Eight two-line hybrid rice combinations newly developed in Vietnam were evaluated in 2004 autumn season. Results of evaluation showed that new combinations could be classified as very early maturing (95 – 112 days), two of them (VL1 and VL2) were extra early maturing (94 – 95 days). The yield potential and yield of 4 combinations, i.e.VL1, VL3, VL4 and VL5 was significantly higher than the check hybrid Boi Tap Son Thanh. Combination VL1 had not only high yield but also very high cumulative yield (86,5kg/ha/day).
Trang 1đánh giá các tổ hợp lúa lai hai dòng mới chọn tạo
Evaluation of newly developed two line hybrid rice combinations
Nguyễn Như Hải (1) , Nguyễn Văn Hoan (2)
Summary Eight two-line hybrid rice combinations newly developed in Vietnam were evaluated in 2004 autumn season Results of evaluation showed that new combinations could be classified as very early maturing (95 – 112 days), two of them (VL1 and VL2) were extra early maturing (94 – 95 days)
The yield potential and yield of 4 combinations, i.e.VL1, VL3, VL4 and VL5 was significantly higher than the check hybrid Boi Tap Son Thanh Combination VL1 had not only high yield but also very high cumulative yield (86,5kg/ha/day)
Key words: two line hybrid rice, early maturing, and cumulative yield
1 Đặt vấn đề
Khai thác ưu thế lai ở lúa là một hướng đi có hiệu quả nhất để tăng năng suất và sản lượng lúa.Trong những năm gần đây công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu về lúa lai đã được triển khai mạnh mẽ ở Việt nam, đã có một số tổ hợp lai được được chọn tạo trong nước đưa vào sản xuất trên diện rộng như Việt Lai 20, TH3 – 3, HYT83… Tuy nhiên các tổ hợp lúa lai được gieo cấy rộng rãi trong nước chủ yếu được nhập nội từ nước ngoài Vì vậy để phát triển lúa lai bền vững, về lâu dài sản xuất lúa lai ở nước ta không thể trông chờ vào nguồn giống của Trung Quốc mà cần có các giống lúa lai do Việt Nam chọn tạo và sản xuất
Để góp phần vào mục tiêu trên, vụ mùa 2004 chúng tôi tiến hành khảo sát và đánh giá một số
tổ hợp lúa lai hai dòng được chọn tạo trong nước
2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Vật liệu
Vật liệu nghiên cứu gồm 8 tổ hợp lúa lai hai dòng được chọn tạo trong nước: VL1, VL2, VL3, VL4, VL5,.VL6, VL7, VL8 Nguồn bố mẹ của các tổ hợp lai được chọn tạo trong nước: 103 S, T29
S, Peiai 47 S, TGVN 1, T 1S - 96 (các dòng mẹ), R2, R5-1, R 6- 2 (các dòng bố)
+ Giống đối chứng: Bồi tạp Sơn thanh (BTST) được nhập nội từ Trung Quốc
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp bố trí thí nghiệm:
+ Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp thí nghiệm của Gomez (1984) (RCB - Random Complet Block Design), sắp xếp ngẫu nhiên, lặp lại 3 lần Diện tích ô thí nghiệm 10 m2, mật độ cấy
38 khóm / m2, 2 dảnh/khóm
+ Địa điểm: Trạm khảo nghiệm Văn Lâm (Hưng Yên)
+ Phân bón sử dụng trong thí nghiệm:
Phân chuồng: 8-10 tấn/ha, N: 120 kg/ha, P2O5: 450 kg/ha, K2O: 160 kg/ha
Cách bón: (+) Lót: 100 % phân chuồng + 100 % lân + 50 % đạm +30 % kali
(+) Thúc đợt 1: 30 % đạm + 40 % kali
(+) Thúc đợt 2: 20 % đạm + 30 % kali
Trang 2+ Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh theo quy phạm khảo nghiệm giống lúa 10 TCN 558 - 2002 của Bộ Nông nghiệp & PTNT (2003)
- Các chỉ tiêu theo dõi về đặc tính nông học và năng suất theo quy phạm khảo nghiệm giống lúa 10 TCN và SES – INGER, IRRI – 1996 (1996)
Xử lý độ tin cậy của thí nghiệm bằng chương trình IRRISTART
3 Kết quả thí nghiệm
3.1 Đặc điểm nông sinh học của các tổ hợp lúa lai
Một số đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp lai được thể hiện ở bảng1 Kết quả cho thấy các tổ hợp lai sinh trưởng phát triển tốt, có độ thuần quần thể khá, trỗ tập trung (biến động từ 5 -
7 ngày), trừ các tổ hợp VL3, VL 4 còn lẫn dòng mẹ nên độ thuần chưa cao Các giống có dạng hình cây gọn, cứng, lá đứng, khả năng thâm canh cao Đặc biệt hai tổ hợp lai VL3, VL4 có cấu trúc quần thể rất đẹp: cây gọn, thân cứng; lá dài, đứng, dày, lòng mo, màu xanh đậm, tuổi thọ lá cao
Chiều cao cây của các giống biến động từ 104 - 114 cm, cao hơn so với đối chứng BTST, 2 tổ hợp lai VL1 và VL2 có chiều cao cây thấp nhất: 103 - 104 cm Các tổ hợp lai trong thí nghiệm đều
có thời gian sinh trưởng (TGST) ngắn biến động từ 94 - 112 ngày, trong đó 2 tổ hợp VL1, VL2 thuộc nhóm cực ngắn có thời gian sinh trưởng 94 - 95 ngày ngắn hơn BTST 4- 5 ngày
Bảng 1 Một số đặc điểm nông sinh học của các tổ hợp lai
Tên
giống
Dạng hình (điểm)
TGST (ngày)
Cao cây (cm)
Dài bông (cm)
K.thước lá
đòng (DxR) (cm)
Thời gian trỗ (ngày)
Độ tàn lá
(điểm)
Độ thuần quần thể
VL 2 1 94 104,4 24,4 36,2 x 1,80 5 1 Khá
VL 3 1 103 112,1 27,4 41,5 x 1,79 7 1 T.bình
VL 4 1 105 112,6 27,2 43,1 x 1,88 7 1 T.bình
VL 5 1 108 111,2 26,4 36,9 x 2,11 6 1 Khá
VL 6 3 111 113,5 25,9 40,3 x 1,88 6 5 Khá
VL 7 3 110 114,0 26,5 43,2 x 1,92 6 5 Khá
VL 8 3 112 110,8 25,7 37,4 x 1,83 6 3 Khá
3.2 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
Kết quả thu được trình bày ở bảng 2 cho thấy đa số các tổ hợp lai mới có số bông/khóm tương
đương giống đối chứng BTST (6,8 bông/khóm), cao nhất là giống VL6 đạt 7,2 bông/khóm, các tổ hợp có số bông/khóm thấp hơn đối chứng: VL3, VL4, VL5, VL8
Trong các tổ hợp tham gia thí nghiệm có một số giống có số hạt chắc/bông cao hơn đối chứng là: VL1, VL2,VL3, VL4 (170 - 180 hạt/bông), hai giống tương đương: VL5, VL8 (159 - 160 hạt/ bông), các giống còn lại thấp hơn đối chứng BTST
Giống đối chứng (BTST) có khối lượng 1000 hạt thấp nhất (23 g), cao nhất là giống VL 5 (27,5 g), các giống còn lại có P1000 hạt tương đương hoặc cao hơn đối chứng chút ít (23,5 - 24,5 g)
Về năng suất thực thu có một số tổ hợp cao hơn đối chứng ở mức có ý nghĩa
(LSD 0,05 = 5.5 tạ/ha) xếp theo thứ tự là: VL4 (86,7 tạ/ha ); VL3 (83,5 tạ/ha); VL 5 (83,2 tạ/ha); VL1 (82,2) Giống VL2 có năng suất cao hơn giống đối chứng 5,4 tạ/ha nhưng ở mức không có ý nghĩa Các tổ hợp laiVL6, VL7, VL8 có năng suất thấp hơn giống đối chứng
Trang 3Bảng 2 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lúa lai
( Trạm Khảo nghiệm Văn Lâm - vụ mùa 2004)
Năng suất (tạ/ha)
Tổ hợp
lai
Số bông /khóm
Số hạt chắc/bông
Tỷ lệ lép (%)
P1000 hạt (g)
Thực thu
Chênh lệch
so với đối chứng
NS tích luỹ (kg/ha/
ngày)
VL 1 6,9 173,0 13,3 23,5 82,2 + 6,2 86,5
VL 2 6,7 170,0 15,6 23,8 81,4 + 5,4 86,6
VL 3 6,2 173,0 13,3 24,2 83,5 + 7,5 81,1
VL 4 6,2 180,5 13,2 25,2 86,7 + 10,7 82,6
VL 5 6,3 159,2 13,4 27,5 83,2 +7,2 77,0
VL 6 7,2 151,8 18,8 23,7 73,7 - 2,3 66,4
VL 7 7,0 153,9 14,3 24,5 70,3 - 5,7 63,9
VL 8 6,4 159,6 13,4 24,1 71,9 - 5,1 64,2
LSD0, 05 = 5,5 tạ/ha 3.3 Nhiễm sâu bệnh đồng ruộng của các tổ hợp lai
Kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng 3 cho thấy các tổ hợp lai VL1, VL2, VL3, VL4, có khả năng chống đổ khá, nhiễm nhẹ các bệnh bạc lá, khô vằn Các giống còn lại VL6, VL7, VL8 nhiễm bệnh bạc lá trung bình, khả năng chống đổ kém hơn (điểm 5) Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của các tổ hợp lai chưa thấy xuất hiện rầy nâu trên đồng ruộng
Bảng 3 Nhiễm sâu bệnh đồng ruộng và tính chống đổ của các tổ hợp lai
(Trạm khảo nghiệm Văn Lâm- mùa 2004)
Tổ hợp lai
Chống đổ Bạc lá Khô vằn Rầy nâu
điểm 7- nặng; điểm 9- rất nặng
4 Kết luận
Tám tổ hợp lúa lai hai dòng mới chọn tạo đều thuộc nhóm có thời gian sinh trưởng ngắn (95 –
112 ngày), thấp cây, lá sống lâu, lá đòng dài thuộc dạng hình thâm canh, sức chống chịu sâu bệnh
và chống đổ khá
Có 5 tổ hợp đạt năng suất trên 80tạ/ha trong đó 4 tổ hợp năng suất cao hơn đối chứng là VL1, VL3, VL4 và VL5 Tổ hợp VL1 không những có năng suất cao hơn đối chứng mà còn có năng suất tích luỹ rất cao, đạt tới 86,5kg/ha/ngày và tỏ ra là tổ hợp rất có triển vọng
Tài liệu tham khảo
Gomez K A and Gomez A.A (1984) Statistical proceduressor Agricultural research Willy and Son Philippines
Trang 4NguyÔn V¨n Hoan, Vò Hång Qu¶ng Gièng lóa lai ng¾n ngµy ViÖt lai 20 – B¸o c¸o céng nhËn gièng Bé NN vµ PTNN, 2004
IRRI – INGER (1996) Standard Evaluation system for Rice (SES)
Quy ph¹m kh¶o nghiÖm gièng lóa – 10TCN- 558-2002 Bé NN vµ PTNN, 2003