn thiện các giấy
tờ hồ sơ để giúp họ có đủ điều kiện nhận việc làm
- Vai trò kết nối: Với vai trò này, nhân viên xã hội sẽ dựa trên những nhu cầu thiết thực của người nghiện ma túy để kết nối và hỗ trợ họ tiếp cận,
sử dụng có hiệu quả những dịch vụ xã hội Nhân viên xã hội ở đây sẽ đóng vai trò như “chiếc cầu” kết nối giữa những nhu cầu thiết thực của người nghiện ma túy và những dịch vụ được cung cấp Trên thực tế nhiều trường hợp do không biết thông tin hoặc do ngại ngần và chưa hiểu đúng ý nghĩa hoặc chưa đủ những thủ tục nhất định nên đã không tiếp cận các dịch vụ Như
Trang 3122
vậy nhân viên xã hội sẽ tìm hiểu những lý do từ đó hỗ trợ tối đa để kết nối những nhu cầu của người nghiện ma túy tới được những dịch vụ cần thiết cho việc giải quyết vấn đề của họ và phát triển trong cuộc sống sau này
- Vai trò tư vấn: Trong quá trình cai nghiện, người nghiện ma túy sẽ phải đương đầu với rất nhiều vấn đề Nhận được sự hỗ trợ tư vấn sẽ giúp họ
tự tin và giải quyết các vấn đề của họ tốt hơn Ví dụ như việc tư vấn về pháp luật, tư vấn về các mô hình cai nghiện, tư vấn về một số phương pháp cai nghiện cơ bản và những tư vấn khác sẽ rất hữu ích Ngoài ra trong nhiều trường hợp cấp bách hoặc người nghiện ma túy đang rơi vào trạng thái hoang mang, lo lắng, hoảng sợ… như vậy việc đưa ra những lời tư vấn sẽ rất hữu ích đối với họ
- Vai trò huy động nguồn lực: Người sử dụng ma túy ngoài nỗ lực của bản thân thì vẫn cần rất nhiều các nguồn lực khác để hỗ trợ họ Nguồn lực ở đây bao gồm cả những nguồn lực vật chất và tinh thần từ phía gia đình, hàng xóm, cộng đồng và xã hội Trên thực tế việc huy động nguồn lực ngoài lợi ích mang lại sự hỗ trợ cho người nghiện ma túy thì còn tạo ra được những nhận thức chung sự đoàn kết trong cộng đồng, hàng xóm trong việc hỗ trợ người sử dụng ma túy
- Vai trò biện hộ: Là người bảo vệ quyền lợi cho người nghiện ma túy
để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ ra họ được hưởng Xét theo quan điểm tiếp cận theo Quyền, rõ ràng người sử dụng ma túy vẫn là con người và cần được nhận những dịch vụ và cần được đảm bảo những lợi ích chính đáng của họ Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau như sự kỳ thị, thiếu hiểu biết và những thủ tục hành chính nên nhiều trường hợp người sử dụng ma túy không được đảm bảo quyền lợi chính đáng của họ Điều đó làm hạn chế khả năng phục hồi cũng như hòa nhập cộng đồng
- Vai trò truyền thông: Việc hiểu đúng đắn về người sử dụng ma túy là điều rất quan trọng để giảm sự kỳ thị và phân biệt đối xử Chỉ khi người nghiện ma túy được sống trong một môi trường lành mạnh, được nhận sự hỗ trợ tối đa từ cộng đồng và những người xung quanh thì việc cai nghiện mới được hiệu quả Muốn có được điều đó, nhân viên hỗ trợ xã hội cần thực hiện tốt vai trò truyền thông trong cộng đồng và xã hội Thực hiện vai trò truyền
Trang 32II CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGIỆN MA TÖY
2.1 Yếu tố đặc điểm của người nghiện ma túy
Người nghiện ma túy có những thay đổi về suy nghĩ, nhận thức, cảm xúc
và hành vi do sự lệ thuộc vào ma túy về mặt tâm thần hoặc về mặt thể chất hoặc bị lệ thuộc cả hai Tùy theo những chất gây nghiện khác nhau mà họ có những biểu hiện khi có ma túy và khi không có ma túy khác nhau Khi thiếu
ma túy, người nghiện dễ nổi nóng, cáu gắt, thậm chí không thể kiểm soát được những suy nghĩ và hành vi của mình nên dễ gây ra những tổn thương cho người khác hoặc gây ra những hành động làm ảnh hưởng xấu đến gia đình và vi phạm pháp luật Tuy nhiên, khi tỉnh táo, họ nhận thức được tác hại của việc nghiện ma túy, đôi khi cũng có những mong muốn điều trị nghiện và thực hiện những hoạt động có ích cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng có nhiều lý do như cám dỗ của ma túy quá lớn trong khi họ không có đủ ý chí nghị lực vượt qua, bế tắc trong đời sống, kinh tế, xã hội nên họ sẽ quay trở lại tái nghiện Hiện nay, nhiều trường hợp người nghiện nghiện nhiều loại túy khác nhau như: ma túy tổng hợp, methadone, ma túy đá, cỏ mỹ, cần sa hoặc
sử dụng nhiều loại ma túy cùng lúc gây khó khăn trong việc lựa chọn liệu pháp điều trị, rất dễ tái sử dụng và tái nghiện Môi trường xã hội chưa an toàn, việc tìm mua ma túy, tiếp cận ma túy khá dễ dàng làm cho người nghiện khó
từ bỏ ma túy
Nghiện ma túy là bệnh mãn tính do rối loạn của não bộ, người nghiện ma túy luôn lệ thuộc vào chất gây nghiện nên họ có nhiều thay đổi về nhận thức,
Trang 3324
tâm lý và hành vi Họ luôn có nhận thức tiêu cực về bản thân, gia đình và xã hội Thể chất, tinh thần bị lệ thuộc vào ma túy nên họ luôn có tâm lý không ổn định, thiếu lý trí, thiếu tự tin, họ có nhiều hành vi không phù hợp, lệch chuẩn làm ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân họ, gia đình và xã hội
Khi mới sử dụng: Cảm giác cô đơn, trống vắng; mặc cảm tội lỗi, lo sợ, mặc cảm mình bị ghét bỏ Từ đó có thể dẫn đến những hành vi như: tiếp tục
sử dụng ma túy để tìm quên; che giấu, sống tách biệt với thế giới riêng, ngại giao tiếp; lừa dối; phản kháng, bỏ nhà đi Đặc biệt, do tính lệ thuộc ma túy nên người cai nghiện tìm đủ mọi cách để đảm bảo có được liều dùng
Khi đã nghiện nặng: Mặc cảm thua kém anh em, bạn bè; mặc cảm mình
bị ghét bỏ, là thành phần xấu của xã hội; tự ái rằng mình có thừa khả năng, có thể thành đạt nhưng chỉ tại vì nghiện, tại vì hoàn cảnh Đối với những người
đã sử dụng trong thời gian dài có cảm giác chán chường, buông xuôi vì đã từng nỗ lực từ bỏ nhiều lần nhưng không thành công Họ muốn được làm người bình thường, muốn có và sống với vợ con, muốn nói chuyện và giao tiếp với người khác; có nhận thức về mình và luôn tìm kiếm cơ hội để có thể
từ bỏ ma túy
Về sức khỏe: Người nghiện ma túy do sử dụng ma túy lâu ngày nên sức khỏe giảm sút nhanh chóng cả về thể chất lẫn tinh thần: do lượng ma túy đưa vào cơ thể dẫn đến việc hủy hoại các tế bào cơ, xương, tế bào thần kinh; việc sinh hoạt, ăn, ngủ thất thường, không tham gia các hoạt động thể dục thể thao cũng làm cho cơ thể suy nhược Bên cạnh đó người nghiện thường mắc phải một số bệnh truyền nhiễm, bệnh về răng miệng, tiêu hóa và hô hấp Nhìn chúng người nghiện ma túy thường có sức khỏe yếu, tâm lý không ổn định Người nghiện ma túy bị tổn thương não bộ, bị suy giảm thể lực, bị xã hội, gia đình, ngươi thân bạn bè chê trách, xa lánh dẫn đến tâm lý bất an; họ luôn có cảm giác bị xa lánh, ruồng bỏ nên luôn mặc cảm, cô đơn, tội lỗi Họ tìm cách sống khép kín, né tránh mọi người và chỉ muốn kết bạn với người cùng cảnh ngộ Ngoài ra một số còn có tâm lý buông xuôi, bất cần đời, sống buông thả làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến gia đình và xã hội Khi mới sử dụng: Cảm giác cô đơn, trống vắng; mặc cảm tội lỗi, lo sợ, mặc cảm mình bị ghét bỏ Từ đó có thể dẫn đến những hành vi như: tiếp tục sử dụng ma túy để tìm quên; che giấu, sống tách biệt với thế giới riêng, ngại giao tiếp; lừa dối;
Trang 3425
phản kháng, bỏ nhà đi Đặc biệt, do tính lệ thuộc ma túy nên người cai nghiện tìm đủ mọi cách để đảm bảo có được liều quen dùng
Nhận thức: Đa phần người nghiện ma túy thiếu kiến thức liên quan đến
ma túy, không biết được tác hại nghiêm trọng của ma túy, các cơ chế gây nghiện, các tác động về mặt sinh lý, tâm lý do ma túy gây ra
Tình cảm: Người nghiện ma túy thường bị cộng đồng, bạn bè, thậm chí người thân xa lánh nên thiếu thốn tình cảm, ngoài ra do thần kinh bị tổn thương nên họ có diễn biến tình cảm phức tạp, yêu thương, giận hờn, oán trách xảy ra đan xen lẫn lộn Họ rất cần được sự quan tâm chăm sóc chia sẻ của mọi người đặc biệt trong thời gian cắt cơn, giải độc và suốt quá trình điều trị nghiện
Hành vi: Khi tỉnh táo, người nghiện ma túy nhận thức được tác hại của việc nghiện ma túy, cũng có những mong muốn điều trị nghiện và thực hiện những hoạt động có ích cho bản thân, gia đình và xã hội Những cám dỗ của
ma túy quá lớn trong khi họ không có đủ ý chí nghị lực vượt qua, bế tắc trong đời sống, kinh tế, xã hội nên họ có nhiều hành vi tiêu cực đến bản thân như thường xuyên buồn chán, thất vọng dẫn đến thực hiện các hành vi tiêu cực như tự hủy hoại bản thân, hủy hoại tài sản, tự sát Nghiện ma túy là bệnh mãn tính của não bộ, người nghiện ma túy luôn lệ thuộc vào chất gây nghiện nên
họ có nhiều thay đổi hành vi Khi đó, họ thực hiện các hành vi không được kiểm soát như la hét, đập phá, đánh nhau, khóc, cười vô cớ, cản trở giao thông, chống đối, gây nguy hiểm cho người xung quanh và nguy hiểm cho chính bản thân họ Ngoài ra do nhu cầu phải có tiền để mua ma túy sử dụng nên người nghiện ma túy thường có nhiều hành vi vi phạm pháp luật như cướp giật, giết người, trộm cắp, lừa đảo khi bị phát hiện thì sẵn sàng chống đối, hành vi của họ là rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội
Đa phần, người nghiện ma túy có trình độ văn hóa thấp vì vậy khả năng nhận thức hạn chế, rất dễ bị kích động, thiếu kỹ năng kiểm soát hành vi, thường nghi ngờ vào khả năng của mình, thiếu niềm tin Do đó khi họ thực hiện các hành vi khác thường, lệch chuẩn, vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật họ dễ mất kiểm soát bản thân dẫn đến tiếp tục gây ra các hành vi nguy hiểm hơn
Trang 3526
2.2 Yếu tố thuộc về gia đình người cai nghiện ma túy
Gia đình có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ, giúp đỡ người cai nghiện trong quá trình điều trị nghiện ma tuý Người cai nghiện sẽ trở nên tự tin hơn khi họ nhận được sự hỗ trợ thân thiện và quan tâm từ gia đình và cộng đồng Sự tham gia của gia đình trong suốt quá trình điều trị là vô cùng quan trọng, góp phần mang lại thành công của quá trình điều trị nghiện: Nâng cao chất lượng, hiệu quả điều trị, giảm tỉ lệ bỏ điều trị Gia đình cần thiết lập mối quan hệ tin tưởng ở người cai nghiện thông qua việc cung cấp, hỗ trợ, giáo dục người cai nghiện về thái độ chấp hành quy trình điều trị, giúp đỡ người cai nghiện trong việc giải quyết các vấn đề gặp phải trong quá trình điều trị và
cả trong đời sống Bên cạnh đó cũng không ít gia đình, người thân trải qua quá trình hỗ trợ, giúp đỡ liên tục nhưng không hiệu quả, họ mệt mỏi, đau khổ
vì thế họ xa lánh, bỏ rơi người nghiện Có gia đình từ bỏ con, em mình cho số phận định đoạt, phó mặc cho chính quyền và các cơ quan chức năng giải quyết, không quan tâm phối hợp trong điều trị cho người nghiện ma túy
Họ tỏ rõ thái độ khinh thường hoặc thiếu tôn trọng đối với người nghiện Đây
là nguyên nhân khiến người nghiện ma túy cảm thấy mặc cảm, tự ti, cô đơn,
lẻ loi không chỉ ở cộng đồng, làng xóm mà trong chính ngôi nhà của họ Chính vì vậy làm cho người nghiện dù muốn từ bỏ ma túy nhưng họ không đủ
tự tin, chỉ cần thấy họ một số người buôn bán thường ngay lập tức cho họ tiền
để họ đi ra khỏi chỗ của mình mặc dù họ không xin Các cơ sở dạy nghề, các doanh nghiệp cũng không đón tiếp họ khi họ có ý muốn xin việc làm
Người nghiện ma túy bất lực trong mọi sự tìm kiếm Họ không thể vượt qua được rào cản của cộng đồng Chính vì vậy những tháng gần kết thúc chương trình điều trị người nghiện thường có rất nhiều nỗi lo đến mất ăn, mất ngủ Họ sợ về không tìm được việc làm, họ sợ những người xung quanh không đón nhận rồi gặp bàn bè rủ rê thì khó có cơ hội chiến thắng bản thân Rồi lại tái nghiện, đi cai nghiện hoặc đi trại án
Trang 3627
2.4 Yếu tố thuộc về cơ chế chính sách và nguồn nhân lực
Ngày 27/12/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2596/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 Tuy nhiên, vẫn còn một số địa phương chưa xây dựng
Kế hoạch triển khai Đề án là do: chưa có hướng dẫn của Bộ, ngành về điều kiện đảm bảo thực hiện Đề án như kinh phí thực hiện, cơ chế thu chi cho các
cơ sở chuyển đổi từ cơ sở bắt buộc sang cơ sở tự nguyện; chưa có hướng dẫn
về mặt chuyên môn nghiệp vụ đối với các mô hình chuyển đổi từ cơ sở bắt buộc sang cơ sở tự nguyện; điểm tư vấn, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng; điều trị methadone sang cơ sở điều trị tự nguyện…
Bên cạnh đó hệ thống chính sách pháp luật về cai nghiện và quản lý sau cai vẫn còn nhiều bất cập như:
- Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 quy định nghiện ma túy là tệ nạn
xã hội; Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Phòng, chống ma túy năm
2008 quy định quản lý sau cai không phải là biện pháp xử lý hành chính; Luật
Xử lý vi phạm hành chính xử lý hành vi vi phạm và người nghiện ma túy, đề cao nhân quyền con người, trong khi không có lộ trình tiếp cận phù hợp Đề
án đổi mới công tác cai nghiện khẳng định người nghiện ma túy là người bệnh mãn tính nhưng khi xây dựng chính sách, giải quyết các vấn đề chưa tiếp cận theo Luật khám chữa bệnh
- Điều 131 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định giao người nghiện
ma túy không có nơi cư trú ổn định cho tổ chức xã hội ở cơ sở quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Trong thực tế, các địa phương đều đang gặp vướng mắc khi thực hiện bởi Luật không quy định
cụ thể tổ chức xã hội nào có trách nhiệm này và điều kiện đảm bảo; Quy định
về thời gian, thời hạn, thời hiệu không đồng bộ giữa các Luật và Nghị định:
Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, cai nghiện tại gia đình, cộng đồng, quản lý sau cai, điều trị methadone…
- Về chính sách hỗ trợ đối với người đi cai nghiện, trong khi người bị đưa đi cai nghiện bắt buộc được nhà nước hỗ trợ tiền ăn, tiền thuốc chữa bệnh, thuốc cắt cơn, tiền học nghề, học văn hóa trong suốt thời gian cai nghiện thì người đi cai nghiện tự nguyện phải đóng toàn bộ chi phí trong thời
Trang 37- Tuy nhiên dù còn nhiều hạn chế nhưng các địa phương đang tìm cách tháo gỡ để tìm ra giải pháp tốt nhất hỗ trợ cho người nghiện Các địa phương (trong đó có tỉnh Khánh Hòa) đã thành lập nhiều điểm tư vấn cai nghiện ma túy tại cộng đồng và thành lập đội ngũ nhân viên công tác xã hội tại các xã, phường, thị trấn nhằm giúp đỡ, hỗ trợ cho người nghiện ma túy tại cộng đồng Nhưng những hoạt động này chưa thật sự mang lại hiệu quả vì chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ nhân viên công tác xã hội tại cộng đồng quá thấp, họ không phải cán bộ chuyên trách mà là cán bộ kiêm nhiệm nên chưa đầu tư thời gian, công sức và sự nhiệt tình cho công việc này
2.5 Yếu tố thuộc về nhân viên CTXH
Nhân viên CTXH thực hiện công việc hỗ trợ cho người nghiện ma túy hiện nay gồm: đội ngũ nhân viên công tác tại Cơ sở cai nghiện ma túy (nhân viên tư vấn, giới thiệu việc làm, chăm sóc sức khỏe, giáo dục nâng cao năng lực, điều chỉnh hành vi…), đội ngũ nhân viên công tác xã hội tại các xã, phường, thị trấn và đội ngũ nhân viên CTXH tại Trung tâm Công tác xã hội
Tuy nhiên năng lực của đội ngũ nhân viên CTXH trong lĩnh vực điều trị nghiện còn yếu và thiếu Đa số không có chuyên môn, làm công tác kiêm nhiệm vì vậy họ không thể dốc hết tâm sức ra để hỗ trợ cho người nghiện Mặt khác CTXH ở Cơ sở dù có triển khai hiệu quả nhưng người nghiện không phải sống mãi ở Cơ sở mà thời gian chính của họ là ở cộng đồng nên nếu họ không được nhân viên CTXH ở địa phương trợ giúp thì khó có thể giữ sạch ma túy
Hơn nữa việc hỗ trợ cho người nghiện đòi hỏi phải kiên trì và có thời gian nên nhân viên CTXH mà thiếu kiến thức, kỹ năng sẽ nhanh nản chí và từ
bỏ việc của mình Đây là hoạt động mang tính đặc thù cao, bởi đây là đối tượng có tính phức tạp không giống với các đối tượng xã hội khác Do đó cần
có đội ngũ nhân viên CTXH có chuyên môn nghiệp vụ, có trách nhiệm với
Trang 383.1 Khái quát về trung tâm giáo dục – lao động xã hội (Cơ sở cai ngiện
ma túy) tỉnh Khánh Hòa
Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh hòa là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa, chịu sự quản lý trực tiếp của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Được thành lập từ tháng 8 năm 1993 với tên gọi Trung tâm Phòng, chống lạm dụng ma tuý Tháng 8 năm 1998, đổi tên thành Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Dạy nghề Khánh Hòa trên cơ sở sát nhập với Trung tâm Dạy nghề
- Phụ nữ, trú đóng tại xã Phước Đồng, Nha Trang;
Ngày 19 tháng 12 năm 2003, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa ban hành Quyết định số 87/QĐ-UB chính thức đổi tên Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Dạy nghề thành Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Khánh Hòa;
Ngày 13 tháng 01 năm 2004 Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Khánh Hòa chuyển về địa điểm mới tại thôn Ba Dùi, xã Khánh Bình, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (cách trung tâm thành phố Nha Trang hơn 50 km)
Ngày 16 tháng 5 năm 2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa ban hành Quyết định số 1354/QĐ-UBND về việc đổi tên Trung tâm Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Khánh Hòa thành Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
Có chức năng tổ chức thực hiện việc chữa bệnh, cai nghiện; giáo dục phục hồi hành vi, nhân cách; dạy nghề, lao động sản xuất; tái hòa nhập cộng đồng cho người nghiện ma túy
Là cơ sở xã hội thực hiện tiếp nhận, quản lý, điều trị cắt cơn, giải độc,
tư vấn tâm lý cho người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định trong thời gian lập hồ sơ để Tòa án xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; tư vấn, điều trị ngoại trú cho người nghiện ma túy có nhu cầu
Cơ sở đóng chân tại thôn Ba Dùi, xã Khánh Bình, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố Nha Trang 50 km về hướng Tây Bắc Diện
Trang 3930
tích 10.000 m2, được xây dựng gồm các hạng mục: Khu nhà hành chính, khu nhà ở cán bộ, nhà ăn cán bộ, khu y tế, khu dạy nghề, các nhà kho và 04 khu nhà ở học viên với sức chứa mỗi khu khoảng 200 học viên Hiện tại chỉ sử dụng 01 khu cho học viên cai nghiện bắt buộc và 01 khu cho học viên cai nghiện tự nguyện
3.2 Thực trạng công tác xã hội hỗ trợ đối với người cai nghiện ma túy tại
Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
3.2.1 Đội ngũ cán bộ, nhân viên Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa
Bảng 3.1 Về giới tính của cán bộ, nhân viên
Nguồn: Báo cáo công tác cán bộ năm 2017 của Cơ sở
Tỷ lệ chênh lệch về giới tính của cán bộ, nhân viên khá lớn, nam chiếm
tỷ lệ 81,1%, nữ chiếm tỷ lệ 18,9% Đây là yếu tố mang tính chất đặc thù công việc, cán bộ nhân viên nam luôn chiếm đa số Một phần do yêu cầu của công tác quản lý học viên đòi hỏi cần nam giới để thực hiện các nhiệm vụ đặc thù như bảo vệ, tuần tra, kiểm soát, khống chế, can thiệp đánh nhau, truy tìm học viên bỏ trốn các công việc này phù hợp với nam giới hơn
Bảng 3.2 Phân tích về độ tuổi của cán bộ, nhân viên
Nguồn: Báo cáo công tác cán bộ năm 2017 của Cơ sở
Cán bộ nhân viên ở độ tuổi từ 20 đến 30 có 09 người chiếm tỷ lệ 24,3%, từ 31 đến 45 có 23 người chiếm 62,2%, từ 45 trở lên có 5 người chiếm 13,5% Nhìn chung lực lượng cán bộ, nhân viên có độ tuổi rất trẻ, hầu hết đã
có gia đình, có cuộc sống ổn định, có tri thức và kinh nghiệm sống Họ có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng và có ý thức trách nhiệm cao với công việc Độ tuổi của cán bộ Cơ sở là độ tuổi đẹp nhất, đủ chín chăn, họ
Trang 4031
nhiệt huyết, tận tâm hỗ trợ người cai nghiện ma túy trong suốt quá trình điều trị, tạo chỗ dựa và niềm tin cho người cai nghiện ma túy, giúp họ có thêm nghị lực hoàn thành quy trình điều trị nghiện Nhìn chung độ tuổi của cán bộ, nhân viên Cơ sở rất thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ CTXH hỗ trợ điều trị cho người nghiện ma túy
Bảng 3.3 Phân tích về thời gian, kinh nghiệm công tác của cán bộ, nhân viên
Nguồn: Báo cáo công tác cán bộ năm 2017 của Cơ sở
Cán bộ, nhân viên có thâm niên, kinh nghiệm công tác về điều trị nghiện ma túy khá cao, số người có thời gian công tác trên 5 năm là 28 người chiếm tỷ lệ 75,7% Đây là nguồn cán bộ giữ các vị trí lãnh đạo, chủ chốt, có chuyên môn cao, có năng lực điều hành, thực hiện mọi nhiệm vụ chuyên môn
Số cán bộ nhân viên có thời gian công tác từ 3 đến 5 năm là 03 người chiếm
tỷ lệ 8,1%, thời gian công tác từ 1 đến 3 năm là 04 người chiếm tỷ lệ 10,8% đây là nguồn cán bộ, nhân viên trẻ có trình độ chuyên môn cao, có nhiệt huyết, năng động trong công tác, sẵn sàng nhận nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm Cán bộ nhân viên có thời gian công tác dưới 1 năm là 2 người chiếm 5,4%
Bảng 3.4 Phân tích về trình độ của cán bộ, nhân viên Trình độ chuyên môn Số lượng người Tỷ lệ %
Đã tập huấn nâng cao về CTXH trong điều
Nguồn: Báo cáo công tác cán bộ năm 2017 của Cơ sở