The grasslands in Ngoc Thanh Commune (Melinh district, Vinhphuc province) are the secondary pastures developed from deforestation. The study sites were clasified based on topography and stocking rate as follows: (1) overstocking, more than 30o slope, (2) medium stocking, less than 5o slope, (3) medium stocking, 20-30o slope, and (4) less stocking, more than 30o slope. Results showed that there were 42 species of 35 sub-families in 20 families. Among these, there were only a few species which animals like to eat such as those of Poaceae family; whereas, the majority were species which animals eat little or not at all such as Melastoma septememevriumr, Polygonum minus, Lycopodi ella cernua, and Elepphantopus scaber, etc. The density, the height and the green biomass yield were highly affected by the stocking rate. The slope level indirectly influenced the observed parameters through moisture and thickness of the soil. However, this effect was less than that of stocking rate.
Trang 1Khảo sát thành phần thảm thực vật và đặc điểm cấu trúc
đồng cỏ chăn thả xã Ngọc Thanh, huyện Mê Linh,
tỉnh Vĩnh Phúc
A survey on the vegetational composition and structure of the grazing pasture in
Ngoc Thanh Commune, Melinh district, Vinhphuc province
Bùi Quang Tuấn1 và Đỗ Hữu Thư2
Summary The grasslands in Ngoc Thanh Commune (Melinh district, Vinhphuc province) are the secondary pastures developed from deforestation The study sites were clasified based on topography and stocking rate as follows: (1) overstocking, more than 30o slope, (2) medium stocking, less than 5o slope, (3) medium stocking, 20-30o slope, and (4) less stocking, more than
30o slope Results showed that there were 42 species of 35 sub-families in 20 families Among
these, there were only a few species which animals like to eat such as those of Poaceae family; whereas, the majority were species which animals eat little or not at all such as Melastoma
septememevriumr, Polygonum minus, Lycopodi ella cernua, and Elepphantopus scaber, etc The density, the
height and the green biomass yield were highly affected by the stocking rate The slope level indirectly influenced the observed parameters through moisture and thickness of the soil However, this effect was less than that of stocking rate
Key words: pasture, vegetational coverage, biomass, stocking rate, slope
1 Đặt vấn đề
Đồng cỏ là cơ sở không thể thiếu được của ngành chăn nuôi gia súc ăn cỏ: trâu, bò, dê …
và đồng cỏ càng trở lên quan trọng khi ngành chăn nuôi gia súc ăn cỏ phát triển Cỏ không chỉ là nguồn thức ăn gia súc có chất lượng tốt, rẻ tiền và phù hợp với điều kiện nhiều nước trên thế giới
mà còn có những tác động khác như bảo vệ và cải tạo đất trồng Với xã Ngọc Thanh nói riêng và nhiều vùng khác ở Mê Linh nói chung thì chăn nuôi gia súc ăn cỏ chiếm một vị trí hết sức quan trọng Hơn 90% nguồn thức ăn gia súc nhai lại ở những khu vực này dựa trên đồng cỏ tự nhiên, phần còn lại là cỏ trồng và các phụ phẩm nông nghiệp Đồng cỏ tự nhiên không những ngày càng
bị thu hẹp do phát triển đất lâm nghiệp mà còn bị khai thác quá mức do số đầu gia súc chăn thả ngày càng tăng, dẫn tới bị giảm về năng suất và chất lượng của đồng cỏ
Nghiên cứu hiện trạng đồng cỏ tự nhiên và đề xuất một số kiến nghị cơ bản để duy trì đồng
cỏ ở vùng này là rất cần thiết giúp giải quyết nguồn thức ăn thô xanh cho đàn trâu bò ở địa phương
2 phương pháp nghiên cứu
Đồng cỏ xã Ngọc Thanh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc là dạng đồng cỏ thứ sinh, do rừng
bị tàn phá sinh ra Nghiên cứu tiến hành điều tra thảm thực vật trên đồng cỏ theo 2 phương pháp:
Phương pháp điều tra diện rộng: Căn cứ vào địa hình thảm cỏ đã và đang sử dụng để xác định
vùng nghiên cứu Chia vùng nghiên cứu thành 3 mức gồm 4 điểm
Điểm nghiên cứu 1: Loại hình đồng cỏ chăn thả quá mức (nặng), độ dốc 300;
1 1
Đại học Nông nghiệp I
2
Viện khoa học và công nghệ Việt Nam
Trang 2Điểm nghiên cứu 2a: Loại hình đồng cỏ chăn thả vừa, độ dốc 5;
Điểm nghiên cứu 2b: Loại hình đồng cỏ chăn thả vừa, độ dốc 300
Điểm nghiên cứu 3: Loại hình đồng cỏ chăn thả ít, độ dốc 300
Xác lập tuyến đi cắt qua các điểm và các kiểu địa hình Trên đường đi quan sát, ghi chép lấy mẫu
Cứ 20m lập một ô tiêu chuẩn, thu thập tất cả các loài tại điểm nghiên cứu, ghi chép đánh dấu vào phiếu Mẫu được thống kê theo từng loại hình và theo ô tiêu chuẩn Mẫu vật lấy để phân tích thành phần loài nên ngoài phần mặt đất của một số loài còn lấy cả phần dưới mặt đất, đồng thời mô tả quan sát tại chỗ về dạng sống mỗi loài Mỗi loài lấy ít nhất 2 – 3 mẫu, những loài đã lấy mẫu đợt trước thì đợt sau chỉ thống kê, số lần lặp lại tại mỗi điểm là 4 Tên Việt Nam của các loài
được tra cứu chủ yếu từ tài liệu của Điền Văn Hưng (1974)
Phương pháp nghiên cứu ô tiêu chuẩn: ô tiêu chuẩn được lập có diện tích 0,25 m2, kết hợp ghi chép và theo dõi những biến động bên ngoài ô tiêu chuẩn, các ô được bố trí ở các địa hình khác nhau: chân đồi, lưng chừng đồi, đỉnh đồi Trong mỗi ô thống kê thành phần loài, độ cao thảm thực vật, độ phủ, cấu trúc tầng, độ nhiều và độ thường gặp Xác định các chỉ tiêu: thành phần loài, độ che phủ, độ cao thảm cỏ theo phương pháp của Wong (1991):
* Các loài cỏ chính có mặt trên thảm cỏ (liệt kê)
* Độ che phủ: ước tính phần trăm che phủ đất bằng mắt
* Độ cao thảm cỏ: Đo từ mặt cắt của thảm cỏ đến mặt đất
Các số liệu theo dõi được phân tích phương sai, sự sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa thống kê (LSD)
được tính để so sánh mức độ sai khác giữa các công thức theo từng chỉ tiêu nghiên cứu
3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1 Tình hình chăn nuôi trâu, bò của xã Ngọc Thanh
Ngọc Thanh là 1 xã trung du, có diện tích đất tự nhiên rộng (7.731,14 ha) Diện tích đất trồng trọt của xã là 1.823,22 ha, chủ yếu là trồng các loại cây nông nghiệp hàng năm Ngoài ra do kết cấu đất thuộc loại thịt nhẹ pha cát nên rất tốt để trồng cây hoa màu ngắn ngày như cây ngô, cây đậu tương, cây khoai lang, … Toàn xã có 600 ha đất rừng, hầu hết là rừng tự nhiên, một phần rừng trồng, diện tích đất trống đồi núi trọc lớn, tạo thành đồng cỏ và bãi chăn thả gia súc Điều kiện đất đai rộng rất thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi trâu bò
Từ năm 2000 đến năm 2004 đàn trâu và đàn bò của xã liên tục tăng nhanh (bảng 1), từ 902 con (năm 2000) lên 1.420 con (năm 2004) Chủ yếu là trâu và bò vàng nuôi sinh sản và lấy thịt Ngọc Thanh trở thành nơi cung cấp giống bò sinh sản và giống trâu nội cho các địa phương trong và ngoài tỉnh Chăn nuôi trâu, bò sinh sản và lấy thịt thực sự mang lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân, vì thế đàn trâu và bò của xã phát triển rất ổn định
Bảng 1 Tình hình phát triển đàn trâu, bò của xã Ngọc Thanh
2000
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
(Nguồn: UBND xã Ngọc Thanh, 2004)
3.2 Tình trạng đồng cỏ xã Ngọc Thanh
Kết quả điều tra thành phần loài của đồng cỏ xã Ngọc Thanh đã thu được 42 loài thuộc 35 chi của 20 họ Trong đó số loài gia súc hay ăn và ăn nhiều như họ Lúa (Poaceae) có số lượng ít, những loài
gia súc ít ăn và không ăn như: Mua (Melastoma septemmevrium), Nghể (Polygonum minus), Cúc chỉ thiên (Elephantopus scaber)… lại nhiều Việc chăn thả không kế hoạch và nhận thức sử dụng đồng cỏ của
dân địa phương còn hạn chế nên đồng cỏ dần dần bị thoái hoá, độ thoái hoá của đồng cỏ tỷ lệ thuận với
Trang 3mức chăn thả gia súc Sự thoái hoá làm cho số lượng cây bụi, cây gia súc không ăn tăng lên trong khi những cây gia súc gặm liên tục lại giảm
Đặc điểm cấu trúc đồng cỏ xã Ngọc Thanh được đánh giá thông qua độ che phủ, độ dốc, chiều cao và tính phân tầng của thảm cỏ
Độ che phủ của thảm cỏ
Đồng cỏ Ngọc Thanh là đồng cỏ có độ che phủ thấp, cỏ mọc thưa ở các mức chăn thả khác nhau thì độ che phủ của thảm cỏ là khác nhau Độ che phủ bị tác động trực tiếp bởi đàn gia súc, càng bị chăn thả nhiều độ che phủ càng giảm Cụ thể mức chăn thả ít (điểm 3) độ che phủ là 54,69%, nhưng khi bị chăn thả nặng (điểm 1) độ che phủ giảm xuống chỉ còn 30,36% (bảng 2) Nếu quá trình chăn thả như trên tiếp tục diễn ra thì độ che phủ của thảm cỏ còn giảm và đồng cỏ dần mất đi màu xanh, trở thành đất trống đồi núi trọc, dễ bị xói mòn và sụt lở khi gặp mưa bão
Tuy độ dốc không ảnh hưởng nhiều như mức độ chăn thả nhưng nó vẫn có ảnh hưởng không nhỏ tới độ che phủ của thảm cỏ Độ dốc sẽ quyết định lượng nước giữ trong đất, đất dốc ít thì độ ẩm của đất sẽ cao hơn đất dốc nhiều Vì vậy độ che phủ của thảm cỏ ở điểm có độ dốc ít cao hơn so với ở điểm có độ dốc cao
Bảng 2 Độ che phủ chung ở các điểm nghiên cứu trên đồng cỏ Ngọc Thanh
1 Đồng cỏ chăn thả nặng, độ dốc 300
30,36 ± 9,5 2a Đồng cỏ chăn thả vừa, độ dốc 50
52,5 ± 6,5 2b Đồng cỏ chăn thả vừa, độ dốc 300
43,28 ± 13,0
3 Đồng cỏ chăn thả ít, độ dốc 300
54,69 ± 5,3
Bảng 3 Độ che phủ của các loài cỏ chính trên đồng cỏ Ngọc Thanh (%)
Điểm nghiên cứu
Nét nổi bật về độ che phủ của các loài cỏ chính trên đồng cỏ Ngọc Thanh là độ che phủ của Vĩ
thảo hai gié (Brachiaria distachya), loài có giá trị thức ăn trên đồng cỏ chăn thả, bị ảnh hưởng rất lớn của mức độ chăn thả Khi chăn thả ít độ che phủ của Vĩ thảo hai gié (Brachiaria distachya) là
28,77%, khi chăn thả nặng độ che phủ giảm xuống chỉ còn 2,5% (bảng 3)
Trang 4Bảng 4 Chiều cao của thảm cỏ ở các điểm nghiên cứu trên đồng cỏ Ngọc Thanh
1 Đồng cỏ chăn thả nặng, độ dốc 300
3,4 ± 0,3 2a Đồng cỏ chăn thả vừa, độ dốc 50
8,0 ± 1,9 2b Đồng cỏ chăn thả vừa, độ dốc 300
3,6 ± 0,2
3 Đồng cỏ chăn thả ít, độ dốc 300
14,4 ± 2,2
Chiều cao của thảm cỏ
Cũng giống như độ che phủ, chiều cao thảm cỏ chịu ảnh hưởng bởi 2 yếu tố là chăn thả và
độ dốc của địa hình Trong đó ảnh hưởng của chăn thả tới chiều cao là rất lớn Tác động liên tục của việc chăn thả gia súc làm thảm cỏ giảm dần về chiều cao, đặc biệt là những loài cỏ có giá trị
thức ăn đối với gia súc như Vĩ thảo hai gié (Brachiaria distachya), Túc hình hoa dài (Digitaria
longiflora), Mần trầu (Eleusine indica), Song chỉ (Demeria kurzii)… ngược lại những loài không có
hay ít có giá trị thức ăn thì lại phát triển tốt như Mua (Melastoma septemmevrium), Tràng quả ba hoa (Desmodium triflorum), cỏ bông (Eragrostis tenella)…
Độ dốc cũng một phần ảnh hưởng đến chiều cao thảm cỏ, nó không tác động trực tiếp mà ảnh hưởng gián tiếp thông qua sự hình thành về thành phần loài có mặt ở các điểm nghiên cứu
Tính phân tầng
Nhìn chung chiều cao thảm cỏ ở các điểm nghiên cứu trên đồng cỏ Ngọc Thanh đều thấp,
sự phân tầng của thảm cỏ không rõ nên tạm chia làm 3 tầng ở tất cả các điểm nghiên cứu, chiều cao của từng tầng trong mỗi điểm có thể khác nhau (bảng 5)
Tầng 1: Tầng cây gỗ, bụi Cả 4 điểm đều có chiều cao >50cm, tầng này ít bị tác động bởi sự chăn
thả vì chủ yếu là những cây gia súc không ăn hoặc ít ăn như: Mua (Melastoma septemmevrium),
Cỏ lào (Eupatorium odoratum) …
Tầng 2: Là tầng chính và có độ che phủ cao nhất trong 3 tầng, chiều cao của tầng 2 được xác định tuỳ vào từng khu vực, điểm nghiên cứu 1, 2a và 2b là 5 – 20cm, điểm nghiên cứu 3 là 10 – 20cm Thành phần loài có mặt ở các điểm khác nhau là khác nhau Đây là tầng chịu áp lực của việc chăn thả mạnh nhất
Tầng 3: Ranh giới giữa tầng 3 và tầng 2 không rõ rệt, chiều cao tầng này thấp hơn tầng 2, 5cm ở các điểm 1, 2a, 2b và hơn 10cm ở điểm nghiên cứu 3 Thành phần loài chủ yếu là những cây cỏ
thân bò lan trên mặt đất như Rau má (Centella asiatica), Nghể bé (Polygonum minus) hoặc những cây lá mọc sát đất như Cúc chỉ thiên (Elephantopus scaber) …
Sinh khối phần xanh của đồng cỏ
Mức độ chăn thả đã có ảnh hưởng rất lớn đến tổng sinh khối cũng như sinh khối phần xanh của đồng cỏ (P<0,001) Sinh khối phần xanh giảm khi mức chăn thả tăng và ngược lại Khi chăn thả ít sinh khối phần xanh đạt 1.500 kg CK/ha, và khi đồng cỏ bị chăn thả nặng sinh khối phần xanh giảm xuống chỉ còn 456 kg CK/ha (bảng 6)
Độ dốc cũng có ảnh hưởng tới tổng sinh khối và sinh khối phần xanh của đồng cỏ, tuy nhiên ảnh hưởng này không lớn như ảnh hưởng của mức độ chăn thả (P<0,01) ảnh hưởng của độ dốc đến
đồng cỏ là ảnh hưởng gián tiếp thông qua việc ảnh hưởng tới độ ẩm của đất, độ dày của tầng đất canh tác
Bảng 5 Tính phân tầng ở các điểm nghiên cứu trên đồng cỏ xã Ngọc Thanh
Trang 52 5-20
Túc hình hoa dài (Digitaria longiflora), Song chỉ (Demeria kurzii), Cỏ bông (Eragrostis tenella) và Cỏ tranh (Imperata cylindrica) mọc phía dưới gốc cây bụi
3 <5
Vĩ thảo hai gié (Brachiaria distachya), Cúc chỉ thiên (Elephantopus scaber), Đằng hoa răm (Isachne polygonoides), Mần trầu (Eleusine indica), Rau má (Centella asiatica)
2 5-20
Đằng hoa răm (Isachne polygonoides), Tràng quả ba hoa (Desmodium triflorum), Cỏ om (Limnophila polyantha) và Cỏ tranh (Imperata cylindrica) mọc dưới gốc cây
2a
3 <5
Cúc chỉ thiên (Elephantopus scaber), Mần trầu (Eleusine indica), Rau má (Centella asiatica), Cỏ may (Chrysopogon aciculata), Nghể bé (Polygonum minus), Chua me đất (Oxalis coniculata)
1 >50 Cây bụi như: Mua (Melastoma septemmevrium) …
tenella), Túc hình tím (Digitaria violascens)
2b
3 <5
Túc hình hoa dài (Digitaria longiflora), Vĩ thảo hai gié (Brachiaria distachya), Song chỉ (Demeria kurzii), Cúc chỉ thiên (Elephantopus scaber), Me rừng (Phyllanthus emblica), Lục cong (Chloris virgata), Đằng hoa (Isachne eberbartii) …
1 >50
Túc hình hoa dài (Digitaria longiflora), Tràng quả ba hoa (Desmodium triflorum), Cỏ bông (Eragrostis tenella), Đằng hoa răm (Isachne polygonoides) và cây bụi
2 10-20 Vĩ thảo hai gié (Brachiaria distachya), Dị mào phún (Heteropappus
hispidus)
3
3 <10 Song chỉ (Demeria kurzii), Cúc chỉ thiên (Elephantopus scaber), Sơn
linh mảnh (Sonerila tenera)
Bảng 6 Sinh khối phần xanh ở các điểm nghiên cứu trên đồng cỏ Ngọc Thanh
(kg CK/ha)
Sinh khối phần xanh (kg CK/ha)
1 Đồng cỏ chăn thả nặng, độ dốc 300
2a Đồng cỏ chăn thả vừa, độ dốc 50
1.513 ± 131 804 ± 69 2b Đồng cỏ chăn thả vừa, độ dốc 300
1.162 ± 138 652 ± 77
3 Đồng cỏ chăn thả ít, độ dốc 300
2.447 ± 120 1.500 ± 112
Trương Tấn Khanh (2003) cho biết năng suất của đồng cỏ chăn thả tại Tây Nguyên cũng rất thấp, chỉ đạt 110 kg/ha/tháng ở mùa khô và 460 kg/ha/tháng ở mùa mưa
4 Kết luận và đề nghị
4.1 Kết luận
Đồng cỏ Ngọc Thanh đang dần dần bị thoái hoá Số loài thực vật gia súc hay ăn và ăn nhiều
có số lượng ít, ngược lại những loài gia súc ít ăn và không ăn như Mua, Nghể, Thông đất, Cúc chỉ thiên lại nhiều Đồng cỏ Ngọc Thanh có độ che phủ thấp Độ che phủ bị tác động trực tiếp bởi chăn thả gia súc Khi chăn thả ít độ che phủ là 54,69% và khi chăn thả nặng độ che phủ giảm xuống chỉ còn 30,36%
Mức độ chăn thả đã có ảnh hưởng rất lớn đến tổng sinh khối cũng như sinh khối phần xanh của đồng cỏ Khi chăn thả ít sinh khối phần xanh đạt 1.500 kg CK/ha, và khi đồng cỏ bị chăn thả nặng sinh khối phần xanh giảm xuống chỉ còn 456 kg CK/ha
Trang 6Độ dốc có ảnh hưởng gián tiếp đến các chỉ tiêu nghiên cứu thông qua độ ẩm, độ dày của tầng đất canh tác Tuy nhiên ảnh hưởng này không lớn như ảnh hưởng của mức độ chăn thả tới
đồng cỏ
4.2 Đề nghị
Địa phương cần xây dựng chế độ chăn thả hợp lý để khai thác đồng cỏ có hiệu quả hơn, bằng cách chia lô chăn thả để cỏ có thời gian tái sinh, hồi phục Ngoài ra, trồng găm bổ sung cây
cỏ có giá trị thức ăn cao cho đồng cỏ như trồng găm cây Lạc dại (Arachis pintoi) vừa có tác dụng
nâng cao giá trị dinh dưỡng của đồng cỏ vừa có tác dụng cải tạo đất
Tài liệu tham khảo
Báo cáo tình hình sản xuất nông nghiệp của UBND xã Ngọc Thanh năm 2004
Điền Văn Hưng (1974) Cây thức ăn gia súc miền Bắc Việt Nam Nxb Nông thôn
Trương Tấn Khanh (2003) Đánh giá hiện trạng đồng cỏ tự nhiên và nghiên cứu một số biện pháp
kỹ thuật nhằm cải thiện nguồn thức ăn xanh cho gia súc tại M’DRAK – DAKLAK Luận
án tiến sĩ nông nghiệp
Wong C.C (1991) A review of forage screening and evaluation in Malaysia In Grassland and Forage Production in Southeast Asia Proc No l Pp: 61- 68