LỜI CẢM ƠN Tác giả xin chân thành cảm ơn tới những người đã giúp đỡ và ủng hộ tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu về thực trạng làm thêm trái ngành nghề của sinh viên Kinh t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MARKETING -o0o -
ĐỀ ÁN MÔN HỌC TRUYỀN THÔNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:
THỰC TRẠNG LÀM THÊM TRÁI NGÀNH NGHỀ CỦA SINH
VIÊN KINH TẾ QUỐC DÂN NĂM 2019
Mã sinh viên : 1116 5894
Lớp : Truyền thông Marketing 58
Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Minh Hiền
Giảng viên hướng dẫn : ThS Hoàng Tuấn Dũng
Hà Nội, tháng 04 năm 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu về thực trạng làm thêm trái ngành nghề của sinh viên Kinh tế Quốc dân năm 2019” là thành quả của tác giả được thực hiện trong khoảng thời gian từ 1/2/2019 – 1/4/2019 Quá trình tìm hiểu, nghiên cứu của tác giả được thực hiện trên tinh thần nghiêm túc và tập trung cao độ Kết quả của đề tài nghiên cứu chính xác và mang độ tin cậy cao do dựa trên các nghiên cứu thực tế và phân tích, xử lý khách quan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn tới những người đã giúp đỡ và ủng hộ tác giả
hoàn thành đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu về thực trạng làm thêm trái ngành nghề của
sinh viên Kinh tế Quốc dân năm 2019”
Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới khoa Marketing, Thạc sỹ Nguyễn Minh
Hiền và Thạc sỹ Hoàng Tuấn Dũng đã cho tác giả những lời khuyên và định hướng
hữu ích để tác giả nhanh chóng tìm được phương pháp nghiên cứu phù hợp, hoàn
thành tốt đề tài nghiên cứu
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, người thân và những người bạn đã luôn ở bên
hỗ trợ và trở thành nguồn động lực tinh thần không thể thiếu Cảm ơn cộng đồng sinh
viên Kinh tế Quốc dân đã tham gia thực hiện và hoàn thành bảng khảo sát
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
SV chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong cơ cấu dân số của người Việt Nam Dân
số Việt Nam năm 2017 ước tính đạt 93 triệu người (Tổng cục Thống kê) Nhà nướcđang quan tâm và đầu tư nhiều hơn cho lĩnh vực giáo dục Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến hết năm học 2016-2017, hệ thống hiện có 235 trường đại học, học viện (bao gồm 170 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước ngoài), 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạotrình độ tiến sĩ, 33 trường cao đẳng sư phạm và 2 trường trung cấp sư phạm
Tính sơ bộ năm 2017 của Tổng cục Thống kê: cả nước có 1.695.900 SV đại học, trong đó: SV công lập: 1.432.600 người, SV ngoài công lập: 263.300 người SVnam có tổng cộng 791.900 người, SV nữ: 904.000 người Tính riêng tại Hà Nội năm
2017, SV Đại học là 588.446 SV, trong đó SV công lập là 531.229 người
Nguồn: Tổng cục thống kê (2017)
Hình 0.1 Tỷ lệ sinh viên Nam/Nữ tại các trường Đại học ở Việt Nam
Việc học giờ đây không chỉ còn là của nam giới Sau những cuộc vận động của chính phủ và của một số bộ phận người dân về bình đẳng giới, phái nữ được tôn trọng hơn, được giáo dục đầy đủ và tham gia vào nhiều hoạt động xã hội Số lượng sinh viên
nữ theo học tại các trường đại học chiếm 53% tổng số sinh viên đại học cả nước, cao hơn 6% so với sinh viên nam
Trang 6Nguồn: Tổng cục thống kê (2017)
Hình 0.2 Tỷ lệ sinh viên đại học ở Hà Nội so với các tỉnh thành khác tại Việt Nam
Số lượng sinh viên lớn Đặc biệt, tại Hà Nội, sinh viên đại học chiếm tới 35% sinh viên đại học cả nước Sinh viên ở các tỉnh phía Bắc có xu hướng ở lại Hà Nội xây dựng gia đình và tìm kiếm công việc sau khi ra trường Điều này không chỉ gây áp lực
về quản lý dân số, vấn đề ô nhiễm môi trường, mà còn dẫn đến những hệ lụy về phân
bố nguồn lực lao động không hợp lý giữa các vùng miền, cạnh tranh nghề nghiệp gay gắt ở các thành phố lớn và vấn nạn thất nghiệp
SV được đào tạo để trở thành lực lượng trí thức nòng cốt, xây dựng và phát triển đất nước, cần được quan tâm và đầu tư xứng đáng Giáo dục đại học cung cấp các kiến thức cần thiết cho SV, là hành trang để SV bước đầu tiếp cận, làm quen với các ngành nghề liên quan đến ngành học Tuy nhiên, bởi thời lượng giảng dạy trên lớpchưa đủ, đi cùng đó là sự cạnh tranh gay gắt, các yêu cầu ngày càng cao của nhà tuyển dụng, việc SV mới ra trường có được công việc ưng ý vẫn còn là bài toán khó không chỉ đối với bản thân SV mà còn các bậc phụ huynh, nhà trường và xã hội Những năm gần đây các trang báo mạng liên tục đưa tin về thực trạng SV mới tốt nghiệp thất nghiệp, phải giấu tấm bằng Đại học, chấp nhận mức lương thấp chỉ với mong muốnđược nhận vào làm
Sự cạnh tranh trong thị trường lao động, tâm lý sợ thất nghiệp, áp lực tài chính, khiến sinh viên “chỉ cần có cái việc”, chấp nhận gạt đi kiến thức được học, bằng cấp đạt được để làm các công việc trái ngành
Vấn đề làm trái ngành nghề đang được mọi người quan tâm và đưa ra nhiều tranh cãi: nên hay không Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, 70% SV ra trường làm trái ngành Việc SV có được công việc như mong ước không
Trang 7chỉ phụ thuộc vào môi trường học tập mà còn bởi sự nỗ lực học hỏi của chính bản thân
các bạn SV Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là một trong những trường đầu ngành về đào
tạo cử nhân khối ngành kinh tế và quản lý Hơn 60 năm xây dựng và phát triển,
trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã đào tạo được nhiều thế hệ cán bộ quản lý chính
quy, năng động, dễ thích nghi với nền kinh tế thị trường và có khả năng tiếp thu các
công nghệ mới Trong số những SV tốt nghiệp của Trường, nhiều người hiện đang giữ
những chức vụ quan trọng trong các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các
doanh nghiệp.Năm 2018, trường Đại học Kinh tế Quốc dân được Bảng xếp hạng trang
web các trường đại học trên toàn thế giới (Webometrics Ranking of World Universities – Webometrics) liệt kê trong danh sách 10 trường đại học mạnh nhất về
năng lực nghiên cứu khoa học tại Việt Nam Hiện trường đang đào tạo khoảng 45.000 SV với 19 khoa, 45 chuyên ngành, 11
viện và 8 trung tâm, 13 bộ môn, 9 phòng ban chức năng và 4 đơn vị phục vụ khác
Năm 2018, trường ĐH kinh tế Quốc dân mở rộng thêm nhiều ngành mới như Quan hệ
công chúng, Thương mại điện tử, luật kinh tế, Kinh tế phát triển, Công nghệ thông
tin,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã và đang đào tạo ra nhiều thế hệ SV năng
động, tự tin, giàu kiến thức Tuy nhiên chỉ kiến thức là chưa đủ, nhà trường cần có
thêm những biện pháp đảm bảo đầu ra nghề nghiệp và chính nỗ lực cố gắng của SV để
SV, phụ huynh và các em học sinh chuẩn bị thi đại học giảm bớt những lo lắng về
công việc sau này trong bối cảnh lĩnh vực kinh tế đa dạng và ngày càng cạnh tranh Vấn đề thách thức đặt ra cho SV: lý thuyết và thực tế khác biệt, khó làm đúng
ngành khiến SV phải đi làm thêm để tích lũy kiến thức, nhưng tích lũy kiến thức qua
công việc làm thêm đúng ngành hay trái ngành vẫn còn là câu hỏi lớn Sinh viên có
nên đi làm thêm trái ngành? Làm việc trái ngành có thực sự hại? Hiện tại đã có một
số nghiên cứu về vấn đề làm trái ngành nghề, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu cụ thể
nào đối với SV trường Đại học Kinh tế Quốc dân Việc nghiên cứu và phân tích “Thực
trạng vấn đề làm thêm trái ngành nghề của SV trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm
2019” là cần thiết để giúp SV tránh hoang mang, có định hướng công việc rõ ràng và tìm được công việc phù hợp
Trang 8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Theo từ điển Cambridge Advanced Learner, sinh viên (university student) là người học tập tại các trường đại học và cao đẳng Khái niệm này ở Việt Nam cũng được hiểu với ý nghĩa tương tự
SV Kinh tế Quốc dân là SV được đào tạo bởi trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Theo Business Dictionary, Việc làm (job) là tập hợp các nhiệm vụ đồng nhất, liên quan với nhau, tương tự về chức năng Khi một người làm việc để đổi lấy lương, công việc sẽ bao gồm các nhiệm vụ và trách nhiệm được xác định cụ thể, đo lường và đánh giá Xét trên góc độ rộng hơn, một công việc đồng nghĩa với vai trò và bao gồm các khía cạnh vật lý và xã hội của môi trường làm việc Thông thường các cá nhân sẽ lấy động lực làm việc từ tính độc đáo và hữu ích của công việc đó
Tại Việt Nam, theo quy định của Điều 13 Bộ Luật Lao động: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” Việc làm có thể chia ra thành: việc làm toàn thời gian, việc làm bán thời gian và việc làm thêm
Khái niệm việc làm thêm mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định
Người làm việc trái ngành nghề là người làm các công việc có tính chất khác với kiến thức họ được đào tạo, giảng dạy SV làm việc trái ngành nghề là SV đi làm các công việc khác với chuyên ngành được đào tạo tại bậc Đại học
Trang 9CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ CUỘC NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu chỉ ra thực trạng làm thêm trái ngành nghề của sinh viên Kinh tế Quốc dân năm 2019 Từ đó, tác giả đưa ra các đánh giá, kết luận, kiến nghị để giải quyết câu hỏi nghiên cứu “Nên hay không làm thêm trái ngành nghề”, giúp SV có cái nhìn lạc quan về làm trái ngành nghề, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, tự đánh giá, học tập, hoàn thiện kỹ năng, kiến thức cho công việc
2.1.2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.2.1 Mục tiêu tổng quát cần đạt được:
● Chỉ ra những lí do thôi thúc SV đi làm thêm
● Những khó khăn mà SV gặp phải khi đi làm thêm
● Chỉ ra xu hướng chung của làm thêm trái ngành nghề của SV Đại học Kinh tế Quốc dân
● Chỉ ra những yếu tố quyết định việc SV làm thêm đúng ngành hay trái ngành
● Những giải pháp giúp SV tìm được công việc làm thêm phù hợp hơn
● Giúp SV nắm bắt được các cơ hội việc làm sau khi ra trường
2.1.2.2 Mục tiêu cụ thể cần đạt được:
● Các kênh thông tin SV thường theo dõi, tìm kiếm việc làm
● Thu nhập trung bình của SV đi làm đúng ngành và trái ngành
● Thời gian SV làm thêm mỗi tuần
● Mức độ hài lòng của SV đối với công việc đi làm thêm
● Giúp SV tự đánh giá khả năng bản thân, mức độ đam mê với công việc theo chuyên ngành học để quyết định tiếp tục theo đuổi hay kịp thờichuyển sang nghề khác phù hợp hơn
2.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng mà tác giả muốn tập trung trong nghiên cứu trong đề tài này là thực trạng làm thêm trái ngành nghề của SV trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã hoặc đang đi làm thêm tính đến thời điểm tháng 3/2019
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu:
● Không gian: tại trường đại học Kinh tế Quốc dân
Trang 10● Thời gian khảo sát: từ 15/3/2019 đến 31/3/2019
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Giới thiệu phương pháp nghiên cứu:
2.3.1.1 Phương pháp nghiên cứu mô tả
Theo cuốn sách Nghiên cứu Marketing - Khoa Marketing Trường Đại học Tài
Chính Marketing: Nghiên cứu mô tả (Descriptive Research) hay còn gọi là nghiên cứu
theo mô hình mô tả: Nhằm mục đích mô tả được chính xác hiện tượng bằng các
phương pháp đo lường và thăm dò Mô hình này chú trọng phát hiện những chi tiết
chưa được biết đến nhưng không đi sâu vào việc tìm nguyên nhân gây ra kết quả hiện
tại Nghiên cứu mô tả là một hình thức của nghiên cứu chính thức (Conclusive
Research) Phương pháp nghiên cứu mô tả là một trong những phương pháp nghiên cứu
được sử dụng nhiều nhất Tuy nhiên, nghiên cứu mô tả chỉ có thể áp dụng một cách
hữu ích đối với những quyết định bình thường, còn đối với những quyết định có tính
rủi ro cao, các nhà nghiên cứu ít sử dụng nghiên cứu mô tả do độ tin cậy thấp Nghiên cứu mô tả mô tả những đặc điểm liên quan đến vấn đề như: giới tính,
tuổi, tình trạng hôn nhân,… 2.3.1.2 Phương pháp nghiên cứu định tính: Nghiên cứu định tính là một chuỗi các kỹ thuật giải thích nhằm mô tả, giải mã,
phiên dịch, hướng tới việc tìm ra ý nghĩa chứ không phải là tần suất của một hiện
tượng đang diễn ra trong xã hội Các kỹ thuật định tính được sử dụng trong cả quá
trình thu thập và phân tích dữ liệu Với thu thập dữ liệu, các kỹ thuật được áp dụng
bao gồm: phỏng vấn nhóm tập trung, phỏng vấn sâu cá nhân, nghiên cứu tình huống,
nghiên cứu dân tộc học (ethnography), lý thuyết nền tảng, nghiên cứu hành động và
quan sát Với quá trình phân tích dữ liệu, nghiên cứu định tính sử dụng kỹ thuật phân
tích nội dung thông qua bản tài liệu viết tay hoặc bản ghi âm thu được từ người tham
gia, quan sát hành vi, phỏng vấn người quan sát, đồng thời nghiên cứu các yếu tố
trong môi trường thực tế Nghiên cứu định tính hướng tới mục tiêu thấu hiểu sâu sắc
một tình huống cụ thể 2.3.1.3 Nghiên cứu định lượng: Phương pháp nghiên cứu định lượng là phương pháp nghiên cứu sử dụng số
liệu và các công cụ khác có thể đo lường được theo hướng điều tra có hệ thống về đối
tượng và mối quan hệ giữa chúng Nghiên cứu định lượng thường được sử dụng để trả
lời những câu hỏi về mối quan hệ giữa biến đo lường được nhằm giải thích, dự đoán
Trang 11và kiểm soát tình hình (Leedy, 1983)
Một nghiên cứu định lượng hoàn chỉnh thường kết thúc bằng việc xác nhậnhoặc phủ nhận những giả thuyết được kiểm định trong nghiên cứu Các nhà nghiêncứu sử dụng phương pháp định lượng để xác nhận một hoặc nhiều biến được sử dụng trong công trình nghiên cứu và xử lý dữ liệu thu thập liên quan đến những biến đó Phương pháp nghiên cứu định lượng thường bắt đầu với việc thu thập dữ liệu liênquan tới một giả thuyết hay lí thuyết, kèm theo là số liệu mô tả hoặc số liệu suy luận Khảo sát và quan sát là một ví dụ sử dụng rộng rãi công cụ số liệu
Nghiên cứu định lượng thường được coi là ngược lại so với nghiên cứu định tính Trong nghiên cứu định lượng, trọng tâm là đếm và đo lường Ví dụ, một câu hỏi định lượng có thể là "Học sinh đã đọc bao nhiêu trang trong một cuốn sách?"
2.3.2 Thông tin cần thu thập:
và Quản lý sinh viên, các Khoa Viện,
● Thông tin tuyển dụng trên các diễn đàn sinh viên, Ybox, website nhàtrường, Fanpage các Khoa Viện
2.3.2.2 Thông tin sơ cấp:
● Các ý kiến, quan điểm của SV về vấn đề làm việc trái ngành nghề
● Ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế, doanh nhân thành đạt
● Đặc điểm nhân khẩu học của SV Kinh tế Quốc dân
● Thu nhập hàng tháng của sinh viên Kinh tế Quốc dân khi đi làm thêm
● Số giờ làm thêm trong tuần của sinh viên Kinh tế Quốc dân
● Mức độ hài lòng của sinhh viên Kinh tế Quốc dân đối với công việc
● Những khó khăn sinh viên Kinh tế Quốc dân gặp phải khi đi làm thêm
● Các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm trái ngành nghề của SV Kinh tế Quốc dân
Trang 122.3.3 Mẫu nghiên cứu
Phương pháp chọn mẫu và số lượng mẫu nghiên cứu: Tác giả lựa chọn phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên với quy mô mẫu được xác định theo công thức củaLinus Yamane: n = N/(1+N*e^2)
Trong đó:
n: Quy mô mẫu điều tra
N: Tổng số SV chính quy đang học tập tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân (tính theo
số liệu chi tiêu tuyển sinh các năm 2018, 2017, 2016, 2015 tương đương với số lượng
SV các khóa 60, 59, 58, 57)
e: sai số chấp nhận được (Chọn khoảng tin cậy 92%, suy ra e = 0,08)
Thay số liệu vào công thức trên, ta thu được:
n = 20000/(1+ 20000*0,08^2) = 155
Do hạn chế về thời gian, trên thực tế tác giả thu về 130 phiếu khảo sát chất lượng từ 160 phiếu khảo sát phát ra
2.3.4 Cách thức tiếp cận để thu thập thông tin
2.3.4.1 Đối với dữ liệu thứ cấp
Nghiên cứu tại bàn: Dữ liệu được thu thập qua các bài báo, báo cáo, trangthông tin điện tử trực tuyến chính thức, các nghiên cứu trong và ngoài nước, giáo trình
và tạp chí chuyên ngành
2.3.4.2 Đối với dữ liệu sơ cấp
Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn trực tiếp
Nghiên cứu định lượng: Thu thập dữ liệu thông qua phiếu khảo sát cá nhân online và offline
2.3.5 Quy trình nghiên cứu
Trang 13Nguồn: tác giả đề xuất (2019)
Sơ đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Bối cảnh chung
Thời gian thu nhập dữ liệu từ 15/3/2019 đến 31/3/2019 là khoảng thời gian chương trình học tại trường ở tuần 9 và tuần 10, SV Kinh tế Quốc dân chưa có nhiều bài tập lớn, bài tập nhóm, kiểm tra Bên cạnh đó, Đoàn trường tổ chức nhiều chương trình lớn thu hút đông đảo SV tham dự như NEU Career Expo 2019 (24/3), NEUGlamour 2019 (29/3), Talkshow “Phát triển khởi nghiệp với tập đoàn đa quốc gia và làm thế nào để khởi nghiệp thành công” (30/3),
Đây là cơ hội tốt để tác giả tiếp cận với nhiều SV Kinh tế Quốc dân - những người quan tâm nhất định đến vấn đề việc làm nói chung và làm trái ngành nghề nói riêng
3.2 Kết quả nghiên cứu
3.2.1 Mô tả mẫu nghiên cứu:
Cơ cấu mẫu theo giới tính
Với tổng số 130 mẫu, tác giả thu được: 35 nam và 95 nữ; tương ứng với tỷ lệ phần trăm là: 26,9% và 73,1% Quá trình thu thập không có giới tính khác Lý do dẫn tới sự chênh lệch về giới như vậy là do sự hạn chế của phương pháp chọn mẫu thuận tiện
Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS của tác giả (2019)
Bảng 3.1 Cơ cấu mẫu theo giới tính
Trang 15Cơ cấu mẫu theo khóa học
Khóa
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Percent
Total 130 100.0 100.0
Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS của tác giả (2019) Bảng 3.2 Cơ cấu mẫu theo khóa học Qua nghiên cứu định tính, tác giả nhận thấy có sự khác biệt trong thái độ, động
cơ làm việc và định hướng nghề nghiệp giữa các khóa học khác nhau Để đảm bảo
tính khách quan, tác giả đã lựa chọn các mẫu thuộc các khóa sau: Khóa 60, Khóa 59,
Khóa 58, Khóa 57 và các SV khóa trên vẫn đang học tập tại trường Đại học Kinh tế
Quốc dân SV Khóa 58 chiếm tỷ trọng lớn nhất (50%); tiếp theo là Khóa 59 (19,2%);
SV Khóa 60 đứng thứ 3 với 13,1%; Khóa 57 chiếm 10,8%; thấp nhất là các SV khóa
khác (6,9%) SV Khóa 58 tương đương với năm 3 đại học là nhóm SV đi làm thêm nhiều
SV Khóa 57 cũng là nhóm đi làm thêm nhiều, song kỳ 2 năm học 2018 - 2019, đa số
SV K57 đi thực tập chuyên đề, ít phải đến trường SV Khóa 60, 59 dành nhiều thời
gian cho học tập và câu lạc bộ hơn là việc đi làm thêm Do đó, tác giả chọn cơ cấu
mẫu nghiên cứu sao cho tỷ lệ Khóa 58 chiếm phần trăm lớn nhất Cơ cấu mẫu theo ngành học Mẫu nghiên cứu khảo sát thực trạng làm thêm trái ngành nghề đến từ các ngành
khác nhau để đảm bảo tính đại diện Trong đó, sinh viên ngành Marketing chiếm 30%,
Tài chính - Ngân hàng chiếm 14,6%, Quản trị kinh doanh chiếm 8,5%, ngành Kế toán
Trang 16chiếm 6,9% Hai ngành Bất động sản và Kinh tế phát triển có cùng tỷ lệ 3,8% Sinh viên các ngành khác chiếm 32,3% tổng số sinh viên tham gia khảo sát
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả (2019)
Bảng 3.3 Cơ cấu mẫu theo ngành học 3.2.2 Kết quả nghiên cứu về thực trạng làm thêm trái ngành nghề
3.2.2.1 Tỷ lệ SV làm thêm đúng ngành/trái ngành
SV làm đúng chuyên ngành chiếm 30% SV làm việc trái chuyên ngành chiếm70% Từ số liệu nghiên cứu được, ta thấy phần lớn SV Kinh tế Quốc dân đang làm thêm trái với ngành học được đào tạo tại trường
Trang 17Trong 39 SV làm việc đúng chuyên ngành, sinh viên nam chiếm 26% và sinh viên nữ chiếm 74% Không có giới tính khác
GT1
Percent
Cumulative Percent
Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS của tác giả (2019)
Bảng 3.5 Tỷ lệ sinh viên nam/nữ làm thêm đúng ngành
3.2.2.3 Tỷ lệ SV nam/nữ làm thêm trái ngành
Tổng số SV làm trái ngành trong 130 mẫu khảo sát thu được là 91 SV Trong
đó, SV nam chiếm 27% (25 SV), SV nữ chiếm 73% (66 SV) và không có giới tính khác Tỷ lệ này khá tương đồng với kết quả có được đối với SV làm thêm cùng ngành nghề
GT1
Percent
Cumulative Percent
Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS của tác giả (2019)
Bảng 3.6 Tỷ lệ sinh viên nam/nữ làm thêm trái ngành
Trang 183.2.2.4 Mức thu nhập của SV làm thêm đúng ngành và trái ngành
Mức thu nhập chung của sinh viên Kinh tế Quốc dân khi đi làm thêm:
Trong 130 mẫu nghiên cứu: 49 SV cho biết thu nhập của họ từ 1.000.000VND đến 2.000.000VND (37,7%) chiếm tỷ trọng cao nhất Các mức thu nhập chiếm tỷ trọng tiếp theo lần lượt là: từ 2.000.000VND đến 3.000.000VND (31,5%); trên3.000.000VND (20,8%); dưới 1.000.000VND (10%) 90% SV Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết họ có mức thu nhập từ 1.000.000VND trở lên Các sinh viên chấp nhận mức thu nhập thấp để đổi lại các yếu tố khác thuận lợi hơn như: không yêu cầu kinh nghiệm, thời gian linh động, không áp đặt doanh số,
ThuNhap
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Percent
Trang 19Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS của tác giả (2019)
Bảng 3.7 Thống kê tần suất mức thu nhập chung của
sinh viên Kinh tế Quốc dân ThuNhap
Percent
Cumulative Percent
Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS của tác giả (2019)
Bảng 3.8 Thống kê tần suất mức thu nhập của sinh viên làm thêm đúng ngành
ThuNhap
Percent
Cumulative Percent
Trang 20Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS của tác giả (2019)
Bảng 3.9 Thống kê tần suất mức thu nhập của sinh viên làm thêm trái ngành
94,9% SV làm đúng chuyên ngành có thu nhập trên 1.000.000VND; trong khi
đó, tỷ lệ SV làm trái chuyên ngành có thu nhập trên 1.000.000VND thấp hơn nhưng vẫn ở mức cao 87,9%
Tỷ lệ SV làm đúng chuyên ngành thu nhập trên 2 triệu cao hơn so với SV làm trái chuyên ngành (66,6% so với 46,2%)
Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS của tác giả (2019)
Bảng 3.10 Thống kê mô tả mức thu nhập của SV làm thêm trái ngành
Descriptive Statistics
Deviation
Trang 21ThuNhap 39 1.00 4.00 115.00 2.9487 91619 Valid N
(listwise)
Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS của tác giả (2019)
Bảng 3.11 Thống kê mô tả mức thu nhập của SV làm thêm đúng ngành
Thu nhập trung bình của sinh viên làm thêm đúng ngành (2,9487) cao hơn trái ngành (2,4945) Đồng thời độ lệch chuẩn mức thu nhập của sinh viên làm thêm đúng ngành (0,91619) cũng cao hơn sinh viên làm thêm trái ngành (0,89906)
KẾT LUẬN 2:
Sinh viên làm thêm đúng ngành có mức thu nhập cao hơn và biến động mạnh hơn
so với sinh viên làm thêm trái ngành
3.2.2.5 Số giờ làm thêm của sinh viên làm thêm trái ngành và đúng ngành
Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS của tác giả (2019)
Bảng 3.12 Số giờ làm thêm của sinh viên làm trái ngành
Descriptive Statistics
Deviation
Trang 22Valid N
(listwise)
Nguồn: Dữ liệu phân tích SPSS của tác giả (2019)
Bảng 3.13 Số giờ làm thêm của sinh viên làm đúng ngành
Số giờ đi làm thêm của sinh viên làm trái ngành trải dài theo các khoảng: Dưới 7h, Từ 7 - 14h, Từ 14 - 21h, Trên 21h, có giá trị trung bình là 2,4066; độ lệch chuẩn
là 1,10532 Đối với sinh viên làm thêm đúng ngành: giá trị trung bình là 3,1026; độ lệch chuẩn 0,82062
KẾT LUẬN 3: Sinh viên làm thêm trái ngành dành ít thời gian đi làm hơn so với sinh viên làm thêm đúng ngành nhưng lại có mức biến động về số giờ làm mạnh hơn
3.2.2.6 Lý do làm thêm của SV làm việc đúng ngành và trái ngành:
Qua nghiên cứu định tính, tác giả đưa ra 6 nguyên nhân chính cho việc SV lựa chọn công việc làm thêm của mình: Do yêu thích; Có thêm thu nhập cho bản thân;Tích lũy kiến thức, học hỏi kinh nghiệm; Người thân, người quen làm trong ngànhnghề đang làm; Dễ tìm việc; Được mọi người coi trọng