A survey on cassava residue and mung bean bran was carried out in Duong Lieu and Cat Que communes, Hoai Duc district, Ha Tay province from October to December/2005. The agricultural product processing is very developed in this area such as cassava and arrowroot starch, malt, dehulled mung bean production ... and the quantity of cassava residue and mung bean bran produced in the area is large (117,300 tons cassava residue and 1,600 tons mung bean bran/year). The results of study showed that cassava residue was very poor in crude protein (0.33%) and minerals (0.30%). Meanwhile mung bean bran was relatively rich in crude protein, especially mung bean germ bran (24.37%). Six cattle raising farmers in Dong Thap - Dan Phuong were selected for the participatory feeding trial in the winter period. Two of the farmers fattened their cattle as normally practiced to form the control group. Instead of concentrate in the ration of control group two other farmers fattened their cattle using 10 kg cassava residue silage (with 0.5% salt) plus 0.5 kg mung bean germ bran and 1 kg mung bean hull bran (group 1). The last two farmers fattened their cattle using 10 kg cassava residue silage plus 0.75 kg mung bean germ bran and 0.75 kg mung bean hull bran (group 2). The trial lasted for 75 days after a 15 day adaptation period. Results showed that the cattle in control group received more protein (746.1 vs 662.2 and 691.3 g/head/day) and grewed relatively faster (728.9 vs 656.0 and 682.2 g/head/day). But the cost of cassava residue and mung bean bran used in ration of group 1 and group 2 was very low. As a result, using these two kinds of by – product brought more profit to the farmer than the normal practice (523,600 and 550,500 vs 366,400 VND/head/75 days).
Trang 1Sử dụng bã sắn ủ chua với cám đỗ xanh để vỗ béo bò thịt
Using cassava (Manihot esculenta, Crantz) residue silage with mung bean
(Phaseolus aureus Roxb) bran as feed for fattening cattle
Mai Thị Thơm, Bùi Quang Tuấn
Summary
A survey on cassava residue and mung bean bran was carried out in Duong Lieu and Cat Que communes, Hoai Duc district, Ha Tay province from October to December/2005 The agricultural product processing is very developed in this area such as cassava and arrowroot starch, malt, dehulled mung bean production and the quantity of cassava residue and mung bean bran produced in the area is large (117,300 tons cassava residue and 1,600 tons mung bean bran/year)
The results of study showed that cassava residue was very poor in crude protein (0.33%) and
minerals (0.30%) Meanwhile mung bean bran was relatively rich in crude protein, especially mung bean germ bran (24.37%)
Six cattle raising farmers in Dong Thap - Dan Phuong were selected for the participatory feeding trial in the winter period Two of the farmers fattened their cattle as normally practiced to form the control group Instead of concentrate in the ration of control group two other farmers fattened their cattle using 10 kg cassava residue silage (with 0.5% salt) plus 0.5 kg mung bean germ bran and 1 kg mung bean hull bran (group 1) The last two farmers fattened their cattle using 10 kg cassava residue silage plus 0.75 kg mung bean germ bran and 0.75 kg mung bean hull bran (group 2) The trial lasted for 75 days after a 15 day adaptation period Results showed that the cattle in control group received more protein (746.1 vs 662.2 and 691.3 g/head/day) and grewed relatively faster (728.9 vs 656.0 and 682.2 g/head/day) But the cost of cassava residue and mung bean bran used in ration of group 1 and group 2 was very low As a result, using these two kinds of by – product brought more profit to the farmer than the normal practice (523,600 and 550,500 vs 366,400 VND/head/75 days)
Keywords: Casava residue; mung bean bran, silage, profit, mineral, protein, ratio , mung bean hull bran, product
1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi trâu bò ở nước ta, kể cả bò sữa phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn phụ phẩm nông nghiệp Hiện nay trong lĩnh vực giải quyết thức ăn cho gia súc nhai lại ở nước ta đang có hai thách thức lớn, thứ nhất là sự dư thừa thức ăn thô xanh và phụ phẩm lúc thời vụ và sự thiếu thức ăn lúc giáp
vụ ở miền Bắc vào vụ đông xuân và miền Nam vào mùa khô, qui mô chăn nuôi càng lớn, mức độ thiếu thức ăn càng trầm trọng Một trong các giải pháp quan trọng để khai thác tối đa tiềm năng của mỗi địa phương trong chăn nuôi trâu bò hiện nay là nâng cao khả năng sử dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp
Trước đây sắn là cây lương thực quan trọng, song hiện nay sắn trở thành loại cây cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Hàng năm tỉnh Hà Tây thu được khoảng hơn 117.300 tấn từ bã sắn và 1.600 tấn cám đỗ xanh tại các vùng chế biến nông sản Đây là nguồn phụ phẩm rẻ tiền và
có thể sử dụng tốt trong chăn nuôi trâu bò Bã sắn ủ chua có thể sử dụng như là nguồn cung cấp năng lượng, còn cám đỗ xanh giàu protein thô nên có thể sử dụng như nguồn bổ sung protein vào khẩu phần nuôi bò thịt Vì vậy, việc sử dụng bã sắn ủ chua và cám đỗ xanh để nuôi bò thịt rất có ý nghĩa thực tiễn
2 phương pháp nghiên cứu
Thu thập các mẫu tinh bột sắn và cám đỗ xanh tại các cơ sở chế biến tinh bột sắn và đỗ xanh thủ công tại địa bàn xã Dương liễu, Cát Quế, Liên Hiệp đem phân tích tại Phòng phân tích thức ăn của khoa CNTY, trường Đại học Nông nghiệp I theo phương pháp phân tích của AOAC (1995) để xác
Trang 2Phương pháp ủ chua bã sắn: trong điều kiện phòng thí nghiệm bã sắn được trộn đều với muối
ăn và rỉ mật (tuỳ theo công thức) theo đúng tỷ lệ Sau đó cho 2 kg hỗn hợp đã trộn vào mỗi bô can
nhựa (lặp lại 3 lần), lèn chặt và bịt kín khí Các bô can này được bảo quản ở phòng thí nghiệm trong
khoảng nhiệt độ 22 – 270c, còn trong điều kiện sản xuất ở các nông hộ bã sắn được ủ chua trong các
bao tải dứa có lớp nylon phía trong theo 3 công thức: CT1: bã sắn ủ với 0,5% muối ăn (theo vật chất
tươi); CT2: bã sắn ủ với 0,5% muối ăn + 3% rỉ mật (theo vật chất tươi); CT3: bã sắn ủ với 0,5% muối
ăn + 6% rỉ mật (theo vật chất tươi)
Thí nghiệm được tiến hành trên 18 bò lai sin được chọn đồng đều về độ tuổi (17 – 20 tháng),
khối lượng trung bình (194,2 ± 6,9) được chia thành 3 lô, mỗi lô 6 con Bò thịt nuôi tại các nông hộ ở
xã Đồng Tháp (Đan Phượng- Hà Tây),trong khẩu phần của bò thịt có bã sắn ủ chua và cám đỗ xanh
được coi như là nguồn cung cấp năng lượng và protein Trước khi tiến hành thí nghiệm bò được tẩy
ký sinh trùng và làm quen với khẩu phần thí nghiệm Thí nghiệm kéo dài 90 ngày (bao gồm 15 ngày
chuẩn bị)
Bảng 1 Bố trí thí nghiệm
Lô
Chỉ tiêu
Bảng 2 Công thức và giá trị dinh dưỡng thức ăn tinh hỗn hợp
Bột đỗ tương(kg) 0,25
VCK(g) 870,60
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Thành phần hoá học của bã sắn và cám đỗ xanh
Bảng 3 Thành phần hoá học của bã sắn và cám đỗ xanh (% VCK)
xanh
Cám vỏ đỗ xanh
Kết quả phân tích thành phần hoá học của bã sắn cho thấy độ ẩm của bã sắn tươi rất cao (trên
80%) nên rất dễ bị hỏng, bã sắn nghèo protein thô và các chất khoáng, tỷ lệ chất xơ thấp (2,42%) Do
Trang 3vậy khi sử dụng các sản phẩm này với tỷ lệ đáng kể trong khẩu phần cần chú ý bổ sung thêm thức ăn giàu protein và premix khoáng
So với bã sắn, chất lượng của cám phôi đỗ xanh va cám vở đỗ xanh cao hơn, tương đương với cám gạo Giá trị dinh dưỡng của cám phôi đỗ xanh cao hơn cám vỏ đỗ xanh, đặc biệt là hàm lượng protein thô cao gấp hai lần (24,37 và 12,2%)
3.2 Kết quả nuôi thử nghiệm bò thịt bằng bã sắn và cám đỗ xanh
3.2.1 Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày
Lượng thức ăn thu nhận là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh tính ngon miệng của khẩu phần
đồng thời cho biết chất lượng của khẩu phần
Bảng 4 Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của của bò
Lô
i hứ
Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của bò ở lô đối chứng thấp hơn hai lô thí nghiệm (6,41 so với 7,24; 7,22) Điều này chứng tỏ thay thế thức ăn tinh bằng bã sắn ủ chua và cám đỗ xanh đã kích thích tính thèm ăn nên gia súc ăn được nhiều hơn Ngược lại, bò ở lô đối chứng thu nhận protein thô nhiều hơn, bởi vì nhóm bò này ăn được nhiều rơm xử lý urê hơn (4,5kg so với 4,0kg)
Kết quả thí nghiệm vỗ béo bò thịt với khẩu phần có sử dụng bã sắn ủ chua và cám đỗ xanh cho thấy lượng vật chất khô và protein thô thu nhận hàng ngày của bò ở cả 3 lô đều cao hơn chút ít so với tiêu chuẩn của NRC (1989), bởi vì rơm xử lý urê cho ăn tự do mềm nên bò thích ăn
3.2.2.Tăng trọng của bò
Khi bắt đầu thí nghiệm, khối lượng của bò giữa ba lô thí nghiệm không có sự sai khác thống kê (P>0,05) Sau 75 ngày thí nghiệm có sự sai khác thống kê về khối lượng cuối kỳ (P<0,05) (bảng 5)
Bảng 5 Tăng trọng hàng ngày của bò
Lô
Chỉ tiêu
Tăng trọng hàng ngày (g/con/ngày) 728,9 ± 31,90 656,0 ± 29,30 682,2 ± 25,70
Hiệu quả chuyển hoá thức ăn (kg
VCK/kg tăng trọng)
Kết quả thí nghiệm vỗ béo bò thịt cho thấy tăng trọng của bò ở cả ba lô đều đạt tương đối cao (656,0 – 728,9 g/con/ngày) Mặc dù tăng trọng bình quân trong ngày của bò thí nghiệm ở lô 2 cao hơn lô 1, song không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Như vậy, việc thay thế thức ăn tinh bằng bã sắn
ủ chua và cám đỗ xanh trong khẩu phần vỗ béo bò đã không ảnh hưởng đến tăng trọng giữa các lô, nhưng chi phí thức ăn cho kg tăng trọng ở cả hai lô thí nghiệm đều thấp hơn lô đối chứng (16.315 so với 12.220; 11.463 VND/kg tăng trọng), bởi vì giá của bã sắn ủ chua thấp, khoảng 120VND/kg và giá của cám đỗ xanh và cám vỏ đỗ xanh cũng chỉ từ 3.000 – 2.000VND/kg
Trang 4Kết quả vỗ béo bò bằng bã sắn ủ chua và cám đỗ xanh còn được thể hiện qua hiệu quả kinh
tế sơ bộ tính hiệu quả kinh tế đã cho thấy thu nhập từ vỗ béo bò thịt ở lô đối chứng cao hơn lô 1 và lô 2 (bảng 6), nhưng tổng chi phí ở lô đối chứng cao hơn so với lô 1 và lô 2( 4.547,40 so với 4.243,90
và 4.268,30) Như vậy, sử dụng bã sắn ủ chua và cám đỗ xanh đã đem lại lãi cao hơn cho người chăn nuôi (523.600 và 550.000 so với 366.400 VND/con/ 75 ngày) Phạm Kim Cương và cs (2004) cho biết sử dụng lá sắn và hạt bông để vỗ béo bò thịt đã đem lại lợi nhuận cho người chăn nuôi là 473.000 – 547.000 VND/ 3 tháng
Kết quả ở bảng 6 cũng cho thấy sử dụng khẩu phần ăn cho bò ở lô 2 tốt hơn lô1 Bởi vì, bò ở lô thí nghiệm 2 thu nhận được lượng protein cao hơn lô thí nghiệm 1 (691,30 so với 662,2g/ngày) nên tăng trọng của bò ở lô thí nghiệm 2 đạt cao hơn lô thí nghiệm 1, hơn nữa chi phí thức ăn cho kg tăng trọng ở lô thí nghiệm 2 thấp hơn lô thí nghiệm 1
Bảng 6 Hiệu quả kinh tế của vỗ béo bò thịt
4 Kết luận
Thành phần hoá học của bã sắn nghèo protein thô, khoáng tổng số và tỷ lệ xơ thô thấp còn chất lượng của cám vỏ đỗ xanh cũng tương đương như cám gạo và giá trị dinh dưỡng của cám phôi
đỗ xanh cao hơn cám vỏ đỗ xanh, đặc biệt là hàm lượng protein thô cao gấp hai lần (24,37 và 12,20%)
Sử dụng bã sắn ủ chua và cám đỗ xanh nuôi bò thịt cho tăng trọng đạt tương đối cao (656,0 – 682,2g/con/ngày) và đã đem lại lãi cao hơn cho người chăn nuôi (523,6 và 550,5 so với 336,4 VNĐ/con/75 ngày)
Sử dụng 0,75kg cám phôi đỗ xanh + 0,75kg cám vỏ đỗ xanh để vỗ béo bò Lai Sin đạt kết quả tốt hơn so với 0,5kg cám phôi đỗ xanh + 1kg cám vỏ đỗ xanh
Tài liệu tham khảo
Báo cáo tổng kết tình hình sản xuất của xã Dương Liễu và Cát Quế năm 2005
Pham Kim Cuong, Vu Chi Cuong, Pham Hung Cuong (2001) The affect of replacement of cotton
seed by mulberry leaves in ration of fattening cattle The Procceeding of Conference on Animal Husbandry and Veterinary held in Hanoi from 8 – 9/12/2004 Pp 42 – 47
AOAC (1995) Official methods of the assosiation of officialn Analytical chemistis (15th Ed), Washington DC.1: 69 – 90