1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phân tích hoạt động kinh doanh của công ty dược phẩm hà tây thông qua một số chỉ tiêu kinh tế từ năm 1996 2000

139 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty Dược phẩm Hà Tây là một trong những Doanh nghiệp Dược địa phương có sự chuyển mình phù hợp với cơ ch ế thị trường, được đánh giá cao trong các Doanh nghiệp Dược Nhà nước hiện nay

Trang 1

TRẦN THỊ LAN ANH

NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG

TỪ N ă M 1996 ĐÊ' n n ă m 2000.

C huyên nghành: T ổ chức quản lý D ược

M ã sô ': 03.02.05

l u ậ n v ă n THAC Sĩ D ư ơ c HOC

Người hướng dẫn khoa học; PGS.TS L ê V iết H ùng

H À N Ộ I, 2003

Trang 2

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: PGS TS Lê Viết Hùng, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Dược Hà Nội đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới: PGS.TS Nguyễn Thị Thái Hằng, Chủ nhiệm Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược Trường Đại học Dược Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới: PGS.TS Từ Minh Koóng, Hiệu trưởng Trường Đại học Dược Hà Nội; PGS.TS Phạm Quang Tùng, Trưởng phóng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Dược Hà Nội; đã đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới: Các thày cô giáo bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Dược Hà Nội đã động viên giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám đốc, Phòng Tài chính Kế toán, phòng Tổ chức, Phòng Kế hoạch, phòng Kỹ Thuật và các cán bộ Công ty Dược phẩm Hà Tây đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn; đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn: DS.Lê Văn Lớ - Giám đốc Công ty, DS.Dương Thuý Lan - Phó Giám đốc Công ty,

DS Phạm Trọng Kiểm - Trưởng phòng Kỹ Thuật.

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã khích lệ động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.

Hà Nội, thảng 01 năm 2003

DS Trần Thị Lan Anh

Trang 4

2.1.1 K h á i niệm doanh nghiệp 3

2.1.2 Q uá trình kinh doanh của doanh nghiệp 6

2.1.3 M ụ c tiêu của doanh nghiệp 6

2.1.4 N h ữ n g vấn đ ề kinh t ế cơ bản của doanh nghiệp 7

2.1.5 N hững hình thức cơ cấu tổ chức cơ bản của doanh nghiệp 9 2.1.6 Văn hoá và m ôi trường kinh doanh của doanh nghiệp 10

2.2.3 N ộ i d u n g của ph án tích hoạt độn g kỉnh doanh 16

2.2.4 N h iệm vụ của ph ân tích h oạt độn g kỉnh doanh 17

2.2.5 C ác ph ư ơn g p h á p phân tích h oạt đ ộ n g kinh doanh 19

Trang 5

2 2 6 2 T ình hình sản xuất 23

báo cáo tài chính

2.2.7 C hiến lược kinh doanh 26

2.3 DOANH NGHIỆP NHÀ N ư ớ c VÀ DOANH NGHIỆP D ư ợ c NHÀ N ư ớc 28

PH ẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 39

3.2.1 C ơ cấu tổ chức của côn g ty dược ph ẩm H à T ây 39

ban, phân xưởng

3.2.2 P h ân tích h oạt độn g kỉnh doanh 39

Trang 6

3.2.2.4.T hu nhập bình quân của cán bộ công nhân 40

viên(CBCNV)

báo cáo tài chính

3.3.3 P hư ơng p h á p x ử lý kết quả 43

PH ẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u 44

4.1.1 Chức năn gị nhiệm vụ của côn g ty 44

4.1.2 C ơ cấu tổ chức 48

4.1.3 C ơ cấu nhân lực 50

Trang 7

4.2.6 Thực hiện ngh ĩa vụ vói N h à nước 68

4.2.7 P hán tích h o ạ t đ ộn g kinh doanh tài chính 71

4.2.8 Tình hình ph ân b ổ vốn 76

4.2.9 C ác c h ỉ tiêu p h ả n ánh k h ả năn g thanh toán 78

4.2.10 C ác c h ỉ tiêu v ề năn g lực h oạt đ ộn g kinh doanh 79

4.2.11 C ác c h ỉ tiêu ph ản ánh lợi nhuận kinh doanh 81

4.2.12 M à n g lưới ph ụ c vụ 82

4.2.13 C ác c h ỉ tiêu v ề chuyên m ôn 84

Trang 8

4.3.4.2 Q iiế n lược hớt váng 98

4.3.5 C hiến lược ph ân phối 99

4.3.6 C hiến lược qu ản g cáo tiếp thị 102

PH ẦN 5: BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN 104

5.3.1 Đ ố i với C ôn g ty Dược ph ẩm H à Tây 111

5 3 2 K iế n n g h ị với các c ơ quan qu ản lý N h à nước S Ở Y t ế

H à T áy

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỘT SỐ T ư LIỆU DÙNG TRONG NGHIÊN c ứ u

PHỤ LỤC

Trang 9

và vận hội thì doanh nghiệp đó sẽ tồn tại và tiếp tục phát triển.

Hiện nay, các Doanh nghiệp N hà nước được xem là thành phần chủ đạo, chiếm hầu hết các lĩnh vực trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân Tuy cơ chế đã chuyển đổi được hơn 10 năm, nhưng hoạt động của m ột bộ phận Doanh nghiệp

N hà nước vẫn còn trì trệ, số Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ vẫn nhiều và nợ khó đòi ngày càng tăng Nhược điểm của những Doanh nghiệp này thể hiện qua năng lực quản lý yếu kém, trình độ công nghệ lạc hậu, tư duy kinh doanh lỗi thời Doanh nghiệp Dược N hà nước (DNDNN) là m ột bộ phận quan trọng cấu thành ngành Dược V iệt Nam , đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất, cung ứng thuốc, phục vụ cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước, các DNDNN cũng đã có nhiều bước chuyển biến rõ rệt trong cả khâu sản xuất và kinh doanh

Công ty Dược phẩm Hà Tây là một trong những Doanh nghiệp Dược địa phương có sự chuyển mình phù hợp với cơ ch ế thị trường, được đánh giá cao trong các Doanh nghiệp Dược Nhà nước hiện nay Công ty Dược phẩm Hà Tây được thành lập từ năm 1965 và đến tháng 12 năm 2000, công ty được chuyển đổi thành Công ty cổ phần Dược phẩm Hà Tây, với tên giao dịch là Hataphar Hoà nhập với xu th ế phát triển chung của ngành Dược trong nước và khu vực, giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2000 Công ty Dược phẩm Hà Tây đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể; công ty đã tiến hành chủ trương đa dạng hoá kinh doanh, kết hợp sản xuất và kinh doanh, không ngừng đầu tư dây chuyền sản xuất, mở rộng

Trang 10

tài: ‘‘Nghiên cứu và phán tích hoạt động kinh doanh của Công ty Dược phẩm

H à Tây thông qua m ột sô' ch ỉ tiêu kinh t ế từ năm 1996 đến năm 2000*' nhằm

các mục tiêu sau:

Tây thông qua một số chỉ tiêu kinh tế giai đoạn 1996-2000

ty, từ đó xác định nguyên nhân

Hà Tây nhằm khắc phục những khó khăn hiện tại và phát huy những tiềm năng để công ty phát triển trong tương lai

Trang 11

TỔNG QUAN

2.1 CÁC VẤN ĐỂ CHUNG VỂ DOANH NGHIỆP

2.1.1 K hái niệm doanh nghiệp

Kinh doanh là việc thực hiện một, m ột số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, tữ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoăc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.Trong một xã hội bất kỳ, kinh doanh lành mạnh luôn là nền tảng của sự phát triển kinh tế, còn các doanh nghiệp là chất xúc táctích cực cho những hoạt động kinh doanh hàng ngày [34]

Doanh nghiệp là một trong các chủ thể kinh doanh chủ yếu của xã hội

Luật Công ty nước ta xác định; " Doanh nghiệp là m ột đơn vị kinh tê được

thành lập đ ể thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh /ờ ỉ”[21].

" Doanh nghiệp là tổ chức kỉnh t ế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở

giao dịch ổn định, được đăng k ý kỉnh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh M ỗi doanh nghiệp có con dấu riêng của m in h ”- Luật Doanh nghiệp 1/2000.

Viện thống kê và nghiên cứu kinh tế Pháp ( INSEE) thì cho rằng: Doanhnghiệp là một tổ chức (tác nhân) mà chức năng của nó là sản xuất ra các của cải vật chất hoặc các dịch vụ dùng để bán Doanh nghiệp được khái quát trong sơ đồ sau:

Hỉnh 1: Khái quát vê doanh nghiệp.

Trang 12

lập, tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc công ích, thực hiện quyền và nghĩa vụ được điều chỉnh theo “Luật Doanh nghiệp” và Luật pháp Việt Nam nhằm vào các mục tiêu kinh tế và xã hội.

Trong nền kinh tế thị trường, tất cả các công dân có đủ các điều kiện đều

có thể đăng ký tiến hành kinh doanh bằng cách thành lập và quản lý doanh nghiệp như ở điều 9, Luật Doanh nghiệp Sự xuất hiện nhu cầu của xã hội về một mặt hàng hay m ột dịch vụ nào đó sẽ kích thích sự ra đời của các cơ sở kinh doanh mới, cũng như một số cơ sở kinh doanh đã có, nhảy vào cung cấp mặt hàng hay dịch vụ đó Tương quan giữa cầu (mức độ tiêu thụ của thị trường về một loại hàng hoá hay dịch vụ cụ thể) và cung (Mức độ sản xuất ra hàng hoá hay dịch vụ của cơ sở kinh doanh) sẽ quyết định đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tham gia Do đó, một đặc điểm nổi bật của kinh doanh trong cơ chế thị trường là sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp tham gia cung cấp cùng một loại hàng hoá hay dịch vụ như nhau[34]

2.1.1.1 Đặc điểm chung của doanh nghỉệp[21]

- Doanh nghiệp là các tổ chức, các đơn vị được thành lập chủ yếu để tiến

hành các hoạt động kinh doanh

- Doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh có quy mô đủ lớn( vượt quy

mô của các cá thể, các hộ gia đình )như hợp tác xã, công ty, xí nghiệp, tập đoàn T huật ngữ doanh nghiệp có tính quy ước để phân biệt với lao động độc lập hoặc người lao động và hộ gia đình của họ

- Doanh nghiệp là một tổ chức sống, theo nghĩa nó cũng có vòng đời của

nó từ lúc thực hiện một ý đồ, suy giảm hoặc tăng trưởng các bước thăng trầm phát triển hoặc bị diệt vong

2.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp

Tuỳ theo hình thức sở hữu, mức độ huy động vốn m à hình thành các loại hình doanh nghiệp khác nhau Mỗi nước có những đặc thù riêng, nhưng tựu chung lại thường phổ biến các loại hình doanh nghiệp sau:

Trang 13

nhân, thường được coi là một người lao động độc lập, với nguồn vốn từ nguồn thừa k ế gia đình và huy động trong gia tộc, bạn bè, dạng doanh nghiệp này thường là nhỏ hoặc rất nhỏ và rất ít khi thuê thêm công nhân ngoài gia đình.

- Công ty nhân sự: chủ sở hữu là hai người trở lên và nguồn vốn của doanh nghiệp là sự hợp thành từ phần góp của những chủ sở hữu này Đây là dạng công ty có tư cách pháp nhân và thường có hai dạng: Công ty hợp danh hay còn gọi là công ty danh nghĩa tập thể, thường được lập ra từ gia đình và Công ty hợp tư hay còn gọi là công ty hùn vốn đơn giản Việc thành lập Công ty nhân sự phụ thuộc rất nhiều vào nhân cách của những người hợp tác

- Công ty tư bản: Là dạng doanh nghiệp lớn hơn hai dạng trên và đang rất phổ biến hiện nay Đây là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân với nguồn tư bản chủ yếu dựa trên việc tổng hỢp nguồn đóng góp của các thành viên (đồng thời là chủ sở hữu) và ít quan hệ đến nhân cách của họ Phổ biến nhất có 3 dạng: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp tác lao động sản xuất (hay còn gọi là Hợp tác xã sản xuất)

* Theo quy mô thu nhập, doanh nghiệp có 3 loại: quy mô lớn, vừa và nhỏ.Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình phổ biến nhất ở nền kinh tế nhiều nước Đó là loại hình m à các nước công nghiệp hoá ưa thích sử dụng để thâm nhập và đầu tư vào các nước đang phát triển

* Theo phương thức kinh doanh, các doanh nghiệp được phân thành các dạng như sau: sản xuất hàng hoá (sản phẩm/dịch vụ), thương mại (mua bán), môi giới tư vấn tri thức, móc nối giữa các doanh n ghiệp

* Theo ý đồ, thực chất của hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp hoạt động kinh tế trá hình (tình báo, chính t r ị )•

Trang 14

tiên là nghiên cứu, xác định nhu cầu thị trường và hàng hoá dịch vụ đến khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường của doanh nghiệp và cuối cùng là việc tổ chức tiêu thụ hàng hoá và thu tiền về cho doanh nghiệp Quá trình này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu:[5]

- Nghiên cứu nhu cầu thị trường và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường

để quyết định: sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu (với doanh nghiệp sản xuất) và cần m ua hàng hoá gì, m ua bao nhiêu (với doanh nghiệp buôn bán)

- Tổ chức hợp lý hiệu quả việc sản xuất hoặc m ua bán hàng hoá đã chọn theo nhu cầu của thị trường Phải chủ động, biết khai thác các tiềm năng sẵn

c ó .Vấn đề thời cơ trong kinh doanh phải đặc biệt quan tâm

- Tổ chức tốt việc bán hàng hoá và thu tiền về cho doanh nghiệp để hoàn thành quá trình kinh doanh và chuẩn bị ngay quá trình kinh doanh tiếp theo

2.1.3 M ục tiêu của doanh nghiệp [21]

- M ục tiêu lợi nhuận: Doanh nghiệp cần có lợi nhuận để bù đắp lại chi

phí sản xuất, những rủi ro gặp phải và để tiếp tục phát triển Nếu không có lợi nhuận, doanh nghiệp không thể trả công cho người lao động, duy trì việc làm lây dài của họ, cũng như không thể cung cấp lâu dài hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng và cộng đồng

- M ục tiêu cung ứng; Doanh nghiệp phải cung ứng hàng hoá hay dịch vụ

để thoả mãn nhu cầu của khách hàng, nói rộng ra là của công chúng, mới xứng đáng để thu được lợi nhuận Vì th ế mục tiêu này còn là nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với xã hội và nhờ thực hiện mục tiêu này m à doanh nghiệp mới có thể tồn tại Do đó, mục tiêu này cũng cần được thay đổi cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của công ehúng và tình hình cạnh tranh trên thị trường

- M ục tiêu phát triển: Trong nền kinh tế đang m ở mang thì phát triển là

một dấu hiệu của sự lành mạnh và của sự thành công trong hoạt động kinh

Trang 15

cần tìm cách bổ sung thêm vốn hoặc sử dụng một phần lợi nhuận để đầu tư thêm.

- Trách nhiệm đối với x ã hội; Cùng với việc kiếm lời, doanh nghiệp

đồng thời có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của khách hàng, của người cung ứng

đầu vào cho m ình và của những người làm công trong doanh nghiệp, nói rộng ra

là quyền lợi của công chúng Trách nhiệm đối với xã hội còn ở chỗ trong hoạt

động kinh doanh, phải tôn trọng luật pháp và bảo vệ môi trường xung quanh

Ngoài ra còn cần phải quan tâm đến khuynh hướng tiêu thụ trong các mục tiêu

của m ình K huynh hướng này không trái với quyền lợi của doanh nghiệp, song

nó đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn đảm bảo chất lượng hàng hoá và dịch vụ

bán ra

2.1.4 Những vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp[5].

Muốn phát triển m ột doanh nghiệp phải giải quyết được ba vấn đề kinh tế

cơ bản: Quyết định sản xuất cái gì, quyết định sản xuất như th ế nào và quyết định

sản xuất cho ai

a) Q uyết định sản xuất cái gì: đòi hỏi phải làm rõ nên sản xuất hàng hoá,

dịch vụ gì với số lượng bao nhiêu, bao giờ thì sản xuất

Nhu cầu của thị trường về hàng hoá và dịch vụ rất phong phú, đa dạng và

ngày mộl tăng cả về số lượng và chất lượng Nhưng trên thực tế nhu cầu có khả

năng thanh toán lại thấp hơn, cho nên muốn thoả m ãn nhu cầu lớn trong khi khả

năng thanh toán có hạn, xã hội và con người phải lựa chọn từng loại nhu cầu có

lợi nhất cho xã hội, cho người tiêu dùng Tổng số các nhu cầu có khả năng thanh

toán của xã hội, của người tiêu dùng cho ta biết được nhu cầu có khả năng thanh

toán của thị trường Nhu cầu này là căn cứ, là xuất phát điểm để định hướng cho

các chính phủ và các nhà kinh doanh quyết định việc sản xuất và cung ứng của

mình Trên cơ sở nhu cầu của thị trường, các chính phủ và các nhà kinh doanh

tính toán khả năng sản xuất của nền kinh tế, của doanh nghiệp và các chi phí sản

Trang 16

xuất tương ứng để lựa chọn và quyết định sản xuất và cung ứng cái mà thị trường cần để có thể đạt lợi nhuận tối đa.

b) Q uyết định sản xuất như th ế nào: do ai và những tài nguyên với hình

thức công nghệ nào, phương pháp sản xuất nào

Sau khi đã lựa chọn được cần sản xuất cái gì, các chính phủ, các nhà kinh doanh phải xem xét và lựa chọn việc sản xuất những hàng hoá và dịch vụ đó như thế nào để sản xuất nhanh và nhiều hàng hoá theo nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất, cạnh tranh thắng lợi trên thị trường để có lợi nhuận cao nhất Động cơ lợi nhuận đã khuyến khích các nhà doanh nghiệp tìm kiếm , lựa chọn các đầu vào tốt nhất với chi phí thấp nhất, lụa chọn các phương pháp sản xuất có hiệu quả nhất Phương pháp đó kết hợp tất cả các đầu vào để sản xuất ra đẩu ra nhanh nhất, sản xuất được nhiều nhất và chất lượng cao nhất với chi phí thấp nhất Chất lượng hàng hoá dịch vụ là vấn đề có ý nghĩa quyết định sống còn trong cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường, chất lượng cao đảm bảo chữ tín của doanh nghiệp với bạn hàng, chiếm lĩnh được thị trường và cạnh tranh thắng lợi

c) Q uyết định sản xuất cho ai: đòi hỏi phải xác định rõ ai sẽ được hưởng

và được lợi từ những hàng hoá và dịch vụ của đất nước

Thị trường quyết định giá cả của các yếu tố sản xuất, do đó thị trường cũng quyết định thu nhập của các đầu ra - thu nhập về hàng hoá dịch vụ Thu nhập của xã hội, của tập thể hay của cá nhân phụ thuộc vào quyền sở hữu và giá trị của các yếu tố sản xuất, phụ thuộc vào lượng hàng hoá và giá cả của các hàng hoá dịch vụ Vấn đề mấu chốt ở đây cần giải quyết là những hàng hoá và dịch vụ sản xuất phân phối cho ai để vừa có thể kích thích mạnh mẽ sự phát triển kinh tế

có hiệu quả cao, vừa đảm bảo công bằng xã hội v ề nguyên tắc thì cần đảm bảo cho mọi người lao động được hưởng và được lợi từ những hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp đã tiêu thụ căn cứ vào những cống hiến của họ (cả lao động sống và lao động vật hoá) đối với quá trình sản xuất ra những hàng hoá và dịch

vụ ấy, đồng thời chú ý thoả đáng đến những vấn đề xã hội đối với con người

Trang 17

thành các phòng ban như: nhân sự, m arketing, tài chính, điều hành sản xuất T rong các tổ chức dựa nhiều vào sự chuyên môn hoá chức năng có thể xuất hiện những xu hướng sau:

- Nhấn m ạnh tới chất lượng đứng trên quan điểm kỹ thuật

- Khó thay đổi, đặc biệt nếu thay đổi trong m ột lĩnh vực chức năng là cần thiết để hỗ trợ cho các lĩnh vực chức năng khác nhau

- Khó phối hợp các hoạt động của những lĩnh vực chức năng khác nhau, đặc biệt là nếu tổ chức phải luôn điều chỉnh với các điều kiện bên ngoài đang thay đổi

* C ơ cấu theo sản phẩm , dịch vụ, khách hàng hoặc thị trường: cơ cấu

này phân theo nhóm các cá nhân và nguồn lực theo sản phẩm, dịch vụ, khách hàng hoặc thị trường Cơ cấu này thường được sử dụng để đáp ứng các đe doạ và

cơ hội của môi trường

Nhiều doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn rộng, tiêu thụ sản phẩm ở cả trong nước và quốc tế thường sử dụng việc phân chia phòng, ban theo lãnh thổ Khi doanh nghiệp có những mảng khách hàng khác nhau cần phải đạc biệt quan tâm, doanh nghiệp sẽ tổ chức cơ cấu theo khách hàng Trong các doanh nghiệp dựa vào sự chuyên m ôn hoá kiểu này có thể diễn ra các xu hướng:

- Nhấn m ạnh sự m ềm dẻo và sự đáp ứng đối với các nhu cầu của các đơn

vị bên ngoài quan trọng

- Chậm về chất lượng kỹ thuật của sản phẩm và dịch vụ khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh theo cơ cấu chức năng

- Khó phối hợp các phân khoa, đặc biệt khi các bộ phận của cơ cấu phải làm việc chặt chẽ hoặc bán sản phẩm cho nhau

* C ơ cấu theo khu vực địa lý: cơ cấu này thường được các doanh nghiệp

hoạt động kinh doanh trong nhiều khu vực thị trường khác nhau áp dụng Tại mỗi

Trang 18

khu vực địa lý, ban lãnh đạo doanh nghiệp giao quyền cho nhà quản trị đứng đầu

bộ phận đảm nhiệm tất cả các chức năng, thay vì phân chia mỗi chức năng cho một nhà quản trị đảm nhiệm hay tập trung tất cả mọi công việc về văn phòng trung tâm M ỗi đơn vị của tổ chức hoạt động tại m ột khu vực thị trường có thể trực tiếp theo sát mọi biến động và đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu của khách hàng

* C ơ cấu tổ chức ma trận: Là loại bỏ cơ cấu tổ chức dựa trên những hệ

thống quyền lực và hỗ trợ nhiều chiều Cơ cấu này tạo ra một giám đốc dự án là người chịu trách nhiệm phối hợp các hoạt động của các bộ phận và phân chia quyền lực với cả các nhà quản trị theo chức năng và các nhà quản trị sản phẩm Trong một cơ cấu m a trận có hai tuyến quyền lực, tuyến chức năng hoạt động theo chiều dọc và tuyến sản phẩm hay dự án hoạt động theo chiều ngang

Cơ cấu tổ chức m a trận được sáng tạo ra nhằm tận dụng những lợi điểm của cả mô hình cơ cấu tổ chức theo chức năng và mô hình tổ chức theo sản phẩm, đồng thời tối thiểu hoá những bất lợi của chúng Cơ cấu này phá vỡ những rào cản bằng cách cho phép các nhân viên từ các bộ phận chức năng khác nhau đóng góp những kỹ năng của họ trong việc giải quyết những vấn đề chung của tổ chức

Do đó làm tăng khả năng sử dụng các nguồn nhân lực và tài chính của doanh nghiệp nhằm thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh Cơ cấu tổ chức đòi hỏi tính linh hoạt và hợp tác tại tất cả các cấp của tổ chức

2.1,6 Văn hoá và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

2.1.6.1 Văn hoá của doanh nghiệp

Văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống tư duy, hành động của con người trong doanh nghiệp nhất định đã được nâng lên thành phong cách chung của mỗi thành viên

Văn hoá doanh nghiệp là khái niệm mô tả những đặc tính chung, ổn định của doanh nghiệp, cho phép ta phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác Văn hoá doanh nghiệp cũng được hiểu là những giá trị chung của một doanh nghiệp có ảnh hưởng đến cách thức suy nghĩ, hành động của các thành

Trang 19

viên trong doanh nghiệp Nói cách khác văn hoá doanh nghiệp là những giới hạn trong đó qui định những gì các thành viên của doanh nghiệp được phép hoặc không được phép làm Những giới hạn này có thể được thể hiện trong các qui định, qui chế của doanh nghiệp nhưng cũng có thể là những qui ước bất thành văn Nó có thể bao gồm cách thức ra quyết định, mức độ kiểm soát nhân viên thông qua qui chế, việc sử dụng các hình thức, quan hệ giao tiếp trong doanh nghiệp, các hoạt động vui chơi giải trí, mức độ chấp nhận đối lập, rủi r o

Văn hoá doanh nghiệp tạo ra uy tín, danh tiếng và sức sống cho doanh nghiệp

2.1.6.2 M ôi trường kinh doanh của doanh nghiệp

Một tổ chức không tồn tại biệt lập mà thường xuyên tác động qua lại với môi trường Những sự thay đổi từ các yếu tố môi trường xung quanh, có thể tạo

ra những cơ hội, hoặc là nguy cơ đe doạ sự tồn tại và phát triển của nó Quản trị một tổ chức, hiệu quả không chỉ đòi hỏi phải giải quyết những vấn đề mang tính chất nội bộ, như: giá thành, năng suất, chất lượng m à điều quan trọng hơn là phải quản trị được các yếu tố tác động từ môi trường Chính vì lẽ đó, các nhà quản trị đều cần dành nhiều thời gian để khảo sát và dự đoán xu hướng biến đổi của môi trường và coi đó như là một công việc đầu tiên, phải tiến hành thường xuyên trong công tác của mình Kết quả việc nghiên cứu môi trường sẽ cung cấp cho các nhà quản trị những dữ liệu quan trọng, làm cơ sở cho việc thực hiện các chức năng trong quản trị từ việc hoạch định đến khả năng tổ chức, điều khiển và kiểm soát [21]

* K hái niệm: Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tập hợp các lực

lượng bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng đến khă năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp có các đặc điểm sau:

- Tồn tại m ột cách khách quan, không có một doanh nghiệp nào không tồn tại trong một môi trường kinh doanh nhất định

Trang 20

- Có tính tổng thể, bao gồm nhiều yếu tố cấu thành có quan hệ qua lại ràng buộc lẫn nhau và thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế xã hội.

- Môi trường kinh doanh và các yếu tố cấu thành luôn vận động và biến đổi Sự vận động và biến đổi của các yếu tố môi trường chịu sự tác động của qui luật vận động nội tại của nền kinh tế và của từng yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh theo hướng ngày càng phát triển và hoàn thiện

- Là một hệ thống mở, nó có quan hệ và chịu sự tác động của môi trường kinh doanh rộng lớn hơn - môi trường kinh doanh của cả nước và quốc tế

* Phân loại: M ôi trường kinh doanh của doanh nghiệp rất đa dạng và

phong phú, để kiểm soát được môi trường, cần thiết phải phân tích đánh giá từng lực lượng để phục vụ cho mục tiêu của doanh nghiệp

a) Nếu căn cứ vào nội dung thì môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các môi trường bộ phận: môi trường kinh tế, kỹ thuật, luật pháp và thể chế, chính trị, văn hoá, xã hội, tự nhiên và sinh thái

b) Nếu căn cứ vào phạm vi xem xét, gồm có: môi trường bên ngoài hoặc môi trường nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp (môi trường vi mô và môi trường vĩ mô):

+ M ôi trường vĩ mô: Nó thường gồm các yếu tố thể ch ế có tác động ảnh hưởng chung đến các doanh nghiệp khác nhau Các yếu tố môi trường này thường bao gồm: các điều kiện về kinh tế, chính trị, pháp luật, xã hội, tự nhiên và công nghệ

+ Môi trường vi mô: (hay còn gọi là môi trường đặc thù hoặc môi trường tác nghiệp) Đây là môi trường gồm các yếu tố, thể chế có ảnh hưởng đến một số ngành hoặc một số doanh nghiệp nhất định Các yếu tố môi trường này thường bao gồm: khách hàng, các đối thủ cạnh tranh, những người cung cấp, các nhóm

áp lực Khi xác định môi trường vi mô của m ột doanh nghiệp cần phải căn cứ vào: ngành nghề kinh doanh, thị trường mục tiêu của mỗi doanh nghiệp; sự thay đổi một trong hai yếu tố này sẽ làm thay đổi môi trường vi mô của doanh nghiệp

Trang 21

Môi trường nội bộ doanh nghiệp bao gồm các yếu tố và hệ thống bên trong của doanh nghiệp như nguồn nhân lực, tài chính, nghiên cứu và phát triển,

m arketing, nề nếp tổ chức chung

Môi trường nội bộ doanh nghiệp bao hàm các nguồn lực nội bộ của doanh nghiệp M ôi trường nội bộ doanh nghiệp phải gắn bó, hoà nhập với môi trường bên ngoài [17]

Các loại môi trường trên có mối quan hệ m ật thiết, tác động qua lại, tạo cơ

sở và tiền đề lẫn nhau Sự thay đổi môi trường vĩ mô có tác động ảnh hưởng đến môi trường vi mô và môi trường nội bộ Ngược lại, sự thay đổi của môi trường nội bộ và môi trường vi mô, xét cho cùng sẽ dẫn đến sự thay đổi của môi trường

vĩ mô

Các loại môi trường phân loại theo các tiêu thức có thể khái quát theo sơ đồ:

MÒI TRƯỜNG VĨ MÔ

1 Các đối thủ cạnh tranh

2 Khách hàng

3 Những người cung cấp

4 Các nhóm áp lực MỎI TRƯỜNG NỘI BỘ

6 Văn hoá của tổ chức

H ình 2: Các loại m ôi trường tác động đến doanh nghiệp

Trang 22

2.2 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

2.2.1 Khái niệm

Phân tích hoạt động kinh doanh mang nhiều tính chất khác nhau và phụ thuộc vào đối tượng cũng như các giải pháp quản lý m à ta áp dụng Có nhiều loại hình phân tích kinh tế nhưng chúng đều có m ột cơ sở chung và phụ thuộc vào đối tượng phân tích Các phương pháp phân tích kinh tế quốc dân, phân tích lãnh

th ổ được nghiên cứu ở các môn học khác, phân tích kinh tế của ngành, xí nghiệp, công ty được coi là m ôn khoa học riêng và được giảng dạy trong các trường đại học, thường được gọi là phân tích hoạt động kinh doanh

Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu, để đánh giá toàn

bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp, nhằm làm rõ chất

lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ

sở đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp

Trước đây trong điều kiện sản xuất kinh doanh đơn giản với qui mô nhỏ, yêu cầu thông tin cho nhà quản trị chưa nhiều và chưa phức tạp, công việc phân tích cũng được tiến hành giản đơn, có thể thấy ngay trong công tác hạch toán Khi sản xuất kinh doanh càng phát triển, thì nhu cầu đòi hỏi thông tin cho nhà quản trị càng nhiều, đa dạng và phức tạp Phân tích hoạt động kinh doanh hình thành và phát triển như một môn khoa học độc lập để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị

Người ta phân biệt phân tích, như là một hoạt động ihực tiễn, vì phân tích hoạt động kinh doanh luôn đi trước quyết địng và là cơ sở cho việc ra quyết định kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh như là một ngành khoa học, nó nghiên cứu các các phương pháp phân tích có hệ thống và tìm ra những giải pháp

áp dụng chúng ở mỗi doanh nghiệp

N hư vậy phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nhận thức và cải tạo hoạt động kinh doanh, m ột cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều

Trang 23

kiện cụ th ể và với yêu cầu của các quy luật kinh t ế khách quan, nhằm đem lại hiệu quả kỉnh doanh cao hơn [12],[18].

2.2.2 Ý nghĩa

- Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh, mà còn là công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh

Bất kỳ hoạt động kinh doanh trong các điều kiện hoạt động khác nhau như thế nào đi nữa, cũng còn những tiềm ẩn, khả năng tiềm tàng chưa đựơc phát hiện, chỉ thông qua phân tích doanh nghiệp mới có thể phát hiện được, và khai thác chúng để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn Thông qua phân tích doanh nghiệp mới thấy rõ nguyên nhân cùng nguồn gốc của các vấn đề phát sinh và có giải pháp cụ thể để cải tiến quản lý

- Phân tích hoạt động kinh doanh cho phép các nhà doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp của mình Chính trên cơ sở này các doanh nghiệp sẽ xác định đúng đắn mục tiêu cùng các chiến lược kinh doanh có hiệu quả

- Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để ra các quyết định kinh doanh[38]

- Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng trong những chức năng quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp

- Phân tích là quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh, là cơ sở cho việc

ra quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là các chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động kinh doanh để đạt các mục tiêu kinh doanh

- Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừarủi ro

Để kinh doanh đạt hiệu quả mong muốn, hạn ch ế rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải biết tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời

dự đoán các điều kiện kinh doanh trong thời gian tới, để vạch ra chiến lược kinh

Trang 24

doanh cho phù hợp Ngoài việc phân tích các điều kiện bên trong doanh nghiệp

về tài chính, lao động, vật tư doanh nghiệp còn phải quan tâm phân tích các điều kiện tác động ở bên ngoài như thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh T rên cơ sở phân tích trên, doanh nghiệp dự đoán các rủi ro có thể xảy ra

và có k ế hoạch phòng ngừa trước khi xảy ra

- Tài liệu phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ cần thiết cho các nhà quản trị ở bên trong doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng bên ngoài khác, khi họ có mối quan hệ về nguồn lợi với doanh nghiệp, vì thông qua phân tích họ mới có thể có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác đầu tư, cho vay với doanh nghiệp nữa hay không?[12],[37],[32]

2.2.3 Nội dung của phân tích hoạt động kinh doanh

Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ cung cấp thông tin để điều hành hoạt động kinh doanh cho các nhà quản trị doanh nghiệp (và đồng thời cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng bên ngoài khác nữa) Những thông tin này thường không có sẵn trong các báo cáo k ế toán tài chính hoặc trong bất

cứ tài liệu nào của doanh nghiệp Để có những thông tin này người ta phải thông qua quá trình phân tích

Với tư cách là môn khoa học, độc lập, Phân tích hoạt động kinh doanh có đối tượng riêng Trong phạm vi nghiên cứu của m ình nó là một hoạt động kinh doanh và đồng thời cũng là m ột hiện tượng xã hội đặc biệt

Nội dung của Phân tích hoạt động kinh doanh là đánh giá quá Trìn h hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh, với sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng và được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế

Phân tích là đánh giá quá trình hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh, kết quả hoạt động kinh doanh có thể là kết quả kinh doanh đã đạt được hoặc kết quả của các mục tiêu trong tương lai cần phảỉ đạt được, và như vậy kết quả hoạt động kinh doanh thuộc đối tượng của phân tích Kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm tổng hợp của cả quá trình hình thành, do đó kết quả phải là riêng biệt và trong từng thời gian nhất định, chứ không thể là kết quả chung chung Các kết

Trang 25

quả hoạt động kinh doanh, nhất là hoạt động theo cơ chế thị trường cần phải định hướng theo mục tiêu dự toán Quá trình định hướng hoạt động kinh doanh được định lượng cụ thể thành các chỉ tiêu kinh tế và phân tích cần hướng đến các kết quả của các chỉ tiêu để đánh giá.

Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ dừng lại ở đánh giá biến động của kết quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế m à còn đi sau xem xét các nhân tố ảnh hưởng tác động đến sự biến động của chỉ tiêu N hân tố là những yếu

tố tác động đến chỉ tiêu, tuỳ theo mức độ biểu hiện và mối quan hệ với chỉ tiêu,

mà nhân tố tác động theo chiều hướng thuận hoặc nghịch đến chỉ tiêu

Quá trình phân tích hoạt động kinh doanh cần định lượng tất cả các chỉ tiêu là biểu hiện kết dủa hoạt động kinh doanh (đối tượng của phân tích) và các nhân tố ở những trị số xác định cùng với độ biến động xác định

Vậy muốn phân tích hoạt động kinh doanh trước hết phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, cùng với việc xác định mối quan hệ phụ thuộc của các nhân tố tác động đến chỉ tiêu Xây dựng mối liên hệ giữa các chỉ tiêu khác nhau

để phản ánh được tính phức tạp đa dạng của nội dung phân tíc h [12]

2.2.4 Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh[12],[18]

* Kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động thông qua các ch ỉ tiêu kinh tế

đ ã xây dựng.

Nhiệm vụ trước tiên của phân tích là đánh giá và kiểm tra khái quát giữa kết quả đạt được so với các mục tiêu kế hoạch, dự toán, định m ứ c đã đặt ra để khẳng định tính đúng đắn và khoa học của chỉ tiêu xây dựng, trên một số mặt chủ yếu của quá trình hoạt động kinh doanh

Ngoài quá trình đánh giá trên phân tích cần xem xét đánh giá tình hình chấp hành các qui định, các thể lệ thanh toán, trên cơ sở tôn trọng pháp luật của nhà nước đã ban hành và luật trong kinh doanh quốc tế Thông qua quá trình kiểm tra, đáíĩh &íặ>j^ười ta có được cơ sở là cơ sở định hướng để nghiên cứu sâu hơn ở/các bước sau 'ntóm làm rõ các vấn đề mà doanh nghiệp cần quan tâm

Trang 26

* Xác định các nhân tô ảnh hưởng của các ch ỉ tiêu và tìm nguyên nhân

gáy nên các mức độ ảnh hưởng đó.

Biến động của chỉ tiêu là do ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố gây nên,

do đó ta phải xác định trị số của các nhân tố và tìm nguyên nhân gây nên các mức độ ảnh hưởng đó

* Đê xuất các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng và khắc phục những

tồn tại yếu kém của quá trình hoạt động kinh doanh.

Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ đánh giá kết quả chung chung,

m à cũng không chỉ dừng lại ở chỗ xác định nhân tố và tìm nguyên nhân, mà phải

từ cơ sở nhận thức đó phát hiện các tiềm năng cần phải được khai thác, và những chỗ còn tồn tại yếu kém, nhằm đề xuất giải pháp phát huy th ế mạnh và khắc phục tồn tại ở doanh nghiệp của mình

* X ây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào mục tiêu đ ã định.

Quá trình kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh là để nhận biết tiến độ thực hiện và những nguyên nhân sai lệch xảy ra, ngoài ra còn giúp cho doanh nghiệp phát hiện những thay đổi có thể xảy ra tiếp theo Nếu như kiểm tra và đánh giá đúng đắn, nó có tác dụng giúp cho doanh nghiệp điều chỉnh kế hoạch và đề ra các giải pháp tiến hành trong tương lai

Định kỳ doanh nghiệp phải tiến hành kiểm tra và đánh giá trên mọi khía cạnh hoạt động, đồng thời căn cứ vào các điều kiện tác động ở bên ngoài, như môi trường kinh doanh hiện tại và tương lai để xác định vị trí của doanh nghiệp đang đứng ở đâu và hướng đi đâu, các phương án xây dựng chiến lược kinh doanh có còn thích hợp nữa hay không? Nếu không phù hợp thì cần phải điều chỉnh kịp thời

Nhiệm vụ của phân tích nhằm xem xét dự báo, dự toán có thể đạt được trong tương lai rất thích hợp với chức năng hoạch định các mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Trang 27

2.2.5 Các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh

2.2.5.1 Phương pháp so sánh

a) Lựa chọn tiêu chuẩn đ ể so sánh: tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của

một kỳ được lựa chọn làm căn cứ để so sánh, được gọi là gốc so sánh Tuỳ theo mục đích của nghiên cứu m à lựa chọn gốc so sánh thích hợp Các gốc so sánh có thể là:

- Tài liệu năm trước (kỳ trước), nhằm đánh giá xu hướng phát triển của các chỉ tiêu

- Các mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự toán, định mức) nhằm đánh giá tình hình thực hiện so với k ế hoạch, dự toán, định mức

- Các chỉ tiêu trung bình của ngành, khu vực kinh doanh, nhu cầu đơn đặt hàng Nhằm khẳng định vị trí của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cầu

b) Điều kiện so sánh được: để phép so sánh có ý nghĩa thì điều tiên quyết

là các chỉ tiêu được sử dụng phải đồng nhất

- Về m ặt thời gian: là các chỉ tiêu được tính trong cùng một khoảng thời gian hạch toán phải thống nhất trên 3 mặt: cùng phản ánh nội dung kinh tế, cùng một phương pháp tính toán, cùng một đơn vị đo lường

- Về mặt không gian: các chỉ tiêu cần phải được quy đổi về cùng quy mô

và điều kiện kinh doanh tương tự nhau

- Để đảm bảo tính đồng nhất người ta cần phải quan tâm tới phương diện được xem xét mức độ đồng nhất có thể chấp nhận được, độ chính xác cần phải

có, thời gian phân tích được cho p h ép

c) K ỹ thuật so sánh.

- So sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân

tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện khối lượng quy mô của các hiện tượng kinh tế

Trang 28

- So sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia, giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế, kết quả so sánh biểu hiện kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức phổ biến của các hiện tượng kinh tế.

- So sánh bằng số bình quân: số bình quân là dạng đặc biệt của số tuyệt đối, biểu hiện tính chất đặc trưng chung về m ặt số lượng, nhằm phản ánh đặc điểm chung của m ột đơn vị, một bộ phận, hay một tổng thể chung có cùng một tính chất

- So sánh mức biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô chung:

là kết quả so sánh của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với trị số kỳ gốc đã được điều chỉnh theo hệ số của chỉ tiêu có liên quan theo hướng quyết định quy

mô chung

Quá trình phân tích theo kỹ thuật của phương pháp so sánh có thể thực hiện theo 3 hình thức sau: So sánh theo chiều dọc; So sánh theo chiều ngang; So sánh xác định xu hướng và tính liên hệ của các chỉ tiêu

2 2 5 2 Phương pháp phân tích nhân tố

Phương pháp phân tích nhân tố là phân tích các chỉ tiêu tổng hợp và phân tích các nhân tố tác động vào các chỉ tiêu ấy Quá trình phân tích nhân tố được thể hiện qua sơ đồ sau:

Hình 3: Quá trình phân tích nhân tô.

Trang 29

Phân tích nhân tố được chia thành phân tích thuận và phân tích nghịch Phân tích nhân tố thuận là phân tích các chỉ tiêu tổng hợp sau đó mới phân tích các chỉ tiêu hợp thành nó Phân tích nhân tố nghịch thì ngược lại, trước hết phân tích từng nhân tố của chỉ tiêu tổng hợp, rồi trên cơ sở đó tiến hành phân tích tổng hợp Chỉ tiêu tổng hợp và nhân tố hợp thành có những mối quân hệ nhất định Các mối quan hệ được chia thành xác suất và xác định Phân tích xác suất và xác định còn mang tính không gian tĩnh và thời gian động Phân tích tĩnh là khôngxét đến vấn đề biến động Phân tích động là xét đến sự phụ thuộc vào thời gian,nghĩa là xét biến động của các nhân tố thời gian.

2.2.5.3 Phương pháp cán đối

Trong quá trình hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp hình thành nhiều mối quan hệ cân đối; cân đối là sự cân bằng giữa hai m ặt của các yếu tố với quá trình kinh doanh

Lấy một chỉ tiêu nào đó của một năm làm gốc rồi so sánh với các chỉ tiêu

đó của năm sau

b) N hịp m ất xích (so sánh liên hoàn)

Lấy các chỉ tiêu thực hiện của một năm so sánh ngay với năm trước đó

+ Con số phải tương đối ổn định

Trang 30

Ý nshĩa: + Nhịp cơ sở X cho biết xu hướng phát triển của chỉ tiêu tăng

hay giảm so với m ột năm Thường chọn năm gốc làm năm đầu tiên của dãy so sánh nếu xu hướng tăng hay giảm Nếu chỉ số không có xu hướng thì chọn một năm nào đó để làm gốc Cơ số mẫu phải ^ 5

+ Nhịp m ắt xích Y cho biết tốc độ phát triển của chỉ tiêu tăng hay giảm so với năm trước đó Cơ số mẫu phải ^ 5

2 2 5 5 Phương pháp phân tích chỉ tiết

♦ Chi tiết theo bộ phận cấu thành của chỉ tiêu; Các chỉ tiêu kinh tế thường được chi tiết thành các yếu tố cấu thành N ghiên cứu chi tiết giúp ta đánh giá chính xác yếu tố cấu thành của các chỉ tiêu kinh tế phân tích

♦ Chi tiết theo thời gian: Các kết quả kinh doanh bao giờ cũng là một quá trình trong từng khoảng thời gian nhất định Mỗi khoảng thời gian khác nhau có những nguyên nhân tác động không giống nhau Việc phân tích chi tiết này giúp ta đánh giá chính xác và đúng đắn kết quả kinh doanh, từ đó có các giải pháp hiệu lực trong lừng khoảng thời gian

kinh doanh do nhiều bộ phận, theo phạm vi và địa điểm phát sinh khác nhau tạo nên Việc chi tiết này nhằm đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của từng bộ phận, phạm vi và địa điểm khác nhau, nhằm khai thác các mặt mạnh và khắc phục các m ặt yếu kém của các

bộ phận và phạm vi hoạt động khác nhau

2.2.6 Các nội dung phân tích hoạt động kinh doanh

2.2.6.1 Doanh sô mua

Doanh số m ua thể hiện năng lực luân chuyển hàng hoá của doanh nghiệp, bao gồm: doanh số hàng nhập khẩu, doanh số hàng tự sản xuất và hàng hoá mua của các công ty, xí nghiệp khác

Trang 31

để có thể tham gia góp cổ phần, tham gia liên doanh, liên kết với các đơn vị khác.

Doanh thu bao gồm: + Doanh thu bán hàng

+ Doanh thu về các hoạt động tài chính

+ Doanh thu khác (nhượng bán tài sản cố định, giá trị các vật tư, tài sản thừa trong sản xuất)

2.2.6A Thu nhập bình quân của cán bộ công nhân xiên (CBCNV) [22],[33]:

Là lương và các khoản thu nhập khác thể hiện lợi ích đồng thời là sự gắn

bó của người lao động với doanh nghiệp

2 2 6 5 N ăng suất lao động bình quân

Đối với doanh nghiệp kinh doanh, NSLĐ bình quân được thể hiện bằng chỉ tiêu doanh số bán

2.2.Ố.Ố Phân tích hoạt động kỉnh doanh qua phân tích các báo cáo

tài chính [14]

Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp Phân tích 2 loại báo cáo:

vj

Trang 32

+ Bảng cân đối k ế toán; Bảng cân đối k ế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại những thời điểm nhất định Kết cấu của bảng được chia thành 2 phần: Tài sản và nguồn vốn Cả 2 phần đều bao gồm hệ thống các chỉ tiêu tài chính phát sinh, phản ánh từng nội dung tài sản và nguồn vốn Các chỉ tiêu được sắp xếp thành từng mục, khoản theo một trình tự logic, khoa học phù hợp với yêu cầu quản lý và phân tích tài chính.

+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại những thời kỳ nhất định Đó là kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của toàn doanh nghiệp, kết quả hoạt động theo từng loại hoạt động kinh doanh (sản xuất, kinh doanh; đầu tư tài chính; hoạt động bất thường Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, người sử dụng thông tin có thể kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ; so sánh với các kỳ trước và với các doanh nghiệp khác cùng ngành để nhận biết khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ và xu hướng vận động, nhằm đưa ra các quyết định quản lý, quyết định tài chính phù hỢp Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được chia thành 2 phần: phần phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh và phần phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước của doanh nghiệp

2.2.Ố.7 Các ch ỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán

Tinh hình tài chính doanh nghiệp được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu

về khả năng thanh toán của doanh nghiệp Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ

Đây là những chỉ tiêu mà rất nhiều người quan tâm như các nhà đầu tư, người cho vay, người cung cấp nguyên vật liệu về câu hỏi được đặt ra là: Liệu doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ tới hạn hay không?

2.2.6.S Các ch ỉ tiêu phản ánh lợi nhuận kinh doanh

Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố thuộc về chủ quan hay khách quan

Trang 33

và có sự bù trừ lẫn nhau, nó vừa là đòn bẩy kinh tế quan trọng vừa là một chỉ tiêu chất lượng cơ bản nhất để đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động của doanh nghiệp Để đánh giá chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối, còn phải dùng đến các chỉ tiêu tương đối như tỷ lệ, tỷ suất.

2 2 6 9 M àng lưới phục vụ[18],[19]

Ngành Dược có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu to lớn và bức xúc về thuốc cho nhân dân Trong đó doanh nghiệp Dược giữ vai trò chủ đạo trong nhiệm vụ cung ứng đầy đủ thuốc cho nhân dân Từ đó phân tích chỉ tiêu này sẽ đánh giá đóng góp, vai trò của doanh nghiệp với ngành Doanh nghiệp có đạt chỉ tiêu về xã hội hay không?

2.2.6.10 C h ỉ tiêu vê chuyên môn

Đối với m ột doanh nghiệp Dược địa phương, tỷ trọng hàng sản xuất là chủ yếu, đồng thời có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu thuốc trước hết là cho số dân trong tỉnh, việc thực hiện tốt các công tác chuyên môn là rất quan trọng Yêu cầu về chuyên môn bao gồm:

+ Chất lượng thuốc: là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu trong kinh doanh, phục vụ và sản xuất thuốc vì có chỉ tiêu này tồn tại thì mới có DN phát triển Chỉ tiêu này được xác định thông qua công việc kiểm nghiệm tại Công ty, tại Viện Kiểm nghiệm

+ Kịp thời: chỉ tiêu này đánh giá khả năng thực hiện chính sách thuốc quốc gia của DN Nội dung của chỉ tiêu này bao gồm: tổng số m ặt hàng bán tại

DN, tổng số mặt hàng thuốc thiết yếu

+ Hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn hợp lý: phân tích các nội dung: trình

độ chuyên m ôn của người đứng bán, hướng dẫn khách m ua sử dụng thuốc, ihực hiện các qui chế chuyên môn tại các quầy của doanh nghiệp

+ Thực hiện các qui chế của nghành: Qui chế thuốc độc, gây nghiện, thuốc hướng thần trong sản xuất, bảo quản và kinh doanh; Qui chế nhãn thuốc đối với sản phẩm sản xuất và nhập khẩu; Qui chế bảo quản

Trang 34

2.2.7 Chiến lược kinh doanh [12],[18]

2.2.7.1 Yêu cầu của chiến lược kinh doanh

+ Phải nhằm vào mục đích tăng thế lực của doanh nghiệp và giành lợi thế cạnh tranh, nghĩa là chiến lược phải triệt để khai thác lợi thế so sánh của doanh nghiệp, tập trung các biện pháp để tận dụng th ế m ạnh và khắc phục những yếu điểm có tính sống còn

+ Phải đảm bảo sự an toàn kinh doanh cho doanh nghiệp, nghĩa là chiến lược kinh doanh phải có vùng an toàn, trong đó nếu rủi ro xảy ra thì doanh nghiệp vẫn sản xuất kinh doanh ở mức bình thường

+ Phải xác định phạm vi kinh doanh, mục tiêu và những điều kiện cơ bản

để thực hiện mục tiêu Xác định phạm vi kinh doanh đòi hỏi chiến lược kinh doanh phải đảm bảo không có tình trạng dàn trải nguồn lực hoặc sử dụng không hết nguồn lực Xác định mục tiêu phải phù hợp với các điều kiện cụ thể và phải chỉ ra những mục tiêu cơ bản nhất, then chốt nhất

+ Phải dự đoán được môi trường kinh doanh trong tương lai Dự đoán càng chính xác, chiến lược kinh doanh càng phù hcfp

+ Phải có chiến lược dự phòng vì chiến lược kinh doanh là để thực thi trong tương lai m à tương lai luôn luôn là những gì chưa chắc chắn

2.2.7.2 N ội dung cơ bản của chiến lược kinh doanh

Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là tập hợp những chủ trương, phương châm về kinh doanh có tính lâu dài và quyết định tới sự thành đạt ở mọi doanh nghiệp Chính vì vậy chiến lược kinh doanh thực chất là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp Nội dung của chiến lược kinh doanh thể hiện ở hai mặt:

- Thể hiện bằng những mục tiêu cụ thể

- Chỉ ra hướng đi cho quá trình hành động của doanh nghiệp đạt hiệu quả.Chiến lược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp được xây dựng trên những căn cứ khác nhau, có mục đích khác nhau nhưng đều gồm hai bộ phận: chiến lược tổng quát và các chiến lược bộ phận, như sau:

Trang 35

H ình 4: S ơ đồ chiến lược kỉnh doanh của doanh nghiệp.

• K hả năng sinh lời:

Mục đích của kinh doanh là lợi nhuận Do vậy một trong những mục tiêu chủ yếu của chiến lược kinh doanh là lợi nhuận có khả năng sinh ra Đứng trên góc độ của doanh nghiệp, lợi nhuận là sự dôi ra của giá bán so với chi phí đã bỏ

ra (bao gồm cả th u ế và các khoản nộp khác cho N hà nước)

Trong chiến lược kinh doanh, lợi nhuận được đo lường bằng các chỉ tiêu tương đối như tỷ suất lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận và bằng chỉ tiêu tuyệt đối tổng lợi nhuận

T h ế lực trên thị trường:

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là quy luật phổ biến, kinh doanh không thể lẩn trốn cạnh tranh, cạnh tranh luôn gắn liền với kinh doanh Cạnh tranh và kinh doanh chỉ là hai mặt của một vấn đề, vì vậy chiến lược kinh doanh phải đạt được mục tiêu giành thắng lợi trong cạnh tranh để xác lập được chỗ đứng của mình trên thị trường

T hế lực trên thị trường của doanh nghiệp được đo lường bằng các chỉ tiêu thị phần doanh nghiệp kiểm soát được, tỷ trọng hàng hoá hay dịch vụ của doanh nghiệp trong tổng lượng cung về hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường, mức độ tích tụ và tập trung của doanh nghiệp, khả năng liên doanh, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường

Trang 36

An toàn trong kinh doanh:

Kinh doanh luôn gắn liền với may rủi Chiến lược kinh doanh càng táo bạo thì khả năng thu lợi càng lớn, nhưng rủi ro càng nhiều Rủi ro là sự bất trắc trong kinh doanh vì th ế khi xây dựng chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp không nên chỉ nghĩ đến việc dám chấp nhận nó mà phải tìm cách ngăn ngừa, tránh né, hạn chế sự hiện diện của nó hoặc nếu có xảy ra thì thiệt hại cũng chỉ ở mực thấp nhất

Các phương pháp thường được sử dụng để phòng ngừa rủi ro là; Phòng ngừa rủi ro bằng cách đa dạng hoá đầu tư, đa dạng hoá sản phẩm, bảo hiểm và phân tích kinh tế

Các mục tiêu chủ yếu trong chiến lược kinh doanh sẽ qui định nội dung của các chiến lược bộ phận, vì chiến lược bộ phận chỉ là sự cụ thể hoá thêm một bước nội dung của chiến lược tổng quát

2.3.1 Khái quát chung về DNNN

Doanh nghiệp N hà nước là m ột tổ chức kinh tê do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc công ích nhằm thực hiện các m ục tiêu kinh tế- x ã hội của N hà nước D N N N có tư cách pháp nhán, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kỉnh doanh trong phạm vi s ố vốn do D N quản lý [35].

DNNN được hình thành ở Việt Nam từ năm 1 9 5 4 '^ m iền Bắof và từ năm

1915 0 miền N a m )^ ừ khi ra đời đến nay đã có những đóng góp to lớn vào sự

nghiệp giải phóng, xây dựng và bảo vệ đất nước; đã đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế k ế hoạch khoảng 3 thập kỷ (1960-1990) và đã trở thành lực lượng vật chất quan trọng trong tay N hà nước để điều tiết nền kinh tế, đặc biệt là đối với nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phát triển theo định hướng XHCN khoảng m ột thập kỷ nay

Sau khi đất nước thống nhất, Việt Nam đứng trước một nhiệm vụ hết sức khó khăn là khôi phục và phát triển nền kinh tế theo định hướng XHCN Theo

Trang 37

mục tiêu xây dựng CNXH với việc xây dựng chế độ công hữu toàn diện trên mọi lĩnh vực nên trong những năm 1986-1990, các DNNN được thành lập một cách nhanh chóng ở hầu hết các ngành nghề sản xuất, dịch vụ, từ các ngành thuộc cơ

sở hạ tầng, công nghiệp cơ bản như: diện lực, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, khai khoáng, luyện kim, cơ khí chế tạo đến các ngành thương mại ở tất

cả các thành phố trong phạm vi cả nước

Dự thảo báo cáo của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII trình Đại hội lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “ Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành p h ần , trong đó kinh tế N hà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế N hà nước cùng với kinh tế hợp tác xã dần trở thành nền tảng K inh tế Nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, nắm những vị trí then chốt,

là nhân tố m ở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và

là một công cụ để N hà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế ”

Trong tổng số các DNNN thì có 2.018 doanh nghiệp do Trung ương quản

lý, 3.883 doanh nghiệp do địa phương quản lý, 173 DN thựôc Bộ quốc phòng, 13

DN thuộc Bộ Công an, 273 DN thuộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xãhội, 189 DN thuộc tổ chức Đảng quản lý, 71 DN thuộcTổng liên đoàn lao động

và 13 DN thuộc các tổ chức chính trị-xã hội khác quản lý So với năm 1990, sốDNNN đã giảm trên 50%, do được sắp xếp lại bằng sát nhập, giải thể, cổ phần

Trong tổng thu ngân sách, khu vực DNNN chiếm 60% '/Tuy nhiên, theothời gian hình thành thì máy móc, thiết bị và phương tiện vận tải được sản xuất cách đây trên 30 năm chiếm ll,3 % f cách đây 10 năm trở lên là 31,5%,' cộng chung là 42,8%; từ 10 năm trở lại đây là 57,2%, trong đó từ 1996 t ^ ạ i đây là 44,7% Theo thời gian sử dụng thì có 51,7% tài sản sử dụng từ 1-5 năm, và 49,35 tài sản sử dụng trên 5 n ă m ^ /C

Trong tổng số DNNN năm 1999, số lãi chiếm 71,9% , trong đó DN trung ương có 77,3%, DN địa phương có 69%; số bị lỗ chiếm 22,7% Điều đó được giải thích bởi m ột số hạn chế của các DNNN trong nền kinh tế nhiều thành phần như sau:

Trang 38

+ Được thành lập tràn lan, nhiều về số lượng nhưng lại nhỏ về quy mô, dàn trải theo ngành nghề và phân bố không đều giữa các địa phương (Trên cùng một địa bàn, nhiều DNNN hoạt động trong tình trạng chồng chéo về ngành nghề kinh doanh tạo ra sự cạnh tranh không đáng có) [11].

+ Do thiếu vốn nên hầu hết các DNNN ít có cơ hội hiện đại hoá công nghệ

và thiết bị Tình trạng công nợ dây dưa trở nên phổ biến, ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động kinh doanh của DN và sự ổn định phát triển nền kinh t ế

+ Công tác quản lý buông lỏng, quyền sở hữu và sử dụng không rõ ràng, nên dễ bị tổn thất và khó xác định trách nhiệm

Do đó để DNNN xứng đáng giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, một m ặt DN cần đi đầu ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật Mặt khác, N hà nước cần thực hiện các giải pháp hỗ trợ DN về nhiều mặt Củng

cố hiện đại hoá m ột bước đại bộ phận DNNN, khẩn trương giúp DN cải thiện tình hình tài chính, lao động Xây dựng và củng cố một số tập đoàn kinh tế mạnh trên

cơ sở các tổng công ty N hà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế Đổi mới căn bản phương thức đầu tư vốn của N hà nước cho các DN; thực hiện chế độ quản lý công ty đối với tất cả các DN có vốn đầu tư của N hà nước, giao cho hội đồng quản trị DN quyền sở hữu trực tiếp gắn với quyền tự chủ trong kinh doanh, qui định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý N hà nước đối với

DN Đẩy m ạnh cổ phần hoá, đa dạng hoá sở hữu đối với bộ phận DN, thực hiện giao khoán, cho th u ê những loại DNNN loai nhỏ m à N hà nước không cần nắm giữ; sát nhập, giải thể, cho phá sản những DNNN không hiệu quả

2.3.2 Doanh nghiệp Dược Nhà nước

Doanh nghiệp Dược mang đầy đủ các tính chất và đặc điểm của DN nói chung, ngoài ra DND còn có một tính chất đặc biệt khác Đó là hoạt động kinh doanh vừa nhằm mục tiêu lợi nhuận vừa mang tính xã hội sâu sắc: chăm sóc và phục vụ sức khoẻ nhân dân

Doanh nghiệp Dược Nhà nước (DNDNN) là m ột bộ phận quan trọng cấu thành ngành Dược Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất, cung

Trang 39

ứng thuốc, phục vụ cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân DNDNN bao gồm:

+ Doanh nghiệp Dược N hà nước trung ương (DNDNNTƯ), vốn Nhà nước đầu tư, do cấp Bộ, ngành chủ quản, hoạt động kinh doanh hoặc công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao

+ Doanh nghiệp Dược N hà nước địa phương (DNDNNĐP) vốn Nhà nước đầu tư và do các địa phương quản lý

+ Các doanh nghiệp Dược thuộc các nghành khác: Quốc phòng, Công an, Giao thông vận tả i

Ba loại hình DN này chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp Nhà nước

và của các văn bản pháp lệnh, pháp qui của chuyên ngành Bộ Y Tế

Các loại hình DND khác trong nghành Dược được phân loại như sau:

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn Dược, công ty cổ phần Dược, các doanh nghiệp Dược tư nhân vốn do tư nhân hay các cổ đông đóng góp

+ Các công ty dược liên doanh với nước ngoài:Vốn đóng góp do 2 đối tác: bên Việt Nam và bên nước ngoài, mỗi bên có thể m ột hoặc nhiều công ty tham gia Tỷ lệ góp vốn tuỳ theo sự thoả thuận và quy mô liên doanh

+ Các công ty Dược 100% vốn nước ngoài

Ba loại hình DND nói trên chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp lệnh, pháp qui của Bộ Y Tế

Trước đây, trong nền kinh tế bao cấp, ngành Dược hoạt động trong khuôn khổ ngành y tế Các DND Nhà nước từ trung ương đến địa phương hoạt động chỉ mang tính chất phúc lợi xã hội, từ khâu sản xuất tới lưu thông phân phối đều theo

kế hoạch N hà nước giao Do đó, sự phát triển của các DND còn nhiều hạn chế Đến nay, cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước, các DNDNN cũng đã có nhiều bước chuyển biến rõ rệt trong cả khâu sản xuất và kinh doanh

Đến nay, các DND đã được sắp xếp lại bao gồm nhiều hình thức khác nhau cũng đã tạo nên một môi trường kinh doanh Dược phẩm năng động hơn

Trang 40

hiệu quả hơn Từ năm 1996-2000, số lượng và sự phân chia các DND như sau [6][7][8][9][10]:

Bảng 1: Tổng s ố các Doanh nghiệp Dược toàn quốc từ năm 1996-2000.

L o ại h ìn h

D oanh nghiệp

N ăm

Doanh nghiệp tư nhân, Công ty

TNHH, Công ty cổ phần

(Nguồn : Niên giám thống kê y t ế 1996,1997,1998,1999,2000)

ở nước ta, các DNDNN vẫn chiếm vai trò chủ đạo trong nền công nghiệp Dược, hệ thống phân phối xuất nhập khẩu và sản xuất thuốc Bên cạnh đó là sự phát triển mạnh của các CTCP, Công ty TNHH và DNTN Tuy nhiên phần lớn các doanh nghiệp này còn ở mức quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực phân phối trong nước mà chưa quan tâm đầu tư cho sản xuất Đây cũng là một hạn ch ế lớn cho ngành Dược V iệt Nam

Thị trường dược phẩm Việt Nam trong những năm qua liên tục tăng trưởng Trong 10 năm (1990-2000) tiền thuốc tiêu dùng bình quân đầu người hàng năm đã tăng trên 10 lần (từ 0,3 USD năm 1990 đến 5,4 USD năm 2000 và 5,5 USD năm 2001) Thuốc sản xuất trong nước ngày càng tăng về chủng loại và chất lượng ngày càng tôt hơn Năm 1995 công nghiệp dược nội địa mới chỉ sản xuất dược phẩm trên cơ sở 80 hoạt chất, đến năm 2001 đã sử dụng 365 hoạt chất Nhiều kỹ thuật mới đã được áp dụng để sản xuất các dạng thuốc mới: viên nang mềm, vi nang, thuốc có tác dụng kéo dài, viên bao film, Ihuốc tiêm đông khô, các loại dịch truyền chất lượng c a o về m ặt giá trị tổng sản lượng từ năm 1996-

2000 được thể hiện qua bảng sau:

Ngày đăng: 21/04/2019, 18:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w