1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)

99 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 783,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênNghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2014-2018

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2014-2018

Giảng viên hướng dẫn : ThS Lưu Thị Thùy Linh

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là bước quan trọng của sinh viên cuối khóa, đây là giai đoạn rất quan trọng nhằm cung cấp kiến thức đã học trên ghế nhà trường đồng thời nâng cao kỹ năng thực hành

Được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài

“Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô,

huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”

Trong thời gian hơn 4 tháng thực tập tại Ủy ban nhân dân xã Phú Đô , tôi

đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn cùng sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ tại Ủy ban nhân dân xã Phú

Đô và đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của giảng viên Th.S Lưu Thị Thùy Linh Với trình độ và thời gian có hạn, do đó bản đề tài của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để bản đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 28 tháng 5 năm 2018

Sinh viên:

Trần Thị Ngọc Ánh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2.Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Những vấn đề cơ bản về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo 4

2.1.2 Nghèo đa chiều 9

2.2 Cơ sở thực tiễn 17

2.2.1 Các hoạt động xóa đói giảm nghèo trên thế giới 17

2.2.2 Hoạt động XĐGN ở Việt Nam 21

2.3 Giảm nghèo bền vững 23

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25

3.2 Nội dung nghiên cứu 25

Trang 5

3.3 Phương pháp thu thập số liệu 26

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 26

3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 27

3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 27

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

4.1.Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa bàn nghiên cứu 28

4.1.1 Vị trí địa lý 28

4.1.2 Khí hậu, thủy văn……… 28

4.1.3 Nguồn tài nguyên thiên nhiên………29

4.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 29

4.2 Thực trạng nghèo và các chương trình giảm nghèo đã được thực hiện tại xã Phú Đô 38

4.2.1 Thực trạng nghèo tại xã Phú Đô 38

4.2.2 Các chương trình giảm nghèo đã được thực hiện tại xã giai đoạn 2015-2017……….58

4.3 Thực trạng các hộ điều tra 57

4.3.1 Thông tin chung về các hộ 57

4.3.2 Thực trạng nghèo đa chiều của các hộ nghiên cứu tại xã Phú Đô……60

4.4 Nguyên nhân dẫn đến nghèo và các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo 63

4.5 Nguyên nhân nghèo đói tại địa bàn nghiên cứu 65

4.5.1 Thiếu vốn sản xuất 66

4.5.2 Thiếu đất sản xuất 66

4.5.3 Thiếu phương tiện sản xuất 66

4.5.4 Đông người ăn theo, thiếu lao động 67

4.5.5 Không biết cách làm ăn, không có tay nghề, lười lao động 67

4.5.6 Thiếu kiến thức sản xuất 68

4.5.7 Ốm đau, bệnh tật, tệ nạn xã hội 68

4.6 Các nhân tố ảnh hưởng tới giảm nghèo trong địa bàn xã Phú Đô 69

Trang 6

4.7 Định hướng và giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Phú Đô 70

4.7.1 Định hướng giảm nghèo tại xã Phú Đô 70

4.7.2 Giải pháp giảm nghèo bền vững nâng cao chất lượng đối với các nhóm hộ và các chiều nghèo 71

4.7.3 Các giải pháp giảm nghèo đối với chiều nghèo 76

4.7.4 Giải pháp cụ thể 77

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

5.1 Kết luận 79

5.2 Kiến nghị 80

5.2.1 Đối với các chính quyền các cấp, các ngành 80

5.2.2 Đối với người dân 81

5.2.3 Đối với hộ nghèo 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 7

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

ESCAP Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á- Thái Bình Dương Liên Hiệp

Quốc

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia) 7

Bảng 2.2: Bảng chỉ số nghèo đa chiều 14

Bảng 4.1: Tình hình dân số và lao động của xã Phú Đô năm 2017 30

Bảng 4.2 Tình hình sử dụng đất đai của xã năm 2017 31

Bảng 4.3: Nhà ở và các phương tiện sinh hoạt của các hộ năm 2017 34

Bảng 4.4 Tình hình phát triển một số cây trồng chính tại xã Phú Đô 36

Bảng 4.5 Tình hình phát triển chăn nuôi tại xã Phú Đô năm 2015-2017 37

Bảng 4.6 : Kết quả rà soát hộ nghèo và cận nghèo của xã Phú Đô năm 2017 39 Bảng 4.7 Kết quả giảm nghèo của xã Phú Đô 40

Bảng 4.8 So sánh nghèo giữa các xã của huyện Phú Lương giai đoạn 2015-2017 42

Bảng 4.9 Tổng hợp diễn biến kết quả giảm số hộ nghèo năm 2017 44

Bảng 4.10 Tổng hợp diễn biến kết quả giảm số hộ cận nghèo năm 2017 46

Bảng 4.11 : Phân tích hộ nghèo theo mức độ thiếu hụt các dịch vụ cơ xã hội cơ bản 48

Bảng 4.12 Phân tích hộ cận nghèo theo mức thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản 51

Bảng 4.13 Bảng phân tích hộ nghèo theo nhóm đối tượng 54

Bảng 4.14 Danh mục các dự án chính đã triển trai phục vụ công tác giảm nghèo năm 2015-2017 56

Bảng 4.15 Tình hình nhân khẩu, lao độ và trình độ học vấn của hộ điều tra trong xã Phú Đô 57

Bảng 4.16 Ngưỡng thiếu hụt giáo dục của hộ điều tra ( 60 hộ) 58

Bảng 4.17: Tình hình tiếp cận và tham gia dịch vụ y tế của các hộ điều tra năm 2017 59

Bảng 4.18 Tình hình về nhà ở và diện tích của các hộ điều tra 60

Trang 9

Bảng 4.19 Tình hình tiếp cận thông tin của các hộ điều tra 61

Bảng 4.20 Tình hình về điều kiện sống của các hộ điều tra 62

Bảng 4.21 Trình độ văn hóa của chủ hộ 63

Bảng 4.22 Bảng cơ cấu dân tộc các hộ điều tra 64

Bảng 4.23 Bảng Quy mô hộ gia đình 64

Bảng 4.24 Nguyên nhân đói nghèo tại các hộ điều tra 65

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1.Tính cấp thiết của đề tài

Như chúng ta đã biết đói nghèo là lực cản của sự phát triển kinh tế đất nước, do vậy muốn phát triển kinh tế thì không còn cách nào khác ngoài xóa đói giảm nghèo Đói nghèo là tình trạng thiếu cái ăn, cái mặc và các nhu cầu khác của mỗi con người dẫn đến tình trạng yếu kém về thể lực, trí lực làm giảm khả năng lao động, của cải làm ra không đủ đáp ứng nhu cầu của cuộc sống Vì vậy, thực hiện giảm nghèo là 1 nhiệm vụ kinh tế chính trị trọng tâm của tất cả các quốc gia nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, hướng tới việc thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội

Phú Đô là một xã nghèo thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, số

hộ nghèo trong xã còn khá cao chiếm 23,61% (thống kê năm 2017 của Ủy ban nhân dân xã Phú Đô) Phú Đô là một xã nằm ở phía Đông của huyện Phú Lương cách trung tâm huyện 20 km Địa bàn xã có 25 xóm, có 1.529 hộ với 6.125 nhân khẩu trong đó gồm có 361 hộ nghèo (thống kê của UBND xã Phú Đô năm 2017) Trình độ dân trí của xã không đồng đều do vậy nhận thức và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm, còn chông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước chưa chú trọng phát triển kinh tế hộ gia đình

Thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã hội, sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp chưa quy hoạch thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung Là xã có tỷ lệ hộ nghèo còn cao nên công tác giảm nghèo tại xã luôn là vấn đề cấp thiết và nan giải

Vấn đề đặt ra ở đây là: với tình hình, thực trạng nghèo đói của xã Phú

Đô như vậy, huyện Phú Lương và xã Phú Đô đã có những chính sách gì, bằng cách nào, thực hiện các giải pháp nào để đẩy mạnh quá trình xoá đói giảm nghèo, từng bước ổn định đời sống của các hộ nghèo, từ đó tạo những điều

Trang 11

kiện, tiền đề thuận lợi để các hộ vươn lên thoát nghèo và không bị tái nghèo Đây là vấn đề rất bức thiết đối với xã Phú Đô cần sớm được nghiên cứu giải

quyết, xuất phát từ thực tiễn đó em đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên

cứu thực trạng và đề xuât giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”

1.2.Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng nghèo tại xã Phú Đô, từ đó đưa ra các giải pháp giảm nghèo cho người dân trong thời gian tới

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá thực trạng nghèo của người dân tại địa bàn nghiên cứu

- Tìm hiểu và đánh giá các chương trình giảm nghèo đã thực hiện tại địa phương

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới giảm nghèo tại địa phương

- Đề xuất giải pháp giảm nghèo tại địa bàn nghiên cứu

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

- Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản

và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế

- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế

- Có được cái nhìn tổng thể về tình trạng nghèo đói của cả nước nói chung và riêng xã Phú Đô trên cơ sở đánh giá các chỉ số nghèo đa chiều

Trang 12

- Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho

việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này

- Xác định được các yếu tố gây ảnh hưởng đến nghèo của các hộ trong

xã Từ đó, nắm bắt được nhu cầu, mong muốn của các hộ và đề ra các giải pháp giải quyết các nhu cầu trước mắt của người dân Góp phần thúc đẩy kinh

tế, văn hóa, giáo dục, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống người dân trên địa bàn xã

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Những vấn đề cơ bản về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo

2.1.1.1 Một số khái niệm

Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian Tổ chức y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia

Hội nghị chống nghèo đói do ủy ban kinh tế xã hội ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ASCAP) tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm và định nghĩa về đói nghèo Theo hội nghị “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế,

xã hội và phong tục tập quán của các địa phương và những phong tục ấy đã được xã hội thừa nhận”.[3]

Khái niệm này không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo co hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia và nó thay đổi theo thời gian và không gian

Chuẩn nghèo là thước đo để phân biệt ai nghèo, ai không nghèo từ đó

có chính sách biện pháp phù hợp (Báo cáo số 21/LĐTBXH-BTXH, 2005) Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch 1995 đã đưa ra định nghĩa cụ thể về đói nghèo như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền coi như đủ mua số sản phẩm thiết yếu để tồn tại”

Có nhiều quan niệm nghèo đói của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng

Trang 14

và theo những đặc trưng khác của nghèo đói Song quan niệm thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và nhu cầu cần thiết khác bằng hoặc thấp hơn mức tối thiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định”[3]

) Nghèo tuyệt đối

Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng của giới trí thức chúng ta’’ Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1

đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc 1997)

) Nghèo tương đối

Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như

là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội

đó Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng.[7]

Trang 15

2.1.1.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói

2.1.1.2.1Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới

Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức

độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với hai cách tính đó là:

Phương pháp Atlas tức là tính theo tỉ giá hối đoái và tính theo USD Phương pháp PPP (purchasing power parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD

Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại:

+ Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu

+ Từ 20.000 đến 25.000 USD/người/năm là nước giàu

+ Từ 10.000 đến 20.000 USD/người/năm là nước khá giàu

+ Từ 2.500 đến dưới 10.000 USD/ngươi/năm là nước trung bình

+ Từ 500 đến dưới 2.500 USD/người/năm là nước nghèo

+ Dưới 500 USD/người/năm là nước cực nghèo

Cũng theo quan niệm trên Ngân hàng thế giới đưa ra kiến nghị thang nghèo đói như sau:

+ Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0.5 USD/ngày

+ Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày

+ Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày

+ Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày

+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày.[2]

Vì vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn của riêng nước mình thông thường thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng thế giới đưa ra Ví dụ như

Mỹ đưa ra chuẩn nghèo là mức thu nhập dưới 16.000 Kcal đối với một hộ gia đình chuẩn (gia đình 4 người) trong một năm tương đương với 11,1 USD/ngày/người

Nhưng cần thấy rằng, ngoài thu nhập nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội, sức khỏe, trình độ… Vì vậy,

Trang 16

để đánh giá vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc gia bình quân, UNDP còn đưa ra chỉ số phát triển con người HDI bao gồm hệ thống 3 chỉ tiêu: tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn và thu nhập bình quân đầu người trong năm

Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển

và trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận nước giàu nghèo tương đối chính xác và khách quan.[2]

2.1.1.2.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói ở Việt Nam

Bảng 2.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (theo tiêu chuẩn quốc gia)

Chuẩn nghèo đói qua

các giai đoạn Phân loại người nghèo đói

Mức thu nhập bình quân /người/tháng

1996 - 2000 (Mức thu

nhập quy ra gạo tương

đương với số tiền)

Đói (tính cho mọi khu vực) Dưới 13Kg (45.000 đồng) Nghèo (KV nông thôn, miền

núi, hải đảo)

Trang 17

Phương pháp chuẩn nghèo này đã được đánh giá phù hợp với mức sống

và thu nhập của dân cư nói chung, cũng như thu nhập của 20% nhóm nghèo nhất, đảm bảo được khả năng huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu dự kiếp

và đáp ứng được yêu cầu từng bươc tiếp cận và hội nhập quốc tế.[5]

2.1.1.2.3 Các khía cạnh của nghèo đói

Về thu nhập:

Đa số những người nghèo có cuộc sống khó khăn cực khổ và có mức thu nhập thấp Điều này do tính chất công việc của họ đem lại Người nghèo thường làm công việc đơn giản, lao động chân tay, công việc cực nhọc nhưng thu nhập thấp Công việc thường bấp bênh, không ổn định, phụ thuộc vào thời

vụ và có tính rủi ro liên quan đến thời tiết ( mưa, nắng, hạn hán, lũ lụt, động đất…) Các nghề thuộc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là ví dụ cho vấn đề này Do thu nhập thấp nên chi tiêu trong cuộc sống của những người nghèo hạn chế hầu hết các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày chỉ được đáp ứng ở mức thấp thậm chí là không đủ Điều này kéo theo hàng loạt vấn đề khác như giảm sức khỏe, giảm sức lao động từ đó giảm thu nhập đã tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo

Y tế - giáo dục:

Những người nghèo thường mắc phải những căn bệnh như cảm cúm, đau khớp… vì phải lao động cực nhọc Ngoài ra họ còn phải sống trong những vùng có điều kiện vệ sinh, y tế còn hạn chế Họ không được sử dụng nước sạch, không có công trình khép kín, Dẫn đến tăng tỷ lệ số trẻ em bị suy dinh dưỡng và bà mẹ bị mang thai thiếu máu Nguyên nhân là do bị đối xử bất bình đẳng trong xã hội người nghèo không được tiếp xúc với các dịch vụ an sinh xã hội so với người giàu Bên cạnh đó trình độ nhận thức của người nghèo, họ thường không quan tâm tới sức khỏe của mình, chủ quan khiến bệnh càng trầm trọng hơn

Tình trạng giáo dục đối với người nghèo cũng là vấn đề đáng quan tâm Hầu hết những người nghèo không đủ điều kiện học đến nơi đến chốn Tỷ lệ thất học, mù chữ ở hộ nghèo, đói rất cao Tình trạng này do các gia đình không thể trang trải được lệ phi, học phí cho con cái hoặc do tâm lý cổ hủ lạc

Trang 18

hậu không cho con cái đi học vì sẽ mất đi 1 lao động Hiện nay một số hộ nghèo đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đến trường tuy nhiên vấn

đề chi phí cho học tập rất là khó khăn đối với tình hình tài chính của gia đình Tóm lại, y tế - giáo dục là một vấn đề được nhiều người quan tâm, họ cũng đã hiểu được tầm quan trọng của các yếu tố này đối với bản thân và tương lai của họ và gia đình Nhưng do thu nhập họ quá thấp, không đủ trang trải học phí, viện phí, họ đành phải chấp nhận để con cái thôi học, người bệnh không được khám chữa kịp thời

Điều kiện sống:

Người nghèo thường sống ở những vùng có điều kiện vệ sinh, y tế thấp, còn nhiều hạn chế, chẳng hạn, họ không được sử dụng nguồn nước sạch, không có công trình phụ hợp vệ sinh, từ đó đưa ra các giải pháp giúp họ được tiếp cận với các với nguồn nước sạch và vệ sinh hợp lý

Tiếp cận thông tin:

Sử dụng thước đo tiếp cận thông tin nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thông tin truyền thông cho người nghèo rất quan trọng vì tình trạng tiếp cận thông tin của họ rất còn hạn chế và lạc hậu Từ đó đưa ra các phương pháp khắc phục

Nhà ở:

Không được sống và sinh hoạt trong những ngôi nhà bền vững, họ luôn phải sống trong nỗi lo sợ thiếu thốn về vật chất và tinh thần do đó mà nó làm ảnh hưởng rất nhiều tới công việc sản xuất hàng ngày, rồi từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục

2.1.2 Nghèo đa chiều

2.1.2.1 Khái niệm nghèo đa chiều

Nghèo đa chiều không chỉ được đo bằng thu nhập, chỉ tiêu mà còn bởi khả năng tiếp cân đông thời đến lương thực, nhà ở, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và các mức sông xã hội khác ngay cả các chỉ báo phi vật chất Nói cách khác, tình trạng nghèo không chỉ được đo lường bằng chi tiêu hay thu nhập, mà còn bằng các chỉ báo về mức sống chỉ ra phúc lợi kinh tế - xã hội

mà hộ gia đình có được Mặc dù vậy, việc chọn lựa các chỉ báo phù hợp để đo

Trang 19

lường nghèo đa chiều vẫn còn chưa rõ ràng Cách tiếp cận Sinh kế bền vững (SLA) của Bộ Phát triển Quốc tế - Vương Quốc Anh (DFID) có quan hệ chặt chẽ với khái niệm nghèo đa chiều khi sử dụng một bộ các chỉ báo kinh tế - xã hội để phản ánh khả năng tiếp cập đến năm nhóm tài sản sinh kế bao gồm tài sản con người, xã hội, tự nhiên, vật chất và tài chính của hộ gia đình hoặc cá nhân

Do vậy, người nghèo được tiếp cận theo hướng đa chiều, có nghĩa là không chỉ có mức thu nhập bình quân dưới chuẩn nghèo mà còn thiếu hụt ít nhất một trong những nhu cầu xã hội như giáo dục, y tế, an sinh xa hội, nhà ở, dịch vụ cơ bản tại nơi ở, lương thực thực phẩm…

Như vậy, khái niệm nghèo đa chiều được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng nhu cầu cơ bản trong cuộc sống

Nghèo không chỉ được đo lường bằng thu nhập, chi tiêu mà còn bởi khả năng tiếp cận một cách đồng thời đến lương thực, nhà ở, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và các mức sống xã hội khác, ngay cả các chỉ báo phi vật chất Tổng hòa các chỉ báo này phản ánh chất lượng cuộc sống Hiện nay, các tổ chức quốc tế đã áp dụng khái niệm nghèo đa chiều và xây dựng các chỉ số đo lường nghèo đa chiều Các chỉ số đa chiều phổ biến nhất là Chỉ số nghèo con người (Human Poverty Index - HPI) do Anand và Sen đề xuất (1997), Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) được Liên Hiệp Quốc sử dụng, và Chỉ số nghèo đa chiều 2 (Multidimensional Poverty Index - MPI) do Đại học Oxford và UNDP áp dụng dựa trên phương pháp luận của Alkire và Foster (2007) Cho đến nay hầu hết các nghiên cứu về nghèo ở Việt Nam vẫn sử dụng tiếp cận nghèo đơn chiều mặc dù Ngân hàng thế giới (2003)

đã chỉ ra rằng Việt Nam đã áp dụng sáu phương pháp đo lường nghèo khác nhau, trong đó có bốn phương pháp áp dụng tiếp cận nghèo đa chiều Gần đây, nghiên cứu đánh giá nghèo đô thị ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh năm

2010 (UBND TP Hà Nội, UBND TP Hồ Chí Minh & UNDP, 2010) áp dụng chỉ số nghèo đa chiều MPI bao gồm tám chiều đo lường và 21 chỉ báo với trọng số ngang bằng nhau Báo cáo Nghèo của Tổng cục Thống kê năm 2010 cũng có áp dụng chỉ số nghèo đa chiều cho trẻ em bao gồm các khía cạnh giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nhà ở, nước sạch, vệ sinh, không làm việc trước tuổi

Trang 20

lao động, vui chơi giải trí, hòa nhập xã hội và được xã hội bảo vệ UNDP (2011) đã công bố Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011 cho Việt Nam trong đó áp dụng so sánh ba phương pháp đo lường là nghèo tiền

tệ, HPI và MPI Chỉ số nghèo đa chiều MPI được UNDP xây dựng dựa trên

ba thước đo (chiều) là y tế, giáo dục và mức sống, được đại diện bằng chín chỉ tiêu 1) hộ phải bán tài sản, vay nợ để trả phí chăm sóc y tế hoặc ngưng chữa trị; 2) thành 14 viên hộ chưa hoàn thành bậc tiểu học; 3) trẻ em trong độ tuổi

đi học không đến trường; 4) sử dụng điện thắp sáng; 5) tiếp cận nước uống sạch; 6) tiếp cận vệ sinh; 7) tiếp cận nhà vệ sinh tiêu chuẩn; 8) sống ở nhà cố định; và 9) có sở hữu tài sản lâu bền Quan hệ giữa nghèo và các chỉ báo kinh

tế - xã hội khác cũng được áp dụng ở một số nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới (Asselin, 2009; Ki, Faye & Faye, 2009, trích bởi Asselin, 2009; Crooks, 1995) Asselin và Vu đã áp dụng 5 chiều đo lường cho Việt Nam bao gồm giáo dục, sức khỏe, nước sạch/vệ sinh, việc làm và nhà ở (Asselin, 2009) Có thể thấy, kết quả đo lường nghèo đa chiều tùy thuộc rất nhiều vào sự tin cậy của các chiều đo và các chỉ tiêu đại diện cho từng chiều đo Để có thể đo lường chính xác nghèo đa chiều, cần phải xác lập hệ thống các chiều đo và các chỉ tiêu phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội của từng quốc gia, vùng miền và nhóm người cần đo lường về các khía cạnh lý thuyết, thống kê và thực tiễn Hiện nay, các nghiên cứu sử dụng MPI chủ yếu chọn lựa các chiều

đo và các chỉ tiêu dựa trên lý thuyết nghèo và kinh nghiệm thực tiễn là chính

Vì vậy, nghiên cứu này hướng đến việc tìm kiếm cách thức chọn lựa các chiều đo và các chỉ tiêu hợp lý về phương diện thống kê, có nghĩa là chúng phải có quan hệ thực sự về mặt thống kê với tình trạng nghèo của hộ gia đình hoặc cá nhân cần đo lường Tiếp cận sinh kế ngày nay đã được áp dụng rộng rãi khi nghiên cứu về đặc điểm kinh tế - xã hội của hộ gia đình ở các nước đang phát triển Khung phân tích sinh kế bền vững (DFID, 1999) xác định năm nhóm tài sản, hay còn được hiểu là “vốn” mà sinh kế dựa vào Các tài sản này bao gồm tài sản (hoặc là vốn) con người, tự nhiên, vật chất, tài chính

và xã hội Gia tăng khả năng tiếp cận đến các tài sản sinh kế này bằng cách sở hữu hay sử dụng được hiểu là hỗ trợ cho sinh kế và giảm nghèo Khái niệm

Trang 21

tài sản sinh kế cho phép hiểu nghèo đa chiều thông qua các chỉ báo về tài sản sinh kế

Như vậy, có thể tồn tại các quan hệ chặt chẽ giữa các chỉ báo nghèo về tiền và các chỉ báo về tài sản sinh kế Mỗi tài sản sinh kế cũng có thể được coi

15 là một chiều đo lường của nghèo đa chiều, và được biểu thị bằng nhiều chỉ báo khác nhau Nghiên cứu này dựa vào lý thuyết sinh kế bền vững vì tính chất toàn diện của lý thuyết cho phép tạo ra nền tảng hình thành các chiều đo lường khác nhau cho nghèo đa chiều Sự giàu có hay nghèo nàn về các tài sản sinh kế cũng đồng nghĩa với sự giàu có hay nghèo theo quan niệm đa chiều Dựa trên tiếp cận sinh kế bền vững, Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2012) đã thử sử dụng bộ số liệu VHLSS năm 2008 và đã xác định mười chiều đo đại diện cho bốn nhóm tài sản sinh kế là vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, và vốn tài chính của hộ gia đình nông thôn Việt Nam dựa trên các phương pháp thống kê đa biến là phân tích thành phần chính PCA và Multiple Correspondence Analysis (MCA) [6]

Kế thừa kết quả trên, nghiên cứu này tiếp tục dựa vào khung phân tích sinh kế bền vững (DFID, 1999) để xác định các chỉ báo đo lường nghèo đa chiều cho hộ 3 gia đình nông thôn Việt Nam và sử dụng bộ dữ liệu VHLSS

2010 để kiểm tra lại tính nhất quán của các chiều đo và các chỉ báo nghèo đa chiều

Ra đời mới chỉ vài năm gần đây, phương pháp mới này có nhiều điểm lợi hơn là cách đo lường thông thường Nó đánh giá đầy đủ các khía cạnh khác nhau của người dân về mặt cuộc sống xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là thu nhập Nếu tính theo kiểu thu nhập, xã hội dễ bỏ qua những người nằm trong diện vừa thoát nghèo nhưng trên thực tế lại không đủ thu nhập để tiếp cận các dịch vụ xã hội khác, hoặc những hộ gia đình có nguy cơ tái nghèo Do

đó tỉ lệ người nghèo ước tính sẽ cao hơn, khi đó ta sẽ nắm được rõ các hộ nghèo để có một phương pháp giảm nghèo bền vững phù hợp hơn và hiệu quả hơn để hộ nghèo được thoát nghèo

Việc xác định mức độ thiếu hụt thông qua tiếp cận đo lường nghèo đa chiều sẽ góp phần tăng tính hiệu quả của chính sách hỗ trợ, hạn chế tình trạng

16 trông chờ, ỷ lại của đối tượng thụ hưởng, đồng thời là cơ sở để xây dựng

Trang 22

kế hoạch ngân sách thực hiện chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội phù hợp hơn

2.1.2.2 Chỉ số nghèo đa chiều

- Theo Quyết định số 59/2015 TTg về chuẩn nghèo ban hành ngày 19/10/2015 của Thủ tướng Chính Phủ

1 Hộ nghèo

a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

b) Khu vực thành thị: là độ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

2 Hộ cận nghèo

a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Trang 23

Bảng 2.2: Bảng chỉ số nghèo đa chiều Chiều

nghèo

Chỉ số đo lường

Ngưỡng thiếu

1) Giáo dục 1.1 Trình

độ giáo dục của người lớn

Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên

đủ 15 tuổi sinh từ năm 1986 trở lại không tốt nghiệp Trung học cơ sở

và hiện không đi học

Hiến pháp năm

2013 NQ

15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-

2020 Nghị quyết

số 41/2000/QH (bổ sung bởi Nghị định

số CP)

88/2001/NĐ-10

1.2 Tình trạng đi học của trẻ em

Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em trong độ tuổi đi học (5dưới 15 tuổi) hiện không

đi học

Hiến pháp năm

2013 Luật Giáo dục 2005 Luật bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-

bệnh(ốm đau

Hiến pháp năm

2013 Luật Khám chữa bệnh

10

Trang 24

Chiều

nghèo

Chỉ số đo lường

Ngưỡng thiếu

được xác định là

bị bệnh/chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ và phải

có người chăm sóc tại giường

việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường) 2.2 Bảo

hiểm y tế

Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên

từ 6 tuổi trở lên hiện tại không có bảo hiểm y tế

Hiến pháp năm

2013 Luật bảo hiểm y tế 2014 NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách

xã hội giai đoạn 2012- 2020

Luật Nhà ở; NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách

xã hội giai đoạn 2012-2020

10

Trang 25

Chiều

nghèo

Chỉ số đo lường

Ngưỡng thiếu

độ: nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ)

3.2 Diện tích nhà ở bình quân đầu người

Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ gia đình nhỏ hơn 8m²

Luật Nhà ở; Quyết định 2127/QĐTtg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm

2020 và tầm nhìn đến năm 2030

10

4) Điều

kiện sống

4.1 Nguồn nước sinh hoạt

Hộ gia đình không được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội

20122020

10

4.2 Hố xí/nhà tiêu

Hộ gia đình không sử dụng hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội

Hộ gia đình không có thành viên nào sử dụng

Luật Viễn thông

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề

10

Trang 26

Chiều

nghèo

Chỉ số đo lường

Hộ gia đình không có tài sản nào trong số các tài sản: Ti vi, radio, máy tính;

và không nghe được hệ thống loa đài truyền thanh xã/thôn

Luật Thông tin truyền thông NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách

xã hội giai đoạn

2.2.1 Các hoạt động xóa đói giảm nghèo trên thế giới

2.2.1.1 Tình hình nghèo đói trên thế giới

Đói nghèo là vấn đề đặt ra cho tất cả các quốc gia trên thế giới, nó trở thành vấn nạn trên toàn cầu Trong lịch sử có nhiều nạn đói chết hàng triệu người dân châu Á, châu Phi Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động Theo một nghiên cứu của

WB, nguy cơ đối với người nghèo đang gia tăng trên quy mô toàn cầu và tốc

độ tăng trưởng kinh tế suy giảm trong năm 2009 đã đẩy thêm 53 triệu người nữa rơi vào tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130- 155 triệu người năm 2008, khi giá nhiên liệu và thực phẩm tăng cao[2]

Trang 27

Ngày 15/5/2012, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra nghiên cứu năm 2012 về thị trường lao động, nhấm mạnh từ những năm qua, tình trạng nghèo khổ gia tăng không còn là vấn đề đáng lo ngại ở các nước phát triển Từ khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu bùng nổ, tỷ lệ nghèo khổ đã giảm mạnh ở 75% các nước đang phát triển, nhưng lại đang tăng lên ở 25 nước trong 36 nước phát triển [2]

Đói nghèo đã trở thành thách thức lớn, đe dọa đến sự sống còn, ổn định

và phát triển của thế giới và nhân loại Sở dĩ như vậy bởi vì thế giới

là một chỉnh thể thống nhất, và mỗi quốc gia là một chủ thể trong chính thể thống nhất.Toàn cầu hóa đã trở thành cầu nối liên kết giữa các quốc gia lại với nhau, các quốc gia có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, sự ổn định và phát triển của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến sự

ổn định và phát triển của các quốc gia khác Nghèo đói đe dọa đến sự sống của loài người bởi “Nghèo đói đã trở thành một vấn đề toàn cầu có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng nổ những bất ổn chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo động và chiến tranh không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới Bởi những bất công và nghèo đói thực sự đã trở thành những mâu thuẫn gay gắt trong quan hệ quốc tế, và nếu những mâu thuẫn này không được giải quyết một cách thỏa đáng bằng con đường hòa bình thì tất yếu sẽ xảy ra chiến tranh

2.2.1.2 Các giải pháp và kinh nghiệm XĐGN ở một số nước trên thế giới

Giải pháp

Những giải pháp và những chính sách hướng vào phát triển sản xuất, tăng trường kinh tế với công bằng xã hội.Những kết quả, thành tựu đạt được trong việc khắc phục tình trạng đói nghèo ở các nước trong giai đoạn xây dựng và cải cách kinh tế - xã hội đã vừa xác nhận vừa làm tăng lên ý nghĩa của bài học kinh nghiệm.Nó là điểm tựa, là cơ sở lý luận cho các quyết sách của Chính phủ Về mặt thực tiễn của xã hội, bài học kinh nghiệm này cho

Trang 28

thấy tầm quan trọng thiết thực của các chính sách hỗ trợ phát triển cho người nghèo bằng cách tạo việc làm, tăng thu nhập thực tế, tạo cơ hội và trợ giúp các điều kiện để cho họ thoát khỏi cảnh nghèo đói Từ kinh nghiệm trên cho thấy rằng Nhà nước không nên can thiệp trực tiếp tới hộ nghèo, mà chỉ thông qua chính sách tạo môi trường kinh tế xã hội thuận lợi để hỗ trợ sản xuất cho người nghèo

Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

* Kinh nghiệm từ Hàn Quốc

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, chính phủ Hàn Quốc không chú ý đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các vùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn, thế nhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèo đói, tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa chủ, nhân dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng Từ đó gây ra làn sóng di dân tự do từ nông thôn vào thành thị để kiếm việc làm, chính phủ không thể kiểm soát nổi, gây nên tình trạng mất ổn định chính trị - xã hội Để ổn định tình hình chính trị - xã hội, chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các chính sách kinh tế - xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đến việc điều chỉnh các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn và một chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4 nội dung cơ bản:

- Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ nông dân vay

- Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao

- Thay giống lúa mới có năng suất cao

- Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập các HTX sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu cống và nâng cấp nhà ở

Trang 29

Với những nội dung này, chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúp nhân dân có việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dân các thành phố lớn để kiếm việc làm chính sách này đã được thể hiện thông qua kế hoạch 10 năm cải tiến cơ cấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, từng bước đưa nền kinh tế phát triển nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn Tóm lại, Hàn Quốc đã trở thành 1 nước công nghiệp phát triển nhưng chính phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn, có như vậy mới xoá đói giảm nghèo cho nhân dân tạo thế ổn định và bền vững cho nền kinh tế.[11]

* Kinh nghiệm của Nhật Bản:

Là quốc gia đất hẹp người đông, điều kiện phát triển kinh tế rất khó khăn, nghèo tài nguyên và thường xảy ra động đất Nhưng người Nhật có ý chí làm việc, biết tiết kiệm và có chí phấn đấu vươn lên Chỉ sau hơn 20 năm sau chiến tranh, từ đống tro tàn đổ nát, Nhật Bản đã vươn lên thành cường quốc về kinh tế, đời sống nhân dân tăng cao, tình trạng đói nghèo đã giảm xuống thấp Hiện nay 90% dân số Nhật Bản là tầng lớp trung lưu Có được thành quả như vậy là do Nhật Bản đã đưa ra được kế hoạch và chính sách rất đúng đắn và thực hiện tích cực, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, XĐGN bền vững Nhận Bản đã áp dụng các giải pháp như: Thực hiện quá trình dân chủ hoá sau chiến tranh; Xoá bỏ cơ sở gây ra sự phân hoá giàu nghèo; Thực hiện chính sách thuế thu nhập để giảm bớt chênh lệch về thu nhập; Phát huy lợi thế so sánh giữa các vùng… Hỗ trợ khu vực nông thôn nông nghiệp thông qua chính sách bảo hộ đối với sản xuất nông nghiệp; Thực hiện chính sách về phúc lợi xã hội: Thông qua hệ thống bảo hiểm rộng lớn trên các lĩnh vực: Tương trợ công cộng, dịch vụ, phúc lợi bảo hiểm xã hội (chăm sóc sức khoẻ, trợ cấp con cái, hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp

Trang 30

và tai nạn lao động), y tế công công cộng, trợ cấp và giúp đỡ của Nhà nước cho các nạn nhân sau chiến tranh Các khoản chi cho bảo hiểm xã hội ở Nhật Bản không nhỏ, năm 1989 con số này đã chiếm 14% thu nhập quốc dân và từ

đó đến nay các khoản chi này không ngừng tăng lên Đây là biện pháp có hiệu quả để những người nghèo sớm thoát khỏi cảnh nghèo đói và những người không may gặp rủi ro nhanh chóng trở lại cuộc sống ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống [11]

2.2.2 Hoạt động XĐGN ở Việt Nam

2.2.2.1.Thực trang nghèo đói và công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam

Trong hơn 20 năm đổi mới, nhờ thực hiện cơ chế chính sách phù hợp với thực tiễn nước ta, công cuộc XĐGN đã đạt được những thành tựu đáng

kể, có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế, chính trị, xã hội và góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước bền vững

Theo Báo cáo “Tình hình, kết quả công tác dân vận trong thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia: Giảm nghèo bền vững và Xây dựng nông thôn mới” của Bộ LĐ-TB&XH, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, đưa tỷ lệ nghèo đói chung của cả nước từ khoảng 58% năm 1993 xuống còn dưới 4,25% vào cuối năm 2015; đã xóa hoàn toàn tình trạng đói từ năm 2000 và đã chuyển trọng tâm sang thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.[3]

Công tác giảm nghèo đã bước sang giai đoạn mới, chuyển từ diện rộng trong phạm vi cả nước sang tập trung ở một số vùng miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, trong một số nhóm dân cư; chính sách giảm nghèo đã hướng đến nâng cao chất lượng giảm nghèo và chuyển sang mục tiêu giảm nghèo bền vững Về thực hiện chỉ tiêu giảm nghèo, cuối năm 2016 tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 8,23%, giảm 1,67% so với cuối năm 2015; tỷ lệ hộ nghèo các huyện nghèo còn 44,93%, giảm 5,5%, so với cuối năm 2015, đạt chỉ tiêu Quốc hội

Trang 31

giao Dự kiến đến cuối năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm còn dưới 7% (giảm 1,3% so với cuối năm 2016) [5]

2.2.2.2 Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam

Để đánh giá được thực trạng đói nghèo ở nước ta, trước tiên cần phải tìm hiểu các nhân tố tác động đến vấn đề nghèo đói Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói, nó không chỉ đơn thuần là nhân tố về kinh tế hoặc thiên tai, địch họa gấy ra Mà tình trạng đói nghèo ở nước ta có sự đan xen của cái tất yếu lẫn cái ngẫu nhiên của cả nguyên nhân sâu xa lẫn nguyên nhân trực tiếp, cả khách quan lẫn chủ quan, cả tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội Do đó cần phải đánh giá đúng nguyên nhân dẫn đến nghèo đói đối với từng đối tượng cụ thể

Nhóm nguyên nhân thuộc về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội: vị trí địa lý không thuận lợi ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, địa hình phức tạp (miền núi, hải đảo vùng sâu) đường giao thong không thuận lợi Do điều kiện địa lý như vậy, họ rất dễ rơi vào thế bị cô lập, tách biệt với bên ngoài khó tiếp cận được các nguồn lực của phát triển

- Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra đặc biệt là bão lụt, hạn hán, cháy rừng ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân

- Môi trường kinh tế không thuận lợi, cơ sở hạ tầng thấp kém nhưng không có thị trường

Nhóm nguyên nhân thuộc cơ chế, chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, làm ngư, chính sách giáo dục – đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mới và đầu tư nguồn lực còn hạn chế

Nhóm nguyên nhân thuộc về bản thân hộ nghèo: Do chính bản thân

hộ nghèo không biết cách làm ăn, không có hoặc thiếu vốn để sản xuất, gia đình đông con, ít người làm, do chi tiêu lãng phí, lười lao động, mắc các tệ

Trang 32

nạn xã hội như: Cờ bạc, rượu chè, nghiện hút,…ngoài ra còn một bộ phận nhỏ người nghèo có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước nên chưa chủ động vươn lên để thoát nghèo

Để xác định các biện pháp phù hợp trong công tác XĐGN, mỗi địa phương phải xác định rõ đâu là nguyên nhân chính và những thuận lợi, khó khăn của địa phương mình

2.3 Giảm nghèo bền vững

Thực hiện mục tiêu giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà

nước nhằm cải tiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.Thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam đã cam kết Những năm qua việc tập trung thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình giảm nghèo đã tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận tốt hơn với các dịc vụ xã hội cơ bản, cơ sở hạ tầng của các huyện, xã nghèo được tăng cường, đời sống người nghèo được cải thiện

rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 11,76% (năm 2011) và 9,6% (năm 2012), bình quân giảm 2,3%/năm Tỷ lệ hộ nghèo tại 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a đã giảm từ 58,33% (năm 2010) xuống còn 50,97% (năm 2011) và 43,89% (năm 2012), bình quân giảm trên 7%/năm Những thành công trong công tác giảm nghèo đã được cộng đòng quốc tế ghi nhận và đánh giá .[3]

Giảm nghèo phải đi đôi với bảo vệ môi trường để giảm nghèo bền vững Tuy nhiên, trên thực tế kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, số

hộ thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao, chệnh lệch giàu nghèo giữa các nhóm, vùng dân cư còn lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn nhiều khó khăn, nhất là khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Trang 33

Mục tiêu giảm nghèo bền vững của ta đến năm 2020 không chỉ tiếp tục

ưu tiên nguồn lực cho các vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, mà quan trọng là chuyển đổi phương pháp đo lường từ nghèo đơn chiều sang đa chiều, tăng độ bao phủ chính sách tới các đối tượng Xóa nghèo không chỉ tăng thu nhập cho các hộ nghèo mà còn tăng mức độ thụ hưởng các chính sách, dịch vụ xã hội “Việc khuyến khích người nghèo bày tỏ tiếng nói, trao quyền để họ tự tìm ra cách giảm nghèo, lôi cuốn sự tham gia của người nghèo vào quá trình lập kế hoạch và giám sát thực hiện là những yếu tố để giảm nghèo bền vững”- bà Pratibha Mehta, Điều phối viên Thường trú Liên Hợp Quốc lưu ý

Giảm nghèo bền vững phải được thực hiện một cách đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực (chính sách, y tế, giáo dục và điều kiện sống) đảm bảo không có hiện tượng tái nghèo xảy ra)

Trang 34

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là các hộ nghèo và cận nghèo tại xã Phú Đô, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

3.1.2.1 Phạm vi không gian nghiên cứu

Địa điểm: Tại xã Phú Đô - Huyện Phú Lương - Tỉnh Thái Nguyên Nghiên cứu 3 xóm : Pháng 1, Pháng 2 và Khe Vàng 3

3.1.2.2 Phạm vi và thời gian nghiên cứu

Đề tài sử dụng nguồn thông tin, số liệu thứ cấp trong vòng 3 năm:

2015 – 2017, nguồn thông tin số liệu sơ cấp đầu năm 2017

Đề tài được thực hiện từ ngày 15/01/2018 đến ngày 30/05/2018

3.1.2.3 Phạm vi nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu nghèo theo không gian, thời gian và nghiên cứu theo 5 tiêu chí của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội đề ra năm 2015 gồm 5 tiêu chí đánh giá nghèo đa chiều là: Y tế, giáo dục, điều kiện sống, tiếp cận thông tin, nhà ở

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên, kinh tế, xã hội tại xã Phú Đô

- Đánh giá thực trạng nghèo của người dân tại xã Phú Đô

- Tìm hiểu và đánh giá các chương trình giảm nghèo đã thực hiện tại xã Phú Đô

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới giảm nghèo tại xã Phú Đô

- Đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Phú Đô

Trang 35

3.3 Phương pháp thu thập số liệu

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

* Số liệu thứ cấp

Thu thập từ các nguồn có sẵn Thu thập các số liệu thứ cấp từ nguồn thông tin công bố chính thức của các cơ quan nhà nước, các số liệu và báo cáo đánh giá tổng kết của phòng Lao động- Thương binh & Xã hội huyện Phú Lương, của UBND xã Phú Đô Các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức về tình hình SXNN, kinh tế nông thôn, kinh tế hộ nông dân và các tổ chức KT - XH, tình hình nghèo đói của xã Phú Đô trong những năm 2015-2017, mạng internet, v.v…

* Số liệu sơ cấp

Điều tra phỏng vấn bằng phiếu điều tra đã chuẩn bị Sử dụng các câu hỏi đã chuẩn bị sẵn nhằm điều tra, phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu sau đó tổng hợp các số liệu thu được, xác định được các nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo của cộng đồng người dân tại địa bàn xã

* Chọn điểm nghiên cứu:

Chọn 3 xóm mang tính đại diện nhất: Pháng 1, Pháng 2 và Khe Vàng 3

để nghiên cứu Trong đó xóm Pháng 2 là trung tâm, nơi gần các cơ quan và UBND xã Phú Đô, có vị trí thuận lợi nhất trong giao thương buôn bán, là nơi

có hoạt động kinh tế phát triển và dân cư tập chung đông nhất; tiếp đến là xóm Pháng 1 là nơi có dân cư và hoạt động kinh tế trung bình; và xóm Khe Vàng 3 là xóm xa trung tâm nhất, dân cư và điều kiện hoạt động kinh tế khó khăn nhất của vùng

Trang 36

Pháng 2 có 115 hộ trong đó có 27 hộ nghèo chiếm 23,48%, hộ cận nghèo 25 hộ chiếm 21,74%: chọn 10 hộ nghèo và 10 hộ cận nghèo

Khe Vàng 3 có 75 hộ trong đó có 24 hộ nghèo chiếm 32%, hộ cận nghèo có 19 hộ chiếm 25,33: chọn 11 hộ nghèo và 9 hộ cận nghèo

3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp so sánh

Sau khi các số liệu được tổng hợp và phân tích chúng ta có thể sử dụng phương pháp này để so sánh tỷ lệ hộ nghèo đa chiều so với hộ nghèo đơn chiều theo thu nhập để thấy được sự khác biệt giữa hai loại hình nghiên cứu

và suy rộng ra được vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp thống kê mô tả

Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tiến hành thu thập thông tin trong một khoảng thời gian đề tài nghiên cứu Từ các số liệu và các thông tin thu thập được tiến hành phân tích những yếu tố, nguyên nhân ảnh hưởng đến đói nghèo, để thấy được xu hướng và đưa ra những giải pháp giảm nghèo bền vững

3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu

- Tỷ lệ hộ nghèo trên toàn xã

- Tỷ lệ hộ cận nghèo trên toàn xã

- Hộ gia đình có người ốm đau nhưng không đi khám chữa bệnh

- Hộ gia đình có số thành viên tham gia bảo hiểm y tế

- Thu nhập bình quân trên đầu người của hộ gia đình

- Diện tích nhà ở bình quân trên đầu người của hộ gia đình

- Nguồn nước hộ gia đình sử dụng

- Hố xí, nhà tiêu hộ gia đình sử dụng

- Tỷ lệ sử dụng thuê bao điện thoại và internet

- Tài sản phục vụ tiếp cân thông tin của hộ gia đình

- Trình độ giáo dục người lớn của hộ gia đình

- Tình trạng đi học của trẻ em của hộ gia đình

Trang 37

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1.Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa bàn nghiên cứu

4.1.1 Vị trí địa lý

Phú Đô là một xã nằm ở phía Đông của huyện Phú Lương cách trung

tâm huyện 20 km

- Phía Bắc tiếp giáp với xã Yên Lạc, huyện Phú Lương

- Phía Đông tiếp giáp với xã Văn Lăng, xã Hòa Bình, huyện Đồng Hỷ

- Phía Nam tiếp giáp với xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ

- Phía Tây tiếp giáp với xã Tức Tranh, huyện Phú Lương

Phú Đô là xã khó khăn về giao thông của huyện Phú Lương, trên địa bàn có đường liên xã Giang Tiên - Phú Đô - Núi Phấn đi qua Đây là một xã phát triển nghề trồng chè

Xã có địa hình khá phức tạp, tỷ lệ đồi núi chiếm phần lớn diện tích và xen giữa là các cánh đồng nằm rải rác ở khắp các khu vực trong xã Thấp dần

từ Bắc xuống Nam

4.1.2 Khí hậu, thủy văn

Xã chịu sự chi phối của vùng nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, chia thành

2 mùa rõ rệt, mùa lạnh và mùa nóng rất thuận lợi cho cây trồng nhiệt đới phát triển

- Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 220C

- Nhiệt độ bình quân cao nhất trong mùa nóng là 27,20C

- Lượng mưa trung bình từ 2.000mm đến 2.100mm/năm

Nguồn nước ngầm giảm dần từ Bắc xuống Nam, có một hồ chứa nước nằm tại xóm Cúc Lùng với diện tích 4,9 ha và một số đập ngăn nước nhỏ; xã

có dòng sông Cầu chảy men theo bờ phía Đông của xã qua địa bàn 3 xóm, có bến cát sỏi nằm ở xóm Cúc Lùng Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản là 16 ha

Trang 38

4.1.3 Nguồn tài nguyên thiên nhiên

• Tài nguyên đất

Xã Phú Đô có diện tích tự nhiên là 2.263,65 ha chủ yếu là đồi núi trung

du, đất rừng và núi đá vôi Tổng diện tích trồng chè 511,81 ha, diện tích trồng lúa 166,39 ha, diện tích còn lại trồng hoa màu, đất chuyên dùng, đất thổ cư,

đất nghĩa địa 625,8 ha; đất lâm nghiệp 959,65 ha

• Khoáng sản : Không có

4.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội

a) Tình hình dân số lao động

Lao động là một trong những yếu tố cấu thành nên sản phẩm và là yếu

tố quan trọng không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh Một xã hội có nguồn lực dồi dào và điều kiện tự nhiên thuận lợi, cộng với khoa học

kỹ thuật công nghệ sẽ có nền sản xuất phát triển và tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội Ở nước ta lao động nông nghiệp chiếm 70% tổng số lao động

cả nước, nhưng thiếu năng lực trình độ chuyên môn Vấn đề sử dụng lao động đang được xã hội hết sức quan tâm vì sự phát triển ồ ạt về nhân lực sẽ dẫn đến mất cân bằng với điều kiện KT- XH Khi đó không có đủ việc làm để đáp ứng được nhu cầu về số lượng lao động Vấn đề này sẽ dẫn đến hang loạt các vấn

đề xã hội như: Nạn thất nghiệp, mất an ninh trật tự, thiếu lương thực thực phẩm, rồi các tệ nạn xã hội khác,…

Dân số là yếu tố phản ánh lực lượng sản xuất ở hiện tại và tương lai Dân số và lao động có mối quan hệ mật thiết với nhau Vì vậy chúng ta phải quan tâm đến dân số và lao động để có được tỷ lệ thích hợp và sử dụng hiệu quả nhất

Để thấy được nguồn lực dồi dào về lao động của xã ta đi nghiên cứu bảng sau:

Trang 39

Bảng 4.1: Tình hình dân số và lao động của xã Phú Đô năm 2017

Năm

2016

Cơ cấu (%)

Năm

2017

Cơ cấu (%)

2 Tổng số dân Người 6.109 100 6.118 100 6.125 100 2.1 Dân số trong độ

(Nguồn: Số liệu thống kê của UBND xã Phú Đô năm 2017)

Qua bảng 4.1 ta thấy tổng số dân trên toàn xã qua các năm không có sự gia tăng mạnh Xã được chia thành 25 xóm sinh sống trên khắp địa bàn xã Lao động: Nhìn chung tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng đồng đều, chủ yếu người dân lao động trong nông lâm nghiệp là chính Tuy nhiên dân số được đào tạo khá thấp ở khoảng 29% qua các năm và không có dấu hiệu tăng mạnh Vì vậy Phú Đô cần phải chú trọng, quan tâm hơn nữa tới việc đào tạo và phát triển nhân lực của địa phương để đưa xã Phú Đô ngày càng phát triển và thoát khỏi nhóm xã nghèo của huyện

Trang 40

b)Hiện trạng sử dụng đất

Bảng 4.2 Tình hình sử dụng đất đai của xã năm 2017

STT Mục đích sử dụng đất Mã Diện tích (ha) Cơ cấu (%)

2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 4,58 3,32 2.5 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối SON 46,51 33,73 2.6 Đất có mặt nước chuyên dùng MNC 5,31 3,87

(Nguồn: Số liệu từ phòng Địa Chính của UBND xã Phú Đô năm 2017)

Từ bảng số liệu trên ta thấy phần lớn diện tích của xã là đất nông nghiệp với 84,77% diện tích đất tự nhiên Trong tổng quỹ đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp chiếm 50%, diện tích đất giành cho sản xuất nông nghiệp với 48% , qua đây có thể thấy đất lâm nghiệp nhiều hơn đất sản xuất nông nghiệp 2%, tại xã đa số là trồng rừng để khai thác, sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng

Ngày đăng: 21/04/2019, 08:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w