1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng công thức thuốc nhỏ mắt natri diclofenac 0,1%

78 271 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 4,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố chủ yếu như hệ đệm, pH, chất sát khuẩn, chất chống oxy hoá, tỷ lệ dung môi propylen glycol và bao bì tới độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt nat

Trang 2

Q'm'ớe hêíf tồ i xin tmụ iẢ tầng, lùêí ơn S  U »Ác tâi 'SỗeĩiưựỊ, Qíựĩùa 'Tớntị - tà nụu'ị'i thầụ đã tận tình hưổng dẫn ồ giúp, đs^ tịi tmnạ iuịt quá trình nqhiên eứu ồ hởàtt thành luậtL eăn.

^ ồi xin ehản thành eảm đn Q'hS^ QtỊÂiụỉtt Mình đa giúfL hướng, dẫn iủ' dung, ỊthầễL mêm iê'i u'u hứăMtìílíle 5.0.

hỉiu, <Jị)hồníỊ, đào tạo mu đại học ^rưịnq <Dại hũa G)u’tíe 'Jơà nỗỉy ^hịnq, Qlạhìên eứu ừà ^hồttọ 3ỉiểm nạhiỀtn ^ n g , ty, ©ể phần n)ượa phẩm 'Jơà nội^ Gũí nựhiêfh oyưđe phẩnt Q'H)2 lồnạ hiẻí đtt oề ãjư quan, tâttL gJúfi đ& tmng, quá trình học tậfi ữà thựa hiên luận ũăn.

M ột lần nữa tịi xin trăn tm nạ eảm tín tà ì eả những, iự qiuft, đ s quý, Ì% Ĩ JU nàụl

^ h a m ©a& Q lạhlĩti

Trang 3

C1 Công thức

Na EDTA Dinatri edetat

Trang 4

1.3 Sinh khả dụng và một sô biện pháp làm tăng sinh khả dụng

1.3.2 Một số biện pháp làm tăng sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt 12

Trang 5

kê công thức thuốc 20 CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU, PHƯƠNG T Ệ N , NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.4.1 Pha chế dung dịch thuốc nhỏ mắt Natri diclofenac 0,1% 242.4.2 Phương pháp định lượng natri diclofenac bằng sắc ký lỏng hiệu

2.4.3 Phương pháp đánh giá độ ổn định của chế phẩm thuốc nhỏ mắt

2.4.4 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của hệ đệm, nồng độ đệm, chất

sát khuẩn và chất chống oxy hoá đến độ ổn định của dung dịch

2.4.5 Phương pháp thiết kế thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của pH, tỷ

lệ chất chống oxy hoá, tỷ lệ propylen glycol và bao bì tới độ ổn đmh của dung dịch nhỏ mắt natri diclofenac 0,1% 29

2.4.7 Dự thảo tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm 30

3.1 Nghiên cứu sơ bộ ảnh hưởng của hệ đệm, nồng độ đệm, chất

sát khuẩn và chất chống oxy hoá đến độ ổn định của dung dịch

Trang 6

3.2 Thiết kê và bô trí thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của pH, tỷ lệ

chất chống oxy hoá, tỷ lệ propylen glycol và bao bì tói độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mát natri diclofenac 0,1% 40

3.2.3 Ảnh hưcmg của tỷ lệ chất chống oxy hoá 44

TÀI LIÊU THAM KHẢO

Trang 7

cũng xuất hiện ngày càng nhiều và phức tạp hơn gây nhiều khó khăn cho điều trị, trong đó bao gồm cả các bệnh về mắt Trên thị trường, thuốc nhãn khoa có rất nhiều dạng bào chế với thành phần dược chất đa dạng, trong đó thuốc nhỏ mắt chiếm khoảng trên 70% các chế phẩm.

ở nước ta, các thuốc nhỏ mắt được sản xuất ở quy mô công nghiệp chủ yếu

là các chế phẩm thuốc kháng khuẩn và chống viêm vód sự kết hợp của một kháng sinh như cloramphenicol, neomycin, polymycin với hoạt chất kháng viêm là dexamethason dưới các tên biệt dược như Polydexa, Neodexa, Qodexa, Levodexa được bán tự do trên thị trưòíig Bệnh nhân tự mua và sử dụng thuốc nhỏ mắt có chứa dexamethason vói nhiều tác dụng không mong muốn rất nguy hiểm cho mắt, có thể dẫn tới mù loà (theo quy chế các thuốc nhỏ mắt này phải bán theo đơn thầy thuốc) Mặt khác trong chuyên khoa mắt cũng rất cần các loại thuốc nhỏ mắt chống viêm non-steroid Do vậy, việc nghiên cứu các thuốc nhỏ mắt với hoạt chất kháng viêm loại non-steroid như diclofenac, indomethacin với ít tác dụng không mong muốn là rất cần thiết

Trên cơ sở thực tiễn đã nêu, chúng tôi chọn đề tài ''Nghiên cứu xây dựng

công thức thuốc nhỏ mắt natri diclofenac 0,1%'' làm đề tài luận văn tốt nghiệp

thạc sĩ dược học khoá VII (2002-2004)

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu đề xuất được công thức thuốc nhỏ mắt natri diclofenac 0,1% đảm bảo hiệu lực điều ù-ị và độ ổn định để có thể đưa vào sản xuất Nội dung của đề tài bao gồm:

1 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố chủ yếu như hệ đệm, pH, chất sát khuẩn, chất chống oxy hoá, tỷ lệ dung môi propylen glycol và bao bì tới độ

ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt natri diclofenac 0,1 %

2 Xây dựng công thức thuốc nhỏ mắt natri diclofenac 0,1%

3 Dự thảo tiêu chuẩn chất lượng của chế phẩm

Trang 8

1.1 Đại cương về thuốc nhỏ mắt

1.1.1 Khái niệm

Thuốc nhỏ mắt là những chế phẩm lỏng vô khuẩn, có thể là dung dịch hoặc hỗn dịch, chứa một hay nhiều dược chất, được pha chế và đóng gói thích họfp để

nhỏ vào túi kết mạc với mục đích điều trị hay chẩn đoán các bệnh ở mắt Thuốc

nhỏ mắt cũng có thể được bào chế dưới dạng bột vô khuẩn và được pha vód chất lỏng vô khuẩn thích hợp ngay trước khi dùng [1], [15], [43]

tử, các vitamin, thuốc dùng để chẩn đoán [15], [17], [37], [38]

Trong nhóm thuốc chống viêm tại chỗ, ngưòi ta thường sử dụng dược chất

là các corticosteroid có hoạt lực khác nhau như dexamethason, prednisolon hay hydrocortison Thưcrtig hay dùng phối hợp một corticosteroid với một kháng sinh Các tác dụng phụ hay gặp phải do corticosteroid gây ra như: Tăng nhãn áp, giãn đồng tử, viêm màng mạch, sa mi mắt, chậm liền vết thương giác mạc, nhiễm khuẩn thứ phát Ngoài ra, còn dùng các dược chất chống viêm không steroid như natri diclofenac [5], [15^

1.1.2.2 Dung môi

Dung môi dùng để pha chế thuốc nhỏ mắt chủ yếu là nước cất Nước cất để pha thuốc nhỏ mắt phải là nước cất vô khuẩn và phải đạt các tiêu chuẩn quy định

Trang 9

kích ứng đối với mắt Trong số các dầu thực vật, dầu thầu dầu là tốt nhất để pha thuốc nhỏ mắt do bản thân dầu này có tác dụng làm dịu niêm mạc mắt [1], [15]

1.1.23 Các chất phụ

Bên canh các dược chất có tác dụng điều tiỊ, người ta có thể thêm các chất phụ vào trong công thức thuốc nhỏ mắt để tăng tính ổn định và tác dụng điều trị của dung dịch thuốc, bao gồm;

Các chất sát khuẩn

Mặc dù thuốc nhỏ mắt là những chế phẩm vô khuẩn và nước mắt có chứa men lysozym có tác dụng kháng khuẩn nhẹ, nhưng thuốc nhỏ mắt đã được mở ra phải dùng nhiều lần mới hết một đơn vị đóng gói nên nguy cơ thuốc bị tái nhiễm khuẩn từ môi trường bên ngoài sau mỗi lần mở ra dùng là rất cao Để giữ cho thuốc luôn vô khuẩn, trong thành phần của thuốc nhỏ mắt bao giờ cũng có thêm một hay nhiều chất sát khuẩn ở nồng độ thích họp (trừ trường hợp có chống chỉ định) Chất sát khuẩn có sẵn trong thuốc có tác dụng tiêu diệt ngay các vi cơ thể ngẫu nhiên rơi vào thuốc Ngoài ra, không nên dùng những lọ thuốc sau khi đã mở

nắp quá một tuần kể từ lần mở nắp đầu tiên vì lượng chất sát khuẩn có trong lọ

thuốc là giới hạn Các chất sát khuẩn thường được dùng trong thuốc nhỏ mắt là benzalkonium clorid, các hợp chất thuỷ ngân hữu cơ, clorobutanol, alcol phenyl etylic, clohexidin acetat, các paraben [1], [21], [38], [43]

Các chất chống oxy hoá

Một số dược chất dùng để pha thuốc nhỏ mắt là những chất dễ bị oxy hoá, đặc biệt khi được pha thành dung dịch Để bảo vệ dược chất, trong thành phần của các thuốc nhỏ mắt này thường có thêm các chất chống oxy hoá như: natri sulfit, natri bisulfit, natri metabisulfit, natri thiosuưat Các chất này được dùng một mình hoặc phối hợp với chất hiệp đồng chống oxy hoá như dinatri EDTA để tăng tác dụng chống oxy hoá Dinatri EDTA có tác dụng khoá các ion kim loại hoá trị 2 •

Trang 10

hay 3 dưới dạng phức chelat, làm mất tác dụng xúc tác của các ion này đối với quá trình oxy hoá dược chất Đồng thời dinatri EDTA còn có tác dụng làm tăng tính sát khuẩn của benzalkonium clorid, clohexidin acetat, polymycin B sulfat [15].

ưu tiên trước hết là độ tan, độ ổn định của dược chất trong chế phẩm rồi đến sinh khả dụng của thuốc

Một số dung dịch và hệ đệm thường dùng để điều chỉnh pH thuốc nhỏ mắt

là dung dịch acid boric 1,9% (kl/tt), hệ đệm borat, hệ đệm phosphat, hệ đệm acetat, hệ đệm citrat [15], [26]

Các chất đẳng trương thuốc nhỏ mắt

Chất đẳng trương được thêm vào thuốc nhỏ mắt vói mục đích tạo ra áp suất thẩm thấu của thuốc nhỏ mắt bằng vód áp suất thẩm thấu của dịch nước mắt để thuốc không gây kích ứng mắt, không gây phản xạ tăng tiết nước mắt làm rửa trôi liều thuốc Đã có nhiều Dược điển chấp nhận việc dùng các dung dịch đẳng trương như là một dung môi để pha thuốc nhỏ mắt Do thực tế hàm lượng dược chất trong thuốc nhỏ mắt thưcmg rất thấp nên khi hoà tan dược chất vào một dung môi đẳng trương thì chế phẩm thuốc nhỏ mắt thu được chỉ hơi ưu trương so vói dịch nước mắt, do đó không gây khó chịu cho mắt Trong trưèmg hợp nhất thiết phải pha một chế phẩm thuốc nhỏ mắt hay dung dịch rửa mắt đẳng trương với dịch nước mắt, thì khi xây dựng công thức thuốc nhỏ mắt phải tính được lượng chất cần thêm vào để đẳng tnrofng hoá thuốc nhỏ mắt đó

Trang 11

manitol Khi lựa chọn cẩn lưu ý là chất dùng để đẳng trương hoá phải không gây tương kỵ với các chất khác có trong chế phẩm [15], [38].

Các chất làm tăng độ nhớt

Qiất tăng độ nhớt được thêm vào thuốc nhỏ mắt vói mục đích làm tăng thòi gian tiếp xúc của thuốc với niêm mạc mắt, làm giảm tốc độ rút thuốc khỏi mắt theo đường mũi lệ, do đó làm tăng sinh khả dụng của thuốc Một số chất làm tăng

độ nhớt của thuốc nhỏ mắt hay dùng như methylcellulose, hydroxypropyl methyl cellulose, alcol polyvinic, dextran, PVP Đối vód một số dung dịch thuốc nhỏ mắt

có dược chất dễ bị thuỷ phân, người ta có thể dùng propylen glycol hoặc PEG 300 vód nồng độ chiếm tói 30% lượng dung môi để ổn định dược chất, đồng tìiời làm tăng độ nhớt của thuốc nhỏ mắt đem lại hiệu quả điều trị tốt mà không có biểu hiện kích ứng mắt Cần chú ý là thuốc nhỏ mắt có thêm các chất làm tăng độ nhớt vód lượng lớn sẽ rất khó lọc qua màng lọc, làm kéo dài thời gian và giảm hiệu suất lọc Ngoài ra, cần nghiên cứu lựa chọn chất làm tăng độ nhớt một cách cẩn thận để tránh xảy ra tương kỵ [15], [37]

Các chất hoạt động b ề mặt

Chất hoạt động bề mặt được sử dụng trong công thức thuốc nhỏ mắt vói mục đích tăng độ tan của các dược chất ít tan, làm chất gây thấm khi pha hỗn dịch nhỏ mắt Các chất hoạt động bề mặt có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt nên có tác dụng làm cho thuốc phân tán nhanh vào màng nước mắt, giúp thuốc tiếp xúc tốt hơn với giác mạc và kết mạc, làm tăng tính thấm của màng giác mạc và làm cho thuốc được hấp thu tốt hon

Tuy nhiên, các chất hoạt động bề mặt đều có độc tứih nhất định đối với mắt như: có thể gây kích ứng mắt, chảy nước mắt và gây tổn thương giác mạc Độc tính của các chất hoạt động bề mặt xếp theo thứ tự: anion > cation > không ion hoá Ngoài ra, các chất hoạt động bề mặt còn có thể tương tác với chất sát khuẩn

Trang 12

dùng với nồng độ thấp nhất đủ để thực hiện chức năng mong muốn Các chất hoạt động bề mặt hay dùng: benzalkonium clorid, benzethonium clorid và các chất diện hoạt không ion hoá như tween 20, tween 80 Benzalkonium clorid vừa có tính chất hoạt động bề mặt, vừa có tác dụng sát khuẩn [15], [38].

1.1.2.4 Bao bi đựng thuốc nhỏ mắt

Bao bì đựng thuốc nhỏ mắt là một thành phần của chế phẩm thuốc nhỏ mắt hoàn chỉnh, có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thuốc Các thành phần của thuốc và bao bì có thể tương tác với nhau, gây ra các biến đổi của thuốc, có thể ảnh hưởng tới hiệu lực và độ an toàn khi sử dụng thuốc Do đó, các loại bao bì đựng thuốc nhỏ mắt (thuỷ tinh, chất dẻo hay cao su) nhất thiết phải được kiểm tra chất lượng và phải đạt yêu cầu của Dược điển quy định

Bao bì đựng thuốc nhỏ mắt bao giờ cũng phải có bộ phận nhỏ giọt và thường được chế tạo gắn liền với phần nắp lọ thuốc để tạo ra những giọt thuốc có dung tích tìir 30-50 |J.1 theo tiêu chuẩn Bao bì phải được xử lý và tiệt trùng trước khi đóng gói thuốc [1], [15], [21], [43],

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt

Độ ổn định của thuốc là khả năng của thuốc (nguyên liệu hay thành phẩm) được bảo quản trong điều kiện xác định vẫn giữ được những đặc tính vốn có về vật

lý, hoá học, vi sinh, đặc tính trị liệu và độc dược học trong những giới hạn quy định Độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt phụ thuộc vào các yếu tố: công thức, kỹ thuật bào chế, bao bì và điều kiện bảo quản (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng ) [3], [10], [20], [22]

1.2.1 Công thức chế phẩm

1.2.1.1 Ảnh hưởng của dược chất

Độ ổn định của thuốc nhỏ mắt phụ thuộc vào các tính chất vật lý, hoá học vốn có của dược chất như độ tan, mức độ nhạy cảm đối với ánh sáng, nhiệt độ, độ

Trang 13

ẩm, khả năng tham gia vào các phản ứng hoá học như phản ứng oxy hoá khử Ví

dụ ciprofloxacin rất nhạy cảm với ánh sáng và có độ tan, độ ổn định cao nhất trong dung dịch có pH < 4,5 [6], [15], [33], [38]

Độ tinh khiết của dược chất cũng có ảnh hưởng đến độ ổn đinh của thuốc nhỏ mắt Nếu dược chất không tinh khiết, các tạp chất sẽ tương kỵ với các thành phần khác của thuốc làm giảm độ ổn định của thuốc nhỏ mắt Vì vậy yêu cầu dược chất phải có độ tinh khiết cao về lý, hoá, sinh, nếu có thể thì đạt được các yêu cầu như dược chất dùng để pha thuốc tiêm [15], [38]

Mỗi dược chất lại có thể tồn tại dưód các dạng như dạng acid, base, este, dạng kết tinh, vô định hình, các muối khác nhau có độ tan và độ bền vững hoá lý khác nhau Ví dụ, dạng base tan tốt trong môi trường acid, dạng este dễ thuỷ phân trong môi trường kiềm vì vậy để có được một công thức thuốc nhỏ mắt có độ ổn định tốt nên chọn dạng dược chất vừa đảm bảo độ tan vừa đảm bảo bền vững với các yếu tố về kỹ thuật bào chế và điều kiện bảo quản [15], [38]

1.2.1.2 Ảnh hưởng của dung môi

Dung môi pha chế thuốc nhỏ mắt có ảnh hưởng rất lón đến độ tan và độ ổn định của dược chất Ví dụ dung môi nước hoà tan tốt benzalkonium clorid nhưng ít hoà tan các paraben Đối với các dược chất ít tan, ngưòd ta có thể sử dụng hỗn họp dung môi đổng tan để làm tăng độ tan Nếu dung môi không tinh khiết, không đảm bảo độ vô khuẩn đều có ảnh hưỏng đến độ ổn đinh về mặt lý hoá và sinh học của chế phẩm Ngoài ra, dung môi nước và kiềm là điều kiện tốt để thúc đẩy phản ứng thuỷ phân xảy ra đối với dược chất dễ bị thuỷ phân, có thể thêm dung môi đổng tan với nước để hạn chế quá trình này [15], [28], [33], [38], [39]

1.2.13 Ảnh hưởng của các chất phụ

• Chất điều chỉnh p H

pH ảnh hưởng rất lớn đến độ tan và độ ổn định của dược chất trong dung dịch thuốc nhỏ mắt [15], [25], [27], [37], [38]

Trang 14

Mỗi dược chất chỉ tan tốt trong một khoảng pH nhất định Hơn nữa pH là tác nhân xúc tác các phản ứng phân huỷ thuốc (phản ứng thuỷ phân, phản ứng oxy hoá, phản ứng racemic hoá ) nên mỗi dược chất chỉ ổn định trong một giód hạn

pH nào đó Như vậy cần điều chỉnh pH về giá trị mà tại đó dược chất ổn định và tan được ở mức nồng độ đảm bảo đủ gây tác dụng điều trị, ví dụ dung dịch acetazolamid ổn định tốt ở pH < 5,0 [15], [27], [37]

pH cũng có ảnh hưởng tới các thành phần khác trong thuốc nhỏ mắt, ví dụ clorobutanol có tác dụng sát khuẩn tốt nhất ở pH < 5,0 nhưng benzalkonium clorid

bị giảm hiệu lực sát khuẩn khi pH < 5 [15], [28;

Trong quá trinh bảo quản, dược chất bị phân huỷ, đồng thòi các thành phần của bao bì thuỷ tinh hoặc chất dẻo nhả vào thuốc làm cho pH thay đổi Để khắc phục hiện tượng này cần sử dụng các hệ đệm để duy trì pH mà tại đó thuốc ổn định Bên cạnh đó, để hạn chế kích ứng mắt, ngưòd ta phải sử dụng nồng độ đệm tối thiểu mà vẫn đảm bảo được độ ổn định của chế phẩm Mỗi loại hệ đệm có khả năng đệm tốt ở pH xác định, ví dụ hệ đệm acetat ở pH = 4,6, dihydrophosphat ở

pH = 7,21 Hơn nữa từng hộ đệm cũng có ảnh hưởng đến độ ổn định của dược chất, do đó cần lựa chọn hệ đệm thích hợp để đảm bảo độ ổn định của thuốc [15], [32], [37], [38]

Chất chống oxy hoá

Khi pha chế dưới dạng dung dịch thuốc nhỏ mắt, tốc độ oxy hoá của các dược chất dễ bị oxy hoá diễn ra càng mạnh Để hạn chế hiện tưọfng này, ngưòd ta thường thêm chất chống oxy hoá phù họp VÓ4 pH đã chọn Ví dụ dinatri edetat thêm vào công thức thuốc nhỏ mắt có tác dụng khoá các ion kim loại hoá trị 2 hay

3 dưới dạng phức chelat, làm mất tác dụng xúc tác của các ion này đối vód quá trình oxy hoá dược chất Ngoài ra dinatri edetat còn làm tăng tác dụng của các chất sát khuẩn như benzalkonium clorid, clohexidin acetat, polymycin B sulfat [15 [28]

Trang 15

diện hoạt, chất làm tăng độ nhót, chất đẳng trương cũng ảnh hưởng đến độ ổn định của thuốc Các chất sát khuẩn làm tăng độ ổn định về mặt vi sinh của dung dịch thuốc nhỏ mắt trong quá ừình bảo quản và sử dụng Oiất hoạt động bề mặt và chất làm tăng độ nhớt làm tăng khả năng hoà tan của các dược chất ít tan Tuy nhiên việc phối họfp các chất này trong công thức thuốc nếu không họp lý có thể gây ra tương tác giữa các thành phần của thuốc, làm giảm độ ổn đinh của chế phẩm [15], [25], [37], [38].

1.2.2 Kỹ thuật bào chế

Yếu tố kỹ thuật bào chế ảnh hưcmg đến độ ổn định của thuốc như: trình tự, thời gian pha chế, cách thức pha chế (pha chế km hay hở, có khí trơ hay không), nhiệt độ và thòd gian tiệt khuẩn Ví dụ: Trong công thức thuốc nhỏ mắt cloramphenicol 0,4%, độ tan trong nước của cloramphenicol là 1/400 và lượng dung môi dùng trong công thức không đủ để hoà tan hết cloramphenicol Natri borat có khả năng làm tăng độ tan của dược chất nhưng dung dịch natri borat có

pH kiềm (pH = 8,9), ở pH này cloramphenicol bị phân huỷ và mất hoạt tính rất nhanh Tuy nhiên hệ đệm boric borat trong công thức tạo ra pH vừa đủ (pH 6,8 - 7,2) để cloramphenicol hoà tan hoàn toàn và ổn đinh trong dung dịch Do

đó khi pha chế, ngưòd ta phải pha hệ đệm boric borat trước, sau đó mód hoà tan doramphenicol [15]

Một yêu cầu rất quan ừọng với thuốc nhỏ mắt là vô khuẩn Thực tế chỉ có một số ít dược chất trong dung môi nước thông thường ổn định ở điều kiện tiệt trùng ở 121°c trong 20 - 30 phút Do vậy thuốc nhỏ mắt thường được sản xuất và lọc vô khuẩn vào bao bì đã được tiệt khuẩn cùng với chất sát khuẩn ữong thành phần thuốc để đảm bảo thuốc ổn định về mặt sinh học trong suốt quá trình bảo quản [15], [38]

Trang 16

1.2.3 Yếu tô bao bì đựng thuốc

Bao bì đựng thuốc nhỏ mắt có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lưọng thuốc, vì

có thể xảy ra tương tác giữa các thành phần có trong thuốc vói các thành phần nhả

ra từ bao bì trong quá trình bảo quản Mỗi loại bao bì đều có nhược điểm riêng Ví dụ: thuỷ tinh nhả kiềm và ion kim loại vào dung dịch, các chất dẻo dễ thấm ẩm, thấm oxy và khí carbonic từ không khí Do đó cẩn lựa chọn bao bì thích hợp để thuốc có độ ổn định cao nhất [15], [25], [37]

Hơn nữa ngưòd ta còn chế tạo các loại bao bì đặc biệt để có thể đảm bảo độ

ổn định của ửiuốc, ví dụ epinephrin là một dược chất rất nhạy cảm với ánh sáng, ngưòi ta phải sử dụng bao bì là nhựa PE tỷ trọng thấp có tráng titan dioxid ở mặt ngoài và được đựng trong hộp carton để tránh ánh sáng làm tăng độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt này [38]

1.2.4 Điều kiện bảo quản

Các điều kiện bảo quản thuốc nhỏ mắt như; nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng đều ảnh hưởng đến độ ổn định của thuốc Nhiệt độ thúc đẩy quá trình phân huỷ với hầu hết các dược chất Đối với các dược chất nhạy cảm với ánh sáng, sự tiêp xúc vód ánh sáng có thể gây ra các phản ứng quang hoá làm giảm độ ổn định của thuốc Do vậy cần phải căn cứ vào từng chế phẩm cụ thể mà quy định điều kiện bảo quản thích họp, đảm bảo được tuổi thọ của thuốc [15], [21], [38], [43]

1.3 Sinh khả dụng và một số biện pháp làm tăng sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt

1.3.1 Sinh khả dụng của thuốc nhỏ mát

Nói chung sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt thường rất thấp và ước tính chỉ đạt từ 1 % tới 3% Nguyên nhân chính làm cho mắt có sinh khả dụng thấp là do các

cơ chế bảo vệ rất phức tạp của mắt, bản chất cấu tạo của các lớp mô của giác mạc

và một phần do sự hấp thu thuốc qua kết mạc Bên cạnh đó, cũng giống như các dạng thuốc khác, sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: đặc tính lý hoá của bản thân dược chất, mức độ đẳng trưofng với dịch

Trang 17

nước mắt, pH của chế phẩm, nồng độ dược chất [15], [25], [26], [34], [36], [37], [40].

Ó mắt ngưòi bình thưòng, dịch nước mắt tiết ra liên tục từ tuyến nước mắt với tốc độ lịil trong một phút, tạo ra một màng nước mắt bao phủ toàn bộ bề mặt của giác mạc và kết mạc Màng nước mắt này có tác dụng bảo vệ mắt chống

nhiễm khuẩn và giữ cho mắt không bị khô Nước mắt được chứa ở túi cùng kết

mạc khoảng 20 |Lil - 30 )il, dịch nước mắt thừa được rút vào túi nước mắt qua các ống tiểu quản nhờ áp suất âm ở túi nước mắt Khi chớp mắt, túi nước mắt bị ép, nước mắt được bơm vào ống mũi lệ và đổ vào khoang miệng, khoảng 2 |il mỗi lần chớp, tốc độ thay dịch nước mắt là 16% mỗi phút, chính cơ chế này làm giảm đáng kể sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt [16], [37]

Nước mắt là một dịch trong suốt có pH khoảng 7,4 chứa các chất điện giải nên nước mắt có khả năng đệm nhất định Dịch nước mắt có chứa gần 0,7% protein như albumin, globulin và lysozym nên có thể xảy ra liên kết protein - dược chất, làm giảm sự hấp thu dược chất vào trong các niêm mạc mắt vì chỉ có dược chất ở dạng tự do mới được hấp thu [16]

Khi nhỏ một giọt thuốc vào vùng trước giác mạc, phần thừa ngoài sức chứa của mắt sẽ trào ra má, phần còn lại được tháo vào ống mũi lệ và quá trình này tiếp diễn cho đến khi thể tích dịch nước mắt trở lại bình thường làm cho liều thuốc đã nhỏ bị mất đi đáng kể Hơn nữa khi thể tích nước mắt đã trở lại bình thường tíiì sự tiết nước mắt vẫn tiếp diễn, nước mắt tiết ra tiếp tục pha loãng lượng thuốc còn lại làm giảm gradient nồng độ dược chất, từ đó giảm tốc độ và mức độ khuyếch tán dược chất qua giác mạc [37]

Tác động của hệ thống nước mắt càng bất lọi khi thuốc nhỏ mắt có pH khác

xa 7,4 và được đệm bằng các hệ đệm có dung lưọfng đệm cao, vượt quá khả năng

tự điều chỉnh của nước mắt, thuốc sẽ gây kích ứng mạnh ở mắt, mắt phải phản xạ lại bằng cách tăng tiết nước mắt Nước mắt tiết ra càng nhiều, nồng độ dược chất càng bị pha loãng, quá trình khuyếch tán dược chất qua giác mạc càng giảm do

Trang 18

gradient nồng độ giảm Nước mắt tiết ra càng nhiều, liều thuốc đã nhỏ càng bị rửa trôi nhanh chóng, thòi gian tiếp xúc của thuốc vód niêm mạc mắt càng ngắn, dược chất càng ít được hấp thu Dược chất có thể thấm vào các tổ chức bên trong của mắt chủ yếu qua giác mạc, ngoài ra thuốc cũng có thể được hấp thu qua kết mạc

dược chất ở dạng ion hoá mới dễ dàng khuyếch tán qua lóp đệm Như vậy chỉ có

các dược chất vừa thân nước vừa thân lipid và có mức độ ion hoá vừa phải là có khả năng hoà tan trong cả hai pha dầu và nước mói dễ dàng thấm qua hàng rào lipid và hàng rào của các lớp mô giác mạc [16]

Kết mạc có rất nhiều mạch máu và bản thân kết mạc là màng có tứứi thấim tốt với nhiều dược chất, tuy nhiên sự thấm dược chất từ vùng ùước giác mạc vào các phần bên trong của mắt qua đường kết mạc là không đáng kể so với đường giác mạc Dược chất được hấp thu qua kết mạc chủ yếu đi vào tuần hoàn máu, có thể gây ra nhiều tác dụng không mong muốn Vì thế hấp thu thuốc qua kết mạc được xem như là một yếu tố làm giảm sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt đối vói dược chất cần thẩm sâu vào các tổ chức bên trong giác mạc, trừ trường hợp đích tác dụng của thuốc chính là kết mạc [16

1.3.2 Một sô biện pháp làm tăng sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt

Hiện nay các nhà bào chế tập trung nghiên cứu theo hai hướng nghiên cứu chính để cải thiện sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt là kéo dài thời gian lưu thuốc

Trang 19

ở vùng trước giác mạc hoặc làm tăng tứứi thấm của giác mạc đối với dược chất [15], [37].

13.2.1 Kéo dài thời gian lưu thuốc ở vùng trước giác mạc

Nếu giọt thuốc nhỏ vào mắt được lưu giữ lâu hơn ở vùng trước giác mạc, nghĩa là thòd gian dược chất tiếp xúc với giác mạc tăng lên, lượng dược chất được hấp thu sẽ lớn hofn và làm tăng sinh khả dụng [37]

Có nhiều cách để làm tăng thời gian lưu thuốc ở vùng trước giác mạc;

Thêm các polym e làm tăng độ nhớt của dung dịch thuốc nhỏ mắt

Thêm vào công thức thuốc nhỏ mắt các polyme tan trong nước để làm tăng

độ nhớt của thuốc nhỏ mắt Độ nhớt của thuốc nhỏ mắt tăng lên sẽ cản trở sự rút dịch thuốc đã nhỏ qua ống mũi lệ, làm chậm tốc độ rút thuốc khỏi mắt, đổng thòi thuốc cũng khó bị pha loãng hơn bởi dịch nước mắt [15], [25], [37], [38]

Các chất làm tăng độ nhớt thường được sử dụng như methyl cellulose, hydroxypropyl methyl cellulose, alcol polyvinic, dextran với các nồng độ thích hợp Độ nhót tối ưu đối với thuốc nhỏ mắt trong khoảng 12 đến 15 centipoise (cps) Nếu thuốc nhỏ mắt có độ nhớt quá cao, mắt sẽ có phản xạ tăng tiết nước mắt, tăng chóp mắt để thiết lập lại độ nhớt bình thường của dịch nước mắt và sẽ gây tác dụng ngược lại [15], [38]

Bào c h ế dưới dạng hỗn dịch nhỏ mắt

Dược chất frong hỗn dịch nhỏ mắt được phân tán trong môi trường phân tán dưới dạng các tiểu phân có kích thước < 50 |im Do đó khi nhỏ vào mắt, các tiểu phân sẽ khó bị rửa ừôi bởi quá trình động học của nước mắt Thêm vào đó, dược chất sẽ được hấp thu qua giác mạc hoặc kết mạc từ phần dung dịch bão hoà bao quanh các tiểu phân chất rắn, nên các tiểu phân hoạt chất rắn nằm trước vùng giác mạc có tác dụng như một kho dự trữ và bổ sung dung dịch bão hoà để quá ừình khuếch tán xảy ra liên tục Vì vậy hỗn dịch nhỏ mắt thường có sinh khả dụng cao hơn và tác dụng kéo dài hơn so với dung dịch thuốc nhỏ mắt có cùng nồng độ

Trang 20

dược chất Tất nhiên tốc độ hoà tan dược chất tìir các tiểu phân vào dịch nước mắt nhất thiết phải nhanh hofn tốc độ thải trừ dược chất từ mắt [37].

Bào c h ế dạng thuốc m ỡ tra mắt

Dược chất trong thuốc mỡ tra mắt có thể hoà tan trong hỗn họp tá dược (thuốc mỡ kiểu dung dịch) hoặc được phân tán trong hỗn hợp tá dược vód kích thước tiểu phân < 75|im (thuốc mỡ kiểu hỗn dịch) So với thuốc nhỏ mắt, sinh khả dụng của dược chất từ dạng thuốc mỡ tra mắt thường vượt trội hơn do thời gian tiếp xúc của thuốc với niêm mạc mắt kéo dài, khó bị pha loãng bởi nước mắt, không bị loại trừ theo ống mũi lệ, thuốc được giải phóng từ từ do tác động của mỗi lần chớp mắt Tuy nhiên, dạng thuốc mỡ tra mắt có nhược điểm làm mò mắt tạm thời mỗi khi tra thuốc, nên thường phải dùng vào ban đêm trước khi đi ngủ [16]

H ạn c h ế gây kích ứng mắt

Khi nhỏ thuốc vào mắt, thuốc có thể gây khó chịu hoặc gây kích ứng mắt tạo ra phản xạ tăng tiết nước mắt và rửa trôi thuốc Nguyên nhân có thể do đặc tính của bản thân dược chất hoặc do thuốc có áp suất thẩm thấu và pH khác biệt quá lóii so với chỉ số sinh lý bình thưòfng của dịch nước mắt Nên điều chỉnh pH của

thuốc nhỏ mắt về giá trị trung tính hoặc gần trung tính, lý tưcmg nhất là bằng pH

của dịch nước mắt nếu pH đó không ảnh hưởng đến độ tan hay độ ổn định của dược chất trong thuốc nhỏ mắt Trường họp cần dùng hệ đệm để điều chỉnh và giữ cho pH của thuốc nhỏ mắt ổn định thì chỉ nên dùng hệ đệm có dung lượng đệm thấp, có như thế dịch nước mắt mới có thổ trung hoà được pH của thuốc một cách

nhanh chóng sau khi nhỏ thuốc Đối với thuốc nhỏ mắt, dung lượng đệm thường từ

0,01 đến 0,1 là đủ với nồng độ muối và acid đệm từ 0,05M đến 0,5M [15], [32], [37]

Ngoại ừừ một số thuốc nhỏ mắt cần ưu trưoiig để làm tăng hấp thu và cung cấp nồng độ dược chất đủ lón để có hiệu quả tức thì, còn phần lón các thuốc nhỏ mắt đều được điều chmh đẳng trương với dịch nước mắt để hạn chế tới mức thấp nhất khả năng gây kích ứng mắt khi nhỏ thuốc [15], [25], [37]

Trang 21

Sử dụng các chất kết dính sinh học

Một biện pháp mói làm tăng sinh khả dụng là việc sử dụng những chất kết dính sinh học như các polyme có khả năng gắn vód lóp áo nhầy bao phủ bề mặt giác mạc và kết mạc, kéo dài thời gian lưu của thuốc [40]

Các polyme thường được sử dụng làm chất kết dính sinh học như: hydroxypropyl cellulose, hydroxypropylmethyl cellulose (dạng không ion hoá); chitosan, dextran (các polycation), carboxymethyl cellulose (các polyanion), một

số dẫn chất của acid polyaciylie (PAA) như carbopol và polycarbophil [30], [40]

13.2.2 Làm táng tính thấm của giác mạc đối với dược chất

Có thể nâng cao sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt bằng cách sử dụng các chất làm tăng khả năng thấm của tế bào biểu mô giác mạc đối với dược chất hoặc các chất làm nód lỏng vùng liên kết chặt chẽ của lớp biểu mô giác mạc Các chất được nghiên cứu như: chất tạo phức chelat, chất hoạt động bề mặt, các acid mật và muối mật, các acid béo như acid caprylic [40]

Các chất hoạt động bề mặt được thêm vào công thức thuốc nhỏ mắt sẽ tác động lên biểu mô giác mạc làm thay đổi tứứi nguyên vẹn của hàng rào lipid của biểu mô giác mạc, giúp cho các phân tử dược chất dễ dàng khuyếch tán qua biểu

mô giác mạc Đồng thòi các chất diện hoạt còn có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt giúp thuốc phân tán mạnh hofn vào màng nước mắt, tiếp xúc tốt hơn vói giác mạc, kết mạc, do đó dược chất được hấp thu tốt hơn [15

Đối vód một số dược chất có khả năng ion hoá như muối của các acid yếu hay base yếu khi hoà tan thành dung dịch thuốc, các dược chất này vừa có thể tồn tại dưới dạng ion hoá (dạng muối) vừa có thể tồn tại dưód dạng không ion hoá (dạng acid hay base tự do) Dạng không ion hoá của dược chất dễ tan trong lipid,

do đó dễ thấm qua biểu mô giác mạc nên được hấp thu tốt hơn so với dạng ion hoá Mức độ ion hoá phụ thuộc vào pKa của dược chất và pH của dung dịch thuốc Qiính vì vậy, ở một mức độ nào đó, các nhà bào chế có thể tác động để làm tăng tính thấm của các phân tử dược chất với biểu mô giác mạc bằng cách điều chỉnh

Trang 22

pH của dung dịch thuốc đến một giá trị thích họp mà tại pH đó dược chất có mức

độ ion hoá đủ để hoà tan hoàn toàn ừong nước, đổng thòd dễ dàng thấm qua màng giác mạc

Ví dụ: Pilocarpin là dược chất có tính base yếu pKa = 7,07 Qua nghiên cứu

ta thấy khi nhỏ mắt dung dịch pilocarpin pH = 6,5 cho hiệu lực điều trị cao hơn khi nhỏ dung dịch pH = 5,0, là vì ở pH = 6,5 tỷ lệ pilocarpin không ion hoá là 22%, còn ở pH = 5,0 tỷ lệ pilocarpin ion hoá chỉ có 1% Một nghiên cứu khác cũng cho thấy khi tăng pH của dung dịch pilocarpin từ 5,0 lên 8,6 thì lượng pUocarpin trong tiền phòng tăng lên 2-3 lần [15], [37]

1.4 Vài nét vê diclofenac

1.4.1 Công thức cấu tạo

Dạng muối natri có công thức sau [21]:

Dễ tan trong propylen glycol, dung dịch thuốc tiêm natri diclofenac 2,5% pha trong hỗn họp dung môi nước-propylen glycol càng ổn định khi tỷ lệ propylen glycol càng cao [18]

Độ tan của natri diclofenac trong nước thay đổi theo pH của môi trưòtig hoà tan (bảng 1.1), nhiệt độ và dung môi [24], [41]

Trang 23

Bảng 1.1: Độ tan của naíri diclofenac ti'ong nước

pH1,2-3,04,05,0

6,0

7,07,5

Độ tan [mg/ml]

<0,0040,0210,0860,591,871,69Nhiệt độ nóng chảy; 283°c - 285°c, pK, 4,0 [25]

Hệ số phân bố dầu nước: 13,4 (n - octanol - đệm phosphat pH 7,2) [23]

Dung dịch natri diclofenac trong methanol có hấp thụ tử ngoại cực đại ở bước sóng 283 nm [33]

Cấu tạo hoá học: do có nhóm phenyl acetat natri và nhóm amin bậc 2 nên natri diclofenac rất dễ bị thuỷ phân và dễ bị oxy hoá

Ngoài muối natri, còn sử dụng muối kali và diethylamin diclofenac ừong thành phần các chế phẩm thuốc viên, emulgel [29]

1.4.3 Dược lực học [2], [5], [8], [44]

Natri diclofenac là chất non-steroid có tác dụng kháng viêm và giảm đau

Cơ chế tác dụng của natri diclofenac đã được chứng minh qua thực nghiệm là ức chế tổng hợp Prostaglandin, chất đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của phản ứng viêm và đau Dung dịch thuốc nhỏ mắt có natri diclofenac dùng trước phẫu thuật lấy thuỷ tinh thể đục có tác dụng ngăn chặn sự co đồng tử khi phẫu thuật và có tác dụng kháng viêm sau phẫu thuật Tại ổ viêm, trong quá trình thực bào, các đại thực bào làm giải phóng các enzym của lysozom làm tăng thêm quá trình viêm, các thuốc chống viêm không steroid ngăn cản sự giải phóng các enzym gây viêm do đó có tác dụng ức chế quá trình viêm Ngoài ra có thể do một số cơ chế khác như: huỷ fibrin, ức chế sự di chuyển bạch cầu, ức chế phản ứng^J<ịíaag^-r>> nguyên kháng thể

Trang 24

Khi được dùng trước phẫu thuật lấy thuỷ tinh thể đục, thuốc nhỏ mắt natri diclofenac ngăn chặn sự co đồng tử xảy ra trong lúc phẫu thuật, đổng thời cũng cĩ tác dụng kháng viêm khi được dùng sau phẫu thuật hoặc chấh thưoíng mắt hoặc các tình trạng viêm khơng do nhiễm trùng khác của mắt.

Khi nhỏ mắt, liều dùng hiệu quả mỗi ngày chỉ vào khoảng 0,25 - 0,5 mg (Igiọt X 3 - 5 lần/ngày) và liều này bằng 1% liều Voltaren dùng cho bệnh nhân thấp khĩp

1.4.4 Dược động học [2], [5], [35]

Natri diclofenac dùng theo đưịíig uống hay đặt trực tràng được hấp thu nhanh và gần như hồn tồn Các dạng thuốc dùng theo đưịfng hấp thu qua da cĩ mức độ hấp thu chỉ đạt khoảng 6% so với khi uống một liều tương ứng Tiêm bắp với liều 75mg diclofenac, nồng độ tối đa trong huyết tưoỉng trung bình là 2,5|ig/ml sau khi tiêm khoảng 20 phút Thuốc được phân bố nhiều ở hoạt dịch, thời gian bán huỷ từ 3 - 6 giờ, liên kết protein huyết tưofng cao: 99,7% Khi uống, thuốc bị chuyển hố qua gan lần đầu cao, chỉ cĩ 50-60% liều thuốc đã dùng vào hệ tuần

hồn ở dạng khơng biến đổi.

Đối với dạng dung dịch nhỏ mắt, thực nghiêm trên thỏ khoẻ manh cho thấy natri diclofenac đạt nồng độ tối đa trong giác mạc và kết mạc vào thời điểm 30 phút sau khi nhỏ Thuốc được thải trừ nhanh và hồn tồn ra khỏi cơ thể sau 6 giờ

ớ người, khả năng ngấm vào tiền phịng của natri diclofenac đã được xác nhận Khơng phát hiện thấy diclofenac trong huyết thanh người sau khi nhỏ dung dịch ná-i diclofenac 0,1% vào mắt [5]

Trang 25

thần kinh hông cấp, thấp khớp cấp, cơn đau quặn sỏi thận, sỏi mật Tiêm một lần 75mg/ngày trong 2 ngày, sau đó điều trị duy trì bằng dạng thuốc uống.

Thuốc nhỏ mắt chứa natri diclofenac có các tác dụng sau:

- Ngăn chặn sự co đổng tử trong phẫu thuật lấy thuỷ tinh thể đục

- Tình trạng viêm sau phẫu thuật lấy thuỷ tinh thể đục và các can thiệp phẫu thuật khác

- Các tình trạng viêm không do nhiễm trùng của phần trước mắt, tình trạng viêm sau chấn thương xuyên thủng và không xuyên thủng (kết hợp với điều trị kháng sinh tại chỗ)

Liều lượng và cách dùng:

ơ iư a có nghiên cứu cụ thể về việc dùng dạng thuốc nhỏ mắt ở ừ-ẻ em, liều dùng cho ngưòd lớn như sau:

+ Trước phẫu thuật trong vòng 3 giờ: nhỏ mắt 5 lần, mỗi lẩn 1 giọt

+ Sau phẫu ửiuật: ngay sau phẫu thuật, nhỏ 1 giọt, lặp lại 3 lần: sau đó nhỏ

3 - 5 lần mỗi ngày cho đến khi đạt hiệu quả điều trị

+ Các chỉ định khác: nhỏ 1 giọt, 4-5 lần mỗi ngày, tuỳ thuộc độ nặng nhẹ Qiỉ cân nhắc việc điều trị lâu dài khi đã đánh giá kỹ chỉ định và khám mắt cẩn thận Nói chung, không nên dùng thuốc lâu hơn vài tuần

1.4.6 Chống chỉ định [2], [5], [14]

Bệnh nhân mẫn cảm với natri diclofenac, loét dạ dày - tá tràng tiến triển, suy gan, thận nặng, hen hoặc dị ứng với các dẫn chất của acid salicylic Không dùng phối họp với thuốc chống đông dạng uống, heparin, các suưamid hạ đường huyết, muối lithi và ticlopidin

1.4.7 Một số dạng thuốc nhỏ mắt có natìi diclofenac đang lưu hành trên thị trường [5], [II]

Qiủ yếu là thuốc của các hãng dược phẩm nước ngoài như:

- O iế phẩm chỉ có Diclofenac: O iế phẩm Naclof của hãng Ciba Vision và Profenac của hãng Protec India

Trang 26

- Chế phẩm có Diclofenac kết họp vói Gentamicin: Chế phẩm Voltamycin của hãng Ciba Vision.

1.4.8 Phương pháp định lượng natrì diclofenac [42], [43]

Phương pháp quang phổ tử ngoại (UV): Natri diclofenac trong methanol có

hấp thụ cực đại ở khoảng 283 nm, trong nước cất có hấp thụ tử ngoại ở khoảng 275

nm nên có thể xác định hàm lượng natri diclofenac trong các chế phẩm bằng phương pháp đo độ hấp thụ u v Phương pháp này dễ thực hiện, cho kết quả nhanh, ít tốn kém nhưng không áp dụng được trong trường hợp cần đánh giá độ ổn định của chế phẩm vì sản phẩm phân huỷ của dược chất vẫn hấp thụ tử ngoại

Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) là phương pháp phân tích

có tính chọn lọc cao, giúp phân biệt được dược chất với các chất phân huỷ của nó, nên đã được nhiều tác giả sử dụng để định tính, định lượng, đánh giá độ tinh khiết

và theo dõi độ ổn định của các chế phẩm chứa diclofenac

1.5 Phương pháp quy hoạch thực nghiệm và tối uu hoá trong thiết kế công thức thuốc [4], [7], [19], [31]

Sử dụng phương pháp quy hoạch thực nghiệm và tối ưu hoá công thức thuốc nhằm nghiên cứu, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khi xây dựng công thức chế phẩm và qui trình sản xuất (gọi là các yếu tố đầu vào hay các thông số độc lập - Xj) lên các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm (các yếu tố đầu ra hay các thông số phụ thuộc - Yj).

Trong nghiên cứu thực nghiệm, phương pháp tối ưu hoá giúp người nghiên cứu chỉ phải tiến hành một số lượng thí nghiệm ít nhất mà vẫn đạt được hiệu quả một cách logic Trong nghiên cứu sản xuất, nó giúp phát hiện ra những điều kiện sản xuất tối ưu để có được những sản phẩm vód chất lượng tốt nhất

Nguyên tắc chung của phưong pháp quy hoạch thực nghiệm và tối ưu hoá bao gồm các bước:

Trang 27

1.5.1 Lựa chọn các thông số hệ thống

Các thông số hệ thống bao gồm 2 loại:

- Các thông số độc lập (Xị) như: Tỷ lệ thành phần tá dược, chất phụ, dung môi trong công thức hay những điều kiện sản xuất

- Các thông số phụ ửiuộc (Yj) thường là các đặc tứih sản phẩm (các thông số kinh tế và kỹ thuật)

1.5.2 B ố trí thí nghiệm và làm thực nghiệm theo mô hình

Mục đích: Rút ra một bảng số liệu, từ đó cho phép xác định quy luật tương quan giữa Xj và Yj dưới dạng toán học Yj = f(Xj)

Quan hệ hàm số Yj = f(Xj) trong đa số ứường hợp được khai triển đến bậc nhất hay bậc hai (theo khai triển Taylor), những khai triển bậc cao hơn ít có giá trị thực tế vì tưoíng quan từ bậc ba trở lên ít gặp, hơn nữa số thí nghiệm sẽ tăng lên gấp bội nên hiệu quả thấp Có nhiều phương pháp thiết kế thí nghiêm, trong đó phương pháp mạng đofn hình triển khai vói tưcmg quan bậc 2 đơn giản hay được áp dụng trong thiết kế công thức chế phẩm bào chế

1.5.3 Phân tích thống kê và hồi quy

Bản chất của phương pháp chính là tìm bình phương nhỏ nhất để xác định các hệ số của phương trình hổi quy Các phần mềm hay được sử dụng như: STARGRAPHIC, SAS, MINITAB, SURF, OPTIMA, MODDE

1.5.4 Xác định các thông số tối ưu

Việc xác định các thông số tối ưu nhằm mục đích tìm ra công thức bào chế tối ưu nhất trong điều kiện thực nghiệm, thường là xác định giá trị cực tiỊ của hàm

số Y = f(X), tức là tại các giá trị đạo hàm bậc nhất Y'(Xị) = 0 đối với hàm nhiều biến

Trong nhiều phương pháp tiến hành vùng cực trị, phương pháp mạng đơn hình (simplex lattice design) thưòíng được sử dụng vì tính hiệu quả và tương đối đơn giản

Trang 28

Quan hệ giữa Y và X cũng có thể được thể hiện ừên không gian 2 hay 3 chiều, còn gọi là bề mặt đáp ứng (response surface) Vùng tối ưu có thể được xác định trực tiếp trên đồ thị hoặc bằng phương pháp chồng đổ thị các đường đồng mức, từ đó sẽ cho phép lựa chọn các biến độc lập và lựa chọn được công thức tối ưu.

Trang 29

Chương 2 NGUYÊN LIỆU, PHƯƠNG TIỆN, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

2.1 Nguyên liệu

- Naừi diclofenac đạt tiêu chuẩn Dược điển Việt nam III

- Natri dihydro phosphat, dinatri hydrophosphat, acid boric, natri borat, benzalkonium clorid, thiomersal, dinatri edetat, natri sulfit, natri metabisulfit, propylen glycol, tween 80 đạt tiêu chuẩn dược dụng

- Natri clorid, nước cất pha tiêm đạt tiêu chuẩn Dược điển Việt nam III

- Methanol, dung dịch Natri acetat 0,1N loại tinh khiết dùng cho sắc ký lỏng hiệu năng cao

2.2 Phương tiện nghiên cứu

- Máy sắc ký lỏng hiệu năng cao Mark

- Máy đo pH: Mettler Toledo

- Màng lọc cellulose acetat, kích thước lỗ xốp 0,45

- Tủ ấm, cân kỹ thuật, cân phân tích

- Các dụng cụ bào chế dung dịch thuốc nhỏ mắt

2.3 Nội dung nghiên cứu

+ Từ tài liệu tham khảo, trên cơ sở công thức ban đầu (CTBĐ), nghiên cứu ảnh hưcmg của hệ đệm, nồng độ đệm, chất sát khuẩn, chất chống oxy hoá và điều kiện bảo quản (nhiệt độ, ánh sáng) tới độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt natri diclofenac 0,1%

+ Lựa chọn sơ bộ thành phần công thức thuốc nhỏ mắt natri diclofenac với hệ đệm, nồng độ đệm, chất sát khuẩn, chất chống oxy hoá đã được xác định dựa trên kết quả nghiên cứu ban đầu,

+ Sử dụng phần mềm Modde 5.0 (sản phẩm của tập đoàn Umetrics [45]) để thiết kế thí nghiệm với các mức pH, tỷ lệ chất chống oxy hoá, tỷ lệ Propylen glycol thay đổi Tiến hành bào chế các công thức thuốc nhỏ mắt theo như thiết kế và bảo

Trang 30

quản ở các điều kiện khác nhau trong hai loại bao bì lọ nhựa PE và lọ thuỷ tinh

trung tứứi sau một thòd gian nhất định

+ Đánh giá ảnh hưcmg của pH, tỷ lệ chất chống oxy hoá, tỷ lệ propylen glycol

và bao bì tói độ ổn đinh của dung dịch thuốc nhỏ mắt

+ Dựa vào kết quả thực nghiệm, bằng phần mềm Modde 5.0, tìm ra công thức

tối ưu của chế phẩm

+ Dự thảo tiêu chuẩn chất lượng chế phẩm

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Pha chê dung dịch thuốc nhỏ mắt Natri diclofenac 0,1%

Dựa trên tài liệu tham khảo [9], [11], [13], [15], [18], công thức các chế

phẩm thuốc nhỏ mắt được nghiên cứu có thành phần như sau (Công thức ban đầu:

CTBĐ):

Natri diclofenac 0,1 gCác chất phụ khác thay đổi tuỳ theo mục đích nghiên cứu Natri clorid vừa đủ đẳng ừương

Trang 31

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ qui trình kỹ thuật pha ch ế dung dịch thuốc nhỏ mắt

Trang 32

2.4.2 Phưong pháp định lượng natri diclofenac

Natri diclofenac được định lượng bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)

• Hoá chất, thuốc thử: Theo DĐVNIII

- Dung dịch thử: Hút chính xác 5ml chế phẩm cho vào bình định mức dung tích lOOml Thêm pha động đến vạch, lắc kỹ, rồi lọc qua màng lọc milipore 0,45|im Tiêm lần lượt dung dịch thử, dung dịch chuẩn vào hệ thống sắc ký Hàm lượng (g) hoạt chất trong lOOml chế phẩm được túứi theo công thức:

Trang 33

2.4.3 Phương pháp đánh giá độ ổn định của chê phẩm thuốc nhỏ mắt natri diclofenac 0,1%

2.4.3.I Tiêu chí đánh giá độ ổn định

Đánh giá độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt ù-ên 3 tiêu chí chủ yếusau:

- Độ trong và màu sắc dung dịch: Nhận xét bằng cảm quan về độ trong và màu sắc của dung dịch mới pha và dung dịch sau thời gian bảo quản,

- pH dung dịch: Được đo bằng máy đo pH, xác định pH của dung dịch mód pha

và dung dịch sau thòd gian bảo quản

- Hàm lượng dược chất: Xác định hàm lượng dược chất trong dung dịch mói pha (coi là 100% ban đầu) và hàm lượng dược chất (%) còn lại trong các mẫu nghiên cứu sau thời gian bảo quản Hàm lưọíig dược chất còn lại (%) so với hàm lượng ban đầu được túứi theo công thức:

Trong đó: X(%): hàm lượng dược chất còn lại

Qđ : hàm lượng dược chất ban đầu khi mới pha dung dịch

C|h : hàm lượng dược chất sau'khi bảo quản ở điều kiện nhất định

2A.3.2 Phương pháp đánh giá độ ổn định

Các dung dịch thuốc được bảo quản ở 3 điều kiện sau:

• Lão hoá ở 50°C: Đặt chế phẩm thuốc vào tủ ấm tránh ánh sáng, duy trì ở nhiệt độ 50°c ± l°c, độ ẩm tưong đối < 90% Sau từng thời gian bảo quản 3,

4 ,5 và 6 tháng, đánh giá độ ổn định của chế phẩm theo các tiêu chí đã đề ra

• Đặt các chế phẩm thuốc ở trong phòng, không tránh ánh sáng

• Treo các chế phẩm thuốc bên ngoài cửa sổ, không tránh ánh sáng

Trang 34

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu sơ bộ ảnh hưởng của hệ đệm, nồng độ đệm, chất sát khuẩn và chất chống oxy hoá đến độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt natri diclofenac 0,1%

Các công thức chế phẩm (bảng 2.1) được pha chế dựa trên CTBĐ (mục 2.4.1)

• Ảnh hưởng của ánh sáng và nhiệt độ: Đánh giá so sánh trên cùng một công

thức thuốc khi bảo quản ở các điều kiện ánh sáng và nhiệt độ khác nhau.

• Ảnh hưỏỉng của hệ đệm và nồng độ đệm; CTBĐ với chất sát khuẩn là benzalkonium clorid 0,01% trong các dung dịch đệm phosphat với các nồng độ 0,05M; 0,1M và dung dịch đệm boric-borat với các nồng độ 0,1M; 0,2M ở mức pH 7,5 xấp xỉ pH sinh lý của dịch nước mắt Xác định hệ đệm và nồng độ

đệm thích họp mà dung dịch thuốc ổn định và ít gây kích ứng đối vói mắt,

• Ảnh hưởng của chất sát khuẩn: CTBĐ với các chất sát khuẩn là benzalkonium clorid, thiomersal ở nồng độ 0,01% Xác định ảnh hưởng của các chất sát khuẩn đến độ ổn đinh của thuốc

• Anh hưởng của chất chống oxy hoá; CTBĐ với chất sát khuẩn là benzalkonium clorid 0,01%, các công thức này có thêm chất chống oxy hoá là natri metabisulfit 0,2%; natri metabisulfit 0,2% phối hợp với NaEDTA 0,02% và natri sulfit 0,2% phối hơp với NaEDTA 0,02% Đánh giá ảnh hưởng của chất chống oxy hoá và chất hiệp đồng chống oxy hóa đến độ ổn đinh của thuốc

Trang 35

Bảng 2.1 Các công thức chế phẩm thuốc nhỏ mắt được nghiên cứu sơ bộ

2.4.5 Phương pháp thiết kê thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của pH, tỷ lệ chất chống oxy hoá, tỷ lệ propylen glycol và bao bì tối độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt natri diclofenac 0,1%

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu sơ bộ ảnh hưởng của một số yếu tố đến độ ổn định của chế phẩm, đã lựa chọn công thức chế phẩm thuốc nhỏ mắt natri diclofenac 0,1% với hệ đệm, chất sát khuẩn và chất chống oxy hoá phù họfp (công thức sơ bộ) Thay đổi giá trị pH của các dung dịch thuốc trong một khoảng nhất định nhưng vẫn đảm bảo cho dược chất ổn định, thay đổi tỷ lệ chất chống oxy hoá

và tỷ lệ propylen glycol trong một giói hạn cho phép Dùng phần mềm Modde 5.0

để thiết kế thí nghiệm vód các biến độc lập là pH dung dịch (Xj), tỷ lệ chất chống oxy hoá (X2) và tỷ lệ propylen glycol (X3), Các biến phụ thuộc bao gồm pH (Y|)

và hàm lượng Natri diclofenac (Y2) còn lại của dung dịch thuốc

Trang 36

Tiến hành pha chế các công thức theo quy hoạch đã thiết kế Bảo quản các dung dịch thuốc nhỏ mắt mới pha ở các điều kiện khác nhau Sau từng thời gian 4,

5 và 6 tháng, đánh giá ảnh hưởng của pH, tỷ lệ chất chống oxy hoá, tỷ lệ propylen glycol và bao bì (lọ PE và lọ TTTT) tói độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt natri diclofenac

Khoảng thay đổi của các biến độc lập:

• Giá trị pH thay đổi trong khoảng 7 < Xi < 8

• Chất chống oxy hoá: 0,1 < X2 < 0,3 (% m/v), được phối hợp với NaEDTA0,02%

• Tỷ lệ propylen glycol: 0 < X3 < 10 (% v/v)

2.4.6 Tối ưu hoá công thức chế phẩm

Từ các kết quả thực nghiệm, sử dụng phần mềm Modde 5.0 để xử lý số liệu, thiết lập được các phương trình hồi qui mô tả mối quan hệ giữa các biến phụ thuộc (Y|, Y2) và các biến độc lập (Xj, X2, X3) Xác định công thức tối ưu dựa trên hàm mục tiêu bậc hai đồng thòi lựa chọn được loại bao bì thích họfp

2.4.7 Dự thảo tiêu chuẩn chất lượng chê phẩm

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, yêu cầu chất lượng chế phẩm thuốc nhỏ mắt theo DĐVN III và thực tiễn sản xuất thuốc ở các xí nghiệp dược phẩm, dự thảo tiêu chuẩn chất lượng và phương pháp kiểm nghiệm chế phẩm

Trang 37

Chương 3

3.1 Nghiên cứu sơ bộ ảnh hưỏìig của hệ đệm, nồng độ đệm, chất sát khuẩn

và chất chống oxy hoá đến độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt natri diclofenac 0,1%

3.1.1 Ảnh hưởng của hệ đệm và nồng độ đệm

Natri diclofenac bền vững trong môi trường kiềm nhẹ [18], [23], [40] Các

hệ đệm phosphat và hệ đệm borat có khả năng đệm tốt ở pH này Dự đoán

pH = 7,5 là giá tiỊ pH có thể đảm bảo cho thuốc có độ ổn định cao Tiến hành pha các dung dịch chế phẩm thuốc nhỏ mắt theo công thức dự kiến ban đầu trong các

hệ đệm vói nồng độ đệm khác nhau và điều chỉnh về pH = 7,5 như đã ghi trong mục 2.4.4 (các CT này không có chất chống oxy hoá) Theo dõi độ ổn định của các mẫu thuốc đựng trong lọ TTTT ở điều kiện phòng, tủ ấm 50°c và bên ngoài cửa sổ trong thời gian 3 tháng

Kết quả thực nghiệm được trình bày trên bảng 3.1 a, 3.1 b và hình 3.1

Bảng 3.1.a Ảnh hưởng của hệ đệm và nồng độ đệm đến hình thức cảm

quan và pH của dung địch thuốc nhỏ mắt natrì diclofenac

Sau 3 tháng

Ban đầu

Sau 3 thárijơ 3 ĐK

Trang 38

Bảng 3.Lb Ảnh hưởng của hệ đệm và nồng độ đệm đến sự thay đổi

hàm lượng natrì diclofenac trong chê'phẩm

Tiêu chí Hàm lượng natri diclofenac (%)

Công

thức

Sau 3 thángBan đầu

ĐK phòng Tủ ấm 50°c Ngoài cửa sổCTl (đệm

CT2 (đệm phosphat

0 , I M )

CT3 (đệm CT4 (đệm boratO lM ) borat 0,2M )

□ Đ K phòng

IB Tủ ấm 50°c

□ N goài cửa sổ

Trang 39

kể tód độ ổn định của chế phẩm.

+ Về pH của dung dịch: pH các dung dịch thuốc sau thời gian bảo quản đều theo

chiều hướng giảm nhẹ, trong đó các mẫu thuốc để ở nhiệt độ phòng và điều kiện tủ

ấm không thay đổi hoặc giảm không đáng kể Khi bảo quản các dung dịch thuốc ở bên ngoài cửa sổ thì pH của tất cả các chế phẩm nghiên cứu đều giảm một cách đáng kể pH giảm có thể là do natri diclofenac bị thuỷ phân tạo ra dạng acid.+ Về hàm lượng dược chất: Trong các điều kiện bảo quản khác nhau, cả 4 c r

thuốc nhỏ mắt không có chất chống oxy hoá đều có sự suy giảm hàm lượng natri diclofenac khá nhiều so với khi mới pha Cùng một mẫu thuốc nhưng khi để ở trong phòng thì hàm lượng giảm ít hơn khi bảo quản trong tủ ấm ở nhiệt độ 50°c, hàm lượng natri diclofenac giảm nhiều nhất khi để bên ngoài cửa sổ Như vậy, ánh sáng và nhiệt độ cao đều làm giảm hàm lượng natri diclofenac trong chế phẩm

Các kết quả nghiên cứu cho thấy cả 4 c r đều không có sự khác nhau nhiều

về hình thức cảm quan, pH và hàm lượng dược chất còn lại sau thời gian bảo quản

ở các điều kiện khác nhau Tuy nhiên, trong quá trình pha chế, hệ đệm phosphat

có khả năng hoà tan dược chất, chất phụ nhanh và dễ hơn so với hệ đệm borat Do

đó, chúng tôi lựa chọn hệ đệm phosphat 0,05M có nồng độ đệm thấp hơn để pha chế các dung dịch chế phẩm thuốc nhỏ mắt phục vụ các nghiên cứu tiếp theo Khi thuốc được nhỏ vào mắt, dịch nước mắt có thể dễ dàng điều chỉnh giọt thuốc về

pH sinh lý nên làm giảm kích ứng mắt

Ngày đăng: 21/04/2019, 18:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm