Với mục đích lựa chọn phương pháp dập viên thích hợp để áp dụng các biện pháp đảm bảo sinh khả dụng và độ ổn định của thuốc, chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu bào chế và đánh giá
Trang 1-o a Ể i
-LÊ THỊ HẢI YẾN
NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ
Trang 2Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới
PGS.TS Phạm Ngọc Bùng Người thầy kính mến đã luôn tận tình hướng dẫn
và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài luận văn này Sự quan tâm và chỉ bảo của thây
đã giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quả trình làm thực nghiệm.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới ThS Võ Quốc Ảnh cùng các thầy
giáo, cô giáo, anh chị kỹ thuật viên Bộ môn Vật lý- Hóa lý, Bộ môn Bào chế, Bộ môn dược lý, Bộ môn Dược lâm sàng, Phòng thí nghiệm trung tâm, phòng Đào tạo Sau Đại Học- Trường Đại học Dược Hà Nội đã tận tình dạy dỗ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm thực nghiệm.
Và cuối cùng tói xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn quan
Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2010
Học viên
Lê Thị Hải Yến
Trang 3ĐẶT VẤN Đ ề 1
CHƯƠNG 1: TỔNG Q UAN 3
1.1 Tổng quan về rifampicin, isoniazid 3
1.1.1 Rifampicin 3
1.1.2 Isoniazid 6
1.1.3 Vấn đề sử dụng thuốc trong điều trị l a o 7
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến độ ổn định và sinh khả dụng của viên nén 9 chứa R M P
1.2.1 Độ ổn định của RMP trong các môi trường hòa t a n 9
1.2.2 Độ ổn định của RMP trong viên phối h ợ p 11
1.2.3 Sinh khả dụng của viên chống lao phối h ợ p 12
1.3 Phương pháp đánh giá sinh khả dụng in vivo của th u ố c 16
1.3.1 Khái niệm về sinh khả dụng và tương đương sinh h ọ c 16
1.3.2.Phương pháp thiết kế nghiên cứu đánh giá sinh khả dụng in vivo 19
1.3.3 Một số động vật được sử dụng trong nghiên cứu đánh giá sinh khả 21 dụng của thuốc dùng theo đường u ố n g
CHƯƠNG 2: ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 22
2.1 Đối tượng nghiên c ứ u 22
2.2 Nguyên liệu và thiết bị nghiên c ứ u 22
2.2.1 Nguyên vật liệ u 22
2.2.2 Thiết bị nghiên c ứ u 23
2.3 Phương pháp nghiên c ứ u 23
2.3.1 Phương pháp bào chế viên chống lao phối hợp RMP- IN H 23
2.3.2 Phương pháp đánh giá một số chỉ tiêu của khối h ạ t 27
2.3.3 Phương pháp đánh giá độ hoà tan của hạt IN H 27
2.3.4 Phương pháp đánh giá độ hoà tan của viên phối h ợ p 28
2.3.5 Phương pháp định lượng RMP, INH trong viên nén 2 thành phần 29
2.3.6 Phương pháp thử độ ổn định của viên phối h ợ p 30
Trang 42.3.9 Phương pháp xử lý sổ liệ u 35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u 36
3.1 Khảo sát tốc độ hoà tan của R M P 36
3.1.1 Khảo sát tốc độ hòa tan của nguyên liệ u 36
3.1.2 Tốc độ hòa tan RMP ở H P T R 37
3.2 Khảo sát độ hòa tan của viên nén RMP 150 mg, INH 100 m g 38
3.2.1 Khảo sát độ hòa tan của một số mẫu viên bào c h ế 38
3.2.2 Khảo sát tốc độ hòa tan viên đối chiếu 43
3.3 Nghiên cứu kĩ thuật bào chế viên nén RMP 150 mg, INH 100 mg 44
3.3.1 Nghiên cứu chọn tá dược xát hạt ướt trong qúa trình tạo hạt INH 44
3.3.2 Nghiên cứu biện pháp tạo hạt R M P 47
3.3.3 Xây dựng qui trình dập viên nén 2 thành phần 49
3.4 Theo dõi đánh giá độ on định của v iê n 51
3.5 Đánh giá sinh khả dụng RMP từ mẫu viên nghiên cứu trên chó thí 53 nghiệm
3.5.1 Xây dựng phương pháp định lượng RMP trong huyết tư ơ n g 53
3.5.2 Kết quả đánh giá SKD của RMP trên chó thí nghiệm 57
CHƯƠNG 4: BÀN L U Ậ N 61
4.1 về ảnh hưởng của INH đến độ hòa tan và độ ổn định của R M P 61
4.2 v ề biện pháp tránh tương tác giữa các dược chất để nâng cao độ ổn 61 định và sinh khả dụng của viên n é n
4.3 v ề chất lượng của viên bào chế được theo tiêu chuẩn USP 30 61
4.4 v ề độ ổn định của viên bào chế đ ư ợ c 62
4.5 v ề đánh giá thông số AƯC, Cmax, Tmax của RMP hấp thu từ viên nén 62 trên chó thực nghiệm
KẾT LUẬN VÀ ĐÊ X U Ấ T 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Bảng 2.1 Nguyên vật liệ u 22
Bảng 3.2 Tốc độ hoà tan của RMP trong môi trường pH 1 36
Bảng 3.3 Tốc độ hoà tan của RMP khi đã áp dụng biện pháp tăng tốc độ hoà tan trong môi trường pH 1 37
Bảng 3.4 Bảng công thức một số mẫu viên khảo s á t 39
Bảng 3.5 Độ rã và độ bền cơ học của các mẫu v iê n 39
Bảng 3.6 Tốc độ hòa tan của RMP, INH từ mẫu viên 1 40
Bảng 3.7 Tốc độ hòa tan của RMP, INH từ mẫu viên 2 41
Bảng 3.8 Tốc độ hòa tan RMP từ các mẫu viên 3, 4 42
Bảng 3.9 Tốc độ hòa tan của RMP, INH từ mẫu viên đối ch iếu 43
Bảng 3.10 Bảng phân đoạn kích thước hạt và tỉ trọng biểu kiến của hạt INH bào chế với các công thức khác n h a u 45
Bảng 3.11 Độ hòa tan của INH từ các hạt bao theo công thức M l, M2, M 3 46
Bảng 3.12 Các thông số kĩ thuật của các mẫu h ạ t 47
Bảng 3.13 Bảng đo tỷ trọng và độ trơn chảy của hạt R M P 48
Bảng 3.14 Độ đồng đều khối lượng, hàm lượng của viên bào c h ế 49
Bảng 3.15 Kết quả đo tốc độ hòa tan của viên bào chế và viên đối 50 chiếu trong môi trường pH 1
Bảng 3.16 Kết quả định lượng mẫu viên sau khi theo dõi độ ổn định 51 Bảng 3.17 Kết quả đo tốc độ hòa tan của viên bào chế sau khi theo dõi độ ổn đ ịn h 52
Bảng 3.18 Độ lặp lại của phương pháp trên các mẫu huyết tương có cùng nồng đ ộ 55
Bảng 3.19 Nồng độ RMP tương ứng với các diện tích p í c 55
Trang 7Bảng 3.22 Nồng độ RMP trong huyết tương chó uống viên bào chế 58Bảng 3.23 Nồng độ RMP trong huyết tương chó uống viên đối chiếu 58 Bảng 3.24 Giá trị c max, Tmax, AUC hấp thu RMP khi cho chó uống 59
viên bào c h ế
Bảng 3.25 Giá trị Cmax, Tmax, AUC hấp thu RMP khi cho chó uống 59
viên đổi ch iếu
Bảng 3.26 Khoảng tin cậy ở mức 90% của tỷ lệ các thông số dược 60
động học
Trang 8Hình 2.1 Sơ đồ bào chế viên nén RMP 150 mg, INH 100 m g 24Hình 3.2 Tốc độ hoà tan của RMP trong môi trường pH 1 36Hình 3.3 Tốc độ hoà tan của RMP khi đã áp dụng biện pháp tăng
tốc độ hoà tan trong môi trường pH 1 38Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn tốc độ hòa tan của RMP, INH từ mẫu
viên 1 40Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn tốc độ hòa tan của RMP, INH từ mẫu
viên 2 41Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn tốc độ hòa tan của RMP, INH từ mẫu 42
viên 3 , 4
Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn tốc độ hòa tan của RMP, INH từ mẫu 44
viên đối ch iếu
Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn tốc độ hòa tan của viên bào chế và viên 50
đối chiếu môi trường pH 1
Hình 3.9 Đồ thị biểu diễn tốc độ hòa tan của mẫu viên bào chế sau 52
khi theo dõi độ on đ ịn h
Hình 3.10 Sắc ký đồ của RMP trong pha đ ộ n g 54Hình 3.11 Sắc ký đồ trong huyết tương trắ n g 54Hình 3.12 Sắc ký đồ của RMP trong huyết tương có chứa RMP,
IN H 54Hình 3.13 Đồ thị biểu diễn độ tuyến tính giữa nồng độ và diện tích
p í c 55
Trang 9Đ Ặ T V Ấ N ĐÈ •
Bệnh lao gắn liền với sự phát triển xã hội loài người từ hàng ngàn năm nay, trên thế giới chưa bao giờ và không có một quốc gia nào, một khu vực nào, một dân tộc nào không có người mắc bệnh lao và chết do lao Do sự phát minh các thuốc hóa học chống lao khiến cho việc chữa lao đơn giản hơn và hiệu quả hơn, đồng thời phát sinh tâm trạng lạc quan của y giới đã làm lãng quên căn bệnh nguy hiểm này Ngày nay, bệnh lao đang xuất hiện trở lại và cùng với đại dịch HIV/AIDS trở thành một trong những căn nguyên gây mắc bệnh và tử vong chủ yếu, đặc biệt tại các nước đang phát triển
Trong điều trị sử dụng phối hợp nhiều thuốc là rất cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và ngăn chặn hiện tượng kháng thuốc Tuy nhiên phải dùng nhiều loại thuốc trong thời gian dài gây nhiều bất tiện cho bệnh nhân Dạng chế phẩm phối hợp ra đời nhằm khắc phục khó khăn này Hiện nay
đã có rất nhiều dạng chế phẩm phối hợp 2, 3 hoặc 4 thành phần trong điều trị lao có trên thị trường, trong đó 2 dược chất Rifampicin (RMP) và Isoniazid (INH) vẫn là các dược chất chính trong điều trị lao đặc biệt là trong một số phác đồ điều trị các thể bệnh lao thì chỉ 2 dược chất này được dùng trong giai đoạn duy trì Đã có nhiều công trình trong nước và ngoài nước nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng của INH đến sinh khả dụng của RMP trong chế phẩm phối hợp [8,13,27] Các nhà bào chế trong và ngoài nước cũng quan tâm nghiên cứu đưa ra nhiều hướng khắc phục để tăng sinh khả dụng của RMP trong các chế phẩm phối hợp chống lao Trong nước đã
có đề tài nghiên cứu bào chế và sinh khả dụng viên 3 thành phần Rifampicin- Isoniazid- Pyrazinamid của Vũ Thị Thu Hà (Luận văn thạc sĩ dược học năm 2007) [12], và hiện nay đã được đưa vào sản xuất Khác với viên 3 thành phần, ở viên 2 thành phần RMP chiếm một tỷ lệ lớn và khối lượng viên bị khống chế (theo yêu cầu của chương trình chống lao quốc
Trang 10Với mục đích lựa chọn phương pháp dập viên thích hợp để áp dụng các biện pháp đảm bảo sinh khả dụng và độ ổn định của thuốc, chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu bào chế và đánh giá sinh khả dụng của viên nén Rifampicin 150mg- Isoniazid lOOmg” với các mục tiêu sau:
1 Bào chế được viên nén có áp dụng các biện pháp khắc phục tương tác giữa RMP và INH trong viên nén và trong đường tiêu hoá
2 Bước đầu theo dõi đánh giá được độ on định của viên bào chế được
3 Đánh giá được SKD của viên bào chế được trên chó thí nghiệm, so sánh với viên 2 thành phần của Artesan (Đức)
Trang 11* Nguồn gốc: Bán tổng hợp từ rifamycin B Rifamycin được chiết
xuất từ Streptomyces mediteranei
* Tính chất vật lý:
- Rifampicin có dạng bột tinh thể màu nâu đỏ hoặc đỏ nâu.
- Khó tan trong nước, ở 25°c c ổ ljO g RMP tan trong 100 ml tại pH
2,0; có 0,4 g tan trong 100ml tại pH 5,3 và 0,28 g tan trong 100 ml nước tại
pH 7,5; độ tan trong nước tăng nhẹ nếu có mặt acid ascorbic; ít tan trong acetone và ether, ethanol 96% Tan trong ethylacetat, methanol và
Trang 12tetrahydrofuran Dễ tan trong chloroform và dimethyl sulfoxid Ở dạng vô định hình có độ tan tốt hơn dạng tinh thể [6,24,39].
- Đo quang ở bước sóng từ 220 đến 500 nm có 4 cực đại 237 nm, 254
- Các chế phẩm rifampicin nên bảo quản trong lọ thuỷ tinh màu, kín, tránh ánh sáng
* Dược động học của rifampicin.
- Hấp thu tốt qua đường tiêu hoá, tmax đạt 2-4 giờ, c max đạt được 4-32
|ig/ml [16], 8-10 Ịig/ml [4] sau khi uống liều 600 mg 11/2 = 6-7h tmax và Cmax khi uống đa liều (sau 15, 30, 60 ngày điều trị liên tục) không khác biệt
so với đơn liều nhưng sự thải trừ t] / 2 khi uống đa liều nhanh hơn đơn liều
do có sự kích hoạt enzym chuyên hoá thuôc
Thức ăn làm giảm hấp thu RMP, nhưng phụ thuộc vào thành phần thức ăn Nếu thức ăn có thành phần chủ yếu là cacbonhydrat và protein thì
ít bị ảnh hưởng hơn, nếu uống thuốc cùng bữa ăn có nhiều mỡ thì nồng độ trong huyết tương bị giảm và Tmax chậm lại [31]
- Liên kết với protein huyết tương 81-94% [17] Phân bố rộng rãi vào các mô và dịch cơ thể Thuốc vào được cả nhau thai và sữa mẹ
Trang 13- Chuyển hoá qua gan nhờ hệ men oxy hoá Cytocrom P450, đồng thời là một chất gây cảm ứng men gan Chất chuyển hoá của RMP là 25- desacetyl rifampicin [3].
- RMP thải trừ qua mật, phân và nước tiểu và trải qua chu trình ruột- gan (15-30% qua thận và 60% qua phân), một phần được thải trừ qua các dịch sinh học như nước bọt, đờm, nước mắt ti/ 2 là 3-5h sau khi uống liều đầu, khi uống lặp lại là 2-3h ti/2 kéo dài ở người suy gan [5]
* Tác dụng dược ỉỷ:
- Diệt trực khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) cư trú ở trong và ngoài tế bào theo cơ chế ức chế enzym polymerase trùng hợp ARN của chủng vi khuẩn nhạy cảm nhưng không ảnh hưởng tới enzym này ở động vật có vú
- Ngoài ra thuốc còn có tác dụng diệt trực khuẩn phong, vi khuẩn Gr (-)
* Chỉ định:
- Bệnh lao (dùng phối hợp với các thuốc điều trị lao khác)
- Bệnh phong (dùng phối hợp với các thuốc điều trị phong khác)
- Phòng viêm màng não cầu, các nhiếm khuẩn do tụ cầu, trực khuẩn
mủ xanh
* Tác dụng không mong muốn.
- ít gặp như: phát ban, rối loạn tiêu hoá, sốt, rối loạn tạo máu
- Hay gặp như: vàng da, viêm gan do thuốc (đặc biệt khi dùng phối hợp với các thuốc chữa lao)
* Liều lượng và cách dùng.
Trang 14- Không dùng rifampicin đơn độc trong điều trị lao, phải phôi hợp với các thuốc điều trị lao khác như: streptomycin, isoniazid, pyrazinamid, ethambutol và tuân theo đúng phác đồ điều trị lao.
- Liều dùng cho người: 1 lần trong ngày 10-20 mg/kg thể trọng Tối
đa 600 mg/24h [3]
1.1.2 ĩso n ia iìd
*Công thức hoá học:
* Tên khoa học: 4-pyridine carboxylic acid hydrazid.
* Nguồn g ố c: là dẫn xuất của acid isonicotinic, được tổng hợp hóa
học
* Tính chất vật lý: bột kết tinh trắng, hoặc dạng kết tinh không màu
Dễ tan trong nước, khó tan trong chloroform, rất khó tan trong ether
* Dược động học: • • o •
- Hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, tmax đạt 1-2 giờ sau khi uống liều
300 mg và Cmax đạt được là 3-8 |ig/ml Thức ăn làm giảm hấp thu INH
- Khuyếch tán nhanh vào các tế bào và các dịch màng phổi, dịch cổ trướng và nước não tủy, chất bã
- Thuốc được chuyển hóa qua gan nhờ phản ứng acetyl hóa
- Thuốc được thải trừ qua thận Sau khi uống thuốc 24 giờ thuốc được thải trừ 75%-95% dưới dạng đã chuyên hóa
Trang 15* Tác dụng dược lý: đến nay cơ chế tác dụng của INH vẫn chưa được
giải thích rõ ràng
* Chỉ định: dự phòng và phối hợp với các thuốc chổng lao khác để
điều trị mọi thể lao
* Tác dụng không mong m uốn: dị ứng thuốc, viêm dây thần kinh
ngoại biên (thường dùng kèm vitamin B6 để hạn chế tác dụng này), viêm dây thần kinh thị giác, viêm gan (đặc biệt khi dùng cùng với RMP)
* Liều dùng: người lớn 5 mg/kg thể trọng, trẻ em dùng 10-20 mg/kg
thể trọng
1.1.3 Vấn đề sử dụng thuốc trong điều trị lao
Bệnh lao hiện nay vẫn là một trong những dịch bệnh vượt khỏi tầm kiểm soát của nhiều nước trên thế giới Bệnh lao là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh nhiễm trùng Mỗi năm trên thế giới có 9- 10 triệu người mắc lao mới và ước tính đến 2020 sẽ có thêm 200 triệu người bị bệnh lao và 70 triệu người chết do lao
Trước đây bệnh lao được xem là bệnh không có thuốc điều trị Năm
1945 người ta đã dùng streptomycin là thuốc đầu tiên điều trị bệnh lao Đen năm 1970, streptomycin, acid p-amino salicylic và INH là thuốc chính được dùng trong điều trị bệnh lao Sau đó với sự góp mặt của RMP và PZA trong điều trị lao, tỷ lệ tái nhiễm và thời gian điều trị bệnh lao giảm đi đáng kể Trong liệu pháp điều trị lao sự phối hợp của các loại thuốc chống lao là cần thiết để tránh hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn lao Tùy từng giai đoạn của bệnh và mục tiêu điều trị mà bác sĩ lựa chọn và sử dụng phối hợp các loại thuốc sau: rifampicin, isoniazid, pyrazinamid, ethambutol và streptomycin Dưới đây là một số phác đồ điều trị lao đang được sử dụng tại Việt Nam [5]
Trang 161 Lao phổi mới M(+), M(-): 2SHRZ/6HE
2 Lao phổi tái điều trị: 2SHREZ/1HREZ/5R3H3E3
Tái điều trị: 2SHREZ/1HREZ/5HRE
Tuy nhiên ngày càng xuất hiện nhiều các chủng vi khuẩn lao kháng thuốc và đây là hiện tượng đáng báo động đối với ngành y tế Nguyên nhân chủ yếu là kê đơn không đúng, dùng thuốc không đúng theo phác đồ và đơn trị liệu trong điều trị bệnh lao WHO và Hiệp hội chống lao và bệnh phổi quốc tế đã khuyến cáo phải phối hợp thuốc trong điều trị bệnh lao Đe khắc phục những bất tiện cho người bệnh, giảm thiểu sai sót trong kê đơn
và nâng cao hiệu quả điều trị, thuốc lao phối hợp nhiều thành phần ra đời với những ưu điếm sau:
+ An toàn, hiệu quả
+ Điều trị đơn giản
+ Liều lượng được đảm bảo
+ Dễ quản lý theo chương trình chống lao
+ Giảm nguy cơ kháng thuốc
Trang 17Hiện nay đã có cả thuốc lao phổi hợp 2, 3, 4 dược chất đầu tay đem lại hiệu quả cao trong điều trị bệnh lao Từ những phác đồ điều trị lao ở trên cho thấy sự phối hợp giữa RMP và INH rất hay được sử dụng, do đó thuốc lao phối hợp 2 thành phần (RMP + INH) đóng vai trò quan trọng trong phác đồ điều trị lao.
Trong phối hợp để điều trị lao, RMP đóng vai trò là thành phần chủ đạo quyết định đến hiệu quả điều trị bệnh Nhiều công trình nghiên cứu về SKD của RMP cho thấy SKD của RMP rất không ổn định
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến độ ổn định và sinh khả dụng của viên nén chứa RMP
RMP ở dạng nguyên liệu tương đối bền vững nếu bảo quản tránh ẩm
và tránh ánh sáng, tối thiểu là 5 năm nếu bảo quản ở nhiệt độ 25°c [21]
1.2.1 Độ ổn định của RMP trong các môi trường hòa tan
RMP là một dược chất kém ổn định Trong đường tiêu hóa RMP tiếp xúc với môi trường acid (trong dạ dày) và kiềm (trong ruột non) là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến độ ổn định của RMP Các nhà nghiên cứu rất quan tâm đến độ ổn định của RMP trong môi trường hòa tan, đặc biệt là trong môi trường pH 1 (môi trường pH dạ dày)
Henwood S.Q và cộng sự [23] đã nghiên cứu về độ tan và tốc độ tan của nguyên liệu RMP trong môi trường nước Kết quả cho thấy RMP là chất khó tan trong nước, khi hòa tan trong môi trường HC1 0,1M gần như không có sự khác biệt gì về độ tan và tốc độ tan của dạng tinh thể và dạng
vô định hình của RMP Trong môi trường nước và môi trường pH 7,4 mẫu hỗn hợp bao gồm dạng vô định hình và dạng tinh thể của RMP có tốc độ hòa tan nhanh hơn so với mẫu chỉ có dạng tinh thể Đồng thời tác giả cũng đưa kết quả nghiên cứu về sự phân hủy của RMP trong dạ dày Nếu như sự
Trang 18phân hủy của RMP trong chế phẩm đơn lẻ ở môi trường dạ dày bị phân hủy 6,33% thì khi có mặt INH sự phân hủy là 16,32%.
Shishoo và cộng sự [34] đã nghiên cứu xác định trong môi trường acid, RMP bị phân hủy thành 3-formyl rifampicin và l-amino-4- methyl piperazine Bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao, Shishoo
và cộng sự đã chứng minh ở 37°c và trong môi trường HC1 0,1N sự phân hủy RMP khi có mặt INH cao gấp 2 lần đơn thành phần Sau 45 phút, RMP đơn thành phần bị phân hủy 12,4%, khi có mặt INH thì RMP bị phân hủy 21,5% Hằng số tỷ lệ phân hủy K của sự phân hủy đơn thành phần là
2 , l x l 0 '3 và của RMP trong hỗn hợp với INH là 4,6 X 10'3 ti/2 của quá trình phân hủy RMP đơn lẻ là 330 phút, ti/ 2 của quá trình phân hủy RMP khi có mặt INH là 150 phút Điều này chứng tỏ INH có ảnh hưởng tới sự phân huỷ của RMP trong môi trường acid và sản phấm phân huỷ là 3- formyl rifampicin Kết quả tất yếu là sinh khả dụng của RMP khi dùng dưới dạng viên phối hợp thường thấp hơn sinh khả dụng của RMP khi dùng dưới dạng viên đơn lẻ
Trong một nghiên cứu của Singh s và cộng sự [36] về độ ổn định của RMP cho thấy RMP rất dễ bị phân huỷ trong môi trường acid Khi chỉ
có đơn thành phần RMP trong môi trường HCL 0,1N và 37°c sau 50 phút RMP bị phân huỷ khoảng 17,8% - 24,4% Khi có mặt đồng thời INH, PZA thì sau 15 phút RMP bị phân huỷ 8,5% và tăng lên 50% sau 3 già INH bị phân huỷ 1,8% sau 15 phút và 10,3 % sau 3 giờ Nghiên cứu cũng đưa ra kết luận PZA không ảnh hưởng đến sự phân huỷ RMP trong môi trường acid, chỉ có INH ảnh hưởng đến sự phân huỷ RMP
Theo Walter Lund [39], trong môi trường base (pH 8,0) và sự có mặt oxy hoà tan, RMP bị oxy hoá thành rifampicin quinon ở nhiệt độ 20°c -
Trang 1925 - desacetyl Nhằm ổn định dược chất RMP các nhà bào chế thường thêm vào trong công thức các chất chống oxy hoá như vitamin c .
Năm 2004, Agrawal s và cộng sự [15] đã nghiên cứu đặc tính của RMP ở trạng thái rắn và sự ảnh hưởng của chúng tới sinh khả dụng của thuốc Các nhà khoa học đã nhận thấy môi trường pH có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tan của RMP bởi vì độ tan và tốc độ hoà tan của các dạng thù hình của RMP trong các môi trường pH khác nhau rất khác nhau Với 11 mẫu RMP nguyên liệu được hoà tan trong môi trường pH 3.0 thì phần trăm hoà tan của các mẫu tại mồi thời điểm đều khác nhau Điều này có thể giải thích là do kích thước tiểu phân của các mẫu thử khác nhau dẫn đến tốc độ hoà tan và độ tan của chúng cũng khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy
nếu kích thước tiểu phân < 100 [im tốc độ hoà tan của RMP tương đối tốt
dù ở dạng thù hình nào, còn với kích thước tiểu phân > 100 |im tốc độ hoà tan của RMP sẽ giảm đi nhiều trong môi trường hoà tan
1.2.2 Độ ồn định của RMP trong viên phối hợp
Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây về độ ổn định của RMP trong viên đơn thành phần và trong viên phối hợp đã phát hiện sự giảm hàm lượng RMP trong chế phẩm phối hợp
Khi nghiên cứu các mẫu viên thuốc INH, RMP ở dạng đơn thành phần và dạng kết hợp ở các chương trình chống lao và trên thị trường, Laserson K.L và cộng sự [25] đã thấy rằng các thuốc đa thành phần có tỷ lệ hàm lượng dược chất không đạt yêu cầu cao hơn các mẫu thuốc đơn thành phần T.A Kenyon và các cộng sự bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng đã phát hiện 31% các chế phẩm phối hợp không đạt tiêu chuẩn, trong đó 15% mẫu có hàm lượng RMP thấp
Blomberg năm 2002 [19] đã dự đoán một số nguyên nhân dẫn đến kết quả nghiên cứu trên, đó là đặc tính của nguyên liệu, sự khác nhau về dạng thù hình của RMP, ảnh hưởng của tá dược, sự tác động trong quá
Trang 20trình sản xuất sự phân huỷ trong đường tiêu hoá, sự kém ổn định trong hấp thu và chuyển hoá của RMP Yếu tố được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhất đó là sự tương tác giữa các dược chất làm giảm khả năng hấp thu hoặc dẫn đến sự kém ổn định của RMP trong viên chống lao phối hợp.
Tuy nhiên những nghiên cứu trên đây mới chỉ quan tâm đến độ ổn định của RMP trong viên phối hợp khi có tá dược Năm 2006, nhóm nghiên cứu Phạm Ngọc Bùng, Võ Quốc Ánh, Nguyễn Tứ Sơn [10] đánh giá sự tương tác giữa RMP với INH và PZA ở trạng thái rắn không có tá dược (viên nén dập thẳng không có tá dược) và đã xác định được động học phân huỷ của RMP từ viên phối hợp trong dung dịch nước ở pH 1,0 và pH 6,8 là phản ứng bậc 1 Kết quả nghiên cứu một lần nữa khẳng định INH và PZA
có ảnh hưởng đến sự phân huỷ của RMP trong viên nén
Ngoài ra các yếu tố ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm ảnh hưởng nhiều đến
độ ổn định trong viên phối hợp Panchagnula R [28] đã nghiên cứu các sản phẩm phối hợp trong nhiệt độ phòng (20-35°C), không khống chế độ ẩm trong thời gian 16-38 tháng, kết quả cho thấy hàm lượng RMP trong thuốc vẫn nằm trong giới hạn quy định của dược điển và không thấy những biến đổi vật lý của thuốc Tác giả cho rằng sự kém ổn định của thuốc không phải là nguyên nhân gây ra thay đổi sinh khả dụng của các chế phẩm phối hợp
Tóm lại, các nghiên cứu cho thấy RMP hoà tan khá tốt trong môi trường pH 1,0 nhưng lại kém on định, nếu có mặt của INH thì sự phân huỷ của RMP càng tăng lên Trong môi trường kiềm RMP khó tan nhưng lại bền hơn so với trong môi trường acid
1.2.3 Sinh khả dụng của viên chống lao phối hợp
Sự ra đời của thuốc lao phối hợp đã đem lại nhiều thuận tiện cho người sử dụng thuốc Tuy nhiên để sản xuất ra một chế phẩm thuốc lao
Trang 21phối hợp có sinh khả dụng cao và đảm bảo được độ ổn định là một mục tiêu khó với các nhà bào chế vì những đặc tính hoà tan cũng như sự tương tác giữa các dược chất.
Những nghiên cứu của các nhà khoa học đã chứng minh sự giảm sinh khả dụng của RMP trong viên phổi hợp so với sinh khả dụng của RMP trong viên đơn lẻ Phương pháp đánh giá các thông số sinh khả dụng như
C m a x , tmax, AUC của RMP trong viên phối hợp hoặc thử tương đương sinh học của RMP trong viên phối hợp và RMP trong viên đơn lẻ thường hay được sử dụng trong các nghiên cứu này
Năm 1999 tại Nam Phi, Pillai G và cộng sự [30] đã nghiên cứu đánh giá các thông số sinh khả dụng của RMP trong viên phối hợp và RMP trong viên đơn lẻ Mầu thí nghiệm là một số chế phẩm trên thị trường Thử nghiệm được thiết kế chéo đôi, mở và ngẫu nhiên trên người tình nguyện là nam giới khoẻ mạnh Khoảng thời gian giữa 2 lần uống thuốc là 1 tuần để đảm bảo thuốc được đào thải hoàn toàn ra khỏi cơ thể Lấy máu định lượng tại các thời điểm 0, 1, 2, 4, 6, 8 và 12 giờ sau khi uống thuốc Kết quả nghiên cứu cho thấy AUCo-8, AƯCo-1 2 và Cmax của RMP trong 7 trên 10 chế phẩm phối hợp không có sự tương đương với AƯC và Cmax của RMP trong viên đơn thành phần
Năm 1999, Padgaonkar KA và cộng sự [26] đã nghiên cứu so sánh tương đương sinh học của RMP trong các chế phẩm: Nhóm N (viên nén chứa RMP và INH), nhóm L (viên nang chứa RMP và INH), nhóm R (viên đơn lẻ chứa RMP và viên đơn lẻ chứa INH) Thiết kế thí nghiệm theo kiểu chéo 3, mù kép trên 12 người tình nguyện Nồng độ của RMP, ỈNH và acetylisoniazid (chất chuyển hoá của INH) được định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao Các giá trị Cmax, tmax, AUCo-2 4 chênh lệch
rõ rệt giữa nhóm L và nhóm R, nhưng giữa nhóm N và nhóm R lại ít có sự khác biệt
Trang 22Năm 2001, Shishoo c s và cộng sự [33] đã thử tương đương sinh học của RMP trong viên nang đơn lẻ và RMP trong viên phối hợp RMP, INH phương pháp HPTLC được áp dụng để định lượng RMP và chất chuyển hoá 25-desacetyl rifampicin trong nước tiểu Dựa trên lượng RMP và 25- desacalyl rifampicin bài tiết ra nước tiểu danh giá lượng RMP được hấp thu và chuyển hoá Kết quả cho thấy lượng RMP và 25-desacetyl rifampicin được bài tiết từ viên phối hợp giảm 21,18% và 24,02% so với từ viên đơn lẻ Điều này chứng tỏ lượng RMP được hấp thu và ở trạng thái chưa bị chuyển hoá từ viên phối hợp thấp hơn so với viên đơn lẻ.
Năm 2005, Lê Thị Luyến và cộng sự [9] đã nghiên cứu thử tương đương sinh học của RMP trong thuốc lao phối hợp 2 và 3 thành phần đang
sử dụng tại Việt Nam có so sánh với viên đối chiếu đơn lẻ Nghiên cứu được thực hiện trên 12 người tình nguyện Kết quả cho thấy C m a x RMP huyết tương trung bình khi uống viên 2 thành phần (RMP, INH) và viên ba thành phần (RMP, INH, PZA) chỉ đạt trung bình 62,07% và 53,43% so với viên đối chiếu đơn lẻ AUCo- 0 0 của RMP khi uống viên 2 thành phần và viên 3 thành phần thấp hơn so với viên đối chiếu đơn lẻ, chỉ đạt tỷ lệ 76,70% và 63,3% so với viên đối chiếu đơn lẻ Tmax khi uống viên 3 thành phần là 3 giờ, khi uống viên 2 thành phần là 2,5 giờ trong khi đó tmax của viên đối chiếu đơn lẻ khoảng 1 giờ Qua các thông số C m a x AƯCo- 0 0 và t m a x
cho thấy tốc độ hấp thu RMP khi uống viên phối hợp thấp hơn so với tốc
độ hấp thu RMP khi uống viên đơn lẻ
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự tương đương sinh học giữa viên phối hợp và viên đơn lẻ xét về mặt hấp thu RMP
Các nhà nghiên cứu trên đây mới chỉ đưa ra những kết quả khẳng định có sự giảm sinh khả dụng của RMP trong viên phối hợp Saranjil Singh [35] đã dự đoán một số nguyên nhân dẫn tới kết quả trên: Sự khác nhau về dạng thù hình của RMP; Yếu tố thực hành tốt sản xuất thuốc; Sự
Trang 23ảnh hưởng của tá dược tới sự hấp thu; Các yếu tố thuộc về thiết kế công thức; Sự phân huỷ thuốc trong chế phẩm; Sự phân huỷ thuốc trong đường tiêu hoá.
Từ những nguyên nhân trên tác giả cũng đưa ra các biện pháp nâng cao sinh khả dụng của RMP và hạn chế tương tác giữa các dược chất trong viên phối hợp như sau:
Bào chế dưới dạng viên hoặc dạng hạt bao tan ở ruột
Dùng kèm các thuốc trung hoà acid dịch vị cùng thời điểm với thuốc điều trị bệnh lao
Dùng các chất hạn chế sự phân huỷ RMP trong dịch tiêu hoá
Bào chế dưới dạng hệ điều trị giải phóng thuốc ở các vị trí khác nhau trong đường tiêu hoá
Năm 2007, nhóm nghiên cứu Vũ Thị Thu Hà, Phạm Ngọc Bùng,Võ Quốc Ánh [12] đã có đề tài nghiên cứu bào chế viên nén 3 thành phần Trong đó đã đưa ra biện pháp hạn chế sự tương tác giữa các thành phần dược chất, đặc biệt là sự tương tác giữa RMP và INH bằng biện pháp bao hạt INH, rồi sau đó mới dập viên
Năm 2007, nhóm nghiên cứu Gohel MC và cộng sự [22] đã có nghiên cứu nhằm hạn chế sự tương tác giữa 2 thành phần RMP và INH khi phối hợp chúng trong viên 2 thành phần Các tác giả đã đưa ra biện pháp xát hạt ướt RMP với các tá dược HPMC, Calcium carbonat, PEG 4000 rồi dập thành viên Còn INH sẽ được tạo thành hạt compac với Dicalcium phosphat rồi đóng vào nang số 4 Cuối cùng là sự kết hợp giữa viên RMP
và nang chứa INH được cho vào nang số 0
Trang 241.3 Phương pháp đánh giá sinh khả dụng in vivo của thuốc
1.3.1 Khái niệm về sình khả dụng và tương đương sinh học
* Định nghĩa:
mức độ hấp thu dược chất còn nguyên hoạt tính từ dạng bào chế vào được vòng tuần hoàn đến vị trí tác dụng
tương đương sinh học khi giữa chúng không có sự khác biệt có ý nghĩa về mức độ và tốc độ hấp thu dược chất khi được dùng cùng liều như nhau dưới những điều kiện như nhau trong một thiết kế thích hợp
Mức độ hấp thu của thuốc được phản ánh bằng chỉ số AUC- diện tích dưới đường cong đồ thị biểu diễn sự biến thiên của nồng độ thuổc trong máu (huyết tương) biến đổi theo thời gian (thường gọi là diện tích dưới đường cong nồng độ - thời gian)
Tốc độ hấp thu của thuốc được xác định bằng nồng độ cao nhất của thuốc trong huyết tương (Cmax) và thời gian đạt được nồng độ Cmax (Tmax)
* Các t h ô n g số biểu thị sinh khả dụng của thuốc:
+AUC-(Area Under the Curve):
Do không thể trực tiếp đo được tổng lượng thuốc vào cơ thể, cho nên
để tính sinh khả dụng của thuốc người ta phải tính gián tiếp thông qua đại lượng AUC
AUC- biểu thị tượng trưng cho lượng thuốc vào được vòng tuần hoàn
ở dạng còn hoạt tính sau một thời gian
Trang 25Đơn vị tính AUC là m g h r1 hoặc |ig.h/ml Đe tính AUC, người ta dựa vào đồ thị nồng độ thuốc trong máu (huyết tương) biến đổi theo thời gian.
Công thức tính AUCo-0 0 như sau:
AUCo- 00= — + ( S (C' - C/+1 )+
Cj - nồng độ thuốc đo được thời điểm tj
c t - nồng độ thuốc tại thời điểm lấy mẫu cuối cùng còn định lượngđược
Xz - hằng số tốc độ thải trừ, được tính từ đường cong đồ thị bán
logarit của nồng độ thuốc trong máu biến đổi theo thời gian tại những điểm lấy máu cuối cùng của pha thải trừ
+ tmax - thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương, là khoảng thời gian
kể từ khi uống thuốc cho đến khi đạt nồng độ cao nhất trong huyết tương Tại thời điểm Tmax, nồng độ trong huyết tương cao nhất và tốc độ hấp thu của thuốc bằng tốc độ thải trừ Khi so sánh các chế phẩm chỉ số Tmax biểu thị tốc độ hấp thu của thuốc, Tmax càng nhỏ thì tốc độ hấp thu của thuốc càng nhanh
+ Cmax - Nồng độ đỉnh của thuốc trong huyết tương, hay nồng độ thuốc cao nhất đạt được trong huyết tương sau khi uống Cmax liên quan đến đáp ứng điều trị và khả năng gây độc của thuốc
* Sinh khả dụng tuyệt đối và sinh khả dụng tương đối
Nếu tạm chấp nhận tất cả lượng thuốc vào được vòng tuần hoàn chung ở dạng còn hoạt tính sẽ phát huy tác dụng dược lý thì trị số AUC cho phép đánh giá được chất lượng của chế phẩm bào chế
Trang 26Trị số AUC biểu thị tổng lượng thuốc hấp thu vào vòng tuần hoàn Nếu thuốc được đưa qua đường tĩnh mạch (I.V) thì toàn bộ liều thuốc được đưa vào vòng tuần hoàn, còn nếu đưa ngoài đường tĩnh mạch thì có một lượng nhất định bị tổn hao khi đi từ vị trí hấp thu vào máu hoặc bị mất hoạt tính khi qua gan.
Sinh khả dụng tuyệt đỗi: (F%) là tỷ lệ giữa sinh khả dụng của cùng
một thuốc đưa ngoài đường tĩnh mạch (uống, đặt trực tràng, qua da, tiêm dưới da ) so với đường tĩnh mạch
P t u y ậ t đ ố i ( % ) = ~7Tjpr~■~ỉr~ - 1 0 0
AUCIV DP0
D: liều dùng
I.V: đường tiêm tĩnh mạch
P.O: đường uống
Sinh khả dụng tương đổi: là tỷ lệ so sánh giữa 2 giá trị sinh khả dụng
của 2 chế phẩm khác nhau (A và B) có cùng một hoạt chất, cùng dạng bào chế, trong đó A là chế phẩm cần đánh giá, B là chế phẩm đã biết hay còn
gọi là chế p h ẩ m đối c h iế u (re fe re n c e Standard).
Để tính sinh khả dụng tương đối chế phẩm A, dựa vào công thức:
Trang 271.3.2 Phương pháp thiết kế nghiên cứu đánh giả sinh khả dụng in vivo
- Lựa chọn mẫu: mẫu thí nghiệm là súc vật khoẻ mạnh, tương đối
đồng đều về cân nặng và giới tính Súc vật được lựa chọn làm thí nghiệm phải được theo dõi và không được đưa vào cơ thể bất kỳ một loại thuốc nào trong vòng 2 tuần trước khi thí nghiệm
Cỡ mẫu: theo hướng dẫn của từng quốc gia
Thuốc đối chứng: nên sử dụng các loại thuốc đã có tài liệu chứng minh về sinh khả dụng và tương đương sinh học, đảm bảo độ an toàn và có hiệu lực điều trị Trong nghiên cứu đánh giá sinh khả dụng tuyệt đối thì thuốc dùng để đối chứng phải là thuốc tiêm tĩnh mạch Trong nghiên cứu đánh giá sinh khả dụng tương đối thì có thể lựa chọn các thuốc đã được sử dụng lâu dài, rộng rãi trong và ngoài nước
Thuốc thử: cần phải chuẩn bị đầy đủ các dữ liệu về trắc nghiệm hoà tan, độ ổn định
Thiết kế thí nghiệm :
Khi so sánh 2 chế phẩm, thiết kế thí nghiệm theo kiểu chéo đôi, hai giai đoạn Mầu thí nghiệm được chia làm 2 nhóm: nhóm 1 uống thuốc thử trước, sau đó uống thuốc đối chứng Nhóm 2 uống thuốc đổi chứng trước, sau đó uống thuốc thử Khoảng cách giữa 2 lần uống thuốc phải đảm bảo
đủ thời gian để thải trừ hết ra khỏi cơ thể, thông thường là 1-2 tuần
Khi so sánh 3 chế phẩm (2 thuốc thử và 1 thuốc đối chứng), thiết kế thí nghiệm theo kiểu chéo ba, 3 giai đoạn Khoảng cách giữa các lần uống thuốc cũng từ 1-2 tuần
- Thời điểm lấy máu: lấy mẫu trắng trước thời điểm cho uống thuốc Các mẫu tiếp theo nên lấy vào các thời điểm ở giai đoạn hấp thu, phân bố, thải trừ Thông thường lấy 4 mẫu trước thời điểm đạt giá trị c max và lấy
Trang 28nhiều hơn 6 mẫu ở các thời điểm tiếp theo Tổng số mẫu nên lấy là > 11 mẫu.
Thời điểm lấy mẫu phải kéo dài ít nhất gấp 3-5 lần ti/ 2 thải trừ hoặc
khi nồng độ thuốc trong huyết tương < 1/10- 1/20 của Cmax
Mầu máu sau khi lấy phải được bảo quản lạnh ở nhiệt độ thấp cho đến khi định lượng
Liều lượng đa thuốc: liều thuốc thử phải tương tự như liều đa thuốc chuẩn Trong trường hợp có sự khác biệt về liều phải chú thích để đưa vào tính toán kết quả
- Cách tính kết quả: lập bảng và mã hoá các mẫu thu được Xử lý mẫu và tiến hành định lượng Các giá trị thu được: ti/2 thải trừ, c max, tmax AUCOo-0 0, AUCo-tn (tn là thời điểm lấy mẫu cuối)
Sinh khả dụng F trong trường hợp uống liều đơn được tính như sau: F= (AUCo-tn) thử / (AUCo-tn)đối chiếu X 100%
Hoặc F = (AUCo-oo) thử / (AUCo-oo) đối chiếu X 100%
Trong trường hợp liều thử khác với liều đối chiếu:
E={(AUCo-tn)thử X Dchuẩn / (AUCo-tn)đối chiếu X Dxhừ } X 100%
E={(AUCo-oo)thử X Dchuẩn / (AUCo-oo)đối chiếu X DThử } X 100%Sinh khả dụng F trong trường hợp uống nhiều liều như sau:
Những thuốc có các đặc điểm sau phải áp dụng trường hợp uống nhiều liều
- Mức độ hấp thu của các thuốc tương tự nhau nhưng tốc độ hấp thu
lại k h ác nhau.
- Mức độ khác nhau về hấp thu giữa các cá thể rất lớn
- Áp dụng cho các thuốc tác dụng kéo dài, thuốc giải phóng có kiểm soát, các thuốc sau khi uống một liều thì nồng độ của thuốc hoặc nồng độ dạng chuyển hoá của thuốc rất thấp, không thể định lượng được hoặc kết quả định lượng có độ chính xác thấp
Trang 29Ở trạng thái cân bằng sau khi uống thuốc sinh khả dụng của thuốc có thể tính dựa vào nồng độ thuốc trong huyết tương, I là khoảng thời gian đạt tới trạng thái cân bằng kể từ khi uống thuốc Các mẫu máu được lấy nhiều lần trong khoảng thời gian trên, định lượng các mẫu thu được AUCSS0.00
F = (AUCssthử / AUCsschuẩn) X 100%
Trong đó AUCSS(hử là AƯC của thuốc thử ở trạng thái cân bằng
A U C SSc h u ẩ n là AUC của thuốc chuẩn ở trạng thái cân bằng
Cách kết luận về tương đương sinh khả dụng in vivo và tương đương sinh: Nếu 80% < F < 125% với độ tin cậy 90% thì kết luận hai thuốc tương đương về sinh khả dụng in vivo
Nếu 80% < F < 125% với độ tin cậy 90% và 70% < C m a x < 143% thì kết luận hai thuốc tương đương sinh học
1.3.3 Một số động vật được sử dụng trong nghiên cứu đánh giá sinh khả dụng của thuốc dùng theo đường uống
Nghiên cứu đánh giá sinh khả dụng in vivo trên súc vật là bước tiếp theo sau khi nghiên cứu sinh khả dụng in vitro của thuốc Từ kết quả nghiên cứu thăm dò trên súc vật làm cơ sở cho nghiên cứu thử tương đương sinh học trên người vì quá trình thử tương đương sinh học cần phải được tiến hành chắc chắn và đầy đủ thủ tục Từ kết quả nghiên cứu của thuốc trên động vật có thể lựa chọn dạng bào chế dùng theo đường uống để
có sinh khả dụng cao và thiết kế dạng thuốc giải phóng có kiểm soát Sự lựa chọn động vật thí nghiệm phải dựa vào mức độ giống nhau về mặt giải phẫu và sinh lý của đường tiêu hoá ở động vật và ở người.[29] Một số động vật thường được sử dụng như thỏ, khỉ, lợn, chó
Trang 30CHƯƠNG 2: ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Viên bào chế: viên nén bào chế RMP 150 mg, INH 100 mg
- Viên đối chiếu:
Viên nén R-H với RMP 150 mg và INH 100 mg do công ty Artesan (Đức) sản xuất
Lô sản xuất 090708, ngày sản xuất 1/2009, HSD: 1/2012
khiết HPLC
khiết HPLC
Trang 312.2.2 Thiết bị nghiên cứu
- Máy đo độ hoà tan (Erweka).
- Máy sắc ký lỏng hiệu năng cao (Agilent 1200)
- Cân phân tích Mettler
- Cân kỹ thuật Satorius
- Máy lắc cơ học (Sonorex super - Rk 106)
- Máy ly tâm (Hennle Đức)
- Máy dập viên tâm sai Korsch (Đức)
- Máy đo lực gây vỡ viên Erweka
- Máy đo độ trơn chảy Erweka GWF
- Tủ lạnh sâu nhiệt độ < -37°c
- Máy bao phim Kalweka VDM
- Dụng cụ đo tỷ trọng biểu kiến Erweka SVM (Đức)
- Tủ ấm (Memmet)
- Rây
2.3 Phương pháp nghiên cứu.
2.3.1 Phương pháp bào chế viên chống lao phối hợp RMP- INH.
Trang 32Nguyên tắc bào chế theo sơ đồ sau:
Hình 2.1 Sơ đồ bào chế viên nén RMP 150 mg, INH 100 mg
Mô tả các giai đoạn bào chế
a Phương pháp bào chế hệ phân tán rắn:
- Hệ phân tán rắn được bào chế theo phương pháp dung môi
- Thành phần: PVP (chất mang) 10%, chloroform (dung môi) vừa
Trang 33- Cách tiến hành: Hòa tan RMP trong chloroform, có thể đun cách thủy ở 50-55°C để RMP hòa tan hoàn toàn Hòa tan PVP Bốc hơi dung môi ở nhiệt độ phòng đến khi thu được hỗn hợp dẻo, dính đem hút chân không trong 12 giờ Tránh ánh sáng trong quá trình bốc hơi dung môi và hút chân không.
b Phương pháp cán hạt.
* Công thức cán hạt:
- HPTR RMP
- Avicel chiếm 20% so với HPTR
- Natri croscarmelose chiếm 5% so với HPTR
Khối bột kép được cán trên máy Erweka có 2 trục cán ép có rãnh sâu lmm Hạt sau khi cán được rây qua rây 1 mm
c Phương pháp bào chế hạt INH:
Áp dụng phương pháp xát hạt ướt đe tạo hạt INH
- Chuẩn bị tá dược dính: các polyme thân nước được ngâm trương nở hoàn toàn trong một lượng nước vừa đủ, các thành phần khác được phối hợp trong cồn Phối hợp hai dung dịch trên thu được dung dịch đồng nhất
- Nguyên liệu INH được nghiền và qua rây 0,25 mm
- Phối hợp tá dược dính và bột nguyên liệu trong chậu inox theo tỷ lệ nhào trộn bằng tay trong khoảng 10 phút
- Xát hạt bàng cách cho qua rây 1 mm, sấy ở nhiệt độ 40°c cho đến khi hàm ẩm của hạt còn khoảng 10% đem sửa hạt bằng cách cho qua rây lmm Tiếp tục sấy hạt đến khi hạt khô (hàm ẩm của hạt khoảng 2%-3%)
d Phương pháp bao hạt INH:
- Hạt có kích thước trong khoảng 0,25 mm- 1 mm được lựa chọn để đem bao Thành phần tá dược loại polyme, chất hoá dẻo PEG 6000, dung môi ethanol, nước
Trang 34thu được dung dịch đồng nhất.
Bao hạt: hạt được bao trên nồi bao truyền thống với tốc độ nồi quay 7-12 vòng/phút, đầu phun có kích thước lỗ phun là lmm, tốc độ phun là 2-2,5 ml/phút, nhiệt độ gió vào 50°C-55°C
Hạt RMP sau khi cán 209,8 mg tương đương 150 mg RMP 209,0 g
Trang 35- Chuẩn bị tá dược bao: HPMC và PEG ngâm trương nở hoàn toàn trong nước Cho talc, TÌO2 , sochola lakes vào cối sứ, bổ xung hỗn hợp trên
từ từ vào, rồi tiến hành nghiền trộn Lượng ethanol được sử dụng vừa đủ tạo thành dung dịch có nồng độ HPMC là 5% Lượng chất rắn tạo màng là
29 mg/1 viên
- Thiết bị bao và các thông sổ kỹ thuật : Viên được bao trong nồi bao
tự động có tốc độ nồi quay 9-10 vòng/phút Đầu phun có kích thước lỗ phun là lmm Tốc độ phun 4-5 ml/phút Nhiệt độ gió vào 90°C- 95°c
2.3.2 Phương pháp đảnh giá m ột số chỉ tiêu của khối hạt
- Phương pháp đánh giá độ trơn chảy:
Cân lOOg mẫu thử cho vào phễu của máy Đặt các thông số, khởi động máy thực hiện phép đo trên phễu rung Kết quả đo tính ra g/giây
- Phương pháp đánh giá tỷ trọng biếu kiến:
Cân lOg hạt cho vào ống đong có thể tích thích hợp (25 ml) Đặt ống đong vào chế độ máy có chế độ gõ ổng đong tới thể tích V không đổi (3 phút) Kết quả đo tính ra 10/V (g/cm3)
2.3.3 Phương pháp đánh giá độ hoà tan của hạt INH.
Dựa theo chuyên luận viên nén INH của DĐVN III
Điều kiện: Máy thử độ hoà tan Erweka (thiết bị giỏ quay)
Tốc độ quay: 100 vòng ± 4 vòng/phút
Nhiệt độ: 37°c ± 0,5°c
Môi trường: 900 ml dung dịch HCL pH 1,0
Tiến hành: Cho mẫu thử vào cốc có chứa môi trường hoà tan Sau các khoảng thời gian 5, 10, 15, 20, 25, 30 phút, hút chính xác 5 ml dịch hoà tan, lọc Bô sung chính xác 5 ml môi trường hoà tan Pha loãng dịch lọc nếu cần bằng môi trường hoà tan và đem đo quang ở bước sóng 263 nm, mẫu trắng là môi trường hoà tan
Trang 36Mau đối chiếu: Cân chính xác khoảng 0 ,lg INH cho cốc, hoà tan bằng 50 ml môi trường hoà tan, chuyển vào bình định mức 100 ml, thêm môi trường hoà tan tới vạch, lắc đều Hút 10 ml dung dịch trên chuyển vàobình định mức 100 ml, thêm môi trường hoà tan tới vạch, lắc kỹ thu đượcdung dịch đối chiếu.
Cách tính kết quả:
- Nồng độ INH chưa hiệu chỉnh ở lần hút thứ n:
C no = c 0 * a *(Dno / Do)
Trong đó Cno : nồng độ chưa hiệu chỉnh ở lần hút thứ n (|ig/ml)
c 0 : nồng độ của dung dịch chuan (i^/ml)
Dno: độ hấp thu của dung dịch thử
Dn : độ hấp thu của dung dịch chuẩn,
V : thể tích môi trường hoà tan (ml)
- Phần trăm INH hoà tan tại thời điểm t:
c % = (C„ * 900 / 1000 * m) *100.
Trong đó m: hàm lượng dược chất trong mẫu (mg)
2.3.4 Phương pháp đảnh giá độ hòa tan viên phối hợp
Dựa theo chuyên luận viên nang RMP- INH trong ƯSP 30
- Điều kiện: Máy thử độ hoà tan (thiết bị cánh khuấy)
Nhiệt độ: 37°c ± 0,5°c
Trang 37Môi trường hoà tan: 900 ml dung dịch acid chlohydric pH 1,0.Tốc độ cánh khuấy: 100 vòng ± 4 vòng/ phút.
- Tiến hành: cho mẫu thử vào cốc có chứa môi trường hoà tan , sau mỗi khoảng thời gian 5, 10, 15, 20, 30, 45 phút hút chính xác 5 ml dịch hoà tan, lọc Bổ sung chính xác 5 ml môi trường hoà tan Pha loãng dịch lọc (nếu cần) bằng môi trường hoà tan
Dung dịch thu được đem định lượng ngay theo phương pháp định lượng RMP- INH trong viên 2 thành phần (2.3.5)
- Cách tính kết quả: Lượng RMP và INH hoà tan tại mỗi thời điểm được tính dựa trên tỷ lệ của diện tích píc mẫu thử so với diện tích píc mẫu chuẩn
2.3.5 Phương pháp định lượng RMP, INH trong viên nén 2 thành phần :
Dựa theo chuyên luận định lượng viên nang RMP- INH trong USP
30, chúng tôi tiến hành nghiên cứu phương pháp định lượng viên nén 2 thành phần bằng phương pháp HPLC, có sự thay đổi một vài thông số cho phù hợp với điều kiện thực nghiệm
- Pha động: bao gồm acetonitril và đệm phosphat pH 6,8 Đệm phosphat được lọc qua màng 0,45 ỊLim Pha động được siêu âm đuổi khí trong 15 phút
Pha dung dịch chuân: hoà tan chính xác một lượng RMP chuân, INH chuấn trong hỗn hợp dung môi (đệm phosphat: methanol với tỷ lệ 96:4) sao cho dung dịch thu được có nồng độ của các chất lần lượt là RMP 0,16 mg/ml, INH 0,08 mg/ml Dung dịch này phải được sử dụng trong vòng 10 phút
Pha dung dịch định lượng: Cân khối lượng của 20 viên, tính khối lượng trung bình của 1 viên, nghiền mịn trong cối sứ, cân chính xác một lượng bột viên tương đương với 8 mg INH chuyển vào bình định mức 100 ml
Trang 38Thêm khoảng 90 ml dung dịch đệm phosphat, lắc siêu âm trong 10 phút, để nguội đến nhiệt độ phòng, thêm dung dịch đệm phosphat tới vạch
và trộn đều
- Điều kiện sắc ký:
- Cột sắc ký (Agilent 1200): C18 (250 X 4,6 mm, hạt 5 ịim)
- Detector UV-VIS: 238 mm
- Thể tích tiêm m ẫu : 20 ỊLil.
Pha động dược phân phối trong quá trình chạy sắc ký theo bảng sau:
2.3.6 Phương pháp thử độ ổn định của viên phối hợp
Viên bào chế được bảo quản trong 2 lần túi polyethylen, hàn kín
Điều kiện thực: nhiệt độ 20 - 30 °c, độ ẩm 60 - 85 % (Điều kiện phòng thí nghiệm)
Điều kiện lão hóa cấp tốc: Nhiệt độ 40°c ± 2°c Độ ẩm: 75% ± 5% (Bình hút ẩm, chứa dung dịch NaCl bão hòa đặt trong tủ ấm 40°C)
Thời gian theo dõi 90 ngày
2 3 7 Thẩm định phương pháp định lượng RMP trong huyết tuong
* Tính chọn lọc của phương pháp: