There are 31 rice insect species in Autumn crop 2005 in Gialam, Hanoi. Rice leaf folder occurs with high frequency. The parasitoid composition of leaf folder is 6 species, which belongs 3 family of Hymenoptera. Among them, Apanteles cypris and Apanteles ruficrus apared with high frequency. In the condition of autumn 2005, rice leaf folder appeared early on the paddy field, with low density. The leaf damaged rate also low. It seems no different between rice leaf folder density and the rate damaging by leaf folder at the Hanoi Agricultural University that have been surveyed. The relationship between leaf folder and their parasitoids in paddy field 2005 is rather closed. The parasite percentage varies from 6.7 to 30%. That means insect parasitoids can control rice leaf folder in condition of autumn crop 2005. The chemical insecticide has affect to parasite percentage. At the spraying area, the percentage of leaf folder parasited was lower than those no spraying area.
Trang 1THầNH PHầN SÂU HạI LúA, SÂU CUốN Lá NHỏ Và CÔN TRùNG Ký
SINH CHúNG Vụ MùA 2005 TạI GIA LÂM – Hà NộI
Rice insect composition, leaf folder and their parasitoids in auturm crop 2005 in
gialam, hanoi
Đặng Thị Dung
Summary There are 31 rice insect species in Autumn crop 2005 in Gialam, Hanoi Rice leaf folder occurs with high frequency The parasitoid composition of leaf folder is 6 species, which
belongs 3 family of Hymenoptera Among them, Apanteles cypris and Apanteles ruficrus apared with high frequency In the condition of autumn 2005, rice leaf folder appeared early on the
paddy field, with low density The leaf damaged rate also low It seems no different between rice leaf folder density and the rate damaging by leaf folder at the Hanoi Agricultural University that have been surveyed The relationship between leaf folder and their parasitoids in paddy field
2005 is rather closed The parasite percentage varies from 6.7 to 30% That means insect parasitoids can control rice leaf folder in condition of autumn crop 2005 The chemical insecticide has affect to parasite percentage At the spraying area, the percentage of leaf folder parasited was lower than those no spraying area
Key words:
1 ĐặT VấN Đề
Tập đoàn sâu hại lúa trên thế giới cũng như ở Việt Nam vô cùng phong phú Theo Viện Bảo vệ thực vật (1968) tại các tỉnh phía Bắc có 88 loài, một số loài xuất hiện thường xuyên và sự gây hại của chúng ảnh hưởng lớn đến năng suất Sâu cuốn lá nhỏ là một trong những đối tượng
đó Litsinger et all (1987) cho rằng sự xuất hiện thường xuyên các đợt dịch do sâu cuốn lá nhỏ
đem lại trong những năm gần đây là do đưa các giống lúa mới thấp cây, đẻ nhánh khoẻ, chịu phân, cho năng suất cao Tác giả Hirao (1982) cũng nhận xét rằng sâu cuốn lá nhỏ trở thành đối tượng gây hại chủ yếu ở những vùng sinh thái đồng lúa châu á, phía nam đảo Thái Bình Dương, Hawai và Australia ở vùng Đông Nam châu á, xuất hiện 4 loài sâu cuốn lá nhỏ, trong đó, loài
Cnaphalocrocis medinalis Guenée là phổ biến nhất (Reissig et all, 1985), song sâu cuốn lá nhỏ
chịu sự điều hòa số lượng của các loài thiên địch nói chung, côn trùng ký sinh nói riêng Theo Joshi et all (1987), ở châu á có trên 60 loài ong và 6 loài ruồi ký sinh sâu cuốn lá nhỏ ở các pha
Loài ong ký sinh trứng (Trichogramma sp.) đã khống chế thành công khoảng 60 – 70% trứng
sâu cuốn lá nhỏ ở ấn Độ và 21% ở Nhật Bản ở Việt Nam, nhộng sâu cuốn lá nhỏ thường bị ký sinh trung bình 27,6% vào vụ xuân và 20,0% vào vụ mùa (Bùi Tuấn Việt,1990) Trong số các
loài côn trùng ký sinh sâu cuốn lá nhỏ thì loài Apanteles cypris thể hiện vai trò quan trọng nhất,
tỷ lệ ký sinh đạt từ 1,2 – 30,5% (Phạm Văn Lầm, 1992) Có khoảng 34 loài ong ký sinh sâu non cuốn lá nhỏ (Vũ Quang Côn và ctv, 1989) Hiệu quả của cả tâp đoàn ký sinh đạt 15 – 30% Do vậy, việc duy trì, bảo vệ các loài thiên địch sẵn có trên đồng lúa là thực sự cần thiết, nhằm khôi phục mối cân bằng sinh học trong tự nhiên, bảo vệ năng suất lúa
2 PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
Xác định thành phần sâu hại lúa và thiên địch của chúng vụ mùa 2005 tại Gia Lâm – Hà Nội được thực hiện theo phương pháp điều tra tự do, định kỳ mỗi tuần một lần Ghi chép, thu thập tất cả những mẫu sâu bắt gặp về nuôi tiếp để giám định
Điều tra diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenée) và tỷ lệ hại
trên các giống lúa: TN13-5, TK90, Khang dân và Hương cốm Điều tra theo 5 điểm chéo góc,
Trang 2mỗi điểm 1m Đếm số bao lá có trên các điểm điều tra Tách bao lá để đếm số sâu có trên mỗi
điểm điều tra (Cục Bảo vệ thực vật, 2002)
Điều tra theo dõi tỷ lệ sâu cuốn lá nhỏ bị ký sinh: Kết hợp điều tra định kỳ, mỗi lần điều
tra, trên mỗi đại diện, thu thập 20 – 30 cá thể sâu non và nhộng sâu cuốn lá nhỏ về nuôi tiếp để
thu theo dõi ký sinh Xác định mối quan hệ giữa sâu cuốn lá nhỏ và côn trùng ký sinh chúng
bằng chương trình Microsoft Excel (xử lý tương quan)
3 KếT QUả NGHIÊN CứU Và THảO LUậN
3.1 Thành phần sâu hại lúa vụ mùa 2005 tại Gia Lâm – Hà Nội
Bảng 1 Thành phần sâu hại lúa vụ mùa 2005 tại Gia Lâm – Hà Nội
11 Rầy xanh đuôi
đen
14 Bọ xít nâu 2 chấm
trắng
ngực đỏ
24 Sâu cuốn lá nhỏ
(cln)
Cnaphalocrocis medinalis
Guenée
26 Sâu cuốn lá lớn Parnara guttata (Bremer and
Grey)
Hesperiidae 0 + +
Thành phần sâu hại lúa có thể thay đổi tuỳ theo cơ cấu giống lúa, kỹ thuật canh tác, điều
kiện thời tiết (mùa vụ) và đặc biệt là biện pháp hóa học phòng trừ dịch hại Trong điều kiện thời
tiết vụ mùa 2005, trên đồng lúa vùng Gia Lâm – Hà Nội xuất hiện 31 loài sâu hại thuộc 6 bộ 14
họ côn trùng Trong số đó bộ cánh vảy có số lượng loài xuất hiện nhiều nhất (9/31 loài) Bộ cánh
Trang 3tơ chỉ thu được một loài Các bộ khác mỗi bộ thu được 5-6 loài (bảng 1) Như vậy, so với một số
kết quả nghiên cứu trước đây, số loài sâu hại lúa xuất hiện trong vụ mùa 2005 thấp hơn Điều
này, lý do chủ quan là do số liệu điều tra chỉ trong một vụ trên một số giống lúa với địa bàn nhỏ
Tuy nhiên, số lượng cá thể của một số loài tồn tại được thì khá cao Do đó, nhiều vùng đã xuất
hiện dịch một số loài sâu hại chủ yếu Trong số 31 loài sâu hại thu được, một số loài xuất hiện
với mức độ phổ biến khá cao, trong đó có sâu cuốn lá nhỏ (loài Cnaphalocrocis medinalis) Còn
loài sâu cuốn lá nhỏ đầu đen chiếm tỷ lệ rất thấp Các loài khác xuất hiện ở mức ít đến trung
bình
3.2 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ và tỷ lệ hại trên một số giống lúa vụ mùa 2005 tại
Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Bảng 2 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ và tỷ lệ hại trên lúa vụ mùa 2005 tại Gia Lâm - Hà Nội
Giai đoạn sinh trưởng
MĐ sâu (c/m2
)
Tỷ lệ hại (%)
MĐ sâu (c/m2
)
Tỷ lệ hại (%)
MĐ sâu (c/m2
)
Tỷ lệ hại (%)
Thời tiết thay đổi, giống lúa thay đổi, kỹ thuật canh tác cải tiến đều ảnh hưởng đến số
lượng sâu hại cũng như kẻ thù tự nhiện của sâu hại Vụ mùa 2005, trên đồng lúa trường Đại học
Nông nghiệp I, sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện và gây hại suốt từ đầu vụ đến cuối vụ, song mật độ sâu
và tỷ lệ lá bị hại nhìn chung thấp Do đó, người sản xuất hầu như không phải sử dụng một biện
pháp bảo vệ thực vật nào để hạn chế số lượng sâu cuốn lá nhỏ Trong 3 giống lúa điều tra, thấy
rằng giống Nếp TK.90 có vẻ bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại với mật độ và tỷ lệ hại cao hơn giống
TN.13-5 và giống Hương cốm Đỉnh cao mật độ rơi vào giai đoạn lúa đứng cái và giai đoạn chín
sữa (8,6 và 12,4 con/m2) Tỷ lệ hại đạt cao nhất 9,4% (bảng 2)
Giống lúa Hương cốm bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại nhẹ, nhưng lại bị bệnh bạc lá lúa gây hại
rất nặng Điều này rất có thể do lá lúa bị khô nhiều, ảnh hưởng đến sự lựa chọn vị trí đẻ trứng
của trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ Bởi vì, khi lá lúa bị khô nhiều, chất keromon do cây lúa tiết ra
không thể còn đậm đặc như những cây lúa đang sinh trưởng tốt Vì thế, trưởng thành đến đẻ
trứng ít, dẫn đến mật độ sâu thấp Mặt khác, sự giảm thiểu hoá chất độc hại phun lên đồng ruộng
(hầu như không phun) tạo điều kiện để thiên địch của sâu hại nói chung, thiên địch của sâu cuốn
lá nhỏ nói riêng được tồn tại và phát triển Chúng góp phần điều hoà số lượng sâu cuốn lá nhỏ
trên ruộng lúa
3.3 Mối quan hệ giữa sâu cuốn lá nhỏ và côn trùng ký sinh trên lúa vụ mùa 2005 tại Gia
Lâm Hà Nội
Trong những năm gần đây, sâu cuốn lá nhỏ thường xuyên gây thành dịch ở hầu hết các
tỉnh từ Bắc vào Nam Người sản xuất càng sử dụng nhiều hoá chất, lực lượng thiên địch bị tiêu
diệt càng nhiều và sâu hại lại càng có cơ hội bùng phát số lượng Tại Gia Lâm – Hà Nội, sâu
cuốn lá nhỏ bị ký sinh với tỷ lệ từ 6,7-30% (bảng 3) Như vậy, sâu cuốn lá nhỏ rất dễ bị khống
chế số lượng bởi thiên địch trên đồng ruộng Sự tương quan giữa sâu cuốn lá nhỏ với tỷ lệ ký
Trang 4sinh tại mỗi điểm điều tra được thể hiện bằng phương trình hồi quy bậc 2, Y = -0.73x + 6.99x +
2.81 với r = 0.62 Tại xã Cổ Bi, sự tương quan được thể hiện qua phương trình Y = -0.21x2 +
4.02x + 3.69, r = 0.74 Và tại xã Đa Tốn là Y = -0.19x2 + 2.72x + 7.54, r = 0.32 Như vậy, mối
tương quan giữa sâu cuốn lá nhỏ với tỷ lệ ký sinh trên đồng lúa trường ĐHNN I và ở xã Cổ Bi là
tương đối chặt Còn ở Đa Tốn, sự tương quan này được thể hiện không chặt (r = 0.31) Điều này
có thể do số mẫu thu thập chưa đủ nhiều và xác suất thu phải những cá thể không bị ký sinh cao,
do đó số liệu phản ánh không theo quy luật
Tuy nhiên, kết quả điều tra vẫn cho thấy, loài sâu cuốn lá nhỏ có tương quan với côn
trùng ký sinh chúng Và số lượng cá thể sâu càng nhiều, tỷ lệ ký sinh càng cao Do vậy, việc duy
trì, bảo vệ và tạo điều kiện thuận lợi để côn trùng ký sinh sâu cuốn lá nhỏ tồn tại và phát triển là
tuyệt đối cần thiết, nhằm duy trì mối cân bằng sinh học, tăng hiệu quả kinh tế cho người sản
xuất lúa và bảo vệ môi sinh
Bảng 3 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis) và tỷ lệ ký sinh vụ mùa 2005
tại Gia Lâm - Hà Nội (Giống Khang dân)
Giai đoạn sinh
trưởng MĐ sâu
(c/m2
)
Tỷ lệ ký sinh (%)
MĐ sâu (c/m2
)
Tỷ lệ ký sinh (%)
MĐ sâu (c/m2
)
Tỷ lệ ký sinh (%)
3.4 ảnh hưởng của thuốc hoá học đến sâu cuốn lá nhỏ và côn trùng ký sinh chúng vụ mùa
2005 tại Đa Tốn, Gia Lâm - Hà Nội
Đã có không ít công trình nghiên cứu về tác động của thuốc hoá học tới sự tồn tại và
phát triển của sâu hại cũng như đối với lực lượng thiên địch của chúng Tuy nhiên, mỗi loài côn
trùng trên mỗi cây trồng có những đặc tính sinh học riêng của nó Bên cạnh đó, tác động của
thuốc hoá học lên côn trùng còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác Chẳng hạn, tính chống thuốc
của sâu, chất lượng của thuốc, số lần phun thuốc, điều kiện thời tiết (mưa nắng) … mà những kết
quả nghiên cứu đó có thể ứng dụng được hay không cho những loài côn trùng khác Số liệu bảng
4 cũng chỉ ra rằng, mật độ sâu cuốn lá nhỏ giữa công thức phun thuốc và không phun không có
sự sai khác Điều này có lẽ là do mật độ sâu thấp, nên tác động của thuốc không rõ rệt Mặt
khác, thời điểm người nông dân phun thuốc thì sâu cuốn lá nhỏ ở tuổi đã lớn (phần lớn ở tuổi 4
và 5) nên khả năng chịu thuốc hoá học cao hơn, tỷ lệ sâu chết thấp ở công thức không phun,
mật độ sâu cũng giảm tương tự công thức phun thuốc, đó là do sâu tuổi lớn sau đó vào nhộng
Bảng 4 ảnh hưởng của thuốc hoá học đến sâu cuốn lá nhỏ (C medinalis) và tỷ lệ ký sinh vụ mùa
2005 tại Đa Tốn, Gia Lâm – Hà Nội (giống Khang dân)
Giai đoạn sinh trưởng
Mật độ sâu (c/m2
)
Tỷ lệ ký sinh (%)
Mật độ sâu (c/m2
)
Tỷ lệ ký sinh (%)
Trang 5Làm đòng 11,7 13,3 15,6* 23,3
So sánh về tỷ lệ ký sinh trên sâu cuốn lá nhỏ giữa 2 công thức, thấy rằng, có sự sai khác
về chỉ tiêu này tính từ thời điểm sau phun thuốc Điều này dễ hiểu là do côn trùng ký sinh mẫn cảm hơn đối với thuốc hoá học Qua thí nghiệm này, chúng ta có thể khuyến cáo người sản xuất lúa không cần phải tác động biện pháp hoá học trừ sâu cuốn lá nhỏ nếu mật độ sâu thấp
3.5 Thành phần côn trùng ký sinh sâu cuốn lá nhỏ trên lúa vụ mùa 2005 tại Gia Lâm – Hà Nội
Vụ mùa 2005 vừa qua, số loài côn trùng ký sinh sâu cuốn lá nhỏ trên lúa vùng Gia Lâm -
Hà Nội xuất hiện không nhiều (6 loài) thuộc 3 họ của bộ cánh màng Tất cả 6 loài đều là ký sinh pha sâu non và sâu non-nhộng Ký sinh trứng chúng tôi không thu được, bởi vì mật độ trứng trên
đồng ruộng quá thấp Mức độ phổ biến của các loài ký sinh nhìn chung không cao, chỉ 2 loài ong ký sinh thuộc họ Braconidae có mức độ phổ biến trung bình Các loài còn lại đều xuất hiện với mức độ phổ biến thấp (bảng 5) Số loài thu được so với một số kết quả nghiên cứu trước đây (Hà Quang Hùng, 1991; Vũ Quang Côn và ctv, 1991) thì ít hơn rất nhiều Đó là một thực tế, do mật độ sâu thấp, nên những loài ký sinh đa thực đi tìm những vật chủ trên những cây trồng khác
Bảng 5 Thành phần côn trùng ký sinh sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis) trên lúa vụ mùa
2005 tại Gia Lâm – Hà Nội
biến
Ghi chú: +: Xuất hiện ít (<10% tỷ lệ ký sinh); ++: Xuất hiện trung bình (10 – 20% tỷ lệ ký sinh);
+++: Xuất hiện nhiều (>20% tỷ lệ ký sinh)
4 KếT LUậN
Thành phần sâu hại lúa vụ mùa 2005 tại Gia Lâm – Hà Nội xuất hiện 31 loài thuộc 6 bộ
14 họ, sâu cuốn lá nhỏ có mức độ phổ biến cao Thành phần côn trùng ký sinh sâu cuốn lá nhỏ
thu được 6 loài thuộc 3 họ của bộ cánh màng, mức độ phổ biến tương đối thấp, loài Apanteles
cypris và A ruficrus có mức độ phổ biến cao hơn các loài khác
Trong điều kiện thời tiết vụ mùa 2005, sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện sớm trên đồng ruộng, song với mật độ thấp Tỷ lệ lá lúa bị hại cũng thấp Hầu như không có sự sai khác về mật độ sâu
và tỷ lệ hại do loài cuốn lá nhỏ gây ra giữa các giống lúa điều tra tại ĐHNN I
Mối quan hệ giữa sâu cuốn lá nhỏ và côn trùng ký sinh chúng trên lúa vụ mùa 2005 là tương đối chặt Tỷ lệ ký sinh biến động từ 6.7 – 30.0% Côn trùng ký sinh có khả năng điều hoà
số lượng sâu cuốn lá nhỏ
Thuốc hoá học ảnh hưởng đến tỷ lệ ký sinh ở ruộng phun thuốc, tỷ lệ sâu cuốn lá nhỏ bị
ký sinh đạt thấp hơn ruộng không phun
Trang 6Tài liệu tham khảo
Cục BVTV, (2002), Tài liệu soát xét tiêu chuẩn 10 TCN 224 – 95, tr.: 4-8
Cục BVTV (2003), Báo cáo tổng kết công tác BVTV hàng năm (Sâu bệnh hại lúa) : 7-13
Vũ Quang Côn và ctv (1989), Các loài ong ký sinh và hiệu quả của chúng trong việc hạn chế số
l−ợng sâu cuốn lá nhỏ hại lúa T/c Nông nghiệp & CNTP số 3: 156-161
Hà Quang Hùng (1991), Sâu cuốn lá nhỏ hại lúa (Cnaphalocrocis medianlis) và ong ký sinh pha sâu non của chúng Kết quả nghiên cứu KH của khoa Trồng trọt 1986-1991, Nxb Nông nghiệp: 90-92
Phạm Văn Lầm (1992), Một số dẫn liệu về ong đen kén trắng ký sinh sâu non bọ cánh vảy hại lúa T/c BVTV số 2 : 10-13
Viện Bảo vệ thực vật (1968), Kết quả điều tra côn trùng cơ bản 1967-1968 ở miền Bắc, Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội: 12-60
Bùi Tuấn Việt (1990), Ong cự (Ichneumonidae, Hymenoptera) ký sinh nhộng sâu hại lúa (Lepidoptera) ở đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam Luận án Tóm tắt Tiến sĩ sinh học, 24tr Hill D S and Waller J M (1985), Pests and Diseases of Tropical Crops, Vol 2 – Field Handbook Intermediate Tropical Agriculture Series : 86-106
Hirao J., (1982), The Japan Pesticide Informatons (JPI)., No 4: 14-17
Joshi R.C., E.P Cadapan, E.A Heinrichs, (1987) Natural Enemies of Rice leafolder (Cnaphalocrocis medinalis Guenée) (Pyralidae : Lepidopotera) A Critical Review :
295-298
Litsinger, J.A., B.L Canapi, J.P Bandong, C.G Dela Cruz, R.F Apostol (1987), Rice Crop loss from insect pests in wetland and dryland enviroments of Asia with emphasis on the Philippines Insect Sci Applic Vol 8, No 4: 677-692 Printed in Great Britain All rights reserved, â 1987 ICIPE Science Press
Reissig W.H., E.A Heinrichs, J.A Litsinger, K Moody, (1985) Illustated Guide to Integrated
Pest Management in Rice in Tropical Asia, IRRI : 121-127