The objective of this study is to investigate the roles of agricultural cooperatives in Bac Ninh province through their current service activities and farmers’ assessment. The study results show that all agricultural cooperatives in Bac Ninh provided multiple services to farm households, mainly on irrigation, extension, crop seed supply, electricity and field protection service. The ratio of farmers using the services provided by the agricultural cooperatives and their use degree varied with the kind of services. Farmers’ comparative opinions on services offered by the cooperatives and the individuals proved that the cooperatives played the important role in providing irrigation, field protection, extension, and seed supply services, but little role in land preparation, fertilizers and pesticide supply. The cooperatives even play infinitesimal role in marketing service and nearly no role in providing credit service to farmers.
Trang 1hoạt động dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp
tỉnh Bắc Ninh Service activities of agricultural cooperatives in Bac Ninh province
Nguyễn Mậu Dũng1
SUMMARY The objective of this study is to investigate the roles of agricultural cooperatives in Bac Ninh province through their current service activities and farmers’ assessment The study results show that all agricultural cooperatives in Bac Ninh provided multiple services to farm households, mainly on irrigation, extension, crop seed supply, electricity and field protection service The ratio of farmers using the services provided by the agricultural cooperatives and their use degree varied with the kind of services Farmers’ comparative opinions on services offered by the cooperatives and the individuals proved that the cooperatives played the important role in providing irrigation, field protection, extension, and seed supply services, but little role in land preparation, fertilizers and pesticide supply The cooperatives even play infinitesimal role in marketing service and nearly no role in providing credit service to farmers
Key words: Cooperative service, farm households
1 đặt vấn đề
Như hầu hết các địa phương khác ở Đồng bằng sông Hồng, phong trào hợp tác hoá ở Bắc Ninh đã diễn ra mạnh mẽ trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung Tuy nhiên sau công cuộc đổi mới trong sản xuất nông nghiệp vào năm 1988, hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) đã có những thay đổi căn bản về hình thức tổ chức và quản lý các hoạt động dịch vụ (Wolz Axel, 2000) Cho
đến nay, hầu hết các HTXNN kiểu cũ ở Bắc Ninh đã được chuyển đổi thành những HTXNN kiểu mới và một số HTXNN mới đã được thành lập trên cơ sở luật HTX năm 1996 Đa số các HTXNN trong tỉnh tập trung vào việc cung ứng các dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân như dịch vụ thuỷ lợi, dịch vụ điện, dịch vụ đầu vào (giống, phân bón, thuốc sâu) Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng HTXNN vẫn đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình (Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn, 2004), tuy nhiên cũng có không ít ý kiến khác cho rằng việc chuyển đổi và thành lập mới HTXNN còn mang nặng tính hình thức và thiếu những mô hình HTXNN hoạt động có hiệu quả (Nguyễn
Đình Long, 2001), nên vai trò của HTXNN là khá mờ nhạt Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể cũng đã chỉ rõ trong năm năm qua kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã, nhất là các HTXNN đã đáp ứng một phần nhu cầu của các hộ sản xuất kinh doanh và
đã có đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mặc dù vậy số hợp tác xã làm ăn có hiệu quả còn ít, đem lại lợi ích cho thành viên chưa nhiều Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu vai trò của HTXNN trong tỉnh Bắc Ninh thông qua thực trạng hoạt động dịch vụ của HTX hiện nay và ý kiến đánh giá các hộ nông dân về các hoạt động dịch vụ đó
2 Phương pháp nghiên cứu1
Nghiên cứu đã tiến hành thu thập các số liệu về tình hình cơ bản của các HTXNN và thực trạng hoạt động dịch vụ của các HTXNN thông qua các báo cáo có liên quan của sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Bắc Ninh Ngoài ra, còn tiến hành phỏng vấn 240 hộ nông dân của 12 HTXNN trong tỉnh về tình hình sử dụng dịch vụ của HTXNN và thu thập ý kiến đánh giá của
1
Khoa Kinh tế & PTNT, Trường ĐHNNI
Trang 2các hộ về các hoạt động dịch vụ của HTXNN vào năm 2004 (giá bán, phương thức thanh toán và chất lượng dịch vụ… được cung ứng bởi HTX và dịch vụ được cung ứng bởi các đối tượng khác) Các số liệu này đã được phân tích chủ yếu bằng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Một số nét cơ bản về các HTXNN ở Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh nằm trong vùng ĐBSH có tổng diện tích tự nhiên là 80.480ha, trong
đó diện tích đất nông nghiệp là 48.726ha, chiếm 60,55% Mặc dù trong những năm gần đây, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá trong tỉnh đã và đang diễn ra khá mạnh mẽ, tốc độ tăng GDP của tỉnh đạt 14%/năm, nhưng dân số nông nghiệp vẫn chiếm đến 89,6% tổng dân số, lao động nông nghiệp vẫn chiếm 82% tổng lực lượng lao động trong tỉnh (Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2004) Sản xuất nông nghiệp ở Bắc Ninh vì vậy vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
công cuộc phát triển kinh tế, ổn định đời sống của nhân dân trong tỉnh Toàn tỉnh hiện có 526
HTXNN, trong đó hầu hết là các HTX chuyển đổi Số HTX được thành lập mới sau khi có luật HTX chiếm tỷ lệ rất nhỏ (1,4%) 84,9% HTX có quy mô thôn, số còn lại có quy mô toàn xã và HTX liên thôn Trước kia HTXNN đều có ở tất cả các xã, thôn Tuy nhiên do kết quả chuyển
đổi, giải thể HTX theo luật HTX, hiện nay có 14 thôn trong tỉnh không có HTXNN, chủ yếu tập trung ở huyện Quế Võ Trong giai đoạn trước chuyển đổi, thành viên của các HTXNN là các hộ nông dân, tuy nhiên sau quá trình chuyển đổi, các HTX ở Bắc Ninh được chia làm hai nhóm theo hình thức thành viên của HTX Trong đó các HTX có thành viên là hộ gia đình vẫn chiếm
tỷ lệ cao 83,3%, còn các HTX có thành viên là người lao động chiếm tỷ lệ thấp (16,7%) Nhìn chung những HTX mới thành lập là những HTX có thành viên là người lao động, với số lượng thành viên/ HTX ít hơn so với các HTX chuyển đổi Một HTX ở Bắc Ninh có từ 6-7 cán bộ Nhìn chung trình độ văn hoá của đội ngũ cán bộ HTX trong tỉnh chưa cao (bảng 1) Ngoài ra, lượng vốn bình quân của một HTX trong tỉnh còn ở mức khá khiêm tốn, 298,2 triệu đồng/HTX Trong tổng lượng vốn đó thì vốn cố định chiếm tỷ lệ lớn (91,1%), vốn lưu động chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (8,9%) Tỷ lệ vốn từ HTX cũ chuyển sang cũng chiếm tỷ trọng chủ yếu (79,5%), còn lại
là từ vốn góp của xã viên và tích luỹ của HTX
Bảng 1 Trình độ học vấn của các cán bộ HTX (%)
2
Hết cấp
3
Có bằng cao đẳng
Có bằng
Đại học Chủ nhiệm HTX 48,3 40,3 8,6 2,9 Kiểm soát trưởng 53,6 40,1 5,3 1,0
Kế toán trưởng 38,6 51,9 7,8 1,7
(Nguồn: Sở NN và PTNT Bắc Ninh, 2004)
3.2 Hoạt động dịch vụ của các HTXNN tỉnh Bắc Ninh
3.2.1 Sự tham gia của các HTX vào hoạt động dịch vụ
Hoạt động dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân bởi các HTXNN trong tỉnh khá đa dạng Số liệu trong bảng 2 cho thấy hầu hết các HTX tập trung cung cấp các loại dịch vụ cơ bản như dịch vụ thuỷ lợi, dịch vụ khuyến nông, dịch vụ giống, dịch vụ
điện, và dịch vụ bảo vệ đồng ruộng, trong đó cung cấp dịch vụ thuỷ lợi có thể được xem là hoạt
động dịch vụ quan trọng hàng đầu của các HTX với sự tham gia của 95,8% các HTX trong tỉnh Ngoài ra hầu hết các HTX có phối kết hợp với các đơn vị có liên quan trong việc triển khai các dịch vụ khuyến nông (87,3%)
Dịch vụ điện cũng được xem là một hoạt động dịch vụ quan trọng đối với các HTX Hiện nay có 70,0% số HTX trong tỉnh tham gia cung cấp dịch vụ điện cho các hộ nông dân Tuy nhiên tỷ lệ HTX cung cấp dịch vụ điện ở Thị xã Bắc Ninh, ở huyện Quế Võ và huyện Từ Sơn chiếm tỷ lệ thấp (từ 12-40%) Hơn 70% số HTX thực hiện dịch vụ bảo vệ đồng ruộng cho các hộ nông dân Tỷ lệ tham gia dịch vụ này của các HTX ở huyện Quế Võ và Thuận Thành thấp hơn, chỉ đạt 50,0% và 31,3% tương ứng
Trang 3Bảng 2 Sự tham gia của các HTX vào các hoạt động dịch vụ (%)
Loại dịch vụ
Bắc Ninh
Yên Phong
Thuận Thành
Quế
Võ
Gia Bình
Lương Tài
Tiên
Du
Từ Sơn Chung
1 Dịch vụ thuỷ lợi 100,0 100,0 75,8 98,3 98,7 100,0 98,5 91,2 95,8
2 Bảo vệ đồng ruộng 100,0 87,4 50,0 31,3 98,7 79,7 89,7 76,5 71,3
3 Dịch vụ làm đất 25,0 3,4 50,0 11,3 33,3 21,7 67,6 88,2 31,7
4 Dịch vụ thú y 0,0 87,4 12,9 18,3 46,7 2,9 1,5 5,9 27,6
5 Dịch vụ p.bón- t.sâu 100,0 2,3 16,1 8,7 41,3 24,6 52,9 91,2 29,1
6 Dịch vụ điện 12,5 100,0 54,8 39,1 98,7 84,1 85,3 29,4 70,0
7 Khuyến nông 100,0 100,0 100,0 50,4 98,7 100,0 98,5 76,5 87,3
8 Dịch vụ giống 100,0 100,0 100,0 98,3 98,7 81,2 98,5 91,2 96,2
9 D.vụ tiêu thụ s.phẩm 6,3 0,0 11,3 8,7 36,0 18,8 11,8 2,9 12,7
10 Dịch vụ tín dụng 0,0 1,1 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,2
(Nguồn: Sở NN và PTNT Bắc Ninh, 2004)
Dịch vụ cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp bởi các HTX như cung cấp giống, thuốc sâu, phân bón đã từng đóng một vai trò quan trọng và được hầu hết các HTX thực hiện trong thời gian khá dài Tuy nhiên trong những năm gần đây do có sự cạnh tranh mạnh mẽ của thành phần kinh tế tư nhân nên nhiều HTX đã gặp khó khăn trong việc tham gia cung cấp dịch vụ phân bón, thuốc sâu Hiện tại chỉ có 29,1% số HTX vẫn duy trì cung cấp phân bón, thuốc sâu Tuy nhiên đối với dịch vụ giống, hầu hết các HTX (96,2%) vẫn tham gia cung ứng cho hộ nông dân Điều này thường do các HTX có mối liên hệ chặt chẽ hơn với các công ty giống, hoặc với Trung tâm Khuyến nông của huyện và có thể dễ dàng tiếp cận được với các nguồn giống mới để cung cấp cho hộ nông dân Các hộ nông dân cũng thường tin tưởng vào chất lượng giống được cung cấp bởi HTX hơn so với giống được bán bởi tư nhân Điều này tạo ra sự thuận lợi cho các HTX khi tham gia cung cấp dịch vụ giống
Dịch vụ làm đất hiện nay được rất ít HTX thực hiện, một phần do nhiều HTX không có máy làm đất, một phần do sự cạnh tranh mạnh mẽ của tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ này
ở Yên Phong, tỷ lệ HTX có dịch vụ làm đất chỉ chiếm 3,4%, trong khi đó ở Quế Võ tỷ lệ này cũng chỉ đạt 11,3% Ngoài ra tỷ lệ HTX cung cấp dịch vụ thú y cho các hộ cũng đạt mức thấp
Tỷ lệ các HTX tham gia cung cấp dịch vụ này ở TX Bắc Ninh, Lương Tài, Tiên Du, Từ Sơn đạt rất thấp, dưới 6%
Mặc dù dịch vụ tiêu thụ sản phẩm cho hộ nông dân được coi là có một vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp (Kenji Cho, 1999), tuy nhiên có rất ít HTX trong tỉnh thực hiện dịch vụ này (12,7%) Hầu hết các HTX đều gặp khó khăn trong việc tìm đầu
ra cho các sản phẩm của địa phương Sự yếu kém của hoạt động dịch vụ này trong các HTX đã dẫn tới sự không ổn định của giá cả sản phẩm sản xuất ra, và gây ra nhiều khó khăn đối với các
hộ nông dân trong quá trình sản xuất Dịch vụ tín dụng ngày càng trở nên quan trọng do nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất của các hộ nông dân Tuy nhiên, do điều kiện hạn hẹp về nguồn vốn nên hầu hết các HTX không tham gia cung cấp dịch vụ này Toàn tỉnh hiện chỉ có 0,2% số HTX cung cấp dịch vụ tín dụng cho các hộ nông dân
3.2.2 Kết quả hoạt động dịch vụ của các HTX
Có thể thấy rằng hiện nay sự tồn tại và phát triển của HTXNN phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả của các hoạt động dịch vụ trong HTX Tuy nhiên theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Ninh thì hầu hết các HTXNN trong tỉnh đều chỉ đạt mức hoà vốn trong việc cung cấp các dịch vụ phục vụ các hộ nông dân (bảng 3) Trong tất các các loại dịch vụ được cung ứng bởi các HTX hiện nay thì các HTX tham gia dịch vụ tiêu thụ sản phẩm có lợi nhuận đạt tỷ lệ khá cao, mặc dù tổng số HTX cung ứng dịch vụ này không nhiều Trong khi đó tỷ lệ HTX có lợi nhuận khi tham gia cung ứng dịch vụ điện là 41,6%, dịch vụ thuỷ lợi là 21,0%, dịch vụ làm đất
là 18,6%, và dịch vụ cung ứng phân bón thuốc sâu là 18,3%, và dịch vụ bảo vệ đồng ruộng là
Trang 45,1% Tất cả các HTX đều không có lợi nhuận trong việc cung ứng dịch vụ khuyến nông, dịch
vụ giống, dịch vụ thú y Tuy nhiên tỷ lệ các HTX bị thua lỗ trong việc cung ứng các hoạt động dịch vụ là rất thấp
Bảng 3 Hiệu quả của các hoạt động dịch vụ bởi HTX
Có lợi nhuận Bị thua lỗ Hoà vốn Loại dịch vụ Số
HTX cung cấp dịch vụ
Số HTX
Tỷ lệ (%)
Lợi nhuận/
HTX (tr.đ)
Số HTX
Tỷ lệ (%)
Lỗ/
HTX (tr.đ)
Số HTX
Tỷ lệ (%)
1 Thuỷ lợi 504 106 21,0 7,0 3 0,6 1,4 395 78,4
2 Bảo vệ đồng ruộng 375 19 5,1 0,5 0 0,0 0,0 356 94,9
3 Làm đất 167 31 18,6 1,0 0 0,0 0,0 136 81,4
4 Thú y 145 0 0,0 0,0 0 0,0 0,0 145 100,0
5 Phân bón, thuốc sâu 153 28 18,3 2,2 0 0,0 0,0 125 81,7
6 Điện 368 153 41,6 5,7 1 0,3 3,0 214 58,2
7 Khuyến nông 459 0 0,0 0,0 0 0,0 0,0 459 100,0
9 Tiêu thụ sản phẩm 67 58 86,6 4,6 0 0,0 0,0 9 13,4
10 Tín dụng 1 1 100,0 3,0 0 0,0 0,0 0 0,0
(Nguồn: Sở NN và PTNT Bắc Ninh, 2004)
3.2.3 Tình hình sử dụng dịch vụ của HTX
Phần lớn các HTX đều cung ứng các dịch vụ thủy lợi, điện, bảo vệ thực vật và khuyến nông, tương ứng với các tỷ lệ 91,7%; 83,3%; 91,7%; 100% Tất cả các hộ nông dân cho biết HTX cũng đã đáp ứng được trên 90% nhu cầu về dịch vụ thủy lợi và điện của họ, tuy nhiên chỉ
có 45,8% số hộ điều tra cho biết là HTX đã đáp ứng được trên 90% nhu cầu của họ về dịch vụ bảo vệ thực vật, 40,5% cho biết HTX mới chỉ đáp ứng được từ 50-90% nhu cầu của họ Đối với dịch vụ khuyến nông, chỉ có 62,1% số hộ điều tra cho biết ho có tiếp cận được với dịch vụ khuyến nông của HTX, tuy nhiên chỉ có 31,1% cho biết là dịch vụ khuyến nông đã đáp ứng
được 90% nhu cầu của họ, số còn lại cho biết dịch vụ khuyến nông chỉ đáp ứng được từ 50-90% nhu cầu đặt ra, Nhiều hộ nông dân cũng cho biết họ tiếp cận với khuyến nông từ các nguồn thông tin khác, không phải duy nhất từ HTX (bảng 4)
Đối với các dịch vụ cung ứng đầu vào như cung ứng giống, phân bón, thuốc sâu, làm đất, các HTX gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của tư nhân Rất nhiều HTX đã không còn tiếp tục các hoạt động cung ứng này nữa, còn lại số ít HTX vẫn duy trì các hoạt động cung ứng dịch vụ này Các hộ nông dân hiện nay có thể lựa chọn các dịch vụ này không chỉ của HTX, mà còn của tư nhân hoặc các đại lý bán hàng Ngay cả đối với dịch vụ giống, mặc dù tỷ lệ hộ mua khá cao (72,1%) bởi vì các hộ nông dân tin tưởng vào chất lượng giống của HTX cung ứng hơn Mặc dù vậy cũng chỉ có 24,5% số hộ mua trên 90% lượng cầu của mình từ HTX Lý do chủ yếu là HTX không có đủ lượng giống để bán cho nông dân, và một phần là giá bán giống của HTX cao hơn
so với giá bán trên thị trường
Bảng 4 Tỷ lệ hộ nông dân sử dụng dịch vụ cua HTX
Tỷ lệ (%) Dịch vụ
Số HTX cung cấp Hộ sử dụng
dịch vụ của HTX
Hộ sử dụng trên 90% so với nhu cầu của mình
Hộ sử dụng từ 50-90% so với nhu cầu của mình
(Nguồn: Số liệu điều tra hộ, 2004)
Trang 5Dịch vụ tiêu thụ sản phẩm là một trong những hoạt động dịch vụ quan trọng mà hộ nông dân trông đợi nhiều vào các HTX Tuy nhiên việc thực hiện cung ứng dịch vụ này của các HTX dường như gặp nhiều khó khăn Chỉ có duy nhất một HTX điều tra có triển khai hoạt động dịch
vụ này với quy mô nhỏ và chỉ có 7,5% số hộ nông dân điều tra được hưởng lợi từ dịch vụ đó của HTX Lượng sản phẩm mà họ tiêu thụ được thông qua dịch vụ HTX này cũng rất nhỏ so với tổng nhu cầu tiêu thụ của họ
3.2.4 Đánh giá của hộ nông dân về hoạt động dịch vụ của HTX
Các HTX thực hiện các dịch vụ thuỷ lợi, bảo vệ đồng ruộng, khuyến nông và dịch vụ giống tốt hơn, hơn 75% số hộ điều tra cho biết phương thức thanh toán của HTX đối với các dịch
vụ này tiện lợi hơn, giá bán rẻ hơn, và chất lượng tốt hơn Hơn 60% số hộ điều tra cho biết HTX quản lý dịch vụ điện tốt hơn Ngược lại, nhiều hộ nông dân cho biết việc cung ứng dịch vụ làm
đất, dịch vụ phân bón, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm của HTX kém hơn so với tư nhân Đối với dịch
vụ thuốc trừ sâu bệnh, nhiều hộ nông dân cho biết tư nhân có phương thức thanh toán tiện lợi hơn, giá rẻ hơn, nhưng chất lượng thuốc không được đảm bảo trong khi đó chất lượng thuốc sâu bệnh được cung ứng bởi HTX được đảm bảo hơn, nhưng phương thức thanh toán chưa tiện lợi, giá bán cao
Bảng 5 ý kiến đánh giá của nông dân về hoạt động cung ứng dịch vụ bởi HTX và các đối tượng
khác (%)
Về phương thức thanh toán
Về giá dịch vụ Về chất lượng
dịch vụ Dịch vụ
Số ý kiến
hộ nông dân Tốt
hơn
Tồi hơn Rẻ hơn Đắt hơn Tốt hơn Kém
hơn
Bảo vệ đồng ruộng 185 78,4 3,2 76,2 2,7 78,9 3,2
Khuyến nông 131 93,1 1,5 94,7 2,3 93,9 2,3
Tiêu thụ sản phẩm 18 22,2 55,6 38,9 27,8 11,1 27,8
(Nguồn: Số liệu điều tra hộ, 2004)
4 Kết luận
Hoạt động cung cấp dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân bởi các HTXNN trong tỉnh Bắc Ninh khá đa dạng Hầu hết các HTXNN tập trung cung cấp các loại dịch vụ cơ bản như dịch vụ thuỷ lợi, dịch vụ khuyến nông, dịch vụ giống, dịch vụ điện, và dịch
vụ bảo vệ đồng ruộng Tỷ lệ các HTXNN cung ứng dịch vụ làm đất, dịch vụ phân bón, dịch vụ thuốc phòng trừ sâu bệnh không lớn do có sự cạnh tranh khá gay gắt của các đối tượng cung cấp khác Rất ít các HTXNN cung ứng dịch vụ tiêu thụ sản phẩm cho hộ nông dân do các HTXNN gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường đầu ra Dịch vụ tín dụng cũng hầu như không
đựoc thực hiện bởi các HTXNN do lượng vốn lưu động của các HTXNN rất nhỏ
Có thể thấy rằng nhìn chung hiệu quả kinh tế của hoạt động dịch vụ bởi các HTXNN không cao được thể hiện qua tỷ lệ các HTXNN thu được lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ này khá thấp và lợi nhuận thu được/HTX rất thấp Riêng đối với dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, mặc dù tổng số HTXNN cung ứng dịch vụ này còn ít, nhưng tỷ lệ các HTXNN tham gia dịch vụ có lợi nhuận đạt khá cao, 86,6%, cho thấy đây có thể là một hoạt động dịch vụ có hiệu quả, cần được các HTXNN quan tâm triển khai trong thời gian tới
Tỷ lệ hộ nông dân sử dụng dịch vụ được cung ứng bởi HTXNN và mức độ sử dụng dịch
vụ của các hộ có sự khác biệt đáng kể tuỳ theo loại dịch vụ cung ứng Trong khi rất nhiều hộ sử dụng dịch vụ thuỷ lợi, bảo vệ đồng ruộng, khuyến nông, dịch vụ giống của HTXNN, thì có rất ít
hộ sử dụng dịch vụ cung ứng phân bón, thuốc sâu, dịch vụ làm đất của các HTXNN ý kiến
đánh giá của hộ nông dân cho thấy hiện nay các HTXNN đóng vai trò quan trọng trong việc
Trang 6cung ứng các dịch vụ thuỷ lợi, bảo vệ đồng ruộng, khuyến nông, và dịch vụ giống Vai trò của HTXNN trong việc cung ứng dịch vụ làm đất, phân bón, thuốc sâu là khá mờ nhạt do có sự cạnh tranh mạnh mẽ của tư nhân trong việc cung ứng các dịch vụ này Dịch vụ tiêu thụ sản phẩm chưa
được nhiều HTXNN triển khai, lượng tiêu thụ sản phẩm qua HTXNN chưa nhiều, chưa đáp ứng
được nhu cầu của các hộ nông dân trong tỉnh
Tài liệu tham khảo
Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2004): Niên giám Thống kê tỉnh Bắc Ninh 2003 (223 tr)
Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2004) Báo cáo đóng góp của hộ gia đình và hợp tác xã trong sự phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam; 4 tr (www.isgmard.org.vn/Information%20Service/ Experience/Cuc%20HTX-v.pdf)
Kenji Cho (1999) New Agricultural Cooperative in Vietnam: Discussion Based on Japanese Experience Proceeding of the workshop on Agricultural Cooperatives and Poliy Issues in Japan and Vietnam, Hanoi Agricultural University and HAU-JICA ERCB Project Office, tr.37-46
Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, 2002 (http://www.lienminhhtxhcm.com.vn/VietNam/VBanPQ/coopLaws.asp)
Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Ninh (2004) Báo cáo tóm tắt về các HTXNN tỉnh Bắc Ninh,
12 tr
Nguyễn Đình Long (2001) "Hợp tác xã nông nghiệp ở nước ta - Khó khăn và giải pháp" Tạp chí
Hoạt động Khoa học, Bộ Khoa học Công nghệ, số 11, năm 2001
(http://www.tchdkh.org.vn/tapchi.asp)
Wolz, Axel (2000) The Development of Agricultural Co-operatives in Vietnam since Transformation Research Centre for International Agrarian & Economic Development, Ringstr 19, D-69115 Heidelberg, 85 trang