Effect of organic-microbial product on growth, development and yield of soybean cv D140 was investigated in a replicated field experiment at Hanoi Agricultural university. Each experiment is repeated three times. The organic microbial product MT showed a positive effect on vegetative stage of soybean cv. D140, i.e. an increase in stem high, leaf area, nodulation, and flower number. Application of 2.,0 kg and 2.,5 kg organic microbial product MT per square meter appeared most effective, resulting in the highest yield (23.36 – 23.74 quintal soybean seed per hectare), an increase by 12.8% and 13.0%, respectively, as compared with the control.
Trang 1Tạp chí KHKT Nông nghiệp 2006, Tập IV, Số 6: 35-38 Đại học Nông nghiệp I
Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm hữu cơ vi sinh MT đến sinh trưởng phát triển và năng suất đậu tương xuân - hè giống D140 trồng
tại Gia Lâm - Hà Nội
Effect of organic-microbial product MT on growth, development and yield of soybean
D140 in spring-summer season at Gia Lam, Ha Noi
Nguyễn Thị Kim Thanh1
Summary
Effect of organic-microbial product on growth, development and yield of soybean cv D140 was investigated in a replicated field experiment at Hanoi Agricultural university Each experiment
is repeated three times The organic microbial product MT showed a positive effect on vegetative stage of soybean cv D140, i.e an increase in stem high, leaf area, nodulation, and flower number Application of 2.,0 kg and 2.,5 kg organic microbial product MT per square meter appeared most effective, resulting in the highest yield (23.36 – 23.74 quintal soybean seed per hectare), an increase by 12.8% and 13.0%, respectively, as compared with the control
Key words: Organic microbial product, vegetative growth and seed yield
1 Đặt vấn đề
Cây đậu tương (Glycine max (L) Merrill.)
là cây trồng có giá trị dinh dưỡng và giá trị
kinh tế cao Cây đậu tương còn là cây trồng
xen cho hiệu quả cao và là cây có tác dụng cải
tạo đất tốt do có khả năng cố định đạm từ nitơ
phân tử nhờ vi khuẩn nốt sần cộng sinh với bộ
rễ Hiện nay, năng suất đậu tương ở Việt Nam
so với các nước trên thế giới vẫn còn thấp
Theo FAO (2006), năng suất trung bình của
đậu tương trên thế giới trong năm 2005 là
22,93 tạ/ha, trong khi đó ở Việt Nam năng
suất chỉ đạt 13,24 tạ/ha Việt Nam phải nhập
khẩu đậu tương từ Thái Lan và Campuchia để
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đậu tương cho
người và gia súc trong nước (Ngô Thế Dân và
C LL Gow DA,1999) Vì vậy, mọi biện pháp
tác động nhằm làm tăng năng suất cây đậu
tương đều là cần thiết
Với mục đích vừa nâng cao năng suất đậu
tương, vừa bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, hướng sử dụng chế phẩm phân vi sinh nhằm tăng cường hoạt động của hệ vi sinh vật
cố định đạm cho cây đậu tương đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu (Lê Văn Tri, 1996) Nghiên cứu này được tiến hành cũng vì mục đích nói trên
2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là giống đậu tương D140 và chế phẩm hữu cơ vi sinh MT Giống D140 là con lai của tổ hợp DL02 x ĐH4 do Bộ môn Cây công nghiệp, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp I tạo ra, được công nhận là giống quốc gia năm 2002 Chế phẩm hữu cơ vi sinh MT do Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp phối hợp với Viện Bảo vệ thực vật sản xuất và được công nhận tiến bộ
kỹ thuật năm 2004
1Khoa Nông học, Đại học Nông nghiệp I
Trang 2Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu
nhiên hoàn chỉnh (RCB) với 5 công thức, mỗi
công thức 3 lần nhắc lại, các ô thí nghiệm đều
có diện tích 10 m2
Chế độ bón phân bón được sử dụng với
lượng phân N, P, K và cách bón theo Giáo
trình Cây công nghiệp (Nguyễn Văn Bình và
cộng sự, 1996): 30 kg N + 60 kg P2O5 + 60 kg
K2O/ha Bón lót toàn bộ chế phẩm vi sinh với
liều lượng theo từng công thức: 0,1kg/m2;
0,15kg/m2; 0,2kg/m2; 0,25kg/m2 so với công
thức đối chứng 0 kg/m2
Các công thức gieo trồng đồng đều vào
ngày 15/2/2006 với mật độ 35 cây/m2
Theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng, sinh
lý, năng suất và các yếu tố cấu thành năng
suất được thực hiện theo các phương pháp
nông sinh học hiện hành
Số liệu được xử lý theo phương pháp
thống kê toán học và phần mềm thống kê
IRRISTAT
3 Kết quả nghiên cứu 3.1 ảnh hưởng của chế phẩm hữu cơ vi sinh MT (HC MT) đến sự sinh trưởng phát triển thân lá cây đậu tương
Cây đậu tương có thân là nơi trực tiếp mang thân, lá, hoa, quả và là nơi vận chuyển các sản phẩm quang hợp từ lá xuống hệ thống
rễ và vận chuyển dinh dưỡng khoáng từ rễ lên thân lá Chiều cao và số lá trên thân cây đậu tương liên quan đến số đốt hữu hiệu, số cành,
số hoa, số quả của cây Vì vậy khi thân cây sinh trưởng phát triển tốt sẽ tạo điều kiện tốt cho năng suất và chất lượng của đậu tương Bón chế phẩm hữu cơ vi sinh MT đs có sự ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển thân lá cây đậu tương (bảng 1) Cây đậu tương ở các công thức bón chế phẩm hữu cơ MT có sự sinh trưởng phát triển cao hơn so với công thức đối chứng thể hiện qua các chỉ tiêu về chiều cao,
số lá và chỉ số diện tích lá Khi lượng bón chế phẩm tăng từ 0,1 kg/m2 đến 2,5 kg/m2 thì các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng đều tăng lên Công thức bón 2,50 kg/m2 thúc đẩy sự sinh trưởng phát triển cây đậu tương mạnh nhất
Bảng 1 Sự sinh trưởng phát triển thân lá cây đậu tương ở các liều lượng bón chế phẩm hữu cơ MT
(HC MT) khác nhau
Chỉ số diện tích lá (LAI - m 2 lá/m 2 đất) Chế phẩm HC MT
(kg/m 2 )
Chiều cao cây (cm)
Số lá/thân chính
LSD 0,05
CV%
1,3 6,3
0,2 5,7
0,30 7,10
0,33 3,80
3.2 ảnh hưởng của chế phẩm hữu cơ MT đến
hàm lượng diệp lục trong lá cây đậu tương
Diệp lục là sắc tố thực hiện chức năng
quang hợp của cây Vì vậy, khi hàm lượng
diệp lục trong lá cây tăng sẽ làm tăng khả
năng quang hợp dẫn đến làm tăng sự sinh
trưởng phát triển và năng suất cây trồng Cây
đậu tương có hệ thống vi sinh vật cố định nitơ
phân tử nên khi hoạt động của vi sinh vật tăng
thì cây sẽ được cung cấp nhiều nitơ và khả
năng tổng hợp diệp lục sẽ tăng Đem phân tích
hàm lượng diệp lục trong lá cây đậu tương ở
các công thức thí nghiệm đs cho thấy Hàm lượng diệp lục của các công thức có bón chế phẩm hữu cơ MT đều tăng hơn so với công thức đối chứng không bón chế phẩm hữu cơ
MT ở cả hai thời kỳ theo dõi (bảng 2)
Hàm lượng diệp lục tổng số trong lá tăng tỷ lệ thuận với sự tăng của lượng bón chế phẩm từ 0,1 kg/m2 đến 0,2 kg/m2 ở cả hai thời kỳ theo dõi Khi tiếp tục tăng lượng bón lên 0,25 kg/m2
thì không phát hiện thấy có sự tăng tiếp tục hàm lượng diệp lục tổng số
Trang 3Bảng 2 Hàm lượng diệp lục trong lá đậu tương
ở các công thức bón chế phẩm hữu cơ MT
(mg/100g lá tươi)
Thời kỳ ra hoa rộ Thời kỳ quả mẩy
Chế phẩm
(kg/m 2 ) Diệp lục
tổng số % so đ/c
Diệp lục tổng số % so đ/c
0 (Đ/C) 256,4 100 175,3 100
0,10 264,2 103,0 184,7 105,4
0,15 276,1 107,7 190,0 108,4
0,20 286,9 111,9 201,2 114,8
2,50 287,5 112,2 203,6 116,1
LSD 0,05
CV%
3,5 7,7
5,8 6,2
3.3 ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh
MT đến hiệu suất quang hợp của đậu tương
Hiệu suất quang hợp của cây trồng nói
chung và cây đậu tương nói riêng có hệ số
tương quan thuận chặt với năng suất, đặc biệt
là trong giai đoạn tạo hạt Khi cây đậu tương sinh trưởng mạnh, có năng suất sinh vật học cao và hiệu suất quang hợp cao sẽ cho năng suất cao Hiệu suất quang hợp nói lên sự tích luỹ chất khô của cây trong từng giai đoạn Hiệu suất quang hợp phụ thuộc vào đặc tính của giống và chịu tác động của, chế độ dinh dưỡng, chế độ nước, kỹ thuật gieo trồng… Theo dõi về hiệu suất quang hợp của cây
đậu tương giống D140 ở các mức bón chế phẩm hữu cơ MT khác nhau, kết quả đs chỉ ra rằng các công thức bón chế phẩm hữu cơ vi sinh MT đều có hiệu suất quang hợp tăng so với công thức không bón (đối chứng), bón 2,5 kg/m2 chế phẩm MT cho hiệu suất quang hợp cao nhất (vượt 11,3 % và 13,2% so với đối chứng) Như vậy, bón phân hữu cơ vi sinh MT
có tác dụng làm tăng hiệu suất quang hợp của cây đậu tương góp phần làm tăng năng suất
đậu tương sau này
Bảng 3 ảnh hưởng của chế phẩm hữu cơ MT đến hiệu suất quang hợp cây đậu tương giống D140
(g chất khô/m2 lá/ngày đêm)
Thời kỳ từ…
Bắt đầu ra hoa- ra hoa rộ Ra hoa rộ - quả mẩy
Chế phẩm
hữu cơ MT
(kg/m 2 ) Hiệu suất quang hợp % so đối chứng Hiệu suất quang hợp % so đối chứng
3.4 ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh MT đến sự hình thành nốt sần của cây đậu tương
Bảng 4 Số lượng và khối lượng nốt sần cây đậu tương ở các công thức nghiên cứu
Thời kỳ theo dõi
Chế phẩm
hữu cơ MT
(kg/m 2 ) SLNS
(nốt/cây)
KLNS (g/cây)
SLNS (nốt/cây)
KLNS (g/cây)
SLNS (nốt/cây)
KLNS (g/cây)
Ghi chú: SLNS: số lượng nốt sần; KLNS: khối lượng nốt sần
Nốt sần là chỉ tiêu đánh giá khả năng cố
định đạm của cây đậu tương Thông qua đó
đáng giá sự sinh trưởng phát triển và năng suất
đậu tương Kết quả nghiên cứu cho thấy, phân
Trang 4hữu cơ vi sinh MT làm tăng khả năng hình
thành nốt sần cả về số lượng và khối lượng
Các công thức có bón chế phẩm hữu cơ vi sinh
đều cho khả năng hình thành nốt sần cao hơn
đối chứng Trong đó công thức 2.0 kg/m2 và 2,5 kg/m2 là tương đương nhau và đạt cao nhất (bảng 4)
3.5 ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh MT đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống đậu tương D140
Bảng 5 Năng suất và các yếu tố hình thành năng suất của giống đậu tương D140
Chế phẩm
(kg/m 2 )
Số
quả/cây
% quả
chắc
% quả 1 hạt
% quả 2 hạt
% quả 3 hạt
P 1000 hạt (g)
NSLT (tạ/ha)
NSTT (tạ/ha)
% so với
Đ/C ð/C 31,52 92,25 11,79 56,85 31,36 154,65 25,62 18,20 100 1,0 32,67 95,37 9,67 55,97 34,36 158,24 26,64 20,85 114,56 1,5 34,16 96,21 8,36 53,31 38,33 160,80 27,41 22,08 121,32 2,0 37,60 99,51 7,43 51,52 41,05 163,24 28,18 23,36 128,35 2,5 37,78 99,45 7,38 51,43 41,19 163,72 28,42 23,74 130,44
LSD 0,05 CV%
0,4 8,4
0,3 9,,7
SLNS: Số lượng nốt sần
KLNS: Khối lượng nốt sần
Qua bảng 5 cho thấy: bón phân hữu cơ vi
sinh MT làm tăng số quả trên cây, tỷ lệ quả
chắc và tỷ lệ quả 3 hạt, khối lượng 1000 hạt,
đặc biệt là công thức bón chế phẩm MT ở mức
2kg/m2 và 2,5kg/m2 Các công thức có bón
phân hữu cơ vi sinh MT đều có tổng số quả
trên cây nhiều hơn công thức đối chứng
(không bón phân hữu cơ vi sinh MT) từ
1,15-6,26 quả/cây Nhiều quả nhất là công thức
2,5kg/m2
(37,78 quả/cây), ít quả nhất là công
thức đối chứng (31,52 quả/cây) ở các công
thức đều có tỷ lệ quả chắc cao, dao động từ
92,25-99,51%
Do có sự tăng của các yếu tố cấu thành
năng suất của các công thức được bón chế
phẩm hữu cơ vi sinh MT nên năng suất lý
thuyết và năng suất thực thu của đậu tương
cũng cũng tăng cao hơn đối chứng và cao nhất
ở các công thức bón 2,0 và 2,5 kg/m2
HCVS
MT Năng suất thực thu đạt 23,36 - 23,74 tạ/ha
4 Kết luận
Bón chế phẩm hữu cơ vi sinh cho cây đậu
tương có tác dụng tốt đến giai đoạn sinh
trưởng phát triển dinh dưỡng như tăng chiều
cao cây, tăng diện tích lá, tăng khả năng hình
thành nốt sần và làm rút ngắn thời gian sinh
trưởng của cây, tăng tổng số hoa/cây Trong
đó, công thức bón 2,0 kg/m2 và 2,5 kg/m2 chế phẩm hữu cơ vi sinh là có hiệu quả tác dụng cao nhất
Bón phân hữu cơ vi sinh MT có tác dụng làm tăng các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đậu tương giống Lượng bón phân hữu cơ vi sinh MT là 2,0 kg/m2 và 2,5 kg/m2
đs cho năng suất đậu tương D140 đạt cao nhất Năng suất thực thu đạt 23,36 - 23,74 tạ/ha, tăng 128,35 và 130,44% so với đối chứng (100%)
Tài liệu tham khảo Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, Đoàn Thị Thanh Nhàn, Bùi Xuân Sửu (1996) Giáo trình cây công nghiệp NXB Nông nghiệp Trang 31-33
Nguyễn Văn Bộ (1999) Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng NXB Nông nghiệp Trang 55-57
Ngô Thế Dân, C LL Gow DA (1999) Tiến bộ
kỹ thuật về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam NXB Nông nghiệp Hà Nội Trang 31-34
Lê Văn Tri (1996) Phức hợp hữu cơ vi sinh NXB Nông nghiệp Hà Nội Trang 62-66
Trang 5T¹p chÝ KHKT N«ng nghiÖp, TËp IV, sè 6/2006