Do đó, việc dự báo chính xác giá của các tổchức phân tích chứng khoán luôn được đặt lên hàng đầu, từ phân tích kỹ thuật đếnphân tích cơ bản để cho các nhà đầu tư có sách lược và phong cá
Trang 1HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM KHOA KẾ TOÁN
– TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ARIMA VÀO DỰ BÁO GIÁ
CHỨNG KHOÁN
Giảng viên hướng dẫn : Ths Nguyễn Linh Nhâm
Lớp: : 11DTDN5
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thanh Phú
MSSV : 1154020741
TP HỒ CHÍ MINH, 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là bài báo cáo thực tập của tôi Các số liệu và kết quả nghiêncứu nêu trong báo cáo là hoàn toàn trung thực, được thu thập và tìm hiểu từ quá trình
tự chạy mô hình, và báo cáo thu được từ thực tập tại Công ty cổ phần chứng khoánVNDirect – CN TP HCM, những số liệu khác trong bài được tác giả cho phép sử dụng
và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tôi hoàn toànchịu trách nhiệm trước nhà trường về lời cam đoan này
TP Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 08 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin cám ơn Ban giám hiệu, cùng toàn thể thầy cô giáo của Trường Đại học CôngNghệ TP.HCM, những người đã giảng dạy tận tình, quan tâm và giúp đỡ em trongsuốt 4 năm học, giúp em trang bị những kiến thức cần thiết và vững bước trênđường đời
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn cô, ThS Nguyễn Linh Nhâm, người đã tận tìnhhướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận Em cũng muốn cảm
ơn bạn Nguyễn Công Thành là sinh viên HUTECH đã hỗ trợ và hướng dẫn em nhữngbước trong thực hiện mô hình ARIMA
Và em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc Công ty cổ phần Chứngkhoán VNDIRECT – chi nhánh TP.HCM và các anh chị tại Phòng Môi giới 10 đã tạođiều kiện cho em làm việc, hỗ trợ và chia sẻ những kinh nghiệp thực tế quý báu giúp
em hoàn thành khóa luận của mình
Em xin chúc quý thầy cô sức khỏe để hoàn thành tốt công việc giảng dạy của mình.Chúc các anh chị tại Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT sức khỏe, thành côngtrong công việc Chúc công ty ngày càng thành công và phát triển hơn nữa
TP Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 08 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài 1Mục tiêu nghiên cứu 1
Đối tượng nghiên cứu 2
Phạm vi nghiên cứu 2Phương pháp nghiên cứu 2
Kết cấu khóa luận 2CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 31.1 Một số thuật ngữ trong chứng khoán .3
1.1.1 Chứng khoán và thị trường chứng khoán .3
1.1.2 Giá chứng khoán 3
1.1.3 Một số thuật ngữ khác được dùng .4
1.1.4 Phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật .6
1.2 Giới thiệu mô hình ARIMA 121.2.1 Chuỗi thời gian và các thành phần của chuỗi thời gian .12
1.2.2 Các thành phần của chuỗi thời gian 12
1.2.3 Chuỗi thời gian tĩnh 131.2.4 Mô hình kết hợp tự hồi quy và trung bình di động (ARIMA(p,d,q)) 13
Trang 5CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH, DỰ BÁO GIÁ CÔNG TY CHỨNG KHOÁNVNDIRECT ĐANG SỬ DỤNG TRONG BÁO CÁO PHÂN TÍCH NHANH 15
2.1 Phân tích cơ bản 15
2.1.1 Ứng dụng phân tích cơ bản 15
2.1.2 Phân tích cơ bản trong báo cáo phân tích nhanh của VND .15
2.2 Phân tích kỹ thuật 22
2.3 Đánh giá hoạt động phân tích của VND 25
Trang 6CHƯƠNG 3: SỬ DỤNG CHƯƠNG TRÌNH EVIEWS 8 ĐỂ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ARIMA
VÀO DỰ BÁO GIÁ CHỨNG KHOÁN 26
3.1 Số liệu dùng cho kiểm định 26
3.2 Chọn tham biến 26
3.3 Dữ liệu 26
3.3.1 Nguồn dữ liệu 26
3.3.2 Các bước kiểm định ứng dụng mô hình ARIMA 28
Xác định các tham số p, d, q trong ARIMA 28
Hình 10: Đồ thị Correlogram 28
CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT TÍNH ỨNG DỤNG CỦA MÔ HÌNH SAU KHI THỰC NGHIỆM 34
4.1 Đánh giá sơ bộ việc ứng dụng mô hình 34
4.2 Những thành công của khóa luận 34
4.2.1 Đối với sinh viên 34
4.2.2 Đối với doanh nghiệp 35
4.3 Những vấn đề đặt ra sau khi thực hiện khóa luận
35 4.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 36
KẾT LUẬN 37
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VND Công ty cổ phần chứng khoán VNDirect
HOSE (HSX) Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ
chí minhHNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh
UBCK NN Ủy ban chứng khoán nhà nước
KTTCNH Kế toán – Tài chính – Ngân hàng
ARIMA
Autoregressive Integrated MovingAverage – Tự hồi qui tích hợp Trung bìnhtrượt
VCB Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại
thương Việt nam
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình 1: Biểu đồ biến động giao dịch của cổ phiếu VCB 16
Hình 2: Tổng quan về VCB 17
Hình 3: Ngành nghề kinh doanh của VCB 18
Hình 4: Cơ cấu cổ đông VCB 18
Hình 5: Các thông tin về tình hình kinh doanh của VCB 20
Hình 6: Các thông tin về tình hình kinh doanh của VCB (tiếp theo) 21
Hình 7: Định giá cổ phiếu VCB 22
Hình 8: Phân tích kỹ thuật VNINDEX 23
Hình 9: Dữ liệu đầu vào trong phần mềm Eviews 27
Hình 10: Biểu đồ Correlogram 28
Hình 11: Biểu đồ Correlogram sau khi lấy sai phân 29
Hình 12: Kết quả thu được từ thực hiện quá trình thử và lựa chọn mô hình phù hợp
30 Hình 13: Mô hình tối ưu nhất 31
Hình 14: Kết quả sau khi chạy mô hình tối ưu 32
Hình 15: Cửa sổ chọn cách dự báo trong Eviews 8 33
Hình 16: Kết quả dự báo 33
Trang 10Lý do chọn đề tài.
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do lý luận: Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời từ những năm đầu của thế kỷ
21 và nhanh chóng trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn, từ nhà đầu tư cá nhân nhỏ
lẻ, cho đến các nhà đầu tư chuyên nghiệp, các tổ chức với nhiều phong cách đầu tưkhác nhau Họ đều mong muốn lợi nhuận, mức sinh lời cao và dĩ nhiên đi kèm cùngviệc đó là rủi ro tiềm ẩn cũng không hề ít Do đó, việc dự báo chính xác giá của các tổchức phân tích chứng khoán luôn được đặt lên hàng đầu, từ phân tích kỹ thuật đếnphân tích cơ bản để cho các nhà đầu tư có sách lược và phong cách đầu tư phùhợp nhất do mình Nhưng liệu với một nền kinh tế với số liệu không minh bạch, hànhlang pháp lý còn nhiều sơ hở để sự thao túng giá cổ phiếu luôn xảy ra hàng phút trênbảng điện tử sau 15 năm hoạt động, nhà đầu tư còn có thể tin vào những báo cáođơn thuần về định tính nữa không? Liệu tài chính định lượng có thể được áp dụngvào hoạt động phân tích giá tại thị trường chứng khoán Việt Nam không?
Lý do thực tiễn: Qua quá trình thực tập tại CTCP CK VNDIRECT để thực hiện báocáo tốt nghiệp “Đánh giá hiệu quả hoạt động môi giới tại CTCP CK VNDIRECT” Cùngvới nhu cầu của hoạt động phân tích và trên những quan sát về hoạt động phân tíchcũng như qua tham khảo các báo cáo phân tích của VND, bản thân em rất muốn pháttriển báo cáo thực tập để tìm hiểu, áp dụng một mô hình định lượng đặt vào việcphân tích giá chứng khoán Đó chính là những lý do khiến em quyết định thực hiện đềtài: “Ứng dụng mô hình ARIMA vào hoạt động phân tích giá trong thị trường chứngkhoán Việt Nam”
Mục tiêu nghiên cứu.
- Mục tiêu đối với sinh viên:
+ Tìm hiểu về mô hình ARIMA và xem xét tính hiệu quả của mô hình
+ Ứng dụng kiến thức đã học và thực tế làm việc vào phân tích và dự báo chỉ sốgiá chứng khoán
+ Hiểu rõ hơn hoạt động phân tích của các công ty chứng khoán nói chung vàVND nói riêng
- Mục tiêu đối với doanh nghiệp: Khóa luận có thể trở thành tài liệu tư vấn cho hoạtđộng phân tích, nhận định các vấn đề thiếu sót nhằm cải thiện và nâng cao hơnnữa chất lượng của hoạt động phân tích
Trang 11Đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là ứng dụng mô hình ARIMA vào các báo cáo phân tích chứng khoán tại VND.
Phạm vi nghiên cứu.
Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu trong hoạt động phân tích tại VND dựa trên sốliệu lịch sử của VCB trong thời gian từ 01/01/2013 – 01/01/2015
Phương pháp nghiên cứu.
Thu thập, thống kê, tổng hợp và so sánh thông tin từ Internet, website của VND, cácbáo cáo phân tích của VND, cơ sở nghiên cứu từ công ty
Nghiên cứu định tính: Quan sát, tham khảo các báo cáo, ý kiến của một số khách hàng
để đưa ra những nhận định về xu hướng giá chứng khoán
Nghiên cứu định lượng: Sử dụng mô hình ARIMA, để dự báo giá chứng khoán
Kết cấu khóa luận.
Khóa luận gồm các nội dung chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Giới thiệu mô hình ARIMA và một số công cụ thực hiện để phân tích
Chương 2: Hoạt động phân tích tại CTCP Chứng khoán VNDIRECT qua Báo cáo phân tích công ty
Đánh giá hoạt động phân tích tại VND bằng việc phân tích Báo cáo phân tích
Chương 4: Nhận xét tính ứng dụng của mô hình sau khi thực nghiệm
Kết luận
Trang 121.1 Một số thuật ngữ trong chứng khoán.
1.1.1 Chứng khoán và thị trường chứng khoán.
- Theo Điều 6 Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 củaQuốc hội thì:
“Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiệndưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sauđây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợpđồng
tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng
khoán;
c) Hợp đồng góp vốn đầu tư;
d) Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định.”
- Thị trường chứng khoán (Securities Market) là nơi trao đổi các chứng khoán Thịtrường chứng khoán giúp những người thiếu vốn huy động được vốn và người cóvốn chuyển vốn của mình thành vốn đầu tư Vì thế, thị trường chứng khoán cònđược gọi là thị trường vốn
- Ở các nền kinh tế phát triển, loại chứng khoán nợ là thứ có tỷ trọng giao dịch ápđảo trên các thị trường chứng khoán Còn ở những nền kinh tế nơi mà thị trườngchứng khoán mới được thành lập thì loại chứng khoán cổ phần lại chiếm tỷ trọnggiao dịch lớn hơn Tại phạm vi bài viết này, chúng ta sẽ hiểu chứng khoán chỉ làcác chứng khoán cổ phần (cổ phiếu) và thị trường chứng khoán chỉ là thị trường giaodịch các cổ phiếu của các công ty
1.1.2 Giá chứng khoán.
- Mệnh giá: Là số tiền ghi trên tờ cổ phiếu khi phát hành Hiện nay, theo quy định tạiViệt Nam thì mỗi cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán tập trung cómệnh giá là 10.000 đồng
- Thị giá: Là giá thị trường của các loại chứng khoán được mua-bán trên thị trườnggiao dịch tập trung
Trang 13cổ phiếu VCB vào thời điểm ngày 02/07/2015 là 51.500 đồng.
Trang 14- Giá niêm yết: Là mức giá của cổ phiếu được thực hiện trong phiên giao dịch đầu tiênkhi được niêm yết trên thị trường chứng khoán và được hình thành dựa trên quan hệcung – cầu trên thị trường.
- Giá khớp lệnh: Là mức giá được xác định từ kết quả khớp lệnh của Trung tâm giaodịch chứng khoán, thỏa mãn được tối đa nhu cầu của người mua và người bán chứngkhoán
- Giá đóng cửa: Là giá thực hiện tại lần giao dịch cuối cùng trong ngày giao dịch
- Giá mở cửa: Là giá thực hiện tại lần khớp lệnh đầu tiên trong ngày giao dịch
- Giá tham chiếu: Là mức giá làm cơ sở trong việc tính giới hạn dao động giá chứngkhoán trong phiên giao dịch Tại thị trường chứng khoán Việt Nam thì giá tham chiếucủa một ngày giao dịch cũng chính là giá đóng cửa của ngày giao dịch liền trước đó
- Biên độ dao động giá: Là giới hạn giá chứng khoán có thể biến đổi tối đa trong ngàygiao dịch
- Giá trần: Là giá cao nhất mà một loại chứng khoán có thể được thực hiện trongngày
giao dịch
Giá trần = Giá tham chiếu x (1 + Biên độ dao động giá)
- Giá sàn: Là giá thấp nhất mà một loại chứng khoán có thể được thực hiện trongngày
giao dịch
Giá sàn = Giá tham chiếu x (1 – Biên độ dao động giá)
1.1.3 Một số thuật ngữ khác được dùng.
- Báo cáo phân tích nhanh là các báo cáo phân tích cung cấp ngắn gọn nhưng đầy
đủ thông tin về tình hình doanh nghiệp Báo cáo được lập khi khách hàng yêu cầu,
và phải được phát hành trong 24-48 tiếng
- Chi phí dự phòng là phần tiền để dự phòng cho các rủi ro trong kinh doanh (Tại khóaluận này là phần tiền Ngân hàng dùng để tự phòng cho việc phân loại nợ củamình)
- Thu nhập từ lãi là phần tiền vượt vốn mình thu lại được từ hoạt động cho
vay
- Chỉ số NIM Thu nhập từ lãi biên %(NIM_Net interest margin) = (Thu nhập cho vay
và đầu tư CK - Chi trả lãi tiền gửi và nợ khác)/ tổng tài sản có sinh lời bình quân((cuối
kỳ + đầu kỳ)/2) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được tính bằng cách chia phần thu nhập
Trang 15từ lãi cho thu nhập tài sản bình quân Theo như đánh giá của S&P thì tỷ lệ NIM dưới3% được xem là thấp trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao NIM có xuhướng cao ở các ngân hàng bán lẻ quy mô nhỏ, các ngân hàng thẻ tín dụng và cáctổ
Trang 16chức cho vay hơn là NIM của các ngân hàng bán buôn, các ngân hàng đa quốc gia haycác tổ chức cho vay cầm cố Tỷ lệ NIM tăng cho thấy dấu hiệu của quản trị tốt tài sản
Nợ - Có trong khi NIM có xu hướng thấp và bị thu hẹp thì cho thấy lợi nhuận ngânhàng đang bị co hẹp lại
- Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ vềkhả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi cáccon nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản Nợ xấu gồm các khoản nợ quáhạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ củakhách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp Tỷ lệ nợ xấu là chỉ
số giữa nợ xấu và tổng dư nợ của ngân hàng Chỉ số này dưới 3% thì là bình thường,lớn hơn
3% được xem là cao
- Chỉ số PE là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tưchứng khoán của nhà đầu tư Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đếngiá thị trường của cổ phiếu đó Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường(Market Price - P) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và đượctính như sau: P/E = P/EPS
Trong đó giá thị trường P của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán
ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế
mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất
P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần,hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu P/E được tính chotừng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thườngđược công bố trên báo chí
Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tứccao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suấtvốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả
cổ tức cao
- Chỉ số PB là tỷ lệ được sử dụng để so sánh giá của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổcủa cổ phiếu đó Tỷ lệ này được tính toán bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổphiếu chia cho giá trị ghi sổ tại quý gần nhất của cổ phiếu đó Đối với các nhà đầu tư,
Trang 17P/B là công cụ giúp họ tìm kiếm các cổ phiếu có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏqua Nếu một doanh nghiệp đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổcủa nó (tức là có tỷ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc
là thị
Trang 18trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức, hoặc làthu
nhập trên tài sản của công ty là quá
thấp
Nếu như điều kiện đầu tiên xảy ra, các nhà đầu tư nên tránh xa các cổ phiếu này bởi
vì giá trị tài sản của công ty sẽ nhanh chóng được thị trường điều chỉnh về đúng giátrị thật Còn nếu điều thứ hai đúng, thì có khả năng lãnh đạo mới của công ty hoặccác điều kiện kinh doanh mới sẽ đem lại những triển vọng kinh doanh cho công ty,tạo dòng thu nhập dương và tăng lợi nhuận cho các cổ đông
Ngược lại, nếu một công ty có giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ thìđây thường là dấu hiệu cho thấy công ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sảncao Chỉ số P/B chỉ thực sự có ích khi nhà đầu tư xem xét các doanh nghiệp có mức
độ tập trung vốn cao hoặc các công ty tài chính, bởi giá trị tài sản của các công ty nàytương đối lớn Vì công tác kế toán phải tuân thủ những tiêu chuẩn ngặt nghèo, nêngiá trị ghi sổ của tài sản hoàn toàn không tính tới các tài sản vô hình như thương hiệu,nhãn hiệu, uy tín, bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác do công ty tạo ra Giá trịghi sổ không có ý nghĩa nhiều lắm với các công ty dịch vụ vì giá trị tài sản hữu hìnhcủa họ không lớn
1.1.4 Phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật.
Phân tích chứng khoán là nhu cầu không thể thiếu trong đầu tư chứng khoán Tùytheo khả năng trình độ, thời gian cũng như nhu cầu sử dụng, có thể có rất nhiều cáchtiếp cận nghiên cứu, phân tích và ra các quyết định đầu tư khác nhau đối với từngchứng khoán riêng lẻ hoặc đối với cả danh mục đầu tư
Cổ phiếu là một loại chứng khoán chủ yếu cần phân tích phục vụ đầu tư Đến nayngười ta đã tổng kết lại rằng có hai phương pháp phân tích đã và đang được sử dụngmột cách phổ biến tại hầu hết các thị trường chứng khoán (TTCK) trên thế giới, đó là
phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật Trong đó, phân tích cơ bản về thực chất là
phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phát hành chứng khoán Hiệu quảhoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớnđến giá cả cổ phiếu được niêm yết và giao dịch trên thị trường Khác với phân tích
cơ bản, phân tích kỹ thuật dựa vào các diễn biến của giá cả chứng khoán và khốilượng giao dịch trong quá khứ để dự đoán xu thế biến đổi của giá cả chứng khoán
Trang 19trong tương lai Việc phân tích kỹ thuật được thực hiện dựa trên cơ sở ứng dụngrộng rãi các đồ thị và các công thức toán học, các mô hình toán kinh tế để xác định
xu thế thị trường của
Trang 20một loại chứng khoán, từ đó xác định thời điểm mua bán chứng khoán phù hợp với mục tiêu của nhà đầu tư.
Tuy nhiên, không ít người còn rất mơ hồ và nhầm lẫn về vai trò cũng như ứng dụngthực tiễn của hai phương pháp này Phần sau đây sẽ làm rõ bản chất của cả hai
phương
pháp
1.3.1 Phân tích cơ bản (FA - Fundamental Analysis).
Là phương pháp phân tích cổ phiếu dựa vào các nhân tố mang tính chất nền tảng
có tác động hoặc dẫn tới sự thay đổi giá cả của cổ phiếu nhằm chỉ ra giá trị nội tại(intrinsic value) của cổ phiếu trên thị trường
Kim chỉ nam của các nhà đầu tư theo trường phái phân tích cơ bản là đo lường giá trịthực của một công ty với các chỉ tiêu tài chính như: Tăng trưởng doanh thu, lợinhuận, những rủi ro mà công ty có thể gặp phải, dòng tiền… Sự chênh lệch của giá trịthị trường so với giá trị thực của một công ty chính là cơ hội để đầu tư hoặc dấu hiệucho việc bán chốt lời cổ phiếu
Phân tích cơ bản dựa vào những giả định
sau:
- Mối quan hệ giữa giá trị và các yếu tố tài chính là có thể đo lường được
- Mối quan hệ này ổn định trong một khoảng thời gian đủ dài
- Các sai lệch của mối quan hệ sẽ được điều chỉnh lại vào thời điểm thích hợp.Giá trị là mục tiêu chính trong phân tích cơ bản Một số nhà phân tíchthường sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền để xác định giá trị của công ty.Trong khi đó, một số khác lại sử dụng tỷ số giá trên thu nhập (P/E)…
Các nhân tố cơ bản cần nghiên cứu bao gồm:
- Phân tích thông tin cơ bản về công ty
- Phân tích báo cáo tài chính của công ty
- Phân tích hoạt động kinh doanh của công ty
- Phân tích ngành mà công ty đang hoạt động
- Phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô ảnh hưởng chung đến giá cả cổ phiếu Sau khi nghiên cứu, nhà phân tích có nhiệm vụ phải chỉ ra được những dự đoán cho những chỉ tiêu quan trọng như thu nhập kỳ vọng, giá trị sổ sách trên mỗi cổ
Trang 21phiếu, giá trị hợp lý của cổ phiếu, các đánh giá quan trọng cũng như khuyến nghị mua/bán cổ phiếu trên thị trường.
Cụ thể, các nhân tố cần chú trọng trong phân tích cơ bản về cổ phiếu
là:
Trang 22- Hoạt động kinh doanh của công ty.
- Mục tiêu và nhiệm vụ của công ty
- Khả năng lợi nhuận (hiện tại và ước đoán)
- Nhu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ của công ty
- Sức ép cạnh tranh và chính sách giá cả
- Kết quả SXKD theo thời gian
- Kết quả SXKD so với công ty tương tự và với thị trường
- Vị thế trong ngành
- Chất lượng quản lý
Ở góc độ tổng quát, phân tích cơ bản có thể được sử dụng theo phương phápphân tích từ nhân tố vĩ mô đến nhân tố vi mô có ảnh hưởng đến cổ phiếu (thườnggọi là phương pháp top-down) gồm 5 cấp độ như sau:
1/ Phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô
2/ Phân tích thị trường tài chính – chứng
Trong thực tế, tùy vào mục tiêu và khả năng phân tích mà nhà phân tích có thể
sử dụng một trong năm mức độ phân tích nêu trên Ví dụ, trong phân tích về công
ty, ta có thể sử dụng phương pháp phân tích phi tài chính, đó là đánh giá về bộ máyquản lý doanh nghiệp, về nguồn nhân lực, khả năng phát triển sản phẩm mới, thịtrường và thị phần, khả năng cạnh tranh… Cũng như trong phân tích công ty, nhàphân tích còn có thể sử dụng cách tiếp cận thường được gọi là phương pháp SWOT,với việc xác định và đánh giá tập trung và 4 khía cạnh sau của công ty
- Điểm mạnh (Strenghts)
- Điểm yếu (Weaks)
- Cơ hội (Opportunities)
- Thách thức (Threats)
Một cách phân tích nhanh về cổ phiếu, nhà đầu tư có thể phân loại cổ phiếu thành6
Trang 23loại cơ bản dựa trên tính chất thu nhập mà nó mang lạilà:
1/ Cổ phiếu hàng đầu (blue-chips)
2/ Cổ phiếu tăng trưởng ổn
định
Trang 243/ Cổ phiếu tăng trưởng bùng nổ.
1/ Phương pháp định giá dựa trên luồng cổ tức
2/ Phương pháp định giá dựa trên luồng tiền
3/ Phương pháp định giá dựa trên hệ số P/E
4/ Phương pháp dựa trên các hệ số tài chính
5/ Phương pháp định giá dựa trên tài sản ròng
1.3.2 Phân tích kỹ thuật (TA – Technical Analysis)
Theo Edward và Magee thì “phân tích kỹ thuật là môn khoa học của sự ghinhận lại, thường là dưới dạng đồ thị, những hoạt động giao dịch diễn ra trong quákhứ gây lên những thay đổi về giá, khối lượng giao dịch… của một chứng khoán bất
kỳ hay với chung toàn bộ thị trường và sau đó sẽ dựa trên “bức tranh về quá khứ đểsuy luận ra xu thế có thể xảy ra trong tương lai”
Còn theo Steven B Achelis, tác giả của cuốn sách “Technical Analysis from A toZ” thì “Phân tích kỹ thuật là việc nghiên cứu giá, với công cụ cơ bản là biểu đồ, nhằmnâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư…”
Xét cho cùng định nghĩa về phân tích kỹ thuật cũng chỉ cần đơn giản như vậy, còn cụ thể bản chất của từng công cụ ta sẽ không bàn đến trong phạm vi của khóa luận Phương pháp phân tích kỹ thuật được xây dựng dựa trên 3 giả định:
- Thị trường luôn có tính xu hướng: Khi một thị trường đã đi vào một xu hướng
(đi lên, đi xuống, hay đi ngang) thì sẽ tiếp tục xu hướng của nó, cho đến khi xu hướng
đó bị phá hủy, và chuyển hẳn sang một xu hướng mới
- Giá phản ánh tất cả: Đây là nguyên tắc quan trọng nhất Các nhà phân tích kỹ
thuật tin rằng, mọi yếu tố cơ bản như kinh tế, chính trị, tâm lý… đều đã được phản
Trang 25ánh trên giá cả thị trường Không có gì là bât thường khi cổ phiếu của một công tyđược giao dịch thấp hơn hay cao hơn so với giá trị sổ sách trên một cổ phiếu.
Trang 26- Lịch sử sẽ lặp lại: Khi một cổ phiếu đã từng vận động như thế nào, thì sự vận
động đó, có khả năng rất cao sẽ lặp lại nếu giá của cổ phiếu hội tụ các yếu tố đểrơi vào vùng vận động giá đó Ở phân tích kỹ thuật, giá cả và khối lượng giao dịch là 2biến số chính, và qua nghiên cứu những diễn biến trong lịch sử mà nhà phân tích kỹthuật sẽ đưa ra những dự báo cho tương lai
Một trong những thế mạnh lớn của phân tích kỹ thuật là sự ứng dụng của nó trongbất kỳ phương thức giao dịch nào và vào với bất kỳ khoản thời gian giao dịch nào.Không có một phần nào trong giao dịch chứng khoán hay các chứng khoán phái sinh
mà phân tích kỹ thuật không ứng dụng được
Một nhà phân tích kỹ thuật có thể sử dụng đồ thị trong bất kỳ và bao nhiêu thịtrường tùy thích, nhưng điều này là không thể đối với một người sử dụng phân tích
cơ bản Điều này là do với mỗi thị trường, một người áp dụng phân tích cơ bản sẽphải xử lý một khối lượng dữ liệu khổng lồ, nó cũng nói lên tại sao một người phântích cơ bản chỉ có thể chuyên vào một hay một nhóm nhỏ chứng khoán nhất định.Những ưu thế này của phân tích kỹ thuật là không thể bỏ qua
Để thực hiện phân tích kỹ thuật, nhà đầu tư phải dựa vào hình ảnh các đồ thị, trong
đó trục tung biểu thị giá cổ phiếu và trục hoành biểu thị đường thời gian, với nhiềudạng như đồ thị đường thẳng (line chart), đồ thị dạng vạch (bar chart), hoặc đồ thịhình nến (candlestick chart) Thông qua đó, nhà phân tích kỹ thuật sử dụng các chỉbáo phân tích kỹ thuật thông dụng như đường xu thế, kênh xu thế, mức hỗ trợ, mứckháng cự, điểm đột phá, đường trung bình động, chỉ số sức mạnh tương đối, dảiBollinger…
Các phương pháp và công cụ phân tích kỹ thuật được phát triển và trở nên thịnhhành chỉ từ đầu thế kỷ trước với sự nổi bật của lý thuyết Dow (của ông CharlesDow) với các ý tưởng phân tích được đăng tải lần đầu trên tạp chí Wall Street Journal
Lý thuyết Dow cho đến nay vẫn được coi là nền tảng cho phương pháp phân tích
kỹ thuật với các chỉ báo quan trọng nhất
Một số chỉ báo k ỹ thu ậ t thông d ụ ng
- RSI (Relative Strength Index) là chỉ số sức mạnh tương đối, dùng để nhận biết trạngthái quá mua hoặc quá bán trên thị trường Dưới 50 là quá bán, giá sẽ nhanhchóng tăng trở lại và trên 70 là quá mua giá sẽ có xu hướng giảm
Trang 27- DMI (Directional movement index) là chỉ số xu hướng thị trường, dùng để nhận biếttín hiệu mua hoặc bán Bao gồm cặp +DI (hướng vấn động tích cực) và –DI (hướng
Trang 28vận động tiêu cực), khi +DI cắt và nằm trên –DI đó là tín hiệu mua và ngược lại khi+DI cắt và nằm dưới là tín hiệu bán Kết hợp với chỉ số ADX (chỉ số xu hướng trungbình) cho biết được mức hỗ trợ đối với xu hướng, ADX tăng cho biết thị trường sẽtiếp tục duy trì xu hướng hiện tại và ngược lại Vd như trong phân tích VnIndex củaVND, đường +DI màu xanh lá đang cắt trên đường +DI màu đỏ cho thấy tín hiệumua, tuy nhiên ADX lại hướng xuống đồng thời thanh khoản của thị trường giảm nênkhả năng xu hướng mua sẽ không tồn tại được lâu.
- SMA là đường trung bình đơn giản, được tính bằng cách lấy tổng giá đóng cửa thị trường chia cho số khoảng thời gian Vd SMA (20) là 20 ngày Bằng việc so sánh giữa
2 đường SMA khác nhau về khoảng thời gian sẽ cho ta biết được xu hướng của giá,khi đường SMA ngắn hạn cắt và ở phía trên đường SMA dài hạn thì giá có xu hướngtăng và ngược lại Tuy nhiên SMA là trung bình giá của quá khứ nên sẽ có độ trễ
- Bollinger Band: dải băng Bollinger được sử dụng để đo sự bất ổn của thị trường,công cụ này cho biết thị trường đang yên lặng hay sôi động, khi thị trường ổn địnhbải băng thu hẹp, khi thị trường biến động lớn thì dải băng mở rộng Từ đó cũng chothấy được xu hướng của thị trường dựa trên xu hướng của dải băng
- Hỗ trợ và kháng cự, các đường xu thế, kênh là các công cụ hỗ trợ cho phân tích xu hướng của thị trường
+ Dự báo giá trong cả ngắn, trung,dài hạn
+ Phân tích không phụ thuộc báo cáo tài chính
Trang 29+ Xác định được thời điểm đâu tư thích
hợp
+ Cho phép phát hiện ra xu thế chuyển dịch giá sang mức giá cân bằngmới
- Nhược:
Trang 30+ Mang nặng tính chủ quan của người phân
tích
+ Dự đoán có thế bị chậm vì khi phát hiện ra xu thế thì giá đã chuyển độngmạnh
1.2 Giới thiệu mô hình ARIMA.
Mô hình dự báo ARIMA là phương pháp dự báo yếu tố nghiên cứu một cách độc lập(dự báo theo chuỗi thời gian) Bằng các thuật toán sử dụng độ trễ sẽ đưa ra mô hình
dự báo thích hợp
George Box và Gwilym Jenkins (1976) đã nghiên cứu mô hình ARIMA (AutoregressiveIntegrated Moving Average – Tự hồi qui tích hợp Trung bình trượt), và tên của họthường được dùng để gọi tên các quá trình ARIMA tổng quát, áp dụng vào việc phântích và dự báo các chuỗi thời gian Phương pháp Box-Jenkins với bốn bước: nhậndạng mô hình thử nghiệm, ước lượng, kiểm dịnh bằng chẩn đoán, và dự báo
Với cách xây dựng tương đối dễ và độ tin cậy khá cao, mô hình ARIMA được sử dụngkhá phổ biến trong các dự báo ngắn hạn, và đã có nhiều công trình nghiên cứu ápdụng mô hình vào tài chính Khóa luận không đi sâu vào việc xây dựng và hoàn thiện
mô hình mà chỉ tiến hành ứng dụng mô hình ARIMA vào dự báo giá chứng khoán
và nhận xét tính ứng dụng của mô hình Dưới đây là một số thuật ngữ cơ bản trong
mô hình
1.2.1 Chuỗi thời gian và các thành phần của chuỗi thời gian.
Trong bài toán dự báo, một kiểu dữ liệu thường gặp là dữ liệu chuỗi thời gian, tứclà
dữ liệu được thu nhập, lưu trữ và quan sát theo sự tăng dần của thời
Trang 31quan, ta dùng hàm tự tương
quan
Định nghĩa: Hàm tự tương quan là một đồ thị biểu diễn các hệ số tự tương quan
theo các độ trễ khác nhau
1.2.2 Các thành phần của chuỗi thời gian.
- Thành phần xu hướng (trend) là thành phần thể hiện sự tăng hay giảm giá trị củachuỗi thời gian trong một giai đoạn dài hạn nào đó
Trang 32- Nếu một chuỗi dừng ở sai phân bậc d, thì ký hiệu là I(d), I là đồng liên kết
- Thành phần chu kỳ (cyclical) là chuỗi biến đổi dạng sóng quanh xu hướng
- Trong thực tế thành phần này rất khó xác định và người ta thường xem nó như làmột phần của thành phần xu hướng
- Thành phần bất quy tắc (irregular) là thành phần thể hiện sự biến đổi ngẫu nhiênkhông thể đoán được của chuỗi thời gian
- Thành phần mùa (Seasonal) là thành phần thể hiện sự biến đổi lặp đi lặp lại tạitừng thời điểm cố định theo từng năm của chuỗi thời gian Đối với chuỗi thời gian cóthành phần mùa thì giá trị tại những thời điểm cố định theo từng năm sẽ có sựtương quan lớn với nhau
1.2.3 Chuỗi thời gian tĩnh.
- Trong quá trình quan sát các chuỗi thời gian, ta nhận thấy có những chuỗi thời gian
mà trung bình và phương sai của nó không phụ thuộc vào thời gian Những chuỗithời gian như vậy gọi là chuỗi thời gian có tính chất tĩnh (stationary) hay gọi là chuỗithời gian tĩnh
1.2.4 Mô hình kết hợp tự hồi quy và trung bình di động (ARIMA(p,d,q))
- Mô hình ARIMA (p,d,q) là mô hình trung bình trượt, đồng liên kết, tự hồi quy Môhình sử dụng dữ liệu chính là số liệu trong quá khứ của biến cần giải thích để dự báocho biến đó Công thức tổng quát của mô hình:
Trong đó:
Ф là giá trị trung bình của quá trình
Dd là sai phân bậc d
α1,…,αp ; β1,…,βq là hệ số ước lượng, điều kiện : -1< α1,…,αp ; β1,…,βq <1
Ut là nhiễu trắng (kỳ vọng bằng 0, phương sai không đổi và hiệp phương sai bằng 0)(Nguồn: Mô hình ARIMA_2013 – Tài liệu nghiên cứu nhóm SFR)
Trang 33- Nếu một chuỗi dừng ở sai phân bậc d, thì ký hiệu là I(d), I là đồng liên kết
(Integrated)
Trang 34- Nếu một chuỗi dừng ở sai phân bậc d, thì ký hiệu là I(d), I là đồng liên kết
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH, DỰ BÁO GIÁ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
VNDIRECT ĐANG SỬ DỤNG TRONG BÁO CÁO PHÂN TÍCH NHANH.
Trong toàn bộ chương này, ta sẽ sử dụng báo cáo phân tích giá chứng khoán VCB của VND làm ví dụ minh họa cho các nội dung được trình bày.
2.1.2 Phân tích cơ bản trong báo cáo phân tích nhanh của VND.
2.1.2.1 Cung cấp thông tin cơ bản của công ty
Thông tin cơ bản của công ty bao gồm:
- Tên công ty – Mã chứng khoán – tình hình giao dịch cổ phiếu hiện tại
Trang 35Hình 1: Biểu đồ biến động giao dịch của cổ phiếu VCB.
(Nguồn: Báo cáo phân tích nhanh 13/03/2015 của VNDirect)
Các thông tin cơ bản như: Đồ thị giá giao dịch và khối lượng giao dịch trong thời giangần đây, khối lượng cổ phiếu niêm yết, khối lượng cổ phiếu đang lưu hành, khốilượng khớp lệnh trung bình, vốn hóa thị trường, room nước ngoài còn lại… đềuđược thể hiện đầu tiên và trực quan nhất tại phần đầu của báo cáo
Giá chứng khoán hiện tại, đồ thị giá và khối lượng giao dịch trong 52 tuần, kết hợp vớikhối lượng giao dịch trung bình 10 phiên gần nhất cung cấp cho nhà đầu tư thôngtin về biến động giá và tính thanh khoản của cổ phiếu
- Giới thiệu tổng quan công ty
Trang 36Hình 2: Tổng quan về VCB
(Nguồn: Báo cáo phân tích nhanh 13/03/2015 của VNDirect)
Ngoài ra, dựa theo vốn hóa thị trường của cổ phiếu, chúng ta có thể phân loại theonhóm: cổ phiếu vốn hóa lớn (large cap), cổ phiếu vốn hóa vừa (mid cap), cổ phiếu vốnhóa nhỏ (small cap) Để nhà đầu tư cân nhắc lựa chọn cổ phiếu theo chiến lược đầu
tư Hiện nay, chưa có một quy tắc chuẩn mực chính thức về phân loại cổ phiếu theovốn hóa, nên bộ lọc cổ phiếu theo vốn hóa có thể dựa theo phân loại của HSX theochỉ số VN30 (30 mã), VNMID (70 mã) và VNSML được sắp xếp theo giá trị vốn hóa từcao xuống thấp hoặc tùy theo yêu cầu của nhà đầu tư
Trang 37- Ngành nghề hoạt động.
Hình 3: Ngành nghề kinh doanh của VCB
(Nguồn: Báo cáo phân tích nhanh 13/03/2015 của VNDirect)
Phân tích cơ bản công ty được sử dụng trong báo cáo phân tích của VND giúp cho nhàđầu tư có cái nhìn tổng quát về thông tin cơ bản, cũng như quá trình hình thànhcông ty, và quan trọng hơn hết, là ngành nghề mà công ty đang hoạt động
Hình 4: Cơ cấu cổ đông VCB.
(Nguồn: Báo cáo phân tích nhanh 13/03/2015 của VNDirect)
Thông tin sở hữu và cổ đông lớn của công ty thể hiện một phần đánh giá về chínhsách tài chính cũng như khả năng quản lý và phương hướng phát triển của công ty
Từ cơ cấu sở hữu của VCB cho thấy cũng giống như các ngân hàng lớn ở Việt Namkhác,
Trang 38VCB là có sở hữu rất lớn từ phía Ngân hàng Nhà nước, sẽ có sự hậu thuẫn lớn về tàichính cũng như chính sách hỗ trợ, tuy nhiên, rất có thể hoạt động kinh doanh vàquản lý của ngân hàng vẫn sẽ phải chịu sự kiểm soát của Chính phủ thông qua Ngânhàng nhà nước.
2.1.2.2 Phân tích “Tiêu điểm”- Điểm nhấn đầu tư về khía cạnh cơ bản
Phần tiếp theo trong báo cáo phân tích nhanh của VND chính là Tiêu điểm, hay dễ hiểu hơn, là điểm nhấn đầu tư Ở phần này, bộ phận phân tích của VND sẽ đưa ra những thông tin, số liệu để phản ánh nhanh tình hình hoạt động kinh doanh của công ty được phân tích Những yếu tố đã, đang, và có thể sẽ tác động đến hoạt
phương hướng trong tương lai của công ty Các số liệu đã qua xử lý được tính toán
từ các báo cáo tài chính: báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán, bảng lưu chuyển tiền tệ
Thay vì đưa ra các bộ chỉ số khô khan và đòi hỏi phải phân tích lại một cách chủ quan
từ phía nhà đầu tư, việc phân tích tình hình hoạt động kinh doanh được VND sử dụng trong báo cáo phân tích nhanh công ty và báo cáo thăm doanh nghiệp cập nhật
là đưa ra các số liệu, các ý kiến của nhân viên phân tích, tóm tắt thông tin về các chỉ
số được đưa ra, về các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận và cơ cấu doanh thu - lợi nhuận; phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh từ việc cung cấp các sản phẩm và
dịch vụ chính của doanh nghiệp cũng như các dự án được triển khai Điều này làm cho việc khách hàng đón nhận được báo cáo cập nhật của VND với thái độ tích cực, vì
ít nhất, họ hiểu rõ hơn, khái quát hơn các báo cáo phân tích từ các công ty khác: không phản ánh được việc kinh doanh ngay tại thời điểm phân tích, chỉ đưa ra các dữliệu,
Trang 39các số liệu khiến cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ, không có trình độ nhất định; không thểhiểu rõ về vấn đề mà các báo cáo đang muốn nói đến.
Ở báo cáo phân tích này, do VCB là một ngân hàng, nên báo cáo tập trung đưa ra cácchỉ số đặc thù trong hoạt động ngân hàng Hàng loạt các vấn đề được đưa ra như: