The use of mathematical models to describe the interactions of variables is useful in modern management. In this paper, a ‘mixed’ model combining a household model and a form of spatial equilibrium model into a modelling framework is developed. In addition, the nature of agriculture is such that household farms operate and are constrained by their location within a village. Therefore, a significant point is that modelling household farms so as to analyse the effects of changing policies needs to account for the spatial links between farms in relation to land, labour, inputs and produce when considered in a village context. Simulations were carried out to illustrate the effect of changes in land restrictions and the price of live pigs on the farm households. Using this approach, the model can be expanded to include other activities of the household such as credit policy, land consolidation, and prices of production inputs.
Trang 1Mô hình hoá kinh tế nông hộ ở miền Bắc:
Mô hình cân bằng cung cầu trong hộ
Modeling farm households in the North: the household supply and demand model
Phạm Văn Hùng1
SUMMARY The use of mathematical models to describe the interactions of variables is useful in modern management In this paper, a ‘mixed’ model combining a household model and a form of spatial equilibrium model into a modelling framework is developed In addition, the nature of agriculture is such that household farms operate and are constrained by their location within a village Therefore, a significant point is that modelling household farms so as to analyse the effects of changing policies needs to account for the spatial links between farms in relation to land, labour, inputs and produce when considered in a village context Simulations were carried out to illustrate the effect of changes in land restrictions and the price of live pigs on the farm households Using this approach, the model can be expanded to include other activities of the household such as credit policy, land consolidation, and prices of production inputs
Key words: Modeling, equilibrium, household economics
1 ĐặT VấN Đề*
Từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị
(1988), hộ nông dân được coi là đơn vị kinh tế
tự chủ Các nguồn lực sản xuất của hộ được
giải phóng, sản xuất nông nghiệp có bước tiến
vượt bậc trong 2 thập kỷ gần đây Đến nay, hộ
nông dân và kinh tế hộ nông dân vẫn đóng vai
trò quan trọng đối với quốc gia Theo kết quả
tổng hợp sơ bộ của cuộc Tổng điều tra nông
thôn, nông nghiệp và thủy sản, đến 01/7/2006,
cả nước có 10,46 triệu hộ nông, lâm nghiệp và
thủy sản (trong đó khu vực nông thôn là 9,78
triệu hộ) Tuy nhiên, trong số này chỉ có
67,9% số hộ có nguồn thu nhập lớn nhất từ
hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy
sản (Ban chỉ đạo Trung ương Tổng điều tra
nông thôn, nông nghiệp và thủy sản, 2006)
Điều đó cho thấy cơ cấu ngành nghề của hộ có
chuyển biến trong những năm qua nhưng còn
chậm Vậy đối với nông hộ, tài nguyên nào là
1Khoa Kinh tế & PTNT, Đại học Nông nghiệp I
tài nguyên khan hiếm nhất và ràng buộc nào là những ràng buộc lớn nhất cản trở khả năng phát triển của hộ Nếu chúng ta có thể tìm ra những cản trở này thì có thể có những chính sách thích hợp thức đẩy kinh tế hộ nói riêng và kinh tế nông thôn nói chung phát triển Một trong những hướng nghiên cứu thường được áp dụng hiệu quả nhất là sử dụng phương pháp mô hình hóa nhằm mô phỏng sự thay đổi các
điều kiện (kịch bản) để tìm ra những hạn chế
đối với kinh tế hộ (Moore et al., 1993) Mục tiêu của bài này là xây dựng và đề xuất một mô hình phân tích kinh tế hộ, trong
đó có kết hợp đồng thời các ý tưởng về mô hình cân bằng không gian và mô hình cân bằng các ngành (hoạt động sản xuất) trong
hộ Trên cơ sở mô hình xây dựng, mô phỏng
sự thay đổi một số điều kiện nhằm tìm ra tác
động của việc thay đổi các chính sách Cấu trúc của bài gồm những nội dung sau: Phần tiếp theo của bài trình bày về ý tưởng xây dựng mô hình lý thuyết Mô hình thực nghiệm được trình bày trong phần thứ 3
Trang 2Phần 4 sẽ mô tả số liệu và các đầu vào của
mô hình Phần 5 là kết quả ước lượng, mô
phỏng và thảo luận về những kết quả này
Những kết luận và đề xuất được trình bày
trong nội dung cuối của bài
2 MÔ HìNH Lý THUYếT
Theo Frank Ellis (1998) hộ nông dân có
đặc điểm đồng thời vừa là người sản xuất và
người tiêu dùng sản phẩm mà mình sản xuất
ra Điều này dễ dàng nhận ra nhất là khi sản
xuất nông nghiệp còn tự cung, tự cấp là chính
Do đó, mô hình hóa cần phải kết hợp đồng
thời lý thuyết người sản xuất và lý thuyết
người tiêu dùng
Hộ nông dân sản xuất và hoạt động nằm
trong mối tương quan ràng buộc với các hộ
khác trong phạm vi một làng Ví dụ đất đai là
một nguồn lực chính của các hộ và nông dân
được giao quyền chuyển nhượng, cho thuê hay
cho thuê lại đất đai Tuy nhiên, những quyền này hầu hết đều thực hiện trong phạm vi làng/xóm Lao động nông thôn ngày càng kiếm được nhiều việc làm ở các thành phố, nhưng ngay trong phạm vi một làng thì cũng xuất hiện một số hộ cho thuê lao động, một số khác đi thuê và một số hộ thì tự cung, tự cấp
về lao động1 Các nguồn lực sản xuất có thể
được chuyển từ hộ này sang hộ khác và như vậy nguồn lực sẽ được chuyển cho những hộ
sử dụng có hiệu quả hơn
Mô hình cân bằng không gian được xây dựng dựa trên khái niệm về trao đổi hàng hóa giữa các vùng và từng vùng đều có cả cung và cầu hàng hóa Đối với trường hợp trao đổi đất giữa các hộ thì mỗi hộ sẽ có cung đất đai dưới dạng một số thửa đất (hoặc diện tích đất) và cầu về đất đai đó dựa trên việc sử dụng đất đai cho sản xuất của hộ Giả sử trong làng có m
hộ, mỗi hộ chỉ có diện tích là ai, khi đó cung
và cầu đất đai trong làng có thể được biểu diễn như sau (Hùng và cộng sự, 2006):
Ax =
a1 a1 L a1
a2 a2 L a2
O
a m a m L a m
(m x m2)
Ay =
m
m m
a a
a
a a
a
a a
a
2 1
2 1
2 1
Ο Ο
Ο
Λ
(m x m2)
Trong đó: ma trận Ax và Ay phản ánh
cung và cầu đất đai2
Sản phẩm sản xuất ra của hộ cũng có thể
được trao đổi với các hộ khác trong phạm vi
làng hay với các làng khác Sự trao đổi phụ
thuộc vào mức độ thặng dư cung và cầu (được
phản ánh bởi riêng từng hộ) Dòng hàng hóa
này sẽ xác định bản chất của trao đổi Do vậy,
mô hình hóa kinh tế hộ cần xét đến yếu tố
không gian Ngoài ra, hộ còn sử dụng những sản phẩm này cho tiêu dùng nội bộ của gia
đình như để ăn và chăn nuôi Do vậy, mô hình hóa kinh tế hộ cũng nên kết hợp đồng thời cả mô hình cân bằng cung cầu trong hộ và mô hình cân bằng không gian
Dưới dạng toán học, mô hình có thể biểu diễn như sau:
1 Một trong những đặc trưng của lao động là không dự trữ được
2 Nếu mỗi hộ có n thửa đất thì ma trận A và A sẽ có bậc m x (m2 x n)
Trang 3Max Z = ' '
ư
Với ràng buộc
Ax≤ ax
- Ay≤ -ay
Qj =f (ay, Xj)
Pjx d - pj q ≤ 0
Q, D ≥ 0
Trong đó: Z là tổng lợi nhuận/thu nhập
của hộ (hoặc của tất cả các hộ trong làng);
P là véc tơ của giá sản phẩm;
Q là véc tơ của sản lượng của hộ (các hộ);
Px là véc tơ của giá các đầu vào;
X là véc tơ của lượng các đầu vào sử dụng
của hộ (hoặc tất cả các hộ);
ax là tổng cung đất đai của từng hộ;
ay là tổng cầu đất đai của từng hộ;
Ax và Ay là 2 ma trận có bậc m x m2 phản
ánh diện tích của từng hộ
Sản lượng (Qj) có thể là hàm số của diện
tích đất đai, ay và các đầu vào khác Giả thiết
rằng mỗi hộ nông dân có diện tích là ai và có
m hộ Thửa đất với diện tích ai có thể được
cung cho hộ i hoặc là một hộ nào đó
Mô hình (1) cực đại tổng lợi nhuận/thu
nhập của tất cả các hộ trong phạm vi làng
hoặc vùng với ràng buộc là: Cung và cầu đất
đai, hàm sản xuất của sản xuất nông nghiệp
(bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi), lợi
nhuận không âm cho từng hộ và đáp ứng thu
nhập tối thiểu cho từng hộ nông dân Ngoài ra,
mô hình trên cũng có thể mở rộng để đưa
thêm các hoạt động khác như chi phí giao dịch
của thị trường đất đai, các hoạt động tín dụng
của hộ; sản xuất hàng hóa Z (hàng hóa không
ra thị trường)
3 XÂY DựNG MÔ HìNH THựC NGHIệM
3.1 Giả thiết của mô hình
Bởi mô hình thực nghiệm được xây dựng
và giải theo lý thuyết của bài toán quy hoạch,
do đó rất nhiều thông tin cần phải có về mối
quan hệ số lượng và cả giá trị giữa các hoạt
động sản xuất và nguồn lực cho sản xuất Nói cách khác, nó đòi hỏi những kiến thức về kỹ thuật đối với các công thức luân canh và các yêu cầu về đầu vào cho sản xuất nông nghiệp Các hệ số trong mô hình quy hoạch
là đặc thù và mức độ chính xác tương đối của các hệ số này sẽ có ảnh hưởng lớn đến kết quả của mô hình
Mô hình hóa các khả năng xảy ra trong giao dịch đất thì hàng loạt vấn đề cần phải xem xét và được đưa vào mô hình Cụ thể giao dịch đất giữa các hộ đòi hỏi cần phải có thị trường đất đai hoạt động, trong trường hợp của Việt Nam là chuyển nhượng quyền sử dụng
đất Xây dựng mô hình để đánh giá trên phạm
vi rộng thì các tham số liên quan đến trao đổi
đất đai thì cần phải có giả thiết thị trường đất
đai tồn tại và chúng ta đã biết trước các chi phí giao dịch Xây dựng mô hình giao dịch đất ở cấp nông hộ và cấp làng, xã cũng cần phải có giả thiết là thị trường lao động tồn tại, ở đó nông dân có thể đi thuê thêm lao động cho các hoạt động nông nghiệp của mình hoặc có thể kiếm được việc làm phi nông nghiệp Ngoài
ra, vốn cho sản xuất trồng trọt cũng có thể đi vay hay chuyển từ bán các sản phẩm sản xuất
ra và từ cho thuê đất
3.2 Cấu trúc của mô hình Thu nhập của hộ giả thiết là từ 3 nguồn cơ bản: Trồng trọt, chăn nuôi và đi làm thuê Mục tiêu của mô hình là cực đại tổng lợi nhuận hay thu nhập của các hộ trong làng, trong đó tổng lợi nhuận/thu nhập được xác
định là giá trị bán các sản phẩm trồng trọt trừ
đi tổng các chi phí biến đổi Đối với ngành trồng trọt, các chi phí này bao gồm các chi phí cho đầu vào đã sử dụng, đi thuê đất, chi phí giao dịch trong thị trường thuê mướn đất đai, thuế và các khoản phí và các chi phí sử dụng bởi các hộ Chi phí cho chăn nuôi gồm chi phí giống, thức ăn, lao động và các khoản chi khác Ràng buộc chính trong mô hình đối với
sử dụng đất sẽ bao gồm cung và cầu đất đai của từng hộ trong tổng số m hộ, diện tích gieo trồng của các cây trồng từng hộ có khả năng cho từng vụ Để phản ánh tình hình sản xuất tự cung, tự cấp và hạn mức cho đất lúa, sản xuất lúa của từng hộ phải đáp ứng nhu cầu tiêu
Trang 4dùng tối thiểu của hộ Phần còn lại của sản
lượng lúa hộ có thể đem bán hoặc dùng cho
chăn nuôi Như vậy, lúa được sản xuất cho 2
mục đích là tiêu dùng nội bộ trong hộ và đem
bán ra thị trường Giả thiết rằng hộ không dự trữ lúa gạo và các sản phẩm khác Cân bằng sản phẩm trong hộ có thể được mô phỏng như hình dưới đây:
Trường hợp cân bằng 1:
X j DT lúa thóc bán Lượng dùng Tiêu chăn nuôi Thóc để RHS
Trong cân bằng này: Sản lượng ≥ tiêu dùng + bán + sử dụng cho chăn nuôi
Hay NS x DT ≥ tiêu dùng + bán + sử dụng cho chăn nuôi
Trường hợp cân bằng 2:
Xj DT lúa thóc bán Lượng dùng Tiêu Thóc để chăn nuôi RHS
trồng, D)
≤ 0
Trong cân bằng này:
Lượng tiêu dùng + bán + sử dụng cho
chăn nuôi ≤ f (DT gieo trồng, D)
Trong đó: f là dạng hàm sản xuất, NS là
năng suất cây trồng, DT là diện tích, D là
vectơ các đầu vào biến đổi được đưa vào mô
hình hóa3
Trong sơ đồ trên, mũi tên liền (nét liền)
phản ánh mối quan hệ trực tiếp theo 2 trường
hợp cân bằng Trong mô hình 1, cung sản
phẩm biểu hiện ở NS (dấu âm) và không đổi
trong khi cầu sản phẩm bao gồm lượng bán,
lượng tiêu dùng và lượng cho chăn nuôi Trong cân bằng 2, một điểm khác biệt là cung sản phẩm được phản ánh trong hàm sản xuất f (DT gieo trồng, D) hay nói cách khác sản lượng của hộ trong trường hợp này phụ thuộc vào các biến của mô hình Nếu hàm f là hàm phi tuyến thì mô hình ước lượng (1) sẽ là mô hình phi tuyến
Ngoài lúa, các cây trồng khác sản xuất chủ yếu để bán ra thị trường và có thể phục vụ chăn nuôi (ngô, đậu tương) Tổng chí phí sản xuất trồng trọt từng vụ của hộ bao gồm tổng chi phí biến đổi của tất cả các cây trồng trong
3 Những biến không đưa vào mô hình mà có trong hàm f có thể sử dụng ở mức bình quân
Trang 5vụ, chi phí đi thuê đất, chi phí giao dịch đất
trong thị trường thuê mướn đất đai Đối với
ngành chăn nuôi, giả thiết là hộ chỉ chăn nuôi
lợn thịt và nhằm mục đích bán ra thị trường
Hộ có thể sử dụng các sản phẩm sản xuất ra
(lúa, ngô, đậu tương) để chăn nuôi hoặc mua
thức ăn công nghiệp, hoặc kết hợp cả 2
phương thức này Ngoài ra, các ràng buộc
khác trong mô hình là các ràng buộc liên quan
đến sử dụng lao động gia đình và lao động đi
thuê, đi làm thuê, và lao động sử dụng trong
thời kỳ mùa vụ căng thẳng (ràng buộc này có
thể tách riêng cho lao động nữ hoặc nam tùy
theo mục đích nghiên cứu)
3.3 Mô hình toán học Dựa vào những giả thiết trên, nếu hộ i (i=1, , m) có diện tích đất canh tác là Ai đơn
vị (sào); hộ cũng có L i đơn vị lao động (ngày-người) bao gồm f
i
L đơn vị sử dụng cho hoạt
động trồng trọt, l
i
L đơn vị lao động cho chăn nuôi, và o
i
L đơn vị cho lao động phi nông nghiệp (đi làm thuê) Hộ trồng s cây trồng (s
= 1, , S) vào thời kỳ t (t = 1, , T) và nuôi l loại vật nuôi (l = 1, , L) Dưới dạng toán học, mô hình thực nghiệm có thể trình bày như sau:
m
i S
s T
t
s ist
p
+
l
p Q
1
m o
i i i
w L
=
∑ - ∑∑
m
i T
t it
C
Ràng buộc
' 1
m ii i
a
=
∑ ≤ Ai với mọi i =1, , m
' 1
m ii i
a
=
ư
∑ + *
i
A ≤ 0 với mọi i =1, , m
1
m i i
A
=
∑ ≤ ∑
=
m
i i
A
1
Sản lượng trồng trọt c
ist
Q + s
ist
Q + l
ist
Q ≤ *
ist
a Fist ( *
i
A , f*
ist
l ) với mọi i = 1, , m,
s = 1, ,S, và t=1, , T
ilt
Q ≤ *
ilt
c Filt ( f*
ilt
l ) với mọi i = 1, , m,
i
L + l i
L + o i
L ≤ L i với mọi i = 1, , m
Lao động gia đình cho trồng trọt *
f
l a
∑∑ - f
i
L ≤ 0 với mọi i = 1, , m
Lao động gia đình cho chăn nuôi *
f ilt ilt
l c
∑∑ - l
i
L ≤ 0 với mọi i = 1, , m
Tổng chi phí ∑
=
S
s ist ac
c
1
*
-
T
R i out
+
T
R i in
1
L l ilt ilt l
TC c
=
∑ ≤ Cit với mọi i = 1, , m
và t = 1, , T
Lợi nhuận trồng trọt:
1
S
s
s
p Q
=
ư
∑ + ∑
=
S
s ist ac
c
1
*
≤ 0 với mọi i = 1, , m
và t = 1, , T
Trang 6Lợi nhuận chăn nuôi:
1
L
l
l
p Q
=
ư
1
L l ilt ilt l
TC c
=
∑ ≤ 0 với mọi i = 1, , m
và t = 1, , T
*
i
A , *
ist
a , *
ilt
c , s
ist
Q , c ist
Q , l ist
Q , f i
L , l i
L, o i
L , in i
R , out i
R , và Cit, ≥ 0
*
i
A (Ai) là diện tích của hộ i sau khi
(trước khi) có giao dịch đất diễn ra;
*
ist
a là diện tích gieo trồng của cây s của
hộ i tại thời kỳ t;
*
ilt
c là số đầu vật nuôi loại l của hộ i tại
thời kỳ t;
s
ist
Q , c
ist
Q và l
ist
Q là lượng sản phẩm của cây trồng s dùng để bán, tiêu dùng và cho
chăn nuôi của hộ i thời kỳ t với pist là giá cả thị
trường của sản phẩm này;
Fist ( *
i
A , f*
ist
l , X ist) là hàm năng suất phụ
thuộc vào qui mô diện tích của hộ (Ai*), lao
động gia đình ( f*
ist
l ), và đầu vào X ist của cây trồng s, thời kỳ t;
f
i
L , l
i
L và o
i
L là chi phí lao động gia đình
cho trồng trọt, chăn nuôi và phi nông nghiệp
của hộ i với giá tiền công là wi;
*
f
ist
l là chi phí lao động gia đình sử dụng
cho cây trồng s của hộ i vào vụ t;
*
f
ilt
l là chi phí lao động gia đình sử dụng
cho vật nuôi l của hộ i vào vụ t;
in
i
R và out
i
R là lượng tiền đi thuê và cho
thuê đất của hộ i;
Cit là tổng chi phí (lượng tiền mặt cần)
của hộ i thời kỳ t;
ac
ist
c là tổng chi phí biến đổi trên một đơn
vị diện tích đất đai cần thiết cho cây trồng s
của hộ i vào thời kỳ t;
*
ilt
c là tổng chi phí biến đổi trên một đơn
vị vật nuôi (con) cần thiết cho loại vật nuôi l
của hộ i vào thời kỳ t;
4 Dữ LIệU Và CáC ĐầU VàO CủA MÔ HìNH
Giả thiết rằng giao dịch đất nói chung xuất hiện trong phạm vi làng Điều đó cho thấy các hộ nông dân có thể đổi đất cho nhau hoặc cho thuê/đi thuê giữa các hộ sống trong cùng một làng Như đã thảo luận ở phần trên,
điều này phản ánh thực tế ở nông thôn Việt Nam bởi cấu trúc làng, xã sẽ rất khó cho các
hộ ở xã này có thể canh tác trên đất ở xã khác Số liệu điều tra của Dự án ACIAR ADP 1/97/092 và số liệu ghi sổ trong một năm từ tháng 7/2002 đến 7/2003 của 3 hộ nông dân (được gọi là các hộ A, B, C) xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây đã được sử dụng trong mô hình thực nghiệm Các hộ này trồng 4 cây trồng chính là: Lúa chiêm, lúa mùa, ngô và đậu tương Ngô và đậu tương có thể trồng cả 3 vụ: Vụ chiêm, mùa và vụ đông, trong khi lúa chiêm và lúa mùa chỉ trồng ở vụ tương ứng Sản lượng lúa được sử dụng cho cả tiêu dùng (để ăn), chăn nuôi và đem bán
và nó được phản ánh bởi hàm sản xuất cực biên Trong mô hình các biến của hàm sản xuất bao gồm quy mô đất đai của hộ, lao
động gia đình, còn các biến khác như: Giống, phân bón và các chi phí bằng tiền khác được giả thiết là sử dụng ở mức trung bình đối với mỗi hộ Ngô và đậu tương được trồng để bán hoặc có thể sử dụng cho chăn nuôi Chăn nuôi của hộ được giả thiết là chỉ có chăn nuôi lợn Trọng lượng xuất chuồng được tính bằng trọng lượng tăng thêm và khối lượng giống mua Trọng lượng tăng thêm là hàm sản xuất cực biên của lao động gia đình, còn các yếu
tố khác như chi phí các loại thức ăn, thuốc thú y, chuồng trại được tính ở mức bình quân Tổng thu nhập được tính là tổng giá trị sản phẩm đem bán của hộ cộng với thu nhập từ làm ngoài nông nghiệp và cho thuê đất trừ đi tổng chi phí bao gồm: Chi phí biến đổi, chi phí thuê đất, chi phí giống vật nuôi và chi phí giao dịch
Trang 7Tiêu dùng lương thực được ước lượng từ
cuộc điều tra ghi sổ Sản lượng lúa chiêm được
tiêu dùng từ tháng 6 đến tháng 10 trong khi lúa
mùa được tiêu dùng từ tháng 11 đến tháng 5
Thời gian tối đa mà hộ có thể làm nông nghiệp
được ước tính là thời gian của chủ hộ và của
vợ/chồng có thể lao động và thời gian của con
cái họ (thường là lớn hơn 12 tuổi) Phương
pháp sử dụng để giải mô hình này là “nhánh
và biên” - Đây là thuật toán sử dụng để tìm lời giải tối ưu trong qui hoạch số nguyên4 Với phương pháp này các biến cơ bản được làm tròn với giá trị nguyên và được giải theo những nhánh nhỏ (Moore et al., 1993; Winston, 1994) Phần mềm được sử dụng để giải mô hình này là What’s Best phiên bản 7.0 (LINDO Systems Inc., 2003)5
5 KếT QUả Và THảO LUậN
5.1 Kết quả cho bài toán gốc
Bảng 1 Kết quả cho mô hình gốc so sánh (giao dịch đất không bị hạn chế)4
- Lúa chiêm 1,9 Qui mô đất (sào) - Hộ A 4,1
- Đậu tương 4,5 Cho thuê đất (sào) - Hộ A 5,4
tháng 11-1 12 Đất đi thuê (sào) - Hộ A 0
- Hộ C 0 Chi phí giao dịch trong thị Bán sản phẩm (kg)
thể của 1 hộ (ngày - người) 540 Hộ B - Lúa 7878
Số lợn nuôi cả năm (con) Trong đó: - Hộ A 15
4 Trong số các biến cần tìm của bài toán có số đầu lợn của các hộ Đây là số nguyên
5 Vì bài toán có 105 biến và 91 ràng buộc kết hợp với hàm sản xuất phi tuyến, cho nên cần phải có chương trình chuyên để có thể tìm được lời giải của những bài toán dạng này
Trang 8Để có thể phân tích các phương án khác
nhau thì cần thiết phải đưa ra bài toán gốc Kết
quả của bài toán gốc được trình bày trong Bảng
1 Trong trường hợp này, một hộ có thể sản
xuất lúa hoặc ngô và đậu tương ở 2 vụ (vụ
chiêm và vụ mùa), còn vào vụ đông thì chỉ
trồng được ngô và đậu tương Tổng thu nhập
các hộ đạt được trong bài toán gốc là 43,5 triệu
đồng Hộ A và hộ C cho thuê bớt đất trong khi
hộ B đi thuê đất Hộ A vụ 2 chỉ trồng lúa còn
vụ 1 trồng cả 3 cây (lúa, ngô và đậu tương), vụ
đông trồng 2 cây trồng (ngô và đậu tương) Hộ
B chỉ trồng ngô và đâu tương vào vụ đông, còn
các vụ khác chỉ trồng lúa Hộ C không trồng
ngô và đậu tương ở vụ 2 Đối với bán sản phẩm
thì hộ A chỉ bán ngô, còn hộ B chỉ bán lúa, sản
phẩm còn lại các hộ sử dụng cho tiêu dùng
trong hộ và chăn nuôi Như vậy, nguồn lực có
xu hướng chuyển về những hộ sử dụng hiệu
quả hơn (có lợi nhuận cao hơn)
Với mức giá lợn xuất chuồng từ 10-12
ngàn đồng (tùy thời điểm), các hộ đã tận dụng
sản phẩm trồng trọt để chăn nuôi với khả năng
tối đai của hộ, hộ A: 15 con, hộ B 30 con, hộ
C 18 con lợn trong 1 năm (với 3 lứa) (Bảng 1)
Để xác định ảnh hưởng của thị trường
quyền sử dụng đất, các hộ bị hạn chế là chỉ
gieo trồng trên đất của mình Điều này có thể
mô hình hóa bằng cách đưa vào 1 ràng buộc
giao dịch đất trong bài toán gốc Nếu ràng
buộc này được dỡ bỏ thì có thể đo được ảnh
hưởng do giao dịch đất Nếu đất đai cho phép
tự do chuyển đổi, thu nhập của các hộ tăng
4,1% Ngoài lúa 2 vụ, hộ A không trồng đậu
tương và ngô ở vụ 1 và 2 mà chỉ trồng vụ
đông, hộ B trồng ngô ở vụ 2 và 3, còn đậu tương chỉ trồng ở vụ đông, hộ C chỉ trồng ngô
và đậu tương ở vụ 2 mà không trồng ở các vụ khác Hộ A có sản phẩm lúa bán cả 2 vụ và ngô Khối lượng lúa bán của hộ B giảm rất nhiều trong khi hộ C bán một phần ngô Thu nhập từ chăn nuôi không bị ảnh hưởng Chúng
ta cũng có thể đưa thêm ràng buộc về thu nhập của các hộ, chẳng hạn thu nhập không giảm đi khi thay đổi điều kiện
5.2 Mô phỏng sự thay đổi điều kiện Mô hình có thể được sử dụng để xem xét
ảnh hưởng của nhiều yếu tố mà những yếu tố này kỳ vọng là có ảnh hưởng đến thu nhập của
hộ, đến thị trường đất đai, đến khối lượng sản phẩm hàng hóa Các thực nghiệm về thay đổi giá nhân công, chi phí giao dịch trong thị trường thuê mướn đất đai và giá lương thực có thể tham khảo trong bài của Hùng và MacAulay (2006) Trong nội dung này, sự thay đổi của giá thịt lợn hơi được mô phỏng nhằm tìm ra ảnh hưởng của các cú sốc thị trường Giả sử mỗi mức giá thay đổi là 10%,
từ 70% đến 120% (trừ mức 75%), so với giá của bài toán gốc Khi thay đổi giá đầu ra, sẽ
ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, nếu giá tăng thì thu nhập tăng và ngược lại Điều này có thể không cần quan tâm trong mô phỏng Tuy nhiên, giả thiết là xuất hiện các cú sốc về thị trường, hay giá thay đổi Vậy giá thay đổi đến mức nào thì nông dân chấp nhận chăn nuôi hoặc bỏ không chăn nuôi nữa Kết quả mô phỏng được trình bày tóm tắt trong Bảng 2 Bảng 2 Mô phỏng thay đổi giá bán thịt lợn hơi đến số đầu lợn chăn nuôi
(Đơn vị tính: số đầu con)
Phương án (% so với giá ban đầu) Tháng Giá
(1000đ/kg) Hộ 70 75 80 90 100 110 120
Trang 9Khi giá giảm còn 80% so với ban đầu thì
có hộ B không nuôi vào đầu năm, trong khi hộ
A không nuôi vào giữa năm Nếu giá giảm
thêm 5% (xuống còn 75%), thì các hộ chỉ nuôi
lợn vào cuối năm (trừ hộ C có nuôi thêm giai
đoạn giữa năm) Khi giá còn 70% so với giá
gốc khởi điểm thì hộ A hoàn toàn không tham
gia chăn nuôi, 2 hộ còn lại chỉ nuôi vào giai
đoạn cuối năm
6 KếT LUậN
Trong bài này, mô hình lý thuyết kết hợp
giữa các mô hình cân bằng không gian và mô
hình kinh tế hộ kết hợp số nguyên được đề
xuất để nghiên cứu và mô phỏng Hai điều
kiện đơn giản được giả sử để mô phỏng là xóa
bỏ các hạn chế về thị trường quyền sử dụng
đất và giá thịt lợn hơi Nếu cho phép thị trường
tự do hoạt động thì các nguồn lực sẽ có xu
hướng tập trung vào những nông dân sản xuất
hiệu quả hơn Với trường hợp mô phỏng sự
thay đổi giá thịt lợn hơi, nếu giá tăng hay
giảm ở phạm vi nhất định thì nông dân vẫn
tiếp tục chăn nuôi (dù có thể thu nhập đạt
được rất thấp) Tuy nhiên, nếu sự biến động
này vượt quá giới hạn nhất định thì nông dân
có thể bỏ ngành chăn nuôi Đây chính là
“mốc” mà chính sách cần phải can thiệp để
duy trì những ngành do ảnh hưởng từ những
cú sốc thị trường Với phương pháp tương tự,
chúng ta có thể mô phỏng sự thay đổi giá các
đầu vào, thay đổi giá tiền làm thuê (thị trường
lao động), giá thuê đất (thị trường quyền sử
dụng đất)
Mức độ chính xác của mô hình phụ thuộc
rất lớn vào số liệu Số liệu sử dụng trong bài
này là từ Dự án ACIAR có thể không còn phù
hợp với tình hình hiện nay Tuy nhiên, một
mục tiêu cơ bản của hướng mô hình hóa là
không nhằm tìm ra con số cụ thể (cao hay
thấp) mà là xu hướng thay đổi khi xuất hiện sự
can thiệp Đây là một hướng được rất nhiều
nước sử dụng để phân tích và mô phỏng chính
sách Mô hình lý thuyết này có thể được mở
rộng cho nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh
khác như hộ nông dân trao đổi các thửa đất cho nhau, tham gia vào thị trường tín dụng, tham gia vào thị trường đất đai, thị trường các
đầu vào, v.v
TàI LIệU THAM KHảO Ban chỉ đạo Trung ương Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản (2006) Báo cáo sơ bộ kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006 Hà Nội tháng 12/2006 Ellis, F (1998) Peasant Economics: Farm Households and Agrarian Development, 2nd edition, Cambridge University Press
Hung, Pham Van and MacAulay, T G (2006) Land transactions in the north
of Vietnam: a modelling approach A contributed paper to the Conference of the International Association of Agricultural Economists, Gold Coast, Australia, 12-18 August 2006 Available online at AgEcon Search, http://agecon.lib.umn.edu/
Hung, Pham Van and T Gordon MacAulay and Sally P Marsh (2006) ‘Modelling Vietnamese households: an economic model of land transactions in a village context’, in Gordon MacAulay, Sally Marsh and Pham Van Hung (eds.), Agricultural Development and Land Policy in Vietnam, ACIAR, Chapter 10,
pp 201-220
LINDO Systems Inc (2003) What's Best! User's Manual, LINDO Systems, Inc Moore, L J., Lee, S M and Taylor III, B W (1993) Management Science, 4th edition, Allyn and Bacon, Massachusetts
Winston, W L (1994) Operations Research: Applications and Algorithms, Duxbury Press, Wadsworth Inc., California