Our studied results showed that growth and yield of two local maize varieties (Khau Li On and Pooc Cu Lau) increased with nitrogen application level from 40 to 100 kg N/ha and reduced at 130 kg N/ha. In irrigated condition, local maize varieties yield the correlation between yield and nitrogen fertilizer applied is closer than in rainfed condition but nitrogen level in our experiment influence is unclear to VN2 maize variety. At level of 130 kg nitrogen per hectare had large difference yield in the irrigated and rainfed condition. Yield of Khau Li On variety in irrigated condition higher in rainfed condition is 13,28 quintal per hectare and Pooc Cu Lau is 14,73 quintal/ha. This indicated that in rainfed condition should be nitrogen application at maximum level is 100 kg N per hectare to open pollination local maize varieties.
Trang 1Tạp chí KHKT Nông nghiệp 2006, Tập IV, Số 6: 11-17 Đại học Nông nghiệp I
Tìm hiểu mức đạm thích hợp cho hai giống ngô nếp địa phương
trong điều kiện không tưới và có tưới
Studied suitable nitrogen levels for two local maize varieties in irrigated
and rainfed condition
Nguyễn Thị Thu Hà1, Vũ Văn Liết1
Summary
Our studied results showed that growth and yield of two local maize varieties (Khau Li On and Pooc Cu Lau) increased with nitrogen application level from 40 to 100 kg N/ha and reduced
at 130 kg N/ha In irrigated condition, local maize varieties yield the correlation between yield and nitrogen fertilizer applied is closer than in rainfed condition but nitrogen level in our experiment influence is unclear to VN2 maize variety At level of 130 kg nitrogen per hectare had large difference yield in the irrigated and rainfed condition Yield of Khau Li On variety in irrigated condition higher in rainfed condition is 13,28 quintal per hectare and Pooc Cu Lau is 14,73 quintal/ha This indicated that in rainfed condition should be nitrogen application at maximum level is 100 kg N per hectare to open pollination local maize varieties
Key words: Open pollination, local maize variety, effective, nitrogen fertilizer, irrigated and rainfed condition
1 Đặt vấn đề
ở nước ta, Ngô là cây lương thực quan
trọng và góp phần tạo thu nhập cho nông dân
Những vùng trồng ngô chủ yếu ở nước ta là
Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng Bằng Sông
Cửu Long, Nam Trung Bộ và Trung du miền
núi phía Bắc, thường thiếu nước, canh tác nhờ
nước trời Lượng mưa bình quân năm biến
động từ 700 mm (ở Bình Thuận, Ninh Thuận)
đến 2.178 mm (ở Nam Bộ) và phân bố không
đều giữa các vùng và các vụ ngô trong năm
Điều kiện nước tưới là một nguyên nhân năng
suất ngô của nước ta không cao chỉ đạt 3,49
tấn/ha
Ngoài nguyên nhân về giống, nước tưới
năng suất ngô còn bị tác động bởi các yếu tố
kỹ thuật khác như kỹ thuật canh tác, phân bón,
phòng trừ sâu bệnh trong đó phân bón có vai
trò quan trọng, đặc biệt phân bón trong điều kiện thiếu nước hoặc canh tác nhờ nước trời (Dương văn Sơn, 1996) Theo Nguyễn Xuân Trường (2000), trong các yếu tố phân bón thiết yếu, đạm là yếu tố mà cây ngô hút nhiều thứ hai sau kali nhưng lại là yếu tố quan trọng nhất
đóng vai trò tạo năng suất và chất lượng Thí nghiệm của David Beck (2002) chỉ ra rằng, nên bón phân cho ngô để đạt năng suất cao nhưng cần xem xét các yếu tố đất đai, kinh tế và môi trường, vì lượng phân bón phù hợp cho ngô phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện đất và môi trường gieo trồng Nghiên cứu của ông cũng cho thấy,
tỷ lệ phân đạm từ 56 - 112kg N/ha là tối ưu để ngô cho năng suất và chất lượng hạt tốt nhất Tuy nhiên, nghiên cứu mức độ ảnh hưởng và hiệu quả của yếu tố đạm đến năng suất ngô trong hai điều kiện môi trường có tưới và không tưới (canh tác nhờ nước trời) là rất cần thiết
Đặc biệt, với nông dân miền núi khi họ vẫn còn
sử dụng các giống ngô địa phương khá phổ biến (Vũ Văn Liết, 2006)
1 Trung tâm VAC, Đại học Nông nghiệp I
Trang 22 vật liệu và Phương pháp nghiên
cứu
Vật liệu thí nghiệm là hai giống ngô nếp
địa phương Poóc Cừ Lẩu và Khẩu Li ón, được
thu thập từ Điện Biên; đối chứng là giống ngô
nếp VN2 do Viện Nghiên cứu Ngô chọn tạo
Thí nghiệm được bố trí vào vụ xuân 2006
tại Trường Đại học Nông Nghiệp I trên hai
ruộng liền kề Một ruộng tưới nước theo quy
trình kỹ thuật của Viện Nghiên cứu Ngô và
một ruộng không tưới Trên mỗi ruộng, các
công thức thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô
chính, ô phụ (split-plot) với 3 lần nhắc lại,
diện tích mỗi công thức là 10m2, khoảng cách
30x70cm
Hai thí nghiệm đều thực hiện với 4 mức
đạm 0, 40, 70, 100 và 130 kgN/ha trên nền
phân vi sinh, lân và kali như nhau:
CT1: 2 tấn phân vi sinh + 0 kg N + 90 kg
P2O5 + 60 K2O (P0)
CT2: 2 tấn phân vi sinh + 40 kg N + 90
kg P2O5 + 60 K2O (P1)
CT3: 2 tấn phân vi sinh + 70 kg N + 90
kg P2O5 + 60 K2O (P2)
CT4: 2 tấn phân vi sinh + 100 kg N + 90
kg P2O5 + 60 K2O (P3)
CT5: 2 tấn phân vi sinh + 130 kg N + 90
kg P2O5 + 60 K2O (P4)
Thí nghiệm đánh giá sinh trưởng phát
triển, khả năng chống chịu và năng suất của
các giống ngô ở các mức phân bón đạm khác
nhau trong điều kiện có tưới và hạn tự nhiên
không tưới tại Gia Lâm, Hà Nội
3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1 ảnh hưởng của bón đạm đến sinh
trưởng, phát triển
ảnh hưởng của bón đạm đến thời gian
sinh trưởng của ngô
Thời gian sinh trưởng của ba giống ngô
nếp trong vụ xuân 2006 phụ thuộc chủ yếu
vào giống và phân bón Hai điều kiện có tưới
và không tưới chỉ ảnh hưởng đến thời gian từ
gieo đến mọc, không ảnh hưởng đến tổng thời
gian sinh trưởng của cả ba giống ngô Giống
VN2 có thời gian sinh trưởng ngắn hơn hai giống địa phương từ 19 đến 28 ngày Đối với cả ba giống, khi bón tăng mức đạm thì thời gian sinh trưởng kéo dài hơn và thời gian sinh trưởng dài nhất ở mức bón đạm 130kgN (công thức P4) ở điều kiện không tưới, bón mức
đạm cao thời gian sinh trưởng kéo dài hơn ở
điều kiện có tưới (bảng1)
Bảng 1 Thời gian sinh trưởng của ba giống ngô nếp ở 4 mức bón đạm trong điều kiện có tưới
và không tưới
Gieo - mọc(ngày) TGST(ngày) Công
Giống Khẩu Li ón
Giống Poóc Cừ Lẩu
Giống VN2
Ghi chú: KT: điều kiện không tưới, CT: điều kiện
có tưới
ảnh hưởng của bón đạm đến chiều cao cây và chiều cao đóng bắp
Chiều cao cây cuối cùng của các giống khác nhau là khác nhau (bảng 2) Giống đối chứng VN2 có chiều cao cây từ 123-146 cm, thấp hơn hai giống địa phương (phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng, 2001) Đối với giống VN2, trong điều kiện có tưới cây cao hơn điều kiện không tưới từ 4,5-19,9cm Tương tự ở giống Poóc Cừ Lẩu, các công thức có tưới cao hơn công thức không tưới và mức độ chênh lệch giữa hai thí nghiệm
Trang 3lớn nhất ở công thức bón mức đạm cao nhất
(P4) là 29,06 cm Mức biến động chiều cao
cây của giống Khẩu Li ón là nhỏ hơn so với
hai giống còn lại Điều này có thể do môi
trường có tưới và không tưới đs ảnh hưởng đến
genotype của các giống khác nhau
Bảng 2 Chiều cao cây cuối cùng và chiều cao
đóng bắp của ba giống ngô với các mức bón
đạm khác nhau trong hai điều kiện môi trường
Chiều cao cây Chiều cao đóng bắp
Công thức Không
tưới Có tưới
Không tưới Có tưới Giống Khẩu Li ón
P0 153,1 154,7 73,4 72,7
P1 152,0 156,8 68,9 83,5
P2 156,4 162,6 63,9 83,3
P3 160,0 155,5 70,2 75,7
P4 145,3 166,4 60,4 83,4
Giống Poóc Cừ Lẩu
P0 164,3 170,4 89,3 94,5
P1 167,6 172,0 88,0 95,3
P2 180,3 182,5 94,1 97,8
P3 187,5 195,7 96,2 100,0
P4 174,1 203,2 93,2 101,1
Giống VN2
P0 123,4 130,5 44,5 54,8
P1 124,5 144,4 44,3 58,8
P2 127,4 140,7 43,1 57,7
P3 124,6 129,1 47,2 48,0
P4 127,6 146,4 44,8 55,3
Chiều cao đóng bắp của các giống địa
phương cao hơn đối chứng, cao nhất là giống
Poóc Cừ Lốu, là giống có chiều cao cây lớn
nhất Chiều cao này dao động trong khoảng
từ 88cm (công thức P1, không tưới) đến
101,11cm (công thức P4 có tưới) ở các
công thức có tưới, chiều cao đóng bắp cao
hơn so với các công thức không tưới từ
3,66cm (công thức P2) đến 7,89cm (công
thức P4) Quy luật của chiều cao đóng bắp
tương tự như chiều cao cây ở trong môi
trường có tưới và không tưới Như vậy, sinh
trưởng của ngô ở cả điều kiện có tưới và không tưới đều liên quan với mức bón đạm, kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Oad, Buriroand và Agha (2004)
3.2 ảnh hưởng của bón đạm đến khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận Trong vụ xuân 2006, cây ngô bị một số loại sâu bệnh gây hại là: sâu xám, sâu đục thân, rệp cờ và bệnh đốm lá nhỏ Cả hai thí nghiệm sâu xám gây hại ở mức nhẹ Sâu đục thân gây hại ở các công thức có tưới cao hơn thí nghiệm không tưới Trong điều kiện không tưới, tỷ lệ rệp cờ hại nhiều hơn so với công thức có tưới, với giống Poóc Cừ Lẩu công thức bị hại thấp nhất là P2 không tưới (8,1%), cao nhất là công thức P2 có tưới (20,3%) Giống đối chứng VN2 tỷ lệ này thấp hơn, trong khoảng từ 4,8% (công thức P0) đến 15,5% (công thức P2) Công thức P2 không tưới so với công thức P2 có tưới cao hơn là 8,13% Bệnh đốm lá nhỏ ở điều kiện có tưới
tỷ lệ bệnh cao hơn điều kiện không tưới Mức
đạm cao cũng có xu hướng bị sâu bệnh hại cao hơn mức đạm thấp (bảng 3)
Theo dõi tỷ lệ gsy thân cho thấy tỷ lệ gsy ở cả ba giống đều thấp Công thức gsy nhiều nhất là P4 với tỷ lệ 2,44% Tỷ lệ gsy thân thấp đối với giống VN2, các công thức không tưới ở giống này không gsy thân 3.3 ảnh hưởng của bón đạm đến đặc điểm hình thái bắp
Chiều dài bắp ở hai giống ngô Khẩu Li
ón và Poóc Cừ Lẩu hơn hẳn so với giống đối chứng VN2 Chiều dài bắp của hai gống này dao động trong khoảng từ 12,99cm (công thức P0) đến 16,43cm (công thức P4) trong điều kiện có tưới Hầu hết các công thức có tưới chiều dài bắp trung bình đều dài hơn không tưới từ 0,46cm đến 2,07cm
Chiều dài đuôi chuột phụ thuộc nhiều vào
điều kiện ngoại cảnh trong thời gian thụ phấn, thụ tinh Trong điều kiện ngoại cảnh thuận lợi, quá trình thụ tinh diễn ra tốt, tất cả các nosn
đều được hình thành thì bắp không có đuôi chuột hoặc tỷ lệ đuôi chụtt thấp Trong kết quả theo dõi cho thấy tất cả các công thức ở cả ba giống đều có tỷ lệ đuôi chuột, thấp nhất là Poóc Cừ Lẩu ở công thức P2 có tưới là 0,75cm, cao nhất VN2 ở công thức P1 là
Trang 41,42cm Hầu hết các công thức có tưới đều có
chiều dài đuôi chuột ngắn hơn các công thức
không tưới, nhưng mức độ chênh lệch này đều dưới 0,35cm
Bảng 3 ảnh hưởng của mức bón đạm đến khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận
Sâu xám (%) Sâu đục thân (%) Rệpcờ (%) Đốm lá nhỏ (%) Công thức
Giống Khẩu Li ón
Giống Poóc Cừ Lẩu
Giống VN2
Giống Khẩu Li ón có đường kính bắp to
và đều nhất Đường kính bắp của giống này
thấp nhất là hai công thức không bón đạm (P0
không tưới là 3,87cm và P0 có tưới là
3,97cm) Còn lại các công thức khác đều có
đường kính bắp trên 4cm, cao nhất là Khẩu Li
ón ở công thức P3 có tưới với 4,31cm Hai
giống Poóc Cừ Lẩu và VN2 có đường kính bắp
không đồng đều, nhưng thấp nhất cũng ở mức
3,69cm (công thức P0 của giống Poóc Cừ Lẩu)
và 3,70cm (công thức P4 của giống VN2)
Đường kính lõi lõi nhỏ thì năng suất sẽ cao
Đường kính lõi của các công thức trong
khoảng từ 2,23cm (công thức P0) của Poóc Cừ
Lẩu có tưới đến 2,78 (công thức P0) Khẩu Li
ón không tưới Giữa hai thí nghiệm không
tưới và có tưới sự khác nhau về đường kính lõi
cũng không rõ rệt
3.4 ảnh hưởng của bón đạm đến các yếu tố
cấu thành năng suất
Giống Poóc Cừ Lẩu có số hàng hạt trên
bắp thấp nhất trong ba giống Mức đạm cao
(công thức P3) thì số hàng hạt trung bình cao Chỉ tiêu hạt/hàng không chênh lệch nhau nhiều giữa ba giống Tuy nhiên, tại các công thức có tưới, hai giống Khẩu Li ón và VN2 có
số hàng hạt trung bình và hạt/hàng cao hơn thí nghiệm không tưới
Tất cả các công thức có tưới của giống này đều có khối lượng nghìn hạt cao hơn công thức không tưới Trong các giống, giống Poóc
Cừ Lẩu có khối lượng nghìn hạt cao nhất tại công thức có bón đạm nhiều nhất Khi có bón
đạm, năng suất các giống ngô đều cao hơn đối chứng (công thức P0) có ý nghĩa với mức xác xuất 95% ở những công thức bón đạm, được tưới năng suất ngô đều cao hơn không tưới, chênh lệch cao nhất ở công thức P4 (130 kgN/ha) Năng suất trong điều kiện không có tưới khi tăng mức đạm lên 130 kgN/ha giảm mạnh ở hai giống địa phương thụ phấn tự do Như vậy, trong điều kiện canh tác nhờ nước trời chỉ nên bón mức đạm tối đa là 100 kgN/ha với giống ngô nếp địa phương thụ phấn tự do Khi xét lượng phân đạm cho ngô cần xét điều kiện có tưới và lượng phân đạm phù hợp
Trang 5Bảng 4 Hình thái bắp của các giống ngô với các mức đạm bón khác nhau
Chiều dài bắp (cm) Chiều dài đuôi chuột (cm) Đường kính bắp (cm) Đường kính lõi (cm) Công thức
Giống Khẩu Li ón
Giống Poóc Cừ Lẩu
Giống VN2
Ghi chú: KT: không tưới; CT: có tưới
Bảng 5 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô các mức đạm bón khác nhau
Số bắp/cây Số hàng hạt/bắp (hàng) Số hạt/hàng (hạt) P10000 hạt (g) Năng suất (tạ/ha) Công
thức
Giống Khẩu Li ón
P0 1,0 1,0 12,7 12,9 21,1 23,6 270,4 226,4 21,84 24,27 P1 1,0 1,1 12,9 13,3 25,7 26,9 271,1 281,4 28,39 40,08 P2 1,1 1,1 13,5 13,4 27,4 27,7 277,4 289,5 36,57 43,49 P3 1,2 1,2 13,5 13,7 26,9 27,2 281,9 289,8 40,47 48,28 P4 1,1 1,2 13,0 13,5 26,7 27,9 282,7 283,1 34,79 48,07
Giống Poóc Cừ Lẩu
P0 1,0 1,0 11,5 11,5 24,5 21,7 238,4 260,1 20,70 23,21 P1 1,1 1,1 11,9 11,8 24,3 25,5 262,6 269,4 26,09 31,44 P2 1,2 1,2 12,4 12,0 25,7 25,6 264,5 292,0 32,21 39,16 P3 1,2 1,3 12,7 12,3 25,8 24,3 288,4 298,6 36,73 42,64 P4 1,2 1,2 11,7 12,1 25,0 26,9 263,2 300,4 29,68 44,41
Giống VN2
P0 1,0 1,1 12,0 12,5 24,32 20,57 232,9 228,9 21,42 23,41 P1 1,1 1,1 12,3 13,1 24,41 23,93 237,6 251,6 25,49 31,80 P2 1,2 1,2 12,7 13,3 25,55 23,11 254,8 259,4 32,52 35,52 P3 1,3 1,3 12,7 13,2 25,61 24,54 255,8 254,7 35,83 40,18 P4 1,2 1,2 12,9 13,3 25,87 26,86 248,6 247,6 32,29 40,34
Trang 6Kết quả này phù hợp với Banjoko, Moor
(2003) và David Beck (2002) Tưới nước làm
tăng hiệu quả của phân đạm góp phần tăng
năng suất ngô Điều này cũng đs được Camp
và cộng sự công bố năm 2000
3.5 Phản ứng của giống đối các mức bón
đạm và môi trường
Các mức đạm khác nhau có ảnh hưởng rõ
rệt tới năng suất của ngô Phân tích tương
quan cho thấy trong điều kiện có tưới năng
suất tương quan với mức bón đạm chặt hơn
trong điều kiện nhờ nước trời Các giống địa
phương có phản ứng với mức đạm và điều
kiện tưới rõ nét hơn giống VN2 Như vậy,
không nên bón mức đạm quá cao khi canh tác
trong điều kiện nhờ nước trời
3.6 Hiệu suất phân bón
Bảng 6 Hiệu suất bón đạm cho các giống ngô
trong điều kiện có tưới và không tưới
Giống Mức phân bón
Thí nghiệm không tưới (kg ngô/kgN)
Thí nghiệm
có tưới (kg ngô/kgN) P1 (40KgN/ha) 13,03 8,20
P2 (70kgN/ha) 10,83 4,30
P3 (100kgN/ha) 13,04 6,23
Khẩu Li
ón
P4 (130kgN/ha) 9,96 7,48
P1 (40KgN/ha) 3,13 10,43
P2 (70kgN/ha) 6,11 9,80
P3 (100kgN/ha) 10,13 9,74
Poóc
Cừ Lẩu
P4 (130kgN/ha) 7,33 9,74
P1 (40KgN/ha) 9,43 20,03
P2 (70kgN/ha) 8,16 14,77
P3 (100kgN/ha) 8,85 11,39
VN2
P4 (130kgN/ha) 6,36 9,67
Hiệu suất phân bón là số đơn vị sản phẩm
thu hoạch thêm được khi bón 1 đơn vị phân
bón (Vũ hữu Yêm, 1995) Do thí nghiệm chỉ
làm một vụ và đạm là loại phân tan nhanh nên
tính hiệu suất phân bón cho một vụ, kết quả
như sau Kết quả ở bảng 6 cho thấy, đối với
hai giống ngô địa phương thì hầu hết các công
thức ở thí nghiệm không tưới có hiệu suất
phân bón cao hơn thí nghiệm có tưới Cao nhất
là mức bón đạm 3 (100kgN/ha) Riêng giống ngô VN2 hiệu suất phân bón ở thí nghiệm có tưới cao hơn thí nghiệm không tưới Kết quả này cho chúng tôi nhận định, hai giống ngô địa phương canh tác trong điều kiện không tưới (hay canh tác nhờ nước nước trời) nếu được bón phân hợp lý thì hiệu suất sử dụng phân bón cao hơn trong điều kiện canh tác có tưới
4 Kết luận và đề nghị Hai giống ngô địa phương Khẩu Li ón và Poóc Cừ Lẩu, trong điều kiện canh tác có tưới, chiều cao cây và số lá tăng tỷ lệ thuận với tăng mức bón đạm Nhưng canh tác nhờ nước trời, chiều cao cây và số lá tăng và đạt cao nhất ở mức bón đạm 3 rồi giảm xuống Với giống đối chứng VN2, các mức bón đạm khác nhau ảnh hưởng không rõ rệt đến chiều cao cây ở cả hai thí nghiệm
Đối với cả ba giống ngô dù có tưới hay không tưới, nếu không được bón đạm hình thái bắp, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất đều thấp hơn các công thức được bón đạm
Trong điều kiện có tưới mức độ nhiễm bệnh cao hơn điều kiện không tưới ở cả 3 giống Hai giống địa phương có khả năng chống chịu tương đương như VN2 Trong cùng một chế độ nước tưới, khi tăng mức bón
đạm mức độ nhiễm sâu bệnh hại tăng
Năng suất của cả 3 giống khi có bón đạm
đều cho năng suất cao hơn đối chứng ở mức xác xuất 95% Trong điều kiện có tưới, tất cả các mức bón đạm đều cho năng suất cao hơn không tưới Chệnh lệch cao nhất ở mức đạm P4 (130 kgN/ha) Năng suất chênh lệch do được tưới so với không tưới của các giống lần lượt như sau: Giống Khẩu Li ón 13,28 tạ/ha, giống Poóc Cừ Lẩu 14,73 và VN2 là 8,05 tạ/ha Trong điều kiện canh tác nhờ nước trời thì với giống ngô nếp địa phương thụ phấn tự do chỉ nên bón tối đa là 100 kgN/ha
Cần có những nghiện cứu tiếp theo về phân bón thâm canh giống ngô thụ phấn tự do giúp người dân miền núi nâng cao năng suất
và hiệu quả trồng ngô
Trang 7Tài liệu tham khảo
Banjoko V.A., Moor J (2003) "Effect of source,
rate and method of nitrogen fertilizer
application on maize yield in the savanna
zone of south western Nigeria", Agric
Res Vol 4 (1), pp 19-25
Camp C R., E J Sadler, D E Evans and J A
Millen (2000) Irrigation and Nitrogen
management with a site-specific Centre
Pivot,, U.S.D.A
David Beck, 2002 Maize, CIMMYT, Int
Dương Văn Sơn và Nguyễn Đức Lương
(1996) "Nghiên cứu chọn tạo giống
ngô thụ phấn tự do và giống ngô lai có
năng suất cao, có khả năng chống chịu
hạn, khảo nghiệm so sánh giống ngô
phục vụ sản xuất ngô ở các tỉnh miền
núi phía Bắc", Kết quả nghiên cứu chọn
lọc và lai tạo giống ngô, giai đoạn
1991-1995, NXB Nông nghiệp, Hà Nội,
tr 174-189
Nguyễn Thế Hùng (2001) Ngô lai và kỹ thuật
thâm canh, NXB Nông nghiệp, Hà Nội
Nguyễn Xuân Trường, Lê Văn Nghĩa, Lê
Quốc Phong, Nguyễn Đăng Nghĩa
(2000) Sổ tay sử dụng phân bón, NXB
Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh
Oad F C., U.A Buriroand S.K Agha (2004)
Effect of organic and inorganic
fertilizer on maize fodder production,
Asian Journal of pland Sciences 3,
375-377, 2004
Tổng cục thống kê (2006) Số liệu thống kờ về
diện tớch và sản lượng lương thực cú
hạt,
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabi d=390&idmid=3&ItemID=3264 Trần Hồng Uy, Mai Xuân Triệu và Lê Quý Kha (2001) "Kết quả điều tra xác định vùng
và các điều kiện phát triển ngô thụ phấn
tự do và ngô lai ở phía Bắc Việt Nam", Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO), NXB Nông nghiệp, Hà Nội
Vũ Văn Liết, Đồng Huy Giới, (2006) "Thu thập nghiên cứu giống ngô địa phương tạo vật liệu chọn giống ngô chịu hạn cho vùng miền núi phía Bắc Việt Nam", Tạp chí KHKT Nông nghiệp, vol.4, No.3, Trường Đại học Nông nghiệp I,
Hà Nội
PHụ LụC
Phân tích phương sai mức đạm cho 3 giống ngô
ở hai môi trường
Mức đạm 4 0,15356 383918 Môi trường 1 620757 620757
Mt x đạm 4 131991 32997,8
Tương quan mức đạm với ba giống ngô trong
điều kiện có tưới và không tưới
Giống Có tưới Nước trời Khẩu Li ón 0,954 0,882 Poóc Cừ Lẩu 0,939 0,872
So sánh hiệu quả các mức phân bón đạm
T-efcts Duncan
Trang 8T¹p chÝ KHKT N«ng nghiÖp 2006: TËp IV, Sè 6: 124 §¹i häc N«ng nghiÖp I