The developmental period before adult merge of the egg - parasitoid Telenomus subitus Le is very short (7-11 days), average 8.73 ± 0.53 days in condition of average temperature of 27.5 0C and relative humidity of 85.5%. The female of T. subitus which doen’t give oviposition live longer that those oviposited about 2-3 times (15.6 in compare with 4.75 days and 4.48 in compare with 2.86 days respectively in condition of adding food were bee honey and clean water). Pure honey is the best food for waps T. subitus on longevity and oviposition capacity (lived 4.75 days and parasited 99.2 eggs of host). In condition of adding food were sugar solution 50% and bee honey solution 50%, the longevity of the female waps was similar (6.56 – 7.64 days). Clean water was the worst food adding for female waps T. subitus, they lived shorter and gave capacity of parasiting lower (2.86 days and parasited 51.8 eggs of the host). Parasitoid T. subitus has an imporatant roll in cotrolling the density of red shield green bug. Eventhough the density of egg cluster on soybean field was not very high (average 0.49 ± 0.19 cluster/m2), but the rate of egg parasited was very high, average was 68.39 ± 13.25%.
Trang 1Ong ký sinh trứng bọ xít xanh vai đỏ Telenomus subitus Le (Scelionidae:
Hymenoptera) và vai trò của nó trong hệ sinh thái cây đậu tương
vụ hè - thu 2003 tại Gia Lâm – Hà Nội
Egg parasitoid on red shield green bug Telenomus subitus Le (Scelionidae:
Hymenoptera) and its roll in summer-autumn 2003 on soybean ecosystem
in Gialam district, Hanoi city
Summary
The developmental period before adult merge of the egg - parasitoid Telenomus subitus
Le is very short (7-11 days), average 8.73 ± 0.53 days in condition of average temperature
of 27.5 0C and relative humidity of 85.5% The female of T subitus which doen’t give
oviposition live longer that those oviposited about 2-3 times (15.6 in compare with 4.75 days and 4.48 in compare with 2.86 days respectively in condition of adding food were bee
honey and clean water) Pure honey is the best food for waps T subitus on longevity and
oviposition capacity (lived 4.75 days and parasited 99.2 eggs of host) In condition of adding food were sugar solution 50% and bee honey solution 50%, the longevity of the female waps was similar (6.56 – 7.64 days) Clean water was the worst food adding for
female waps T subitus, they lived shorter and gave capacity of parasiting lower (2.86 days
and parasited 51.8 eggs of the host)
Parasitoid T subitus has an imporatant roll in cotrolling the density of red shield green
bug Eventhough the density of egg cluster on soybean field was not very high (average 0.49
± 0.19 cluster/m2), but the rate of egg parasited was very high, average was 68.39 ± 13.25%
Từ khoá : sâu hại, thiên địch, phòng trừ tổng hợp, biện pháp sinh học
1
Trường Đại học Nông nghiệp I
1 Đặt vấn đề
Đậu tương là cây công nghiệp ngắn
ngày có giá trị dinh dưỡng, kinh tế cao và là
loại cây luân canh cải tạo đất (Đoàn Thị
Thanh Nhàn, 1996) Tuy nhiên, trong lưới
dây chuyền dinh dưỡng, đậu tương bị nhiều
loài sâu hại sử dụng làm thức ăn, trong đó,
bọ xít xanh vai đỏ (Piezodorus hybneri) là
một trong những loài sâu hại quan trọng Sự
chích hút của loài bọ xít này không chỉ làm
cho cây đậu tương còi cọc, úa vàng, mà còn
làm cho hạt đậu tương bị lép, có vị đắng, ảnh
hưởng nhiều đến chất lượng sản phẩm Song
trong lưới dinh dưỡng, các loài thiên địch
của côn trùng đóng vai trò quan trọng trong
sự điều hoà số lượng quần thể sâu hại Mỗi một loài sâu hại thường bị ít nhất từ 2 đến nhiều loài kẻ thù (De Bach, 1964) Việc bảo
vệ và duy trì các loài kẻ thù tự nhiên trong hệ sinh thái nông nghiệp là rất quan trọng Nghiên cứu sinh học, sinh thái học và hành
vi học của các loài thiên địch cũng như vai trò của chúng trong việc hạn chế sinh sản của các loài sâu hại để có thể dự báo số lượng các loài dịch hại cây trồng cũng rất cần thiết (Novojilov, Sapiro, 1979) (Đường Hồng Dật – dịch) Một số kết quả nghiên cứu về thiên địch sâu hại đậu tương đã cho thấy, thành phần các loài thiên địch rất đa dạng và phong phú (Phạm Văn Lầm 1995, Vũ
18
Trang 2Quang Côn và ctv 1996, Đặng Thị Dung,
1999), Dang Thi Dung et al 1999) Tuy
nhiên, những nghiên cứu về sinh học, sinh
thái và vai trò của nhiều loài ký sinh sâu hại
đậu tương ở nước ta chưa nhiều Bài báo góp
phần cung cấp nguồn thông tin cho khoa học,
làm cơ sở cho việc lợi dụng ong T subitus sẵn
có trên đồng ruộng để hạn chế tác hại do loài
bọ xít xanh vai đỏ gây ra trên đậu tương
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Giống đậu tương DT.84
Bọ xít xanh vai đỏ (Piezodorus
hybneri)
Ong ký sinh trứng bọ xít xanh vai đỏ
(Telenomus subitus Le)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của ong
Telenomus subitus Le
* Nuôi trưởng thành bọ xít xanh vai đỏ
(thu thập từ ngoài đồng về) trên luống đậu
tương có cách ly vải màn để có trứng vật
chủ sạch (là trứng chưa bị nhiễm ký sinh)
Những ổ trứng sạch này được sử dụng cho
nghiên cứu đặc tính sinh vật học của ong ký
sinh Telenomus subitus
* Nghiên cứu vòng đời, khả năng sinh
sản của ong T.subitus: chúng tôi cho từng
cặp ong (1 đực và 1 cái) vào trong từng
ống nghiệm có kích thước 20 x 2 (cm)
Trong mỗi ống nghiệm đặt 1 ổ trứng bọ xít
xanh vai đỏ từ 0 đến 2 ngày tuổi Thức ăn cho ong là mật ong 100% Hàng ngày thay ổ trứng bọ xít mới cho đến khi ong cái chết
* Theo dõi thời gian sống của trưởng
thành ong T subitus dưới ảnh hưởng của
yếu tố thức ăn, chúng tôi bố trí 4 công thức (CT) CT1: Mật ong 100%, CT2: Mật ong 50%, CT3: Nước đường 50% và CT4: Nước lã (đối chứng)
Phương pháp điều tra:
* Để đánh giá vai trò của ong T subitus,
chúng tôi điều tra mật độ trứng bọ xít xanh vai
đỏ (vật chủ) theo giai đoạn sinh trưởng của cây
đậu tương (Viện Bảo vệ thực vật, 1998): điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 1m2 Đồng thời thu thập trứng vật chủ trên đồng đậu tương để xác định tỷ lệ trứng bị ký sinh
luận 3.1.Thời gian phát triển các pha trước
trưởng thành của ong T subitus Le
(Scelionidae : Hymenoptera)
Đây là một chỉ tiêu sinh học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển số lượng quần thể, thể hiện khả năng hạn chế sự phát triển của chủng quần dịch hại Thời gian này càng ngắn thì sức tăng quần thể càng cao, khả năng điều hoà số lượng quần thể dịch hại càng lớn Kết quả nghiên cứu chỉ tiêu này được thể hiện ở bảng 1
Bảng 1: Thời gian phát triển các pha trước trưởng thành của ong T subitus Le ký sinh
trong trứng bọ xít xanh vai đỏ Thời gian phát triển (ngày)
Đợt thí nghiệm Tổng cá thể
thí nghiệm Ngắn
nhất Dài nhất Trung bình ± ∆
Nhiệt độ trung bình (0C)
Độ ẩm trung bình (%)
Trang 3Bảng 2: Thời gian sống của trưởng thành ong T subitus Le
Thời gian sống (ngày) Công thức thí
nghiệm
Tổng cá thể thí
Ong không hoạt động sinh sản
Ong có hoạt động sinh sản
Số liệu bảng 1 cho thấy, thời gian phát
triển các pha trước trưởng thành của ong T
subitus Le ký sinh trong trứng bọ xít xanh vai
đỏ khá ngắn, chỉ khoảng 7 – 11 ngày, trung
bình 8,73 ± 0,53 ngày ở điều kiện nhiệt-ẩm
độ trung bình là 27,5 0C và 85,5% Như vậy,
trong một tháng loài ong này có thể hình
thành 3 thế hệ, khả năng hạn chế số lượng vật
chủ sẽ rất lớn So với kết quả nghiên cứu của
Bùi Xuân Phương (2003), thời gian phát triển
các pha trước trưởng thành của ong T subitus
trong trứng bọ xít đen hại lúa là 9 – 13 ngày,
trung bình 11,14 ± 0,76 ngày ở điều kiện
nhiệt-ẩm độ 20-300C và 70-86,3% Như vậy,
thời gian phát triển trước trưởng thành của
loài ong T subitus trong trứng bọ xít vanh vai
đỏ ngắn hơn trong trứng bọ xít đen khoảng 2
ngày ở cùng điều kiện nhiệt-ẩm độ tương tự
3.2 Thời gian sống của trưởng thành ong
T subitus Le trong phòng thí nghiệm
Thời gian sống tự do của trưởng thành
ong ký sinh trứng bọ xít xanh vai đỏ nói
riêng và các loài thiên địch nói chung rất có
ý nghĩa trong việc điều hoà số lượng chủng
quần dịch hại Thời gian này càng dài, khả
năng tìm kiếm vật chủ để đẻ trứng ký sinh
và khả năng duy trì nòi giống càng lớn Kết
quả nghiên cứu chỉ tiêu này đối với loài T
subitus được thể hiện ở bảng 2
Kết quả nghiên cứu ở bảng 2 cho thấy, nếu không tìm thấy trứng vật chủ để đẻ trứng ký sinh (ong không hoạt động sinh sản), thời gian sống của nó dài gấp hơn 3 lần so với những con ong cái có hoạt động sinh sản nếu chúng tìm được thức ăn là chất thải của rệp hoặc mật của những loài hoa có hàm lượng đường cao Và nếu chỉ hút được nước mưa, nước sương thì thời gian này cũng dài gấp gần 2 lần so với những ong cái có hoạt động sinh sản Trong tự nhiên, thời gian sống của loài ong này có thể dài hoặc ngắn hơn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết
3.3 Khả năng sinh sản của ong T subitus
Le trong phòng thí nghiệm
Sự tồn tại và phát triển số lượng của mỗi loài côn trùng phụ thuộc chủ yếu vào khả năng sinh sản Khả năng này của côn trùng lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, chẳng hạn như nhiệt-ẩm độ, thức ăn, sức sống của ong non trong vật chủ, môi trường không gian mà nó tồn tại v.v Với mục đích tìm hiểu khả năng điều hoà số
lượng vật chủ của loài ong T subitus đối
với bọ xít xanh vai đỏ trên đồng ruộng
đậu tương, chúng tôi tiến hành thí nghiệm nuôi sinh học Kết quả được trình bày ở bảng 3
20
Trang 4Bảng 3 Khả năng sinh sản của ong T subitus Le trong phòng thí nghiệm
Số trứng vật chủ bị ký sinh qua các ngày (quả/cái) Công thức thí
nghiệm
Tổng
số cặp
TN
Ngày 1 Ngày 2 Ngày 3 Ngày 4 Ngày 5 Ngày 6
Tổng số trứng
TB bị KS (quả/cái)
Bảng 4 Diễn biến mật độ trứng bọ xít xanh vai đỏ và tỷ lệ trứng bị ký sinh bởi
T subitus trên đậu tương hè-thu 2003 tại Đa Tốn, Gia Lâm – Hà Nội
Tỷ lệ ký sinh Giai đoạn sinh
trưởng
Mật độ trứng (ổ/m2) Tổng số trứng
theo dõi (quả)
Số trứng bị ký sinh (quả)
Tỷ lệ ký sinh (%)
Số liệu nghiên cứu cho thấy rằng, loài
ong T subitus có khả năng sinh sản rất lớn
ở công thức cho ăn mật ong 100%, trung
bình mỗi ong cái đẻ ký sinh được 99,2 quả
trứng vật chủ Còn ở công thức cho ăn nước
lã, mỗi ong cái cũng đẻ ký sinh được 51,8
quả trứng vật chủ Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu
của tác giả Bùi Xuân Phương (2003) về khả
năng sinh sản của loài ong T subitus trên
trứng của bọ xít đen Scotinophora lurida
Điều này lý giải tại sao trên đồng ruộng đậu
tương vụ hè-thu, tỷ lệ trứng của loài bọ xít
xanh vai đỏ bị ký sinh bởi loài ong này rất
cao
3.4 Đánh giá vai trò của ong ký sinh
trứng bọ xít xanh vai đỏ T subitus Le
trên đậu tương hè-thu 2003 tại Đa Tốn,
Gia Lâm – Hà Nội
Xu thế đa dạng hoá cây trồng ngày một
như số lượng của nhiều loài sinh vật sống trên nhiều sinh cảnh Bọ xít xanh vai đỏ là loài côn trùng đa thực, nên sự có mặt của nó trên đồng ruộng đậu tương có thể thay đổi tuỳ theo nguồn thức ăn, điều kiện thời tiết cũng như lực lượng thiên địch Do đó, vai trò của các loài thiên địch nói chung, của
ong T subitus nói riêng cũng phụ thuộc vào
sự tồn tại của vật chủ Kết quả nghiên cứu chỉ tiêu này được trình bày ở bảng 4
Số liệu bảng 4 cho thấy, ngay từ đầu
vụ, khi cây đậu tương mới phát triển 2-3 lá
kép, đã xuất hiện trứng bọ xít xanh vai đỏ, tuy nhiên với mật độ rất thấp (0,05 ổ/m2)
Lúc này tỷ lệ ký sinh đạt 39,08% Sau đó mật độ ổ trứng tăng dần, kéo theo sự gia tăng về tỷ lệ trứng bị ký sinh Điều này rất phù hợp, vì trưởng thành bọ xít xanh vai đỏ
di chuyển từ sinh cảnh khác sang sinh cảnh
đậu tương (thức ăn giàu dinh dưỡng) để
Trang 5ứng với giai đoạn cây đậu tương ra hoa đến
quả chắc và tỷ lệ trứng bị ký sinh cũng rất
cao từ giai đoạn đó (71,65 - 87,41%) Trung
bình chung về tỷ lệ ký sinh trong cả vụ đạt
68,39 ± 13,25% Đây là một tỷ lệ rất cao so
với tỷ lệ ký sinh chung của nhiều loài côn
trùng ký sinh khác Loài T subitus đã thể
hiện vai trò quan trọng trong việc hạn chế
mật độ bọ xít xanh vai đỏ trên đồng ruộng
đậu tương Do vậy, mặc dù khả năng sinh
sản của loài bọ xít xanh vai đỏ khá lớn
(trung bình 45,6 – 54 quả/cái) (Nguyễn
Trung Kiên, 2000), nhưng mật độ của nó ở
trên đồng ruộng đậu tương luôn không cao
như loài bọ xít xanh (Nezara viridula)
4 kết luận
Ong T subitus Le ký sinh trong trứng
bọ xít xanh vai đỏ có thời gian phát triển
các pha trước trưởng thành ngắn (7 – 11
ngày), trung bình 8,73 ± 0,53 ngày ở điều
kiện nhiệt-ẩm độ trung bình là 27,5 0C và
85,5% Ong cái T subitus không hoạt động
sinh sản có thời gian sống dài hơn 2-3 lần
những ong cái có hoạt động sinh sản (15,6
và 4,75 ngày ở điều kiện ăn thêm mật ong
100%; 4,48 và 2,86 ngày ở điều kiện ăn
thêm nước lã) Mật ong 100% là thức ăn tốt
nhất cho ong T subitus cả về thời gian sống
và khả năng sinh sản (4,75 ngày và đẻ ký
sinh được 99,2 quả trứng bọ xít) Với thức
ăn là nước đường 50% và mật ong 50%
thời gian sống của ong ký sinh, trứng bọ xít
xanh vai đỏ tương đương nhau (6,56 - 7,64
ngày) Với thức ăn nước lã, thời gian sống
và khả năng sinh sản thấp nhất (2,86 ngày
và đẻ ký sinh được 51,8 quả trứng bọ xít)
Ong T subitus có vai trò quan trọng
trong việc hạn chế mật độ bọ xít xanh vai
đỏ Mặc dù mật độ trứng bọ xít xanh vai đỏ
trên đồng ruộng đậu tương không cao lắm
(trung bình 0,49 ± 0,19 ổ/m2), song tỷ lệ
trứng ký sinh vẫn đạt rất cao, trung bình cả
vụ 68,39 ± 13,25%
Tài liệu tham khảo
Vũ Quang Côn, Khuất Đăng Long và Đặng Thị
Dung, (1996) "Kết quả nghiên cứu bước
đầu về thành phần, sinh học, sinh thái của các loài ký sinh trên đậu tương ở phía Bắc
Việt Nam" Tạp chí BVTV số 5 (149), tr 36-40
Dang Thi Dung and Vu Quang Con, (1999)
"Composition of parasitic insects of soybean cutworm and eco-biological characteristics of Microplitis prodeniae Rao et Chandry (Hym.:Braconidae) parasitic on Spodoptera litura F (Lep.:Noctuidae) in Hanoi and sorrouding
areas in Vietnam" Malaysian Appl Biology, Vol 28 (1&2), pp 63-67
Đặng Thị Dung, (1999) "Côn trùng ký sinh và
mối quan hệ của chúng với sâu hại chính
đậu tương vùng Hà Nội và phụ cận" Luận
án Tiến sĩ Nông nghiệp, tr 59-61
Nguyễn Trung Kiên (2000) Bọ xít hại đậu
tương, đặc điểm sinh học – sinh thái của
loài bọ xít xanh vai đỏ Piezodorus hybneri
(Gmelin) (Pentatomidae : Hemiptera) vụ
xuân 2000 tại Gia Lâm – Hà Nội Báo cáo tốt nghiệp, ĐHNN I, tr 51-52
Phạm Văn Lầm, (1993) "Kết quả bước đầu thu
thập và định loại thiên địch của sâu hại đậu
tương" Tạp chí BVTV" số 1, tr 12-15
Đoàn Thị Thanh Nhàn (chủ biên) và ctv, (1996) Giáo trình cây công nghiệp Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr 5
Novojilov K V., Sapiro V A (Đường Hồng Dật
dịch 1979) Các con đường bảo vệ sâu ăn sâu khi dùng thuốc hoá học Trong Những nghiên cứu về BVTV – Tập IV Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr 40
Paul DeBach, (1964) Biological Control of Insect Pests and Weeds, Chapman and Hall Ltd, II New Fetter Lane Lodon E.C.4 : 5-8 Bùi Xuân Phương, (2003) Nghiên cứu đặc
điểm sinh vật học, sinh thái học và vai trò
của 3 loài ong (Telenomus subitus Le, Gryon cromion Kozlov et Le, Ooencyrtus malayensis Ferriere) ký sinh trứng bọ xít hại lúa vùng Hà Nội và phụ cận Tóm tắt luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, tr.24
22