1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm thực vật và thành phần hóa học của một số loài asarum l , dùng làm thuốc ở việt nam

112 137 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 12,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu về thành phần hoá học của các loài trong 13 chi Tế tân .Asarum L.. Vì vậy, để góp phần nghiên cứu, sử dụng và phát triển nguồn dược liệu mới trong nước có hiệu quả hơn,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI

NGUYỄN CHIẾN BINH

THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA MỘT s ố LOÀI

LUẬN VĂN THẠC s ĩ Dược HỌC

Chuyên ngành: Dược liệu- Dược cổ truyền

Người hướng dẫn: TS NGUYễ N DUY THUẦN

TS NGUYỄN VIẾT THÂN

Hà Nội - 2007 _

Trang 2

LỜI CÁ M Ơ N

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học cùng các đồng nghiệp và bạn bè

Trước tiên, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Duy Thuần

và TS Nguyễn Viết Thân, những người thầy đã tận tình hướng dẫn, hết lòng chỉ bảo và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và học

Đồng thời, xin tỏ lòng biết ơn tới:

KS Đinh Văn Mỵ và các cán bộ Trạm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Sa Pa đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình lấy mẫu nghiên cứu

TS Nguyễn Tập, CN Ngô Văn Trại, CN Ngô Đức Phương Khoa tài nguyên dược liệu, Viện dược liệu; TS Dương Đức Huyến, CN Nguyễn Thế Cường, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã giúp đỡ trong việc thẩm định tên khoa của các loài nghiên cứu

TS Phan Văn Kiệm, Ths Nguyễn Xuân Cường và các cán bộ phòng Xúc tác hữu cơ, Viện hóa học các hợp chất thiên nhiên đã nhiệt tình giúp

đỡ, hướng dẫn trong việc phân lập, biện giải phổ và xác định cấu trúc hóa học các chất

DS.CKI Nguyễn Kim Bích, TS Nguyễn Bích Thu và các đồng nghiệp khoa Hóa Phân tích tiêu chuẩn, Viện Dược liệu đã giúp đỡ trong nghiên cứu, tạo điều kiện về cơ sở vật chất và động viên tinh thần cho tôi

Tôi xin chân thành cám ơn Ban lãnh đạo Viện Dược liệu, phòng Sau Đại học, trường Đại học Dược Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này

Cuối cùng xin chân thành cám ơn tới gia đình, người thân cùng toàn thểbạn bè đã động viên và hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, tháng 01 năm 2007

Nguyên Chiến Binh

Trang 3

TrangNhững chữ viết tắt.

1.1.1 Vài nét về họ Nam mộc hương (Aristoìochiaceae Juss., 1789) 3

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về chi Tế tân (Asarum L.) 41.1.3 Đặc điểm thực vật và phân bố của một số loài trong chi 9

Tế tân (.Asarum L.) ở Việt Nam.

1.2 Những nghiên cứu về thành phần hoá học của các loài trong 13

chi Tế tân (.Asarum L.)

1.2.1 Những nghiên cứu về tinh dầu 131.2.2 Những nghiên cứu về thành phần hóa học khác 15

1.3 Tác dụng và công dụng một số vị thuốc trong chi Tế tân 17

Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 19

2.2.1 Nghiên cứu về thực vật 192.2.2 Nghiên cứu thành phần hóa học 202.2.3 Xử lý các kết quả thực nghiệm 22

3.1.1 Đặc điểm hình thái thực vật của 2 loài nghiên cứu 23

Trang 4

3.1.2 Đặc điểm vi học 29

3.2.1 Định tính các nhóm chất trong dược liệu 393.2.2 Xác định hàm lượng tinh dầu 453.2.3 Phân tích thành phần tinh dầu 463.2.4 So sánh với thành phần tinh dầu của dược liệu T ế tân thu 50

mua ngoài thị trường

3.2.5 Nghiên cứu phân lập thành phần hóa học chính trong tinh dầu 52

Trang 5

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

,3C NMR Phổ cộng hưởng từ hạt nhân carbon 13

(C arbon-13 Nuclear Magnetic Resonance Spectroscopy)

'H NMR Phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton

(Proton M agnetic Resonance Spectroscopy),

br Rộng (broad),

d Doublet,

dd Doublet of doublet,

dm Dung môi

DEPT Distortionless Enhancement by Polarisation Tranfer

ESI-MS Phổ khối lượng phun mù điện tử (Electron Spay Ionization Mass

Spectrometry)

GC-MS Sắc ký khí khối phổ

HMBC Heteronuclear Multiple Bond Coherence

HSQC Heteronuclear Singlet Quantum Coherence

Trang 6

264445

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Danh mục các loài trong chi Asarum L có ở Trung Quốc

1.2.Thành phần tinh dầu lá và rễ của loài Asarum forbesii

Maxim

3.1 Đặc điểm hình thái thực vật của 2 loài được nghiên cứu

3.2 Bảng kết quả định tính các nhóm chất chính trong dược liệu3.3 Bảng kết quả hàm lượng tinh dầu ở các bộ phận khác nhau

của cây Tế hoa Petelot

3.4 Bảng kết quả hàm lượng tinh dầu ở các bộ phận khác

nhau của cây Thổ tế tân

3.5 Thành phần tinh dầu trong các bộ phận của cây

Tế hoa Petelot 04 petelotiỉ O.C.Schmidt).

3.6 Thành phần tinh dầu dược liệu các bộ phận của cây

Thổ tế tân 04 caudigerum Hance).

3.7 Thành phần tinh dầu dược liệu Tế tân bắc và thân rễ

cây T ế hoa Petelot

3.8 Số liệu phổ 'H-NM R và phổ l3C-NMR của AP2

3.9 Kết quả phổ HSQC và HMBC của AP2

Trang 7

DANH M Ụ C CÁC H ÌN H

Trang

Hình 3.1 Ảnh cây loài A sanim sp l 24Hình 3.2 Ảnh hoa của cây Asarum sp l 24

Hình 3.3 Các bộ phận cấu tạo một hoa của loài Asarum s p l 24

Hình 3.4 Ảnh cây loài Asarum sp2 25

Hình 3.5 Ảnh cây mang hoa của loài Asarum sp2 25

Hình 3.6 (a, b, c) Hoa của loài Asarum sp2 25

Hình 3.7 (a,b) Ảnh bầu bổ dọc và ảnh bao phấn của loài Asarum sp2 25Hình 3.8 Gân lá T ế hoa Petelot (A peteỉotii 0 c Schmidt) mang 30

lông che chở

Hình 3.9 Vi phẫu lá Tế hoa Petelot 04 petelotii o c Schmidt) 30

Hình 3.10 Gân lá Thổ tê tân (Asarum caudigerum Hance) mang lông 31

che chở đa bào

Hình 3.11 Vi phẫu lá Thổ tế tân (Asarum caudigerum Hance) 31

Hình 3.12 Gân và phiến lá Thổ tế tân (A caudigentm Hance) mang 32

lông che chởHình 3.13 Một phần vi phẫu thân Tế hoa Petelot 32

Hình 3.14 Một phần vi phẫu thân Thổ tế tân (A caudigerum Hance). 33Hình 3.15 Một phần vi phẫu rễ Tế hoa Petelot 34

(A petelotỉì 0 c Schmidt)

Hình 3.16 Một phần vi phẫu rễ Thổ tế tân (A caudigerum Hance)

Hình 3.17 Các đặc điểm bột dược liệu T ế hoa Petelot 36

Trang 8

Hình 3.18 Các đặc điểm bột dược liệu Thổ tế tân 37

(A caudigerum Hance

Hình 3.19 Sắc ký đồ chất AP2 ở hệ dm I 56Hình 3.20 sắc ký đồ chất AP2 ở hệ dm II 56Hình 3.21 M ột số tương tác chính trên phổ HMBC của AP2 59Hình 3.22 Cấu trúc hoá học của AP2 59

Trang 9

Đ Ặ T V Â N Đ Ể

Công tác điều tra, khảo sát và sưu tầm dược liệu trong những năm gần đây

đã thu được những kết quả khả quan và đã có nhiều những chuyển biến tích cực, đến nay đã biết khoảng 3.800 loài cây làm thuốc trong tổng số 11.000 loài thực vật có mặt ở Việt Nam [4] Dược liệu trong nước đã và đang là nguồn thuốc quan trọng cho Y học cổ truyền, là nguyên liệu cho công nghiệp dược và cho xuất khẩu

Vị thuốc “Tế tân” được khai thác từ một nhóm loài trong chi Asarum L thuộc họ Nam Mộc hương (Aristoỉochiaceae) Tế tân là vị thuốc đã được sử

dụng lâu đời trong nền y học cổ truyền Việt Nam cũng như y học cổ truyền của Trung Quốc Theo Dược điển Việt Nam III và Dược Điển Trung Quốc qui

định [10], [29] vị thuốc Tế tân là toàn cây của cây Bắc tế tân (Asarum

heterotropoides Fr var mandshuricum Maxim.) Kitag.), cây Hán thành tế tân (A sieboldii Miq var seulense Nakai) hoặc cây Hoa tế tân (A sieboỉdii

Miq.)- Qua tìm hiểu và khảo sát trên thị trường và tham khảo một số tài liệu chúng tôi thấy vị thuốc Tế tân hiện nay nhân dân đang sử dụng ở trong nước được nhập chủ yếu từ Trung Quốc, hơn nữa 3 loài Tế tân này chưa thấy phát hiện mọc ở nước ta Cùng với việc sử dụng vị thuốc Tế tân nhập nội từ Trung Quốc thì nhân dân các địa phương đặc biệt một số đồng bào dân tộc (Dao, H’mông) ở một số vùng núi thuộc các tỉnh phía bắc nước ta vẫn dùng dược liệu “Tế tân” được thu hái từ các nguồn mọc hoang với các tên gọi như Hoa tiên, Trầu tiên, Thổ tế tân, để làm thuốc chữa viêm phế quản, ho khan, ho

có đờm, hen suyễn, chữa tê thấp, đau nhức trúng phong hàn, co quắp Ngoài ra còn lấy hoa ngâm rượu dùng làm thuốc bổi bổ cơ thể [4], [5], [20], Do vùng phân bố của các loài này rất hẹp, cây chỉ sống ở điều kiện khí hậu mát, lạnh quanh năm và ở độ cao khoảng 1000m, trong khi đó nhu cầu sử dụng nhiều nên một số loài trong chi Tế tân ở nước ta đang ngày càng cạn kiệt và đang có

Trang 10

nguy cơ bị đe dọa tiêu diệt cao, bởi vậy một số loài trong chi Tế tân này đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam [6].

Theo một số tài liệu [2], [9], [11], [20] công bố thì chi Tế tân (Asarum L.)

ở Việt Nam có khoảng 7 loài, là các loài: A balansae Franch.; A blumei Duch.; A caudigenim Hance; A glabrum Merr.; A petelotii o c Schmidt;

A reticulatum Merr và loài A wulingense F Liang.

Hiện nay các tài liệu đề cặp đến chi Tế tân ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc thống kê sơ bộ về mặt thực vật học, chưa thấy có tác giả nào nghiên cứu sâu về thực vật cũng như về hoá học các loài trong chi Tế tân ở Việt Nam Vì vậy, để góp phần nghiên cứu, sử dụng và phát triển nguồn dược liệu mới trong

nước có hiệu quả hơn, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm thực

vật và thành phần hoá học của một sô loài Asarum L dùng làm thuốc ở Việt Nam”.

Đề tài nhằm mục tiêu thu thập một số loài Tế tân có mọc ở Việt Nam, nghiên cứu về thực vật và bước đầu nghiên cứu một số thành phần hóa học trong dược liệu Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài đã thực hiện các nội dung sau:

• Nghiên cứu đặc điểm hình thái thực vật và các đặc điểm hiển vi dược

liệu của 2 loài trong chi Tế tân (Asarum L.).

• Nghiên cứu về hóa học:

- Định tính các thành phần hóa học chính có trong 2 dược liệu

- Xác định hàm lượng tinh dầu và phân tích thành phần hoá học tinh dầu trong 2 dược liệu

- Phân lập và nhận dạng một thành phần chính trong tinh dầu

Trang 11

CHƯƠNG l.TỖNG QUAN1.1 Thực vật học.

1.1.1 Vài nét vê họ Nam mộc hương (Aristolochiaceae Juss, 1789).

Theo hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan họ Nam mộc hương (Aristolochiaceae), thuộc Bộ Nam Mộc hương (Aristolochiales), Liên bộ Ngọc Lan (Magnolianae), Lớp Ngọc lan (Magnoliidae), Ngành Ngọc lan (Magnoliopsida) [9], [11], [16], [26], [47]

Trên thế giới, họ Nam mộc hương có 8 chi với khoảng 450-600 loài, phân

bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới [30], [45], ở Trung Quốc có 4 chi (trong đó có 1 chi đặc hữu) với 86 loài (bao gồm 69 loài đặc hữu), Đài Loan có 2 chi với 11 loài Ở Việt Nam có 3 chi với khoảng 20 loài, mọc hoang [2], [9], [11], [16], [26], [30], [34],

Đặc điểm chung của họ Nam mộc hương (Aristolochiaceae Juss 1789).

Cây thảo, cây bụi, ít khi là dây leo, cây nửa bụi hay cây gỗ; rễ, thân và lá

có chứa các tế bào tiết tinh dầu Lá mọc so le, có cuống, phiến lá đơn, nguyên, hiếm khi phân thùy 3-5, gân lá thường hình lông chim, đôi khi có 3-5 gân hình chân vịt Hoa mọc ở đầu cành hoặc ở kẽ lá, hoa tự dạng xim, ngù hoặc mọc đơn độc Hoa lưỡng tính, đối xứng hai bên hoặc đối xứng tỏa tròn, đều hay

không đều Bao hoa thường có một vòng hình cánh hoa (ở chi Saruma có 2

vòng hình cánh hoa: vòng ngoài là vòng lá đài, vòng trong là vòng cánh hoa), hầu hết hợp với nhau thành hình ống, hình trụ cho đến hình chuông hoặc gần hình cầu, tràng hình bánh xe, hình nhạc, hình trụ hoặc hình lưỡi, có 1-3 thùy

Bộ nhị 6-36 (ở Trung Quốc là 6-12), xếp thành 1 đến 2 dãy, chỉ nhị đính với

bầu (chi Asarum) hoặc liền với nhau thành dạng cột (chi Thotteà) với bao

phấn rời nhau hoặc chỉ nhị và bao phấn dính nhau hoàn toàn thành dạng cột (ở

chi Aristoìochia), bao phấn 2 ô, nứt dọc Bầu từ dạng bầu dưới cho đến bầu trên, 6 ô (chi Thottea có 4 ô), các lá noãn liền nhau ở gốc; đính noãn bên,

Trang 12

noãn ngược gồm nhiều noãn, thường xếp thành 1 hoặc 2 dãy Vòi nhụy rời

hoặc liền, đỉnh phân 3 hoặc 6 thùy (chi Thottea có 5-20 thùy) Quả thịt hoặc

quả nang khô, hiếm khi là quả đại hoặc quả dạng cải Hạt nhiều, vỏ ngoài hạt hơi cứng hoặc có dạng vẩy cứng, hạt nhiều nội nhũ và dầu béo, lá phôi nhỏ [9], [12], [30], [34]

1.1.2 Một sô' công trình nghiên cứu vê chi Tê tân (Asarum L.)

Năm 1753, lần đầu tiên nhà thực vật học Linneaus đã đề cặp đến chi này,

từ đó đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về thực vật học và dược học

liên quan tới các loài trong chi Asarum L

Trên thế giới chi Tế tân (Asarum L.) cho tới nay đã phát hiện khoảng 90

loài, phân bố hầu hết ở khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Đài Loan, một số

ít có ở Bắc Mỹ và một loài đặc hữu ở châu Âu [30], [34]

ở Châu Âu có duy nhất một loài đặc hữu là Asarum europaeum L [38]

Trong cuốn Trung dược từ hải và Danh mục cây thuốc Nam Ninh [50], [51] đã mô tả và đề cập đến 5 loài là:

- Asarum insigne Diels (A ỉongepeduneuỉatum O.C.Schmit.).

- Asarum maximum Hemsl.

- Asarum forbesii Maxim.

- Asarum heterotropoides Fr Schm var mandschuricum (Maxim.) Kitag.

- Asarum sieboldii Miq.

Năm 1990, Thực vật chí Trung Quốc [30] đã xây dựng bộ khóa phân loại

và mô tả chi tiết đặc điểm thực vật của 34 loài trong chi Asarum L., đến năm

2003, đã bổ sung thêm 5 loài trong chi này, nâng số loài được phân loại và mô

tả lên 39 loài trong đó có 4 thứ loài và 34 loài đặc hữu Danh mục các loài

được phân loại và mô tả trong chi Asarum L có ở Trung Quốc theo bảng 1.1.

Trang 13

Bảng 1.1 Danh mục các loài trong chi Asarum L có ở Trung Quốc [30]

Klotzsch

S Yang in H s Kill & Y R Ling

& T C.Huang

Trang 14

23 Asarum maeranthum J D Hooker

Yang,

- 28a A porphyronotum var porphyronotum

- 28b A porphyronotum var atrovirens c Y

Cheng & c s Yang

Yang

Yang

- A magnificum var magnificum

S Yang

Trang 15

Thực vật chí Đài Loan [34] đã xây dựng khóa phân loại và mô tả hình thái

thực vật chi tiết 6 loài trong chi Asarum L có ở Đài Loan, bao gồm các loài

sau:

- Asarum caudigerum Hance.

- Asarum crassisepaìum s F Huang

- Asarum epigynum Hayata.

- Asarum hypogynum Hayata.

- Asarum macranthum J D Hooker.

- Asarum taipingshanianum s F Huang

Ớ Việt Nam, lần đầu tiên chi Tế tân (Asarum L.) được nhà thực vật học

Lecomte đề cập đến trong tác phẩm Thực vật chí đại cương Đông Dương,

trong tác phẩm của mình ông mới mô tả duy nhất 1 loài là: Asarum baỉansae

Franch [49]

Năm 1991, trong công trình Cây cỏ Việt Nam, giáo sư Phạm Hoàng Hộ [19] đã thống kê và mô tả 6 loài có ở Việt Nam, bao gồm:

- Asarum balansae Franch.

- Asarum blumeì Duch.

- Asarum caudigerum Hance.

- Asarum glabrum Merr.

- Asarum petelotii O.C.Schmidt.

- Asarum reticulatum Merr.

Năm 2000, ông đã bổ sung thêm loài Asarum maximum Hemsl cho lần tái

bản mới của mình

Trang 16

Đến năm 1997, trong cuốn Từ điển cây thuốc Việt Nam [11] đã thống kê

và mô tả 5 loài trong chi Tế tân (Asarum L.) được sử dụng làm thuốc, đó là

các lo à i:

- Asarum balansae Franch.

- Asarum blumei Duch.

- Asarum caudigerum Hance.

- Asarum glabrum Merr.

- Asarum maximum Hemsl.

Theo công trình những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của giáo sư Đỗ Tất

Lợi [20] đã mô tả thống kê 2 loài trong chi Tế tân (Asarum L.) là các loài:

A.sieboldii Miq và loài A heterotropoides F Chum var mandshuriucum

(Maxim.) Kitag

Theo cuốn Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam và Sách đỏ

Việt Nam [4], [5], [6] cũng đề cặp đến 3 loài: Asarum maximum Hemsl

Franch Ngoài 3 loài này, gần đây tiến sỹ Nguyễn Tập (Viện Dược liệu) và

cộng sự đã phát hiện thêm loài Asarum wulingense F Liang mọc ở Hương Sơn

(Hà Tĩnh)

Theo tài liệu Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam [2] đã thống kê và

đưa ra danh lục gồm 7 loài thuộc chi Tế tân (Asarum L.) hiện có ở Việt Nam

Trong 7 loài này có 6 loài trùng với các loài được đề cập trong công trình Cây

cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ, đó là các loài: A balansae Franch.; A

O.C.Schmidt; A reticulatum Merr và loài A maximum Hemsl Trong số 7 loài trên, ông cho rằng loài Asarum maximum Hemsl có tên đồng danh là

Asarum glabrum Merr., trong khi đó 2 loài này trong các công trình nghiên

Trang 17

cứu khác được coi là 2 loài khác nhau Loài cuối cùng ông thống kê mô tả là

loài Asarum wulingense F Liang.

Như vậy, theo các tài liệu đã công bố cho đến hiện nay, số lượng loài

thuộc chi Tế tân (Asantm L.) ở Việt Nam có khoảng 7 loài, đó là các loài: A

bulansae Franch.; A blumei Duch.; A caudigerum Hance; A glabrum Merr.;

A petelotii o c Schmidt.; A reticulatum Meư.; A maximum Hemsl và loài Asarum wulingense F Liang.

Đặc điểm thực vật chung của chi T ế tân (Asarum L.):

Cây thảo sống lâu năm; hàng năm phát triển 1 hoặc 2 tán lá, có 2-4 lá cơ bản và một hoa mọc ở gốc Thân rễ ngắn mọc thẳng đứng hay dài mọc ngang; thường có mùi thơm hăng, cay Thân dạng thảo Tán lá mọc đơn độc hoặc phát triển từng đôi một (khi cặp lá mọc đối nhau), phiến lá hình tim hoặc hình tên, mép nguyên, cuống lá thường dài Hoa mọc đơn độc ở gốc (hiếm khi mọc thành đôi) Bao hoa một hàng, đối xứng tỏa tròn (rất ít khi đối xứng 2 bên) Đài hợp với bầu ở các mức độ khác nhau, lá đài bao quanh bầu thành dạng hình ống hoặc rời nhau và tạo thành ống giả phía trên bầu; ống đài hình chén, hình nhạc, hình chuông, hình phễu hoặc hình trụ, ống đài thườmg gợn sóng hay khảm ớ bề mặt phía trong hay ở họng đài; đài có 3 thùy, thẳng đứng, vươn

ra ngoài ánh sáng Bộ nhị 12 xếp thành 2 dãy, ít khi có 3 nhị lép; chỉ nhị dài hay không có; bao phấn hướng ngoài Bầu dưới hoặc nửa dưới, 6 ô, lá noãn nhiều hàn liền Vòi nhụy 6, rời hoặc hợp với nhau thành cột, đỉnh vòi nguyên hoặc chia 2 thùy, núm nhụy tận cùng hoặc ở bên Quả thịt hoặc quả nang xốp, quả chín không đều Hạt lồi ở lưng, phẳng hoặc có rãnh ở bụng, hạt có nhiều nội nhũ [12], [30], [34], [38],

1.1.3 Đặc điếm thực vật và phân bô' của một số loài trong chi Tê tân (Asarum L.) ở Việt Nam.

1.1.3.1 Asarum glabrum Merr.

- Tên đổng nghĩa' Asarum maximum Hemsl [2]

Trang 18

- Tên Việt Nam: Hoa tiên, Dầu tiên, Đại hoa tế tân [2], [4], [5], [19]

- Đặc điểm thực vật: là dạng cây thảo sống lâu năm, cao 2-30cm Thân rễ

mảnh nằm ngang dưới đất, chia nhiều đốt Lá mọc từ thân rễ, 1-2 cái hình tim dài, đầu nhọn, gốc có hai thùy thuôn tròn, song song hoặc choãi ra, dài 8- 12cm, rộng 4-7 cm, mép nguyên hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục bóng, mặt dưới nhạt, 3 gân toả từ gốc; cuống lá dài 30-50 cm Hoa mọc đơn độc ở gốc cuống lá, cuống hoa dài 2-3 cm, cong xuống; lá bắc dài, hẹp và nhọn; bao hoa màu xám nâu, có ống thuôn hẹp thành chóp ở gốc, điểm những vạch dọc và loe ra ở đầu thành 3 thùy hình tim; nhị 12, bằng nhau, bao hoa dài hơn chỉ nhị; nhụy tập hợp thành một cột dày, ngắn hơn bao phấn Quả bao bọc bởi bao hoa tồn tại, hạt nhỏ màu đen, nâu bóng Mùa ra hoa quả: tháng 4-6 [2], [4], [30], [34]

Hoa tiên là cây thuốc thuộc dạng quí hiếm đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam, hiện đang bị khai thác bừa bãi

- Phân b ố và sinh thái: Hoa tiên được phát hiện lần đầu tiên vào năm

1969 ở núi Ba Vì (Hà Tây) Đồng bào Dao sống ở đây thường dùng hoa làm thuốc chữa bệnh, sau này cây được phát hiện thêm ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sapa (Lào cai), Phong Thổ (Lai Châu) và vùng núi Yên Tử (Quảng Ninh) [4]Hoa tiên là cây đặc biệt ưa ẩm và ưa sáng, thường mọc trên đất ẩm nhiều mùn, gần bờ suối, dưới tán rừng kín thường xanh, độ cao khoảng 1000m trở lên Cây sinh trưởng và phát triển tốt ở những vùng có khí hậu ẩm, mát quanh năm, nhiệt độ trung bình từ 15-18°c, độ ẩm không khí trung bình trên 80% Cây có khả năng sinh chổi gốc từ thân rễ, nên 1 khóm thường có vài thân mang lá cùng tồn tại Ra hoa quả hàng năm, hạt phát tán gần, quanh cây mẹ, cây con mọc từ hạt xuất hiện vào tháng 5-6 [2], [5]

1.1.3.2 Asarum caudigerum Hance.

- Tên đồng nghĩa [30], [34]:

+Asarum arrhizoma H Léveillé & Vaniot.

Trang 19

+A caudigenim var leptophyllum (Hayata) s s Ying.

+A caudigerum var.triangulare (Hayata) s s Ying.

+A leptophyllum Hayata.

+A leptophyllum var triangulare Hayata.

- Tên Việt Nơm: Thổ tế tân, Biến hoá, Quán chi [2], [5], [11], [19].

- Đặc điểm thực vật: Là dạng cây thảo cao khoảng 10-25 cm Thân rễ

mảnh, mọc bò ngang, trông như chia đốt do vết lá rụng còn sẹo Lá hình tim tròn, dài 8-10 cm, rộng 4-5 cm, hai thùy ở gốc tròn hơi choãi ra, đầu tù hơi nhọn, hai mặt có lông rải rác, dày hơn ở mặt dưới, mặt trên sẫm bóng, lốm đốm những vết trắng; gân 5 toả từ gốc; cuống lá dài 7-15 cm, có lông Hoa mọc đơn độc ở cuống lá, màu vàng nhạt có vạch nâu đỏ, cuống hoa cong xuống; lá bắc nhỏ, bao hoa có ống thắt lại ở gốc, có lông trên những vạch dọc,

ở giữa phình lên, đầu loe ra chia làm 3 thùy có mũi nhọn dài; nhị 12 đều; bầu

hạ Quả nang, gần hình cầu chứa nhiều hạt dẹt Mùa hoa quả: tháng 4-7 [2], [4], [5], [11], [19], [24], [30], [34],

- Phân bô' và sinh thái: Thổ tế tân mới phát hiện ở vài điểm thuộc tỉnh Lào

Cai, cây ưa ẩm ưa sáng, thường chỉ thấy ở vùng núi cao từ 800-1700 m Cây mọc thành đám gần các bờ suối dưới tán rừng kín thường xanh ẩm trên núi đất hoặc núi đá vôi Cây thường không rụng lá theo mùa, có hoa quả vào mùa hè- thu Quả già khi chín phát tán hạt ngay xung quanh gốc cây mẹ [4], [5], [16], [24]

1.1.3.3 Asarum baỉansae Franch.

- Tên Việt Nam : Tế tân nam, Biến hoá núi cao [2], [9], [19].

- Đặc điểm thực vật: Căn hành to 4-5mm, thân nằm rồi đứng Lá 2, hình

tim tròn, dài 10-12 cm, hai thùy ở gốc tròn ép sát vào nhau, đầu tù hai mặt có lông, dày hơn ở mặt dưới; cuống lá dài 5-8 cm Hoa màu vàng nhạt điểm những vết trắng, thùy của bao hoa hình trái xoan hoặc hình tim không có mũi

Trang 20

nhọn; tiểu nhụy 12, bao phấn dài hơn chỉ nhị; vòi dính thành trụ rời ở đầu, nang thò ra khỏi bao hoa còn lại; hột nhiều [2], [9], [19].

- Phân bố: Tế tân nam mới thấy có ở núi Ba Vì (Hà Tây) [2], [9], [19].

1.1.3.4 Asarum petelotii O.C.Schmidt.

- Tên Việt Nơm: Tế hoa Petelot [2], [16].

- Đặc điểm thực vật: Thân bò to 4-5mm, thân đứng mang 2 lá, lá dạng lá

môn hình tim có tai to tròn, kích thước 21x9cm, không lông Lúc khô màu nâu đỏ, cuống dài hơn phiến Hoa mọc ở kẽ lá, cọng ngắn, bao hoa không đều, ống cao hơn 7cm, rộng l,7cm hình vành tai; tiểu nhị 12; noãn sào hạ 6 buồng Quả nang [19]

- Phân bố: mới thấy ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Phú Thọ [2], [19] Cây mọc

rải rác trong rừng thưa, ở độ cao 900m Ra hoa vào tháng 6-7

1.1.3.5 Asarum reticulatum Merr.

- Tên Việt Nam: Tế hoa mạng [2], [19]

- Đặc điểm thực vật: Thân nằm rồi đứng, có rễ sái vị, lá có phiến hình tim

thon, kích thước 15 X 6cm, mép có răng cưa không đều, gân ở đáy 7, cuống dài 5-7cm Hoa đều có ống cao 3-4cm, rộng 2-3cm, tai 3 tròn, cao l,5cm; tiểu nhị 12, noãn sào 6 buồng [19]

- Phân bố: cây mọc trên đất mùn trong rừng thưa, ở độ cao 1500m ở v iệ t

Nam mới phát hiện thấy có ở Sa Pa (Lào Cai) Cây ra hoa vào tháng 4-5 [2], [19]

1.1.3.6 Asarum wulingense F Lỉang

- Tên Việt N am : Tế tân núi, Vũ linh tế tân [2].

- Đặc điểm thực vật: Cây thảo, thân rễ mọc thẳng, đường kính 3-4mm,

gióng dài không quá 5mm Lá mọc đơn độc, cuống lá uốn ngược lại dài 7- 18cm, có lông mềm; phiến lá hình gần trứng hay hình trứng dạng elip, hiếm khi hình trứng-tam giác, kích thước7-17 x5-9 cm, mặt trên màu xanh lục có các vết đốm màu trắng, nhẵn hay có lông tơ ở mép và ở gân lá, mặt dưới có

Trang 21

lông tơ dày đặc màu vàng nâu, gốc lá phân thùy, hình tim, thùy bên phân

nhánh có kích thước 2 - 5 X 1,5-4 cm, đỉnh nhọn hay nhọn hoắt; lá chồi hình

trứng kích thước 1,2 X 1,8 cm Cuống hoa uốn ngượclại dài 2 cm, Đài liền đính quanh bầu tạo thành ống hình trụ tròn dạng hình nhạc cho đến hình chuông, màu đỏ tía kích thước 2-3 x2-3 cm, phía dưới đài có nhiều lông tơ màu vàng, họng đài thắt lại, phía ngoài theo chiều dọc có nhiều gợn sóng rộng khoảng lmm, cánh đài hình trứng - tam giác, kích thước 1,5x1,5 cm, phía gốc có nhiều các hình nhũ - gấp nếp ở bề mặt Nhị 12, chỉ nhị ngắn hơn nhiều bao phấn, hàn liền cho tới bao phấn Bầu dưới, vòi nhụy rời, đỉnh phân 2 nhánh, núm nhụy ở bên Ra hoa vào tháng 12 [30]

- Phân bố: Hà Giang (Quảng Bạ, Bát Đại Sơn), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà

Tĩnh (Hương Sơn) Cây mọc rải rác dưới tán rừng kín thường xanh, nơi ẩm, gần bờ suối, ở độ cao trên 800m [2]

1.1.3.7 Asarum blumei Duch.

- Tên Việt Nam: Tế hoa Blumei [2],

- Đặc điểm thực vật: Cây cỏ, thân ngắn, dài l-2cm, mang ít rễ to 1,5 mm,

có ít rễ con Lá 2, cuống dài đến 10 cm, không lông, phiến lá hình tim mũi mác, kích thước 8 x4 cm, mặt trên màu xám lục, mặt dưới màu nâu, gân ở đáy

3 (5), gân phụ cấp 2 Hoa có cọng dài 1,5 cm, ống 1,5-2 cm, tai 3, tròn dài, cao 1 cm, noãn sào 6 buồng Quả nang, hạt nhiều [19]

- Phân bố: Hà Giang, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc Cây dạng cỏ nhiều năm,mọc

rải rác trong rừng, nơi sáng [2],

1.2 Những nghiên cứu về thành phần hoá học các loài trong chi Tế tân

(.Asarum L.)

1.2.1 Những nghiên cứu vê tinh dầu.

Một đặc điểm dễ nhận thấy trong các loài thuộc chi Tế tân (.Asarum L.) là

các bộ phận của cây đều có mùi thơm, nồng (cay) đặc trưng, chứng tỏ trong các bộ phận của chúng có thể chứa tinh dầu Mặc dù vậy, các công trình

Trang 22

nghiên cứu về hóa học tinh dầu của các loài trong chi này ở Việt Nam cũng như trên thế giới hiện nay vẫn còn rất khiêm tốn.

ở Việt Nam, vị thuốc Tế tân đã được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền từ rất lâu, mặc dù vậy cho đến thời điểm này các công trình nghiên cứu

về hóa học tinh dầu mới chỉ được công bố trong tài liệu những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi [20], theo tài liệu này công bố thì trong cây

Tế tân (A sieboldii Miq.) có chứa 2,75% tinh dầu, trong đó có các thành phần

là: 1,8 cineol, asaricin, methyleugenol, croweacin, P-pinen, a-pinen, a - thuyen, myrcen, terpinen-4-ol, a-terpineol, safrol, myristicin Tinh dầu trong

cây Hán thành tế tân 04 sieboỉdii Miq var seoulense) có chứa a-pinen, ị3- pinen, 1,8-cineol, trimethoxy allylbenzen Trong cây Bắc tế tân (Asarum

heterotropoides) chứa 3% tinh dầu, trong thành phần tinh dầu có

methyleugenol, a-pinen, camphen, myrcen, sabinen, p-cymen, y-terpinen estragol, 3,5-dimethoxy toluen, safrol, asaron, myristicin, elemicin, eucarvon,2-isopropyl-5-methyl anisol

Theo qui định của Dược điển Việt Nam và Trung Quốc qui định dược liệu

Tế tân không được chứa dưới 2% tinh dầu [10], [30],

Trên thế giới, trong những năm gần đây mới thấy có một số tác giả Trung Quốc công bố về thành phần hóa học tinh dầu của một số loài trong chi Tế tân

(Asarum L.) Theo tác giả Feng Zhang [31] tinh dầu lá của loài Asarum forbesii Maxim có chứa hai thành phẩn chính là methylisoeugenol (33,3%) và

a-asaron (19,2%) trong khi đó trong rễ có asaron (58,8%) và methyleugenol

(10,3%), chi tiết thành phần hóa học tinh dầu trong lá và rễ của loài Asarum

forbesii Maxim được trình bày theo bảng 1.2.

Trang 23

Bảng 1.2 Thành phần tinh dầu trong lá và rễ của loài Asarum forbesii Maxim

1.2.2 Những nghiên cứu về thành phần hóa học khác.

Ở Việt Nam các nghiên cứu về hóa thực vật các loài thuộc chi Tế tân hầu như chưa thấy có tài liệu nào công bố Trên thế giới, trong số các công trình nghiên cứu về thành phần hóa học về chi Tế tân được công bố, thì các nghiên cứu về hóa học flavonoid được công bố nhiều hơn cả Số lượng các hợp chất flavonoid được chiết tách, phân lập và nhạn dạng trong các loài trong chi

Asarum L trên thế giới cho đến thời điểm này vẫn còn rất khiêm tốn cả về số

lượng loài cũng như số lượng các hợp chất

Năm 1971, tác giả Ishikura đã công bố phân lập và nhận dạng được 4

flavonoid glycosid trong hoa [35] của loài A asaoides (Merr.&Pecne.)

Makino, đó là các flavonoid glycosid: peonidin3-0-p-coumaroylgentiobiosid;

Trang 24

peonidin 3-O-caffeoylgentiobiosid; cyanidin 3-O-p- coumaroylgentiobiosid

và cyanidin 3-0- caffeoylgentiobiosid

Năm 1976, hai tác giả Saunder và McClure [45] công bố phân lập từ lá của

loài A canadense L được 3 hợp chất là: kaempferol 3,7-di-O-glycosid;

quercetin 3,7-di-O-glycosid và quercetin 3-methylether-7-0-glycosid Đến năm 2000, hai tác giả người Nhật Bản là Iwashina và Kitajima [35] cũng đã công bố chiết xuất và phân lập từ lá của loài cây này được 9 hợp chất flavonoid là: chalcononaringenin 2’,4’-di-0-glycosid; chalcononaringenin 2 ’-0-glycosid-4’-0-gentiobiosid; quercetin 3-O-galactosid; quercetin 3-0- robinobiosid; quercetin 3-0- galactosid -7-0-rhamnosid; kaempferol 3-0- galactosid; kaempferol 3-O-glucosid; kaempferol 3-0-galactosid-7-0- rhamnosid và Isorhamnetin 3-O-rhamnosyl galactosid

Năm 1981, hai tác giả Wilson và Brown [48] đã nhận dạng 2 hợp chất

flavonoid: cyanidin glycosid và malvidin glycosid từ hoa của 3 loài Asarum

canadense L; A heterophyllum Ashe và A virgỉnicum L.

Năm 1994, tác giả Nishida [37] đã phân lập trong lá từ loài A esperum (F

Maek.) F Maek được 2 hợp chất là: flavonol, Isorhamntin 3-0-glucosyl -(1- 6)-galactosid-7-0-glucosid

Năm 2002, một số tác giả người Trung Quốc và Nhật Bản [46[ công bô' đã chiết xuất và phân lập được 8 dẫn chất flavonoid glycosid trong rễ và thân rễ

của loài Asarum longerhizomatosum C.F.Liang et C.S.Yang, đó là chất:

4,6,4’-trihydroxy-aurone-4,6-di-0-p-D-glucopyranoside (caulesauroneside); naringenin-7,4’-di-0-p-D- glucopyranoside (caulesnarinside); asnaringenin; naringenin-5-0-ị3-D-glucopyranoside; naringenin-7-O-P-D-glucopyranoside; chalcononaringenin-2’-0-(3-D-glucopyranoside; naringenin-5,7-di-0-(3-D- glucopyranoside và chalcononaringenin-2,,4’-di-0-P-D-glucopyranoside.Năm 2005, Feng Zhang và cộng sự [37] đã phân lập được 5 hợp chất amid

từ toàn cây của loài Asarum forbesii Maxim., đó ỉà các chất:

Trang 25

(2E,4Z,8Z,10Z)-N-Isobutyl-2,4,8,10-dodecatetraenamide; (2E,4E,8Z,10E)-]

2,4,8,10-dodecatetraenamide; Sesamin; Asarinin và Asarone

1.3 Tác dụng và công dụng một sô vị thuốc trong chi Tê tân.

- Vị thuốc Tế tân là toàn cây phơi hay sấy khô của cây Bắc tế tân (Asarum

heterotropoides Fr var mandshuricum Maxim.) Kitag.), cây Hán thành tế tân

(A sieboldii Miq var seulense Nakai) hoặc cây Hoa tế tân 04 sieboldii

Miq.) Tế tân có vị cay, tính ôn, qui vào các kinh phế và thận, có tác dụng khu phong tán hàn, chỉ thống, hành thủy, ôn phế khu đờm Dùng trong các trường hợp bị trúng phong hàn, đau nhức đầu, phong thấp, ho, hen, đau răng, ngạt mũi, bí mổ hôi, ứ huyết Dùng ngoài chữa hôi miệng [5], [10], [20], [29]

Một sô bài thuốc có T ế tân [5Ị:

1) Chữa đau răng

Tế tân, thạch cao mỗi vị lOg ngâm vào 100ml rượu trong nửa ngày Dùng rượu thuốc ngậm rồi nhổ đi [20] Hoặc Tế tân, kinh giới, tổ ong đồng lượng, cắt nhỏ Mỗi lần dùng 9g sắc với một bát nước to, còn khoảng 7/10, bỏ bã lấy nước còn ấm ngậm

2) Chữa lở mồm, loét lưỡi

Tế tân, hoàng liên đổng lượng tán nhỏ, trộn đều bôi hoặc chấm vào miệng, lưỡi, đồng thời ngậm cho chảy nước dãi ra

3) Chữa đau nửa đầu

Tế tân, hùng hoàng đổng lượng, nghiền thành bột, trộn đều Thổi bột vào mũi, đau bên phải thì thổi vào mũi bên trái và ngược lại

- Hoa tiên (Asarum maximum Hemsl.): Methyleugenol có trong cây có

tác dụng ức chế hoàn toàn sự sinh độc tố của Aspergillus versicolor và 3 loài Aspergillus khác ở nồng độ 100 và 200 |Lig/ml [4], [5] Nhân dân Ba Vì (Hà Tây) và Sapa (Lào Cai) dùng hoa và rễ cây Hoa tiên ngâm rượu uống làm thuốc bổ Nhân dân ở núi Yên Tử lấy lá phơi khô, thái nhỏ sắc với 200ml

Trang 26

nước, còn lại 50ml uống làm hai lần trong ngày chữa đau bụng Liều dùng mỗi ngày 8-16g [4], [5].

- Thổ tế tàn (Asarum caudigenim Hance.) có vị cay, tính ấm, có tác dụng

tán phong hàn, ôn trung hạ khí, thông khiếu làm ra mồ hôi, lợi tiểu tiện.Thổ tế tân mới được dùng trong trong phạm vi kinh nghiệm nhân dân làmthuốc chữa viêm phế quản, ho khan, ho có đờm, hen suyễn Còn dùng chữa tê thấp, đau nhức trúng phong hàn, co quắp Có người còn dùng làm thuốc bổ làm cho da dẻ hồng hào (Đỗ Tất Lợi) [5], [20]

Liều dùng: 2-4g/ngày, phối hợp với các vị thuốc khác

Một sô' bài thuốc có Thổ tế tân [5]:

1 Chữa trúng gió chân tay lạnh, co cứng hôn mê

Thổ tế tân, ma hoàng, quế chi, thạch xương bồ, phụ tử chế, cam thảo mỗi vị 4g Sắc nước uống Dùng ngoài, lấy Thổ tế tân tán bột thổi vào lỗ mũi làm cho hắt hơi và xát vào chân răng nếu răng cắn chặt

2 Chữa hen suyễn gặp lạnh lên cơn nghẹt thở hoặc cảm phong hàn, tức ngực khó thở, đầu mặt xây xẩm

Thổ tế tân 4g, ma hoàng 8g, bán hạ chế, ngũ vị tử, tang bạch bì, ô mai nhục,cam thảo, gừng sống mỗi vị 6g sắc nước uống

3 Chữa ho khan, ho có đờm

Thổ tế tân 20g, sắc nước hoặc tán bột, chia làm nhiều lần uống trong ngày

- Biến hóa núi cao (Asarum baìansae Franch.) Công dụng và tác dụng tương tự loài Thổ tế tân (Asarum caudigerum) [4], [5].

Trang 27

CHƯƠNG 2.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

2.1 Đôi tượng nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu là toàn cây của 2 loài trong chi Asarum L thu hái

ở Sapa (Lào Cai) và Tam Đảo (Vĩnh Phúc)

Mẫu thực vật có hoa, quả của 2 loài để làm tiêu bản mô tả, đối chiếu xác định tên khoa học

Dược liệu được thu hái tươi vào tháng 11-12/2005 và tháng 3-5/2006 là thời điểm cây đang có hoa Dược liệu ngay sau khi thu hái được rửa sạch, để ráo nước, một phần đem cất tinh dầu, phần còn lại được làm khô ở nhiệt độ phòng hoặc phơi ở trong râm, đóng gói bảo quản trong túi nilon kín dùng làm nguyên liệu nghiên cứu

Một phần nhỏ dược liệu tươi (rễ, thân, ỉá) được bảo quản trong cồn dùng

để nghiên cứu đặc điểm vi phẫu và được phơi khô, tán nhỏ thành bột để nghiên cứu đặc điểm bột

- Dược liệu Tế tân được thu mua ngoài thị trường là thân rễ, dùng để phân tích thành phân tinh dầu so sánh với mẫu tinh dầu của hai loài nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu.

2.2.1.Nghiên cứu vê thực vật.

- Chụp ảnh, quan sát, mô tả đặc điểm hình thái thực vật của các mẫu nghiên cứu tại thực địa và tại phòng thí nghiệm Chú trọng quan sát và nghiên cứu đặc điểm hình thái tập trung vào thời điểm cây đang có hoa và cho quả Dụng cụ quan sát và phân tích hình thái là kính lúp soi nổi và kính lúp cầm tay [8], [17]

- Tiến hành làm tiêu bản mẫu cây và lưu giữ tiêu bản tại 3 địa điểm:

+ Phòng tiêu bản, khoa Tài nguyên cây thuốc, Viện Dược liệu

+ Phòng tiêu bản Quốc gia Việt Nam, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Trang 28

+ Phòng tiêu bản thực vật, Bộ môn Thực Vật, trường Đại học Dược Hà Nội.

- Thu hái hoa và quả của mẫu cây nghiên cứu, bảo quản trong cồn 50°, lưu mẫu để phân tích và thẩm định tên khoa học

- Thẩm định tên khoa học của mẫu cây nghiên cứu dựa trên cơ sở phân tíchđặc điểm hình thái thực vật, kết hợp với các khóa phân loại thực vật của thực vật chí Trung Quốc, Đài Loan, dưới sự hướng dẫn phân loại của các chuyêngia thực vật [2], [3], [9], [30], [34]

- Nghiên cứu đặc điểm vi học: cắt và làm tiêu bản vi phẫu và bột dược liệu nghiên cứu Quan sát, mô tả và chụp ảnh các đặc điểm dưới kính hiển vi quang học Zeiss Axioskop 40 [17], [21]

2.2.2 Nghiên cứu thành phần hóa học.

- Chiết xuất, phân tích sơ bộ các nhóm chất hóa học theo phương pháp

phân tích sàng lọc các hợp chất thiên nhiên có trong cây bằng phản ứng hóa học đặc trưng và bằng SKLM [1], [13], [27]

- Xác định hàm lượng tinh dầu có trong dược liệu: thực hiện theo phương pháp cất kéo hơi nước bằng dụng cụ định lượng tinh dầu theo qui định của Dược điển Việt Nam III Hàm lượng tinh dầu được tính trên dược liệu tươi và khô tuyệt đối

Dược liệu sau khi thu hái được làm khô theo qui định, nghiền thành bột thô đem cất tinh dầu Cách tiến hành: Cân chính xác lOOg bột dược liệu thô cho vào bình cầu thủy tinh dung tích 1000ml, thêm 500ml nước Tiến hành bằng phương pháp cất kéo hơi nước Song song tiến hành xác định độ ẩm theoqui định của dược điển Tiến hành cất 3 lần bằng phương pháp cất kéo hơinước, lấy trung bình thu được kết quả hàm lượng tinh dầu tính theo tỷ lệ % thể tích trên khối lượng dược liệu khô tuyệt đối

- Phân tích thành phần hoá học trong tinh dầu: phân tích bằng phương pháp sắc ký khí kết hợp khối phổ (GC-MS), tiến hành phân tích tại khoa Hoá phân tích- Tiêu chuẩn, Viện Dược Liệu

Trang 29

Điều kiện phân tích:

+ Chương trình nhiệt độ: 50-220°C; tốc độ tăng 8°c/phút

+ Thể tích tiêm mẫu: l|il

từ đến khi hiện màu

- SKLM điều chế thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn silicagel 60G F254(Merck, ký hiệu 105875), phát hiện vệt chất bằng đèn tử ngoại ở hai bước sóng 254 nm và 368 nm, hoặc cắt rìa bản mỏng để phun thuốc thử là dungdịch H2S 0 4 10%, hơ nóng để phát hiện vệt chất, ghép lại bản mỏng như cũ đểxác định vùng chất, sau đó cạo lớp silicagel có chất, hòa trong dung môi thích hợp, chiết hết chất từ lớp silicagel

- Sắc ký cột (SKC) được tiến hành với chất hấp phụ là silicagel pha thường

và pha đảo, silicagel pha thường có cỡ hạt là 0,040-0,063 mm (240-430

Trang 30

mesh) Silicagel pha đảo ODS hoặc YMC (30-50 jam, FuJisilisa Chemical Ltd.).

- Xác định cấu trúc hoá học các hợp chất phân lập được dựa trên các thông

số vật lý và các phương pháp phổ bao gồm: phổ khối lượng, phổ cộng hưởng

từ hạt nhân một chiều và hai chiều [13], [15], [23],

+ Phổ khối lượng (ESI-MS): (Electron Spray Ionization mass spectra) được

đo trên máy AGILENT 1100 LC-MSD Trap của Viện Hoá học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

+ Phổ cộng hưởng từ nhân: ‘H-NMR (500 MHz) và 13C-NMR (125 MHz) được đo trên máy Bruker Avance AM500 FT-NMR Spectrometer, Viện Hóa học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Trang 31

CHƯƠNG 3.

THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ

3.1 Nghiên cứu về thực vật.

Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, thu thập các mẫu cây trong chi

Asarum L tại thực địa, tập trung chủ yếu ở hai địa phương là Sa Pa (Lào Cai)

và Tam Đảo (Vĩnh Phúc), chúng tôi đã thu được 86 mẫu tiêu bản thực vật của các loài trong chi này Các mẫu cây thu thập được đều là dạng cây thảo, cao khoảng 20-40cm, mọc thẳng hay mọc bò ngang trên mặt đất, chúng thường sống dưới các tán rừng thưa có độ che phủ vừa phải, dọc các sườn đồi hoặc sườn núi đá vôi hoặc dọc theo bờ suối có nhiều đất mùn, ẩm ướt, ở độ cao 700-1700m, nơi có khí hậu mát và lạnh Qua quá trình khảo sát, quan sát, so sánh, đặc điểm hình thái thực vật bên ngoài các cây và mẫu tiêu bản thực vật tại thực địa và tại phòng thí nghiệm, sơ bộ có thể phân ra làm 2 loại nhóm cây

có các đặc điểm hình thái thực vật tương đối khác biệt nhau, nhóm cây thứ nhất đều có phiến lá hình tên dài 10-25cm, rộng khoảng 6-13cm, lá và thân nhẵn, không có lông; nhóm cây thứ hai có phiến lá hình tim hơi tròn, dài 8- 12cm, rộng 4-7cm, thân và lá mang lông tơ đặc biệt tập trung nhiều ở ngọn, dọc theo gân và mép lá Để tiện cho việc theo dõi và nghiên cứu sau này,

chúng tôi tạm ký hiệu loài không có lông là Asarum spl và loài có lông là

3-6, nhóm loài có lông ra hoa vào tháng 10-12

3.1.1 Đặc điểm hình thái thực vật của 2 loài nghiên cứu.

Tiến hành chụp ảnh và phân tích đặc điểm hình thái hoa và đặc điểm hình thái thực vật của hai nhóm loài cây này, chúng tôi thấy hai nhóm loài này có các đặc điểm hoàn toàn khác biệt nhau, kết quả nghiên cứu, phân tích đặc điểm hình thái thực vật của hai nhóm loài cây này được trình bày chi tiết ở bảng 3.1

Trang 32

Hình 3.1 Ảnh cây loài Asarum spl Hình 3.2 Ảnh hoa của cây

Asarum s p l.

Hình 3.3: Các bộ phận cấu tạo một hoa của loài Asarum sp l.

1: Cuống hoa mang cơ quan sinh sản 2: Thùy đài

3: Đài hình ống bổ dọc 4: Bao phấn và vòi nhụy

5: Bầu hoa cắt ngang

Trang 33

Hình 3.6 (a, b, c): Hoa của loài Asarum sp2

Hình 3.4: Anh cây loài Asarum sp2 Hình 3.5: Ảnh cây mang hoa của loài

Asarum sp2

Hình 3.7 (a,b): Ảnh bầu bổ dọc và ảnh bao phấn của loài Asarum sp2

Trang 34

Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái thực vật của 2 loài được nghiên cứu.

Cây thảo, cao 10-25cm, thân mọc thẳng hay bò trên mặt đất, chia nhiều đốt, đường kính khoảng 0,5-0,8cm, rễ nhỏ phát triển từ các mấu thân Toàn cây khi vò có mùi thơm nhẹ

Lá Lá mọc đơn độc từ thân rễ, 1-2

lá, phiến lá hình tim hoặc hình tên, kích thước 10-25 x6-13cm, đầu nhọn, gốc có hai thùy hơi

tù tạo thành hình chữ V hơi choãi hoặc sát nhau, kích thước 3-7 X 3-6cm, cả hai mặt lá màu xanh lục, nhẵn hơi bóng, không

có lông Gân lá 5, mọc tỏa ra từ gốc lá thành hình chân vịt, nổi

rõ ở mặt dưới Lá bắc nhỏ hình mác nhọn, màu màu xanh lục điểm tím Cuống lá hình trụ tròn, nhẵn, dài 8-25cm, màu lục nhạt có nhiều vân hoặc đốm tím nhạt

Lá mọc đơn độc, 2-4 lá, phiến

lá hình tim tròn hay hình trứng-tim, kích thước 8-12x4- 7cm, đầu tù hơi nhọn, gốc có

2 thùy tròn hơi choãi ra, có kích thước 3-4 X 3-3,5cm; mặt trên màu lục sẫm có các đốm (vết) trắng dọc theo gân lá, mặt dưới màu xanh nhạt, hai mặt lá đều có lông tơ, lông thường tập trung nhiều dọc theo các đường gân và đầu cuống lá, gân 5, hình chân vịt nổi rõ ở mặt dưới; lá bắc hình mác hay hình trứng mác, mang lông tơ dày đặc ở mặt dưới, kích thước 0,8-1,3 X 0,4- 0,6 cm Cuống lá hình trụ

Trang 35

tròn, có 1 rãnh nông chạy dọc theo cuống, dài 5-20cm, đường kính 0 , 3 - 0 , 7 c m màu lục sẫm, mang nhiều lông tơ màu trắng, dày đặc.

Hoa Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá Hoa

đều lưỡng tính, màu màu lục

tím hay vàng nhạt cho đến tím,

cuống hoa nhỏ, nhẩn, thẳng

hay hơi cong, màu vàng lục có

điểm tím Bao hoa hình ống

hay trụ tròn, dài khoảng 3-

5,5cm, đường kính 0,8-6 cm,

thuôn hẹp ở gốc, hơi thắt lại ở

giữa hoặc ở gần họng sau đó

loe ra thành 3 thùy đài phía trên

ống đài thắng hoặc hơi cong,

thùy đài hình trứng đỉnh tù hơi

tròn, kích thước 1,2-2,5x1,4-

2,2cm, mặt trong sát phía ngoài

của thùy đài (1/2 phần thùy đài

phía ngoài) màu irắng hay vàng

lục nhạt, phía trong sát họng

đài có nhiều lông nạc màu tím

đậm xen lẫn vòng đai màu

trắng hay vàng nhạt; bề mặt

ngoài của ống đài màu xanh lục

nhat hơi tím hoăc có các đốm

Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá, hoa đều lưỡng tính, màu vàng lục hoặc tím hổng, cuống hoa nhỏ, thẳng hay uốn cong, dài1-2,5 cm, mang nhiều lông tơ; bao hoa có 3 thùy, hợp với bầu tạo thành hình chuông hoặc hình nhạc, đường kính 0,8-l,2cm, họng hơi thắt lại, các thùy đài hình trứng, rời nhau, thẳng hay uốn cong ra phía ngoài, dài 1-2,5 cm, phía đỉnh đột ngột thắt lại thành hình sợi mảnh, dài 1-2,5 cm

Bộ nhị 12 chia làm 2 vòng mỗi vòng 6 nhị, bao quanh vòi nhụy, vòng nhị ngoài có chỉ nhị mọc thẳng hoặc uốn cong, chỉ nhị ngắn hơn hoặc bằng bao phấn, bao phấn 2 ô thường có màu đỏ hồng, nứt dọc, hướng ngoài, đính gốc, trung đới hơi kéo dài hình thìa

Trang 36

Hoa tím nhạt, mặt trong ống đài

màu tím sẫm cho đến tím nhạt,

có các vạch dọc và được khảm bởi nhiều các hình nhũ dạng lông nạc nhọn Bộ nhị 12, xếp thành một dãy đính quanh vòi nhụy, chỉ nhị rất ngắn, ngắn hơn nhiều so với bao phấn, bao phấn 2 ô nứt dọc, hướng ngoài, dài 2-4mm, trung đới kéo dài dạng lưỡi nhỏ Bộ nhụy gồm 6

lá noãn, hàn liền tạo thành bầu dưới 6 ô, mỗi ô chứa nhiều noãn, noãn đính trung tâm, vòi nhụy 6, rời nhau, màu tím cao hơn bao phấn, núm nhụy chẻ thành 2 thùy, dài l-2mm

nhỏ; bộ nhụy gồm 6 lá noãn, hàn liền tạo thành bầu dưới 6

ô, mỗi ô chứa nhiều noãn, noãn đính trung tâm, vòi nhụy ngắn hàn liền thành một khối, đỉnh chia 6 thùy tạo thành hình phễu Quả hình cầu, có bao hoa tồn tại

của 2 mẫu loài này với các mẫu tiêu bản của một số loài trong chi Asarum L

hiện có ở Việt Nam đang được lưu giữ tại phòng tiêu bản thuộc Bảo tàng cây thuốc, khoa Tài nguyên cây thuốc, Viện dược liệu; phòng tiêu bản quốc gia Việt Nam, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, cũng như đối chiếu các đặc điểm thực vật với khóa phân loại họ Nam mộc hương (Aristolochiaceae) và

chi Tế tân (Asantm L.) trong Thực vật chí Trung Quốc (2003) và Thực vật chí

Đài Loan (1996), chúng tôi thấy:

Trang 37

- Mẫu cây và mẫu tiêu bản của loài Asarum spl có các đặc điểm thực vật phù hợp với các đặc điểm được mô tả cho loài Asarum petelotii o c

Schmidt; mẫu cây và mẫu tiêu bản của loài Asarum sp2 có các đặc điểm thực vật phù hợp với các đặc điểm được mô tả cho loài Asarum caudigerum

Hance.

- Mẫu tiêu bản của hai loài Asarum spỉ và Asarum sp2 cũng đã được gửi

đến TS Nguyễn Tập & CN Ngô Đức Phương (khoa Tài nguyên cây thuốc, Viện dược liệu); TS Dương Đức Huyến & Nguyễn Thế Cường (phòng tiêu bản quốc gia Việt Nam, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật) giám định và xác định tên khoa học của 2 loài nghiên cứu Kết quả giám định cho thấy hai mẫu tiêu bản nghiên cứu trên đều có tên khoa học đúng và phù hợp với các nhận định nêu trên, cụ thê’ như sau:

+ Mẫu loài Asarum spl có tên khoa học là:

Asarum petelotii o c Schmidt, 1931, Aristoìochiaceae.

Tên Việt Nam là: Tế hoa Petelot

(Hình 3.1 và hình 3.2)

+ Mẫu loài Asarum sp2 có tên khoa học là:

Asarum caudigerum Hance, 1881, Aristolochiaceae.

Tên Việt Nam: Biến hóa, Thổ tế tân, Quán chì (H’Mong)

(Hình 3.4 và hình 3.5)

3.1.2 Đặc điểm vi học.

3.1.2.1 Đặc điểm vi phẫu lá.

- Đặc điểm vi phẫu lá T ế hoa Petelot'.

Đặc điểm gân lá: Gân phía trên lõm, phía dưới lồi nhiều Biểu bì trên và

dưới là một hàng tế bào hình chữ nhật nhỏ xếp đều đặn (rải rác mang lông che chở đa bào, lông che chở có rất ít và ngắn, khi quan sát trên nhiều lát cắt ngang lá mới phát hiện thấy có lông che chở, đặc điểm này rất khó nhận biết khi quan sát bằng mắt thường (hình 3.8))

Trang 38

Sát biểu bì dưới là 2-3 hàng tế bào mô dày (2),

mô dày là các tế bào hình trứng hoặc hình đa

giác hơi tròn, thành phát triển dày lên ở các

góc tế bào; sát biểu bì trên cũng là 1-2 hàng tế

bào mô dày Mô mềm vỏ (3) là các tế bào hình

đa giác hơi tròn thành mỏng và có kích thước

lớn Chính giữa gân lá là một bó libe-gỗ hình

trứng hơi tròn, bó libe-gỗ thường nằm sát biểu Hình 3-8- Gân lá Tế hoa Petelot

(A petelotii o c Schmidt)

bì trên, cấu tạo bởi một cung libe bao quanh mang lông che chở.

bó gỗ, cung libe (4) thường phát triển rộng về phía dưới, có kích thước lớn và dày horn so với cung libe ở phía trên Bó gỗ (5) cấu tạo bởi các mạch gỗ nhỏ xếp thành hàng tập trung thành bó phát triển theo hướng ly tâm (hình 3.8 và hình 3.9).

Hình 3.9: Vi phẫu lá Tế hoa Petelot (A petelotii o c Schmidt)

Đ ặc điểm phiến lá: biểu bì (1) trên và dưới có cấu tạo tương tự như biểu bì

ở gân lá Sát dưới lớp biểu bì trên là một hàng tế bào mô giậu (6), mô giậu cấu tạo bởi các tế bào hình chữ nhật xếp song song và thẳng góc với hàng tế bào

Trang 39

biểu bì trên Mô mềm (7) là các tế bào hình đa giác tròn xếp xen kẽ vói các khuyết tế bào có kích thước lớn (hình 3.9).

- Đặc điểm vi phẫu lá Thổ tê tân:

Đặc điểm gân lá: Gân phía trên lõm, phía

dưới lồi nhiều Biểu bì (1) trên và dưới là

một hàng tế bào hình chữ nhật nhỏ xếp đều

đặn, rải rác mang lông che chở đa bào (9),

lông che chở cấu tạo bởi 4-14 tế bào hình

chữ nhật nhỏ và ngắn, xếp thẳng hàng, đầu

lông thường tù hơi nhọn, lông thường tập

trung ở biểu bì dưới (hình 3.10) Sát biểu bì

Hình 3.10 Gân lá Thổ tê tân trên va dươi la 2-3 hang te bao mo day, mo (Asarum caudigerum Hance)

dày (2) là các tế bào hình trứng hoặc hình đa mang lông che chở đa bào.

Hình 3.11 Vi phẫu lá Thổ tế tân (Asarum caudigerum Hance)

giác hơi tròn, thành phát triển dày lên ở các góc tế bào Mô mềm vỏ (3) là các

tế bào hình đa giác tròn thành mỏng và có kích thước lớn Chính giữa gân lá là một bó libe-gỗ hình trứng, bó libe-gỗ thường nằm sát biểu bì trên, cấu tạo bởi một cung libe (4) bao quanh bó gỗ, cung libe thường phát triển rộng về phía dưới, có kích thước lớn và dày hơn so vói cung libe ở phía trên Bó gỗ (5) cấu tạo bởi các mạch gỗ nhỏ xếp thành hàng tập trung thành bó (hình 3.11).

Trang 40

Đ ặc điểm phiến lá: biểu bì trẽn và dưới có cấu

tạo tương tự như biểu bì ở gân lá, rải rác mang lông

che chở đa bào Lông che chở (9) cấu tạo bởi 4-14

tế bào hình chữ nhật, xếp thẳng hàng, đầu lông

thường tù hơi nhọn, lông thường thẳng hay bị uốn

cong, nhiều chỗ bị thắt nhỏ lại Sát dưới lớp biểu bì

trên là một hàng tế bào mồ giậu, mô giậu (6) cấu

tạo bởi các tế bào hình chữ nhật xếp song song và

thẳng góc với hàng tế bào biểu bì trên Mô mềm là

các tế bào hình đa giác (7), thành mỏng, xếp xen

kẽ vói các khuvết tế bào (8) có kích thước lớn (hình 3.11 và 3.12).

3.1.2.2 Đặc điểm vi phẫu thân.

- Vi phẫu thân Tê hoa Pete lot:

Mặt cắt ngang thân có tiết diện

tròn, bề mặt thân phẳng hoặc hơi

mấp mô không đều Quan sát dưới

kính hiển vi từ ngoài vào trong

thấy: Biểu bì (1) là một hàng tế

bào hình chữ nhật nhỏ xếp đều

đặn Sát biểu bì là 2-3 hàng tế bào

mô dày (2), mô dày là các tế bào

hình đa giác hoi tròn có kích thước

lớn hom tế bào biểu bì Mô mềm

vỏ (3) rất phát triển chiếm phần

lớn trong thân, cấu tạo bỏi các tê

bào hình trứng hay hình đa giác

hơi tròn, thành mỏng, có kích

thước rất lớn Libe- gỗ (4, 5) kém

Hình 3.12 Phiến lá Thổ tế

tân (A caudigerum Hance)

mang lông che chở

Hình 3.13 Một phần vi phẫu thân Tế hoa

Petelot (A petelotii o c Schmidt)

Ngày đăng: 21/04/2019, 22:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm