A study was undertaken in order to generate recommendations for fish farmers to have suitable interventions for fish farming with high productivity and quality. Water samples were taken from 30 fish ponds of 3 size groups, each pond at 5 sites, 2 depths and 3 different hours of the day. Assessing several physical and chemical parameters of the water samples it was shown that the differences between the surface water and bed water in terms of temperature, DO and COD, as well as pH, CO2 and H2S concentrations were not significant. The levels found for the parameters were not stressful to fish raised. The mentioned parameters did not have great variations during the daytime. However, a further study on their variations in Summer is required.
Trang 1BIếN Động của một số chỉ tiêu vật lý và hoá học
trong nước ở một số ao nuôi trồng thuỷ sản
thuộc huyện Gia lâm, Hà Nội Variations in some physical and chemical parameters of the fish pond water in
Gialam district of Hanoi
Lại Thị Cúc, Chu Đức Thắng
Summary
A study was undertaken in order to generate recommendations for fish farmers to have suitable interventions for fish farming with high productivity and quality Water samples were taken from 30 fish ponds of 3 size groups, each pond at 5 sites, 2 depths and 3 different hours of the day Assessing several physical and chemical parameters of the water samples it was shown that the differences between the surface water and bed water in terms of temperature, DO and COD, as well
as pH, CO2 and H2S concentrations were not significant The levels found for the parameters were not stressful to fish raised The mentioned parameters did not have great variations during the daytime However, a further study on their variations in Summer is required
Key words: Fish pond, water, DO, COD, pH, CO2, H2S
1 ĐặT VấN Đề
Nước là môi trường sống bắt buộc của cá và các động vật thuỷ sản Các yếu tố tự nhiên của nước như nhiệt độ, pH, hàm lượng các chất trong nước tại các ao hồ nuôi cá có ảnh hưởng rất lớn
đến sinh trưởng và phát triển của các loài cá Chất lượng nước trong các thuỷ vực có ý nghĩa quyết
định đến tình hình bệnh tật, đến đời sống của các động vật thuỷ sinh, đến sản lượng và chất lượng thực phẩm, từ đó ảnh hưởng đến giá thành chăn nuôi và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Nguyễn
Đức Hội (2001) cho rằng trong các ao- hồ nuôi cá, tính chất của nước thay đổi thường xuyên tuỳ thuộc vào quy trình chăn nuôi, theo độ sâu tầng nước và thời gian trong ngày, trong năm tạo nên những biến động khác nhau về các giá trị của các chỉ tiêu vật lý và hoá học trong nguồn nước Chính vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành, bước đầu đưa ra những khuyến cáo giúp người nuôi trồng thuỷ sản có những tác động thích hợp, tạo điều kiện tốt cho ngành chăn nuôi cá đạt năng suất và chất lượng cao
2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành tại Gia Lâm, Hà Nội Đây là một huyện ngoại thành nằm ở phía
đông bắc Hà Nội, có diện tích đất nông nghiệp là 3145 ha, trong đó diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản
là 525,95 ha; phân bố không đồng đều ở 22 xã (Phòng khuyến nông huyện Gia Lâm, 2004) Các thuỷ vực nuôi trồng chủ yếu là cá, các ao- hồ nuôi cá có thể phân thành 3 nhóm: diện tích < 1000 m2
(quy mô nhỏ) có 123 ao, từ 1000 – 3000 m2 (quy mô trung bình): 207 ao và diện tích >3000m2 (quy mô lớn) có 185 ao Tiến hành lấy mẫu nước trong 30 ao-hồ ở các hộ nuôi cá thuộc huyện Gia Lâm,
Hà Nội theo 3 nhóm ao hồ có diện tích khác nhau nói trên, mỗi nhóm lấy mẫu đại diện ở 10 ao hồ, mỗi ao hồ lấy tại 5 điểm, ở 5 vị trí và tại 2 độ sâu khác nhau: tầng mặt (cách mặt nước 0,3 m) và tầng đáy (cách đáy 0,3 m), và tiến hành lặp lại 3 lần Thời gian lấy mẫu: 6-7h, 11-12h và 16-17h
Định kỳ mỗi tuần 1 lần Các mẫu nước lấy về được tiến hành phân tích các chỉ tiêu: nhiệt độ, độ trong, pH, DO, COD và một số chất hoá học theo phương pháp thường quy của viện thuỷ sản 1 và
vệ sinh thú y, trường ĐHNNI
Trang 2Thời gian tiến hành: từ tháng 9/2004 đến tháng 1 /2005
3 Kết quả và thảo luận
Bảng 1 Một số chỉ tiêu vật lý và hoá học của nước tại các ao nuôi cá có diện tích khác nhau
Diện tích ao (m2
) CTCP Chỉ tiêu Đơn vị
< 1000 1000-3000 >3000 Nhiệt độ 0
C 18,25± 0,132 18,50 ± 0,091 17,96± 0,081 20-30
Độ trong Cm 16,20± 0,148 18,42± 0,104 19,20± 0,142 10- 20
pH - 7,04± 0,008 7,16± 0,011 7,19± 0,008 6,5-8,5
DO mg/l 10,21± 0,080 10,04± 0,048 11,69± 0,084 5-8
COD( H+
) mg/l 8,19± 0,039 9,23± 0,170 8,94± 0,035 10-20
COD(OH-) mg/l 9,26± 0,059 9,22± 0,014 9,58± 0,017 10-20
CO2 mg/l 4,95± 0,053 5,25± 0,051 5,85± 0,045 3-10
H2S mg/l 0,13± 0,005 0,12± 0,004 0,04± 0,001 0
NH4 mg/l 0,86±0,011 0,69± 0,005 0,94± 0,002 1
NO2
NO3
-mg/l 0,54± 0,006 0,62± 0,006 0,58± 0,04 1
Cl
-mg/l 11,81± 0,038 11,5± 0,027 12,14± 0,05 - PO4
3-mg/l 0,39± 0,007 0,42± 0,002 0,45± 0,004 0,5
Độ cứng 0
Đ 9,55± 0,042 9,85± 0,047 9,77± 0,032 5-10
∑ Fe mg/l 1,00± 0,021 0,64± 0,009 0,72± 0,004 <0,3
Bảng 1 cho biết thực trạng chất lượng nước trong các ao-hồ nuôi cá tại một số hộ, trong đó các chỉ tiêu như: độ trong, pH, DO, CO2, NH3 và độ cứng đạt tiêu chuẩn cho phép về môi trường cho cá (TCCP theo Nguyễn Đức Hội, 2001) Còn một số chỉ tiêu không đạt tiêu chuẩn cho phép về môi trường cho cá như nhiệt độ nước thấp hơn TCCP:1,5- 2,04 0C, ở thời điểm từ tháng 9/ 2004 đến tháng 1/2005 nhiệt độ nước chỉ đạt từ 17,96-18,5 0C Với nhiệt độ nước thấp sẽ hạn chế quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ, giảm tốc độ sinh trưởng và phát triển của tảo và động vật phù du, dẫn
đến lượng thức ăn cho cá, đặc biệt là cá ăn nổi, bị giảm (FAO, 1989; Nguyễn Đức Hội, 1994); Các chỉ tiêu COD, NH4+, NO3-, PO43- biểu thị cho các chất dinh dưỡng như nitơ, phôtpho, kali cung cấp cho cá và các thuỷ sinh vật khác sinh sản và phát triển trong môi trường nước đều có giá trị thấp hơn TCCP về môi trường cho cá, nên chưa đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng cho động – thực vật thuỷ sinh, nhất là cá nuôi; Nồng độ sắt tổng số và H2S trong các ao đều lớn hơn TCCP nhiều lần Nồng
độ sắt tổng số cao hơn chỉ tiêu cho phép trong môi trường nuôi cá từ 2,13- 3,33 lần, lượng sắt này có thể kết tủa ở mang cá dưới dạng hydroxyt sắt làm cho cá không hô hấp được (Trần Văn Vỹ và Huỳnh Thị Dung, 2003; Nguyễn Đức Hội, 1994) Nồng độ H2S, đạt giá trị trung bình 0,04 – 0,13 mg/l, có mẫu đạt 0,24 mg/l (TCCP: 0) do ao lâu ngày không được nạo vét, tích đọng nhiều mùn bã hữu cơ hoặc do trong thuỷ vực có xác động vật chết H2S gây độc, làm giảm sinh trưởng và phát triển của cá; với nồng độ > 1 mg/l có thể làm cá mắc bệnh, chết; thực phẩm từ cá không đảm bảo độ
an toàn (Claude and Craig, 2001; Nguyễn Đức Hội, 2001)
Bảng 2 Biến động của một số chỉ tiêu lí, hoá theo độ sâu của ao nuôi cá (n=180)
Tầng mặt- Tầng đáy Chênh lệch Chỉ tiêu Đơn
Nhiệt độ 0
C 17,82±0,093 18,64±0,092 0,82 4,4
pH - 7,20±0,006 6,96±0,005 - 0,24 - 3,45
DO mg/l 10,55±0,057 10,45±0,055 - 0,1 - 0,96
COD(H+
) mg/l 8,19±0,028 9,13±0,029 0,94 10,29 COD(OH
-) mg/l 8,26±0,042 9,84±0,04 1,59 16,16
Trang 3CO2 mg/l 5,02±0,037 5,74±0,042 1,72 29,96 H2S mg/l 0,06±0,003 0,13±0,004 0,07 53,85
Nhiệt độ nước ao thay đổi theo nhiêt độ của không khí khí quyển ở mùa hè, nhiệt độ lớp nước tầng mặt cao hơn tầng đáy và không có sự đối lưu, tạo nên sự chênh lệch về nhiệt độ và nồng
độ các chất hoá học trong các tầng nước của ao Thí nghiệm được tiến hành ở giai đoạn mùa đông,
do nhiệt độ không khí khí quyển thấp nên nhiệt độ lớp nước tầng mặt thấp hơn, nặng và chìm xuống, tạo nên sự đối lưu về nhiệt độ và các chất hoá học trong các tầng nước (Nguyễn Văn Bảo, 2002) Nhờ đó, giá trị của các chỉ tiêu phân tích trong tầng nước bề mặt và tầng đáy chênh lệch ít, từ 0,07 mg/l – 1,72 mg/l Nhiệt độ ở tầng mặt thấp hơn tầng đáy 0,820C, nên không có sự phân tầng về nồng
độ oxy hoà tan trong nước, DO tầng mặt là 18,64, tầng đáy thấp hơn 0,1 mg/l, đạt 10,45 mg/l COD(H+) ở tầng mặt là 8,19 mg/l, tầng đáy: 9,13 mg/l, về giá trị tuyệt đối, chênh lệch lớn nhất là
CO2, tầng mặt là 5,02 mg/l , tầng đáy: 5,74 mg/l Song so sánh về tương đối chênh lệch lớn nhất lại
là H2S, tương ứng với 53,85% (bảng 2)
Bảng 3 Biến động của một số chỉ tiêu vật lí và hoá học của nước theo thời gian trong ngày (n = 90 )
Chỉ tiêu Đơn vị Buổi sáng
(6-7h)
Buổi trưa (11-12h)
Buổi chiều (16-17h) Nhiệt độ 0
C 17,65±0,105 20,25±0,126 18,75±0,118
DO mg/l 9,94±0,056 11,55±0,059 12,55±0,056
COD ( H+
) mg/l 9,73±0,019 8,80±0,016 8,13±0,017 COD (OH
-) mg/l 9,64±0,016 8,50±0,017 8,11±0,019 CO2 mg/l 5,68±0,058 4,75±0,062 4,03±0,057
Tại các thời điểm khác nhau trong ngày cho thấy: Giá trị của nhiệt độ nước trong ao nuôi cá phụ thuộc vào nhiệt độ không khí và biến thiên tương ứng với quy luật ngày- đêm của nhiệt độ khí quyển Nhiệt độ thấp nhất vào sáng sớm, tăng dần và đạt giá trị cao vào buổi trưa, giảm dần về chiều tối.Tuy nhiên, do thí nghiệm được thực hiện từ tháng 9/ 2004 đến tháng 1/ 2005 (mùa đông), bức xạ mặt trời yếu nên nhiệt độ của nước tại các thời điểm trong các ao nuôi cá chênh nhau không nhiều,
từ 1,1 – 2,60C; Oxy hoà tan (DO) trong nước ao–hồ nuôi cá, đặc biệt, phụ thuộc vào quá trình quang hợp của các thực vật thuỷ sinh và quá trình hô hấp của các động- thực vật trong nguồn nước DO rất cần thiết cho hoạt động sống của sinh vật thuỷ sinh, tham gia vào quá trình chuyển hoá các chất, có giá trị thấp nhất vào lúc sáng sớm Nếu thời điểm này đạt tiêu chuẩn cho phép về môi trường cho cá thì nguồn nước luôn đủ oxy cho cá sinh trưởng và phát triển (Nguyễn Đức Hội, 1994; 2001) Qua phân tích cho thấy, giá trị của DO lúc 6-7 giờ là 9,94 mg/l, đạt nhu cầu cho cá; COD (chỉ tiêu gián tiếp đánh giá nồng độ chất hữu cơ trong nước) Giá tri COD và CO2thường tỷ lệ thuận với nhau và tỷ
lệ nghịch với DO Nồng độ chất hữu cơ và CO2 cao nhất vào sáng sớm, COD đạt giá trị ở 9,64 – 9,73 mg/l , CO2: 5,68 mg/l và thấp nhất vào chiều tối: COD từ 8,11 – 8,13 mg/l; CO2: 4,03 mg/l So với tiêu chuẩn cho phép về môi trường cho cá, giá trị COD trong các ao nuôi cá tại huyện Gia Lâm là thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu về chất dinh dưỡng cho sinh trưởng và phát triển của cá
4 Kết luận
Chất lượng nước trong các ao-hồ nuôi cá tại các hộ có các chỉ tiêu đạt tiêu chuẩn cho phép
về môi trường cho cá là độ trong, pH, DO, CO2, NH3 và độ cứng
Các chỉ tiêu không đạt tiêu chuẩn cho phép về môi trường cho cá là nhiệt độ, COD, NH4
+
,
NO3
-, PO4
3-, sắt và H2S Các hộ chăn nuôi cá cần có những biện pháp tăng các chất dinh dưỡng cho
Trang 4cá, đồng thời giảm thiểu lượng sắt bằng cách bổ sung thức ăn, phân bón, vôi bột để tạo môi trường nuôi tốt hơn
Trong mùa đông, biến thiên về nhiệt độ, pH, DO, COD, CO2, H2S giữa nước tầng mặt và tầng
đáy là không lớn, không gây hiện tượng sốc cho cá
Biến thiên về nhiệt độ, pH, DO, COD, CO2, H2S giữa các thời điểm sáng, trưa, chiều tối là không lớn, từ 1,6 – 2,61 mg/l
Tài liệu tham khảo
Claude E.Boyd and Craig S.Turker (2001) Water quality and pond soil analysis for aquaculture Auburn University, Alabama
Nguyễn Văn Bảo (2002) Hoá nước Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội, tr 97-147
Nguyễn Đức Hội (2001) Quản lý chất lượng nước trong nuôi trồng thuỷ sản Viện nghiên cứu nuôi
trồng thuỷ sản 1, tr.22- 50
Nguyễn Đức Hội (1994) Một số đặc tính lý hoá của môi trường nuôi cá và các phương pháp xác
định chúng.Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1, tr6; 19
Trần Văn Vỹ, Huỳnh Thị Dung (2003) Nuôi cá nước ngọt Nxb Nghệ An, tr.53
FAO (1989).Yield and nutritional value of the commercially more importat fish species