Field and pot experiments were conducted to study the effect of phosphate fertilizer FMP for coffee in dry season. Phosphate fertilization appeared to be effective in retaining the humidity of soil for a longer time. With young 6 to 24 month old coffee trees, a rate of 100-200g phosphate FMP per pot (fused calcium magnesium phosphate) resulted in an increase of plant height by 6.6-7.2%, number of pair of branches by 8.2-9.6%, dry tree weight by 40.4-56.7% and root dry weight by 219.8-241.7% in comparison with the control (no phosphate application). Moreover, if dry period was extended for the treatment without or little phosphate (50g FMP) application, roots turned brown-yellow and leaves dried out. In productive coffee trees, phosphate application increased berry setting by 2.5-8.6% (22 days watering cycle) and by 3.5-9.3% (30 days watering cycle) compared with the control. To sustain growth and bean yield for coffee in productive stage, phosphate application at a rate of 100-200P2O5kg/ha has been recommended.
Trang 1ảnh hưởng của phân lân đến độ ẩm đất, sinh trưởng và năng suất
cà phê vối ( Coffea canephora Pierre) trồng ở Tây Nguyên
The effect of phosphate fertilisation on soil humidity, growth and yield of canephora
coffee (Coffea canephora Pierre) in Tay Nguyen
Lê Hồng Lịch1, Nguyễn Quang Thạch2
, Lê Minh Tuấn, Võ Kim Oanh1
Summary
Field and pot experiments were conducted to study the effect of phosphate fertilizer FMP for coffee in dry season Phosphate fertilization appeared to be effective in retaining the humidity of soil for a longer time With young 6 to 24 month old coffee trees, a rate of 100-200g phosphate FMP per pot (fused calcium magnesium phosphate) resulted in an increase of plant height by 6.6-7.2%, number of pair of branches by 8.2-9.6%, dry tree weight by 40.4-56.7% and root dry weight by 219.8-241.7% in comparison with the control (no phosphate application) Moreover, if dry period was extended for the treatment without or little phosphate (50g FMP) application, roots turned brown-yellow and leaves dried out
In productive coffee trees, phosphate application increased berry setting by 2.5-8.6% (22 days watering cycle) and by 3.5-9.3% (30 days watering cycle) compared with the control
To sustain growth and bean yield for coffee in productive stage, phosphate application at a rate
of 100-200P2O5kg/ha has been recommended
Key words: Coffee canephora Pierre, phosphate fertilization, soil humidity
1 Đặt vấn đề
Theo dự báo của các nhà khí tượng học,
tình hình khô hạn, thiếu nước sẽ kéo dài và
ngày càng trầm trọng hơn trong thời gian tới ở
nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Để đối phó với tình hình thiếu nước tưới, trên
thế giới cũng như ở Việt Nam, người ta đ6
nghiên cứu thử nghiệm nhiều giải pháp khắc
phục như sử dụng các chất giữ ẩm, vật liệu che
phủ bề mặt, lai tạo giống chống hạn, Tuy
nhiên, đối với cây cà phê ở Tây Nguyên nhu
cầu nước trong thời kỳ ra hoa đậu quả rất cao,
song trong những thập niên qua, mùa khô ở
đây thường gay gắt và thậm chí rất khốc liệt,
đ6 làm ảnh hưởng rất nặng nề đến sinh trưởng
và năng suất cà phê, nhất là ở DakLak, Gia Lai
và một phần của các tỉnh Dak Nông, Lâm
Đồng, Kon Tum Theo Đoàn Triệu Nhạn, Hoàng Thanh Tiệm, Phan Quốc Sủng (1999): ở Việt Nam khô hạn kéo dài ở các vùng trồng cà phê, do thiếu nước tưới, một số diện tích cà phê
ở ngoài vùng quy hoạch có tưới bị chết hoặc phải cưa bỏ bộ tán lá để giữ lấy gốc chờ vụ mưa nuôi chồi mới Theo thống kê của ngành nông nghiệp, vụ mùa 1997-1998 nắng hạn đ6 làm cho 12.000ha cà phê ở Tây Nguyên mất trắng gây thiệt hại khoảng 3,5 tỷ đồng
Trong các quá trình trao đổi chất, phospho giữ vai trò trung tâm, vì nó tham gia trong việc xây dựng nên ADP, ATP ATP
được hình thành trong quang hợp và hô hấp đ6
được sử dụng cho nhiều quá trình sinh lý quan trọng như hút nước và các chất khoáng, trao
đổi và vận chuyển các chất trong cây (Trần Kim Đồng và cộng sự, 1991) Thiếu lân làm
1 Trung tâm nghiên cứu đất, phân bón và môi trường Tây Nguyên
2 Viện Sinh học Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I
Trang 2cho các quá trình sinh lý trong cây bị rối
loạn, làm giảm khả năng chống chịu với
điều kiện ngoại cảnh bất lợi, (Phạm Đình
Thái, Nguyễn Duy Minh, Nguyễn Lương
Hùng; 1987) Theo Nguyễn Tử Siêm, Trần
Khải (1996): khi nhiệt độ tăng, đất có độ ẩm
cao thì lân được hấp thu tốt hơn Sự phát triển
của bộ rễ có ý nghĩa quyết định với dinh
dưỡng lân Độ dài rễ và tốc độ ra rễ tỷ lệ thuận
với tỷ lệ lân hấp thụ Vấn đề quan trọng là
bảo đảm cho môi trường đất ở vùng rễ có đủ
điều kiện cho lân chuyển hóa, duy trì nồng độ
dễ tiêu sát hệ rễ (đất tơi xốp, đủ ẩm ) Lân
làm tăng sự phát triển của hệ rễ làm cho cây
hút được nhiều nước, nhiều chất dinh dưỡng
trong đất hơn (Võ Minh Kha, 1996) Như vậy
lân có vai trò rất lớn trong việc kích thích sự
phát triển của bộ rễ, tăng cường khả năng hút
nước và các chất khoáng của cây Nên chăng
khi đủ lân, bộ rễ phát triển mạnh, năng lực hút
và trữ nước của rễ cao đ6 huy động nước ở
tầng sâu lên và giữ ở vùng rễ (thông qua lực
hút và dịch rễ) vì vậy ẩm độ đất ở tầng mặt
được nâng cao và ổn định
Với vai trò sinh lý của lân như trình bày
trên, đồng thời trước những thực tế và nguy cơ
rủi ro do hạn hán đối với cây cà phê ở Tây
Nguyên là rất lớn, thế nhưng đến nay có thể
nói chưa có giải pháp kỹ thuật chống hạn nào
tỏ ra có hiệu quả cao, đảm bảo cho sản xuất cà
phê của vùng phát triển ổn định Nhằm góp
phần hạn chế ảnh hưởng của nắng hạn đối với
cà phê, chúng tôi đ6 và đang tiến hành thí
nghiệm về các biện pháp kỹ thuật canh tác hạn
chế mất nước trên vườn cà phê vối trong mùa
khô ở Tây Nguyên Bài báo này trình bày một
số kết quả thí nghiệm về ảnh hưởng của liều
lượng phân lân đến độ ẩm đất và sinh trưởng,
phát triển của cà phê vối kinh doanh trong
mùa khô
2 vật liệu và phương pháp nghiên
cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên vườn
cây phê vối kinh doanh, 14 tuổi, trên đất
bazan ở Buôn Ma Thuột, DakLak và trên các
cây cà phê con 6-24 tháng tuổi được trồng
trong chậu (Coffe canephora Pierre) Phân
lân thí nghiệm là loại phân lân nung chảy
Văn Điển (FMP)
Thí nghiệm đồng ruộng Thí nghiệm được bốn trí ngẫu nhiên, nhắc lại 3 lần, ô cơ sở 10 cây cà phê, giữa các ô
được ngăn nilon đến độ sâu 35cm Các công thức thí nghiệm được bố trí như sau:
1/ Không bón lân (Đối chứng) 2/ Bón 50kg P2O5/ha
3/ Bón 100kg P2O5/ha
4/ Bón 150kg P2O5/ha
5/ Bón 200kg P2O5/ha
Chia 2 phần và tưới theo 2 chu kỳ: 22 ngày/đợt và 30 ngày/đợt Tưới nước theo phương pháp tưới dí, 500lít/gốc/lần
Nền: Bón 300kg N + 300kg K2O/ha, bón
3 lần trong mùa mưa Phân lân bón vào mùa khô (tưới lần 1, tháng 1)
Thí nghiệm trong chậu Thí nghiệm được bố trí 6 chậu cho mỗi công thức, mỗi chậu chứa 50kg hỗn hợp 95%
đất + 5% phân chuồng, bón lót 20g urê+ 30g lân Văn Điển cho mỗi chậu Tưới nước 5 lít/chậu/lần
1/ Không bón lân (đối chứng) 2/ Bón 50g lân Văn Điển/chậu 3/ Bón 100g lân Văn Điển/chậu 4/ Bón 150g lân Văn Điển/chậu 5/ Bón 200g lân Văn Điển/chậu Toàn bộ phân lân bón thúc trong mùa khô (tưới lần 1, tháng 1) vào 2 thời điểm 6 tháng
và 18 tháng sau trồng
Bón thúc trong mùa mưa: 100g urê + 30g KCl/chậu/năm (bón 3 lần)
Số liệu được xử lý bằng phần mềm IRRISTAT
3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Động thái độ ẩm đất sau các đợt tưới trong mùa khô
Trần Kông Tấu và Nguyễn Thị Dần (1984), khi nghiên cứu độ ẩm đất với cây trồng trên đất feralit nâu đỏ phát triển trên bazan (Buôn Ma Thuột) cho thấy: Trong các tháng mùa khô, độ ẩm đất đều nằm dưới và ngang mức độ ẩm cây héo Đặc biệt ở lớp
Trang 3mặt 0-20cm, độ ẩm đất thấp hơn độ ẩm cây
héo 5-8% Rõ ràng là trong mùa khô hiện
tượng thiếu nước đối với cây trồng xảy ra trên
đất này rất m6nh liệt
Theo Viện Nghiên cứu Cà phê và Trường
Đại học Thủy lợi, độ ẩm cây héo của cây cà
phê trên đất bazan là 25% và độ ẩm đồng
ruộng là 46% (Lê Ngọc Báu trích dẫn, 1999 )
Kết quả nghiên cứu động thái độ ẩm đất
trong chậu sau tưới (bảng 1) cho thấy: Trước
tưới, độ ẩm đất trong các chậu biến động từ
24,8 - 25,7%, cây bắt đầu có biểu hiện héo lá
Sau tưới 10 - 15 ngày, độ ẩm đất biến động từ
38,9 - 35,6% và chênh lệch giữa các công thức
không cao; Từ ngày thứ 20 trở đi, độ ẩm giữa
các công thức bắt đầu có chênh lệch song
cũng không có ý nghĩa thống kê; Đến ngày
thứ 25 - 30, độ ẩm đất giữa các công thức
chênh lệch khá rõ ở công thức không bón lân
(CT1), độ ẩm đất giảm xấp xỉ ban đầu, cây bắt
đầu héo trong khoảng thời gian từ 10-17 giờ
hằng ngày Trong khi đó vào thời điểm 30
ngày sau tưới, các công thức bón từ 100-200g
lân/chậu (CT3-CT5), độ ẩm đất giảm gần đến
độ ẩm cây héo và cây mới có triệu chứng héo
lá non vào thời gian có cường độ nắng cao
nhất (12-15 giờ)
Bảng 1 Độ ẩm đất trong chậu sau tưới
Đơn vị: %
Độ ẩm đất sau tưới (ngày) Công
Trước
1 24,8 38,8 35,6 30,7 25,2 24,4
2 25,3 38,9 36,0 31,2 27,2 26,5
3 25,0 38,8 36,5 33,9 28,1 27,2
4 25,5 38,9 36,2 33,1 28,1 26,9
5 25,7 38,7 36,3 33,0 28,3 26,8
Trên vườn cà phê kinh doanh (bảng 2, 3),
độ ẩm đất trước tưới cũng xấp xỉ độ ẩm cây héo và biến động trong khoảng 25,1-26,0%
Từ sau tưới đến 15 ngày, độ ẩm đất giữa các công thức gần như không có sai khác đáng kể Nhưng từ 20 ngày trở đi, độ ẩm đất giữa các công thức có sự phân dị ngày càng rõ trong cả hai chu kỳ tưới (22 và 30 ngày) ở công thức không bón lân (CT1), từ sau 22, 25, 30 ngày tưới, độ ẩm đất giảm gần bằng độ ẩm trước tưới, nhất là ở thời điểm 30 ngày độ ẩm chỉ còn 25,0% và cây đ6 héo rũ
Bảng 2 Độ ẩm đất trong vườn cà phê sau tưới (chu kỳ 22 ngày)
Đơn vị: %
Công thức
Bảng 3 Độ ẩm đất trong vườn cà phê sau tưới (chu kỳ 30 ngày)
Đơn vị: %
Công thức
Trước tưới 20 ngày 25 ngày 30 ngày Trước tưới 20 ngày 25 ngày 30 ngày
Trang 43.2 ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến
sinh trưởng, khối lượng rễ cà phê kiến thiết
cơ bản (trồng trong chậu) và tỷ lệ ra hoa
đậu quả ở cà phê kinh doanh
Quan trắc tình hình sinh trưởng của cây cà
phê trồng trong chậu (bảng 4) cho thấy ảnh
hưởng của các mức bón lân đối với các chỉ tiêu
sinh trưởng cà phê là rất rõ; Về hình thái, khi
kéo dài thời gian khô hạn cây cà phê ở công
thức không bón lân (CT1) hay bón ít, 50g phân
lân Văn Điển (CT2) lá bị héo rũ, thậm chí khô
cả lá già, trong khi đó các công thức bón từ
100-200g phân lân Văn Điển(CT3-CT5), lá hơi
có triệu chứng vàng (hình 1)
Theo Nguyễn Khả Hòa (1994): Bón lân làm tăng tính chịu nóng hạn của cà phê vì lân làm tăng cường quá trình tổng hợp acid nucleic, protein và hợp chất phospho-protein,
đây là những hợp chất có năng lực hút nước rất mạnh, do đó đ6 làm tăng áp lực hút nước của rễ, thúc đẩy sự thoát hơi nước của lá, làm giảm nhiệt độ cơ thể
Đào rễ cho thấy sự khác biệt cả màu sắc lẫn khối lượng rễ giữa các công thức bón phân, ở CT1, CT2, rễ ít và có màu vàng thâm nâu, còn ở các công thức CT3-CT5 rễ tơ rất nhiều, có màu vàng sáng, đang phát triển mạnh (hình 2)
Hình 1 ảnh hưởng của liều lượng lân lên mức độ cháy lá của cà phê
(Các mức bón lân từ trái sang phải: 200-150-100-50-0g)
Hình 2 Rễ cà phê ở các mức bón lân: 0-50-100-150-200g
Trang 5Về mặt khối lượng, rễ cà phê ở các công
thức CT2, CT5 (bón lân) cao hơn công thức 1
(không bón lân) từ 57,3-241,7%, trong đó các
công thức 3, 4,5 khối lượng rễ tương đương
nhau và cao hơn công thức 1 từ 219,8-
241,7% Sự gia tăng về khối lượng rễ trong
mùa khô ở các công thức bón từ 100-200g FMP (CT3-CT5) phải chăng là điều kiện để cây cà phê giữ ẩm thông qua năng lực hút và tích trữ nước của hệ thống rễ, làm cho độ ẩm
đất giảm chậm nên cây tươi lâu hơn
Bảng 4 ảnh hưởng của phân lân đến sinh trưởng chiều cao, số cặp cành và khối lượng thân, rễ cà
phê trồng trong chậu sau 18 tháng tuổi
Số cặp cành/cây Chiều cao Trọng lượng thân (khô) Trọng lượng rễ (khô) Công thức
Theo Lê Hồng Lịch (2005): cà phê có khả
năng cho năng suất rất cao nếu thỏa m6n các
điều kiện sinh thái, tính chất đất và đầu tư
phân bón, tưới nước Theo dõi tỷ lệ ra hoa, đậu
quả của cà phê kinh doanh trong cả hai chu kỳ
tưới (bảng 5) kết quả: ở các công thức có bón
lân (CT2-CT5), tỷ lệ đậu quả đạt 30,3-37,1%
Tỷ lệ đậu quả giữa các công thức tương ứng
trong hai chu kỳ tưới tương đương nhau và cao hơn so với không bón lân từ 2,5-9,3%, nhất là các công thức bón từ 100-200P2O5 kg/ha (tăng 7,0-9,3%) Không bón lân (CT1), tưới theo chu kỳ 22 ngày thì tỷ lệ đậu quả đạt 28,5%, nhưng khi kéo dài chu kỳ tưới lên 30 ngày tỷ
lệ đậu quả chỉ còn 26,8% so với số hoa nở
Bảng 5 Tỷ lệ ra hoa đậu quả của cà phê
Công thức Số hoa
nở (T1)
Số quả
đậu (T9)
Tỷ lệ đậu quả (%)
Chênh lệch
so với CT1 (%)
Số hoa nở (T1)
Số quả
đậu (T9)
Tỷ lệ đậu quả (%)
Chênh lệch
so với CT1 (%)
Ghi chú: T1: tháng 1, T9: tháng 9
3.3 ảnh hưởng của phân lan đến tỷ lệ tươi
nhân và năng suất cà phê (sau 3 năm thí
nghiệm)
Phân tích tỷ lệ tươi nhân giữa các công
thức trong 3 năm thí nghiệm (bảng 6) đều cho
thấy ở công thức không bón lân, tỷ lệ tươi
nhân luôn có chiều hướng cao hơn các công
thức có bón lân, tuy nhiên sự chênh lệch này
không thấy có ý nghĩa thống kê
Tổng hợp và xử lý thống kê năng suất cà
phê trong 3 năm (bảng 7) cho thấy: Năm đầu
tiên (trong cả hai chu kỳ tưới 22 và 30 ngày)
năng suất cà phê giữa các công thức thí nghiệm gần như không chênh lệch nhau, điều này do thí nghiệm được bố trí trên vườn cà phê
mà những năm trước bón phân đầy đủ nên khi không bón hoặc bón ít lân một năm vẫn chưa
có biểu hiện ảnh hưởng đến năng suất Từ năm thứ hai trở đi, năng suất cà phê giữa các công thức ngày càng có sự chênh lệch rất rõ, nhất là công thức không bón lân (CT1) và bón 50P2O5
(CT2), sự sụt giảm năng suất trong năm thứ hai và thứ ba ở hai công thức này so với năm
đầu là CT1: 788-1044kg tương đương 24,7-32,7%, CT2: 270-280kg tương đương
Trang 68,3-8,6% (chu kỳ tưới 22 ngày) và CT1:
1080-1292kg tương đương 34,0-40,6%, CT2:
532-540kg tương đương 16,3-16,5% (chu kỳ tưới
30 ngày) Năng suất trung bình ba năm thí
nghiệm ở công thức CT1 thấp thua so với
CT2-CT5 từ 19-30,6% (22 ngày tưới) và từ
21,7-40,4% (30 ngày tưới) So sánh năng suất
giữa hai chu kỳ tưới cho thấy: ở công thức không bón lân (CT1) hoặc bón ít (CT2) thì năng suất cà phê ở chu kỳ tưới 30 ngày giảm nhiều hơn, còn ở các công thức bón 100-200P2O5/ha (CT3-CT5) năng suất của các công thức tương ứng giữa hai chu kỳ tưới gần như không có sự chênh lệch đáng kể
Chu kỳ tưới 30 ngày
0.0
100.0
200.0
300.0
400.0
500.0
600.0
Cụng thức
Số hoa nở
Số quả ủậu
Chu kỳ tưới 22 ngày
0 100 200 300 400 500
Cụng thức
Số hoa nở
Số quả ủậu
Hình 3 ảnh hưởng của phân lân đến tỷ lệ ra hoa, đậu quả
Bảng 6 ảnh hưởng của phân lân đến tỷ lệ tươi nhân qua các năm thí nghiệm
Công thúc
Bảng 7 Năng suất cà phê qua 3 năm thí nghiệm (kg/ha)
CT
LSD 0,05 /CV% 264
/4,3
218 /3,7
324 /5,7
744 /12,8
217 /3,5
302 /5,4
517 /9,5
614 /10,7
Như vậy trường hợp không hoặc bón ít lân,
trong mùa khô nhất thiết phải tưới nước nhiều
lần hơn so với bón đầy đủ lân Và khi đ6 bón
đầy đủ lân thì có thể kéo dài chu kỳ tưới lên 30
ngày mà năng suất không giảm Đây là một trong những cơ sở để tiết kiệm chi phí sản xuất
cà phê và nhất là tiết kiệm tài nguyên nước góp phần sản xuất cà phê của vùng ổn định
Trang 7Chu kỳ tưới 30 ngày
0.000
0.500
1.000
1.500
2.000
2.500
3.000
3.500
4.000
Năm
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5
Chu kỳ tưới 22 ngày
0.000 0.500 1.000 1.500 2.000 2.500 3.000 3.500 4.000
Năm
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5
Hình 4 ảnh hưởng của phân lân đến năng suất cà phê (qua 3 năm thí nghiệm)
4 Kết luận
Bón lân cho cà phê vào thời điểm tưới lần
1 trong mùa khô đ6 duy trì độ ẩm cao trong
đất lâu hơn không bón lân
Đối với sinh trưởng cà phê trồng trong
chậu, bón từ 100-200g lân Văn Điển/chậu đ6
làm tăng sinh trưởng chiều cao 6,6-7,2%, số
cặp cành tăng 8,2-9,6%, khối lượng thân khô
tăng 40.4-56.7% và đặc biệt khối lượng rễ khô
tăng 219,8-241,7% so với không bón lân
Ngoài ra, nếu kéo dài thời gian khô hạn ở
công thức không hoặc bón ít lân, bộ rễ có màu
nâu vàng, lá bị cháy khô, trong khi ở công
thức bón đủ lân, rễ vàng sáng, lá bắt đầu có
triệu chứng héo
ở cà phê kinh doanh, bón lân đ6 làm tăng
tỷ lệ đậu quả từ 2,5-8,6% (chu kỳ tưới 22
ngày) và 3,5-9,3% (chu kỳ tưới 30 ngày) so
với không bón lân Khi bón từ 100-200
P2O5/ha có tỷ lệ đậu quả giữa hai chu kỳ tưới
không chênh lệch đáng kể và biến động từ
30,3-37,1%, không bón lân tỷ lệ đậu quả từ
26,8-28,5%
Theo dõi trong 3 năm liên tục ở cả hai
chu kỳ tưới (22 và 30 ngày), tỷ lệ tươi/nhân ở
công thức không bón lân (CT1) hoặc bón lân
thấp (CT2) luôn có xu hướng cao hơn ở các
công thức bón lân cao (CT3-CT5), song sự
chênh lệch này không có ý nghĩa thống kê
ở cà phê trong giai đoạn kinh doanh,
không bón lân một năm gần như chưa có ảnh
hưởng tới năng suất, nhưng từ năm thứ hai trở
đi, năng suất giảm rất rõ, nhất là khi kéo dài
chu kỳ tưới trong mùa khô Khi bón từ
100-200P2O5/ha ở cả hai chu kỳ tưới, năng suất cà
phê ổn định, tương đương nhau và luôn chênh
lệch có ý nghĩa thống kê so với không bón lân
Nếu tính trung bình trong ba năm, bón lân đ6 làm tăng năng suất cà phê so với không bón lân 19,0-30,6% (chu kỳ tưới 22 ngày) và 21,7-40,4% (chu kỳ tưới 30 ngày)
Tài liệu tham khảo
Đoàn Triệu Nhạn, Hoàng Thanh Tiệm, Phan Quốc Sủng (1999) Cây cà phê Việt Nam; Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr.26
Lê Ngoc Báu (1995) Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp cung cấp nước và giữ ẩm cho cà phê - Kết quả 10 năm nghiên cứu khoa học - Viện Nghiên cứu cà phê, tr.162-190
Lê Hồng Lịch (2005) Bón phân cho cà phê -
Sổ tay phân bón - Viện Thổ nhưỡng Nông hóa; Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr.184-193
Nguyễn Khả Hòa (1994) Lân với cây cà phê chè, Nhà xuất bản nông nghiệp, tr38 Nguyễn Tử Siêm, Trần Khải (1996) Hóa học lân trong đất Việt Nam và vấn đề phân lân, Tạp chí Khoa học đất, số 7, trang 92-97
Phạm Đình Thái, Nguyễn Duy Minh, Nguyễn Lương Hùng (1987) Sinh lý thực vật, tập 1, tập 2, Nhà xuất bản giáo dục Trần Kim Đồng, Nguyễn Quang Phổ và Lê Thị Hoa (1991) Giáo trình sinh lý cây trồng; Nhà xuất bản Đại học và Giáo duc chuyên nghiệp
Trần Kông Tấu, Nguyễn Thị Dần (1984) Độ
ẩm đất với cây trồng, NXB Nông nghiệp, tr.103
Võ Minh Kha (1996) Hướng dẫn thực hành
sử dụng phân bón, NXB Nông nghiệp
Trang 8T¹p chÝ KHKT N«ng nghiÖp 2006: TËp IV, Sè 6: 124 §¹i häc N«ng nghiÖp I