This research was carried out for 3 years to servey cashew planted in Ea Soup district and select good plant for building up asexual propagation technology. 202 good cashew plant were selected and estimated agronomic characteristics. After 18 months planting four clonal cashew lines as CH-1, SK-1, PN-1 and ES-196 showed the best growth, whereas the BO-1 and PN-1 gave the highest ability of supplying shoot. The rate of living seedling was the highest as approach graftaged using dormancy shoot than that using green shoot.
Trang 1BằNG PHƯƠNG PHáP GHéP áP TạI HUYệN EA SOUP - TỉNH ĐĂK LĂK
Building up a cashew gardel model for asexual propagation using shoot approach
graftaging method at Ea Soup district, DakLak province
Phạm Thanh Liêm1, Phạm Thế Trịnh1 và Trần Ngọc Duyên
SUMMARY
This research was carried out for 3 years to servey cashew planted in Ea Soup district and select good plant for building up asexual propagation technology 202 good cashew plant were selected and estimated agronomic characteristics After 18 months planting four clonal cashew lines as CH-1, SK-1, PN-1 and ES-196 showed the best growth, whereas the BO-1 and PN-1 gave the highest ability of supplying shoot The rate
of living seedling was the highest as approach graftaged using dormancy shoot than that using green shoot
Key words: Cashew, Ea soup, graftaging, propagation, shoot
1 ĐặT VấN Đề
Cây điều có nguồn gốc ở Brazil, được
nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 Điều là
cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cũng như
tiêu dùng nội địa nhờ phẩm chất thơm ngon,
chế biến được nhiều loại thực phẩm Ngoài ra,
vỏ hạt điều là sản phẩm dùng trong công nghệ
sơn mài, sơn chống thấm
Cây điều được trồng ở huyện Ea Soup từ
năm 1988, diện tích đất trồng điều liên tục
được mở rộng trong cơ cấu cây trồng của
huyện từ 1316 ha (năm 1995) đến năm 2002
là 4458 ha, tăng gấp 3,38 lần (UBND huyện
Ea Soup, 1995- 2002), năng suất điều không
ổn định Cây điều có đặc điểm giao phấn chéo
nên đời con trồng bằng hạt có sự phân ly khá
mạnh về mặt di truyền Trong đó tính trạng
năng suất thể hiện rất rõ nét Các nông hộ
trồng điều bằng hạt thương phẩm không qua
chọn lọc, đồng thời hỗn tạp từ nhiều nguồn
khác nhau, nên mức độ biến thiên càng mạnh,
thậm chí một số hộ dùng hạt của những cây
điều mới ra quả năm đầu tiên để làm giống
Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến
hiện tượng năng suất cây điều giảm mạnh sau
một vài năm cho trái, hiệu quả thấp
Để từng bước thay thế giống điều kém hiệu quả hiện nay bằng giống điều ghép có năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện sản xuất trong vùng nhằm góp phần xoá
đói giảm nghèo đối với người dân địa phương Nghiên cứu đã được thực hiện từ năm 2000 - 2003, với cây điều nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép được nhiều nước trên thế giới quan tâm do những ưu điểm duy trì được tất cả những phẩm chất tốt của cây
mẹ, hệ số nhân giống cao, kỹ thuật ghép không quá phức tạp và không đòi hỏi vật tư, thiết bị kỹ thuật đặc biệt như giâm hom, giá thành không quá đắt, năng suất cao, chất lượng hạt tốt và ổn định
2 PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU 2.1 Điều tra phát hiện những cây đầu dòng
có năng suất cao Bước 1: Điều tra tổng quát 202 cây điều nhiều năm có năng suất cao trong các hộ trồng
điều tại 5 xã (Ea Rốc, Ya Tờ mốt, Ya Lốp, Ea
1 Sở Khoa học và Công nghệ Đăk Lăk
Trang 2Lê, Cư Mlan) và thị trấn Ea Soup Thu thập
các số liệu về năm trồng, năng suất, tình hình
chăm sóc đánh dấu vị trí cây trong vườn và
mã hoá bằng ký hiệu riêng
Bước 2: Xác định chi tiết các chỉ tiêu
nông học của các cây đầu dòng tạm tuyển vào
mùa cây ra hoa (tháng 11-2) và thu hoạch
(tháng 3) Sau đó tiến hành phân nhóm theo
chuẩn ± 2Sx và phát hiện các cây điều đầu
dòng có triển vọng theo từng tiêu chuẩn: năng
suất hạt > 35,7 kg/cây; kích thước hạt khô <
161 hạt/kg; tỷ lệ nhân > 27,6%; sinh trưởng
khỏe, ít sâu bệnh, tán mâm xôi, ít gãy đổ và là
các cây đứng đầu của từng hộ trồng điều
2.2 Xây dựng vườn nhân bằng phương
pháp ghép áp
Sử dụng các dòng vô tính: ĐH-1, BO-1,
PN-1, CH-1, LG-1 (do Viện Khoa học Kỹ
thuật Nông nghiệp miền Nam tuyển chọn) và
SK-1 (nhập nội từ Thái Lan), bố trí theo kiểu
hàng kép (1 x 2 x 3 m), mật độ 4.000cây/ha
Vườn nhân giống được bố trí 6 ô, 12 hàng/ô
(35 - 38 cây/hàng) và kích thước mỗi ô 40m x
40m = 1600 m2 Các giống điều trên được
trồng vào ngày 15/7/2001, các qui trình trồng
và chăm sóc được tham khảo theo qui trình
của Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp
miền Nam Chỉ tiêu theo dõi: đường kính gốc,
chiều cao cây, cành cấp1/cây, số chồi/cây
2.3 Đánh giá khả năng sinh trưởng của một
số dòng vô tính điều trong vườn so sánh giống
+ Công thức: BO-1; CH-1; PN-1; LG-1;
SK-1; ĐH-1; ES-180; ES-196; ES-197
+ Bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ 9
dòng x 3 lần lặp lại = 27 ô cơ sở Mỗi ô cơ sở
9 cây Khoảng cách: 4 m x 6 m, mật độ = 416
cây/ha
+ Thời điểm trồng 15 tháng 7 năm 2001
+ Chỉ tiêu theo dõi tương tự trong vườn
nhân
2.4 Thí nghiệm: ảnh hưởng của tuổi sinh
lý chồi ghép đến chất lượng cây điều ghép Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ và theo dõi các chỉ tiêu nông học thường dùng trong vườn ươm và tập huấn cho cán bộ kỹ thuật cấp huyện, xã và các nông hộ trồng điều về phương pháp chọn cây đầu dòng tại chỗ, kỹ thuật ghép áp để sản xuất cây con + Các chỉ tiêu về sinh trưởng thu thập cây
đầu dòng: dùng thước dây đo chu vi thân (cm)
ở độ cao 70 cm cách mặt đất và đo đường kính tán (m) theo hai phương pháp vuông góc nhau, sau đó lấy trị số trung bình
+ Trên vườn nhân, vườn so sánh giống:
đường kính cây (mm) dùng thước kẹp đo cách phía trên mắt ghép cách mặt đất 10cm, đo toàn
bộ số cây theo từng giống, chiều cao cây (cm) dùng thước dây đo từ mắt ghép đến đỉnh sinh trưởng, số cành cấp 1/cây là đếm theo từng giống Thời gian xác định sau khi trồng 6 tháng, 12 tháng, 18 tháng
2.5 Phương pháp xử lý số liệu: dùng phần mềm Excel 7.0 để xử lý các kết quả thí nghiệm và điều tra
3 KếT QUả NGHIÊN CứU 3.1 Kết quả thu thập cây điều đầu dòng tại huyện Ea Soup
Bảng 1 Năng suất và chất lượng hạt của những
cây điều đầu dòng
Năng suất (kg/cây)
17,4 ± 9,1 52,51 8,0 60,0 Kích cỡ hạt
(hạt/kg)
180 ± 19,0 10,78 144,0 242,0
Tỷ lệ nhân (%) 25,1 ± 1,2 4,97 18,6 28,4
+ Thu thập và phân nhóm cây đầu dòng theo năng suất
Kết quả đã chọn được 10 cây có năng suất
>X + 2SX (>35,7 kg/cây) để đưa vào vườn so sánh các dòng vô tính có triển vọng (Bảng 2)
Đáng chú ý nhất là ở các loại giống ES-195, ES-196, ES-197 đạt năng suất tối đa 60
Trang 3kg/cây Ngoài ra, một số cây vừa đạt năng suất
cao, có chất lượng hạt rất tốt như: ES-176 và
ES-188 đạt năng suất (45-55 kg/cây), có cỡ
hạt lớn (159-168 hạt/kg); ES-179 và ES-180
đạt năng suất (40 kg/cây), có tỷ lệ nhân rất cao
(27,0-27,6%)
3.2 Khả năng sinh trưởng của một số dòng
vô tính điều trong vườn so sánh giống
Đường kính gốc Hai dòng vô tính có đường kính nhỏ nhất
là ES-180 (42,37mm) và ES-197 (47, 02 mm), các dòng vô tính còn lại đạt mức trung bình Mức độ tăng trưởng đường kính gốc của các dòng vô tính sau 18 tháng trồng trong vườn so sánh dòng vô tính theo thứ tự: ES-196> CH-1> LG-1> PN-1> BO-1> ĐH-1> SK-1 > ES-197> ES-180
Bảng 2 Một số đặc tính nông học của những cây điều có hiệu quả cao về năng suất
trồng
Năng suất (kg/cây)
Kích cỡ hạt (hạt/kg)
Tỷ lệ nhân%
Chu vi thân (cm)
Đường kính tán (m)
Chiều cao cây
Chiều cao cây của 9 dòng vô tính điều sau
12 tháng trồng đã có sự khác biệt rất rõ Dòng
vô tính có chiều cao cây cao nhất là ES-196,
đạt 135,7 cm và 193,7 cm ở thời điểm 12 và
18 tháng sau trồng Thấp nhất là ES - 180 và
BO-1, chỉ đạt chiều cao cây lần lượt 166,7 cm
và 170,3 cm sau khi trồng 18 tháng Thứ tự
chiều cao cây của 9 dòng vô tính: ES- 196>
CH-1> SK-1> ĐH-1> PN-1>LG-1> ES -197>
BO-1> ES-180
Số cành cấp 1
Số cành cấp 1 của các dòng vô tính khác
biệt có ý nghĩa thống kê từ thời điểm 6 tháng
sau khi trồng đường kính gốc và chiều cao của cây ES-197 ở vị trí thấp so với các dòng vô tính khác đồng thời khả năng ra cành cấp 1 rất yếu, luôn ở vị trí cuối bảng qua các đợt quan trắc: 4,22 - 5,06 - 12,00 cành/cây tương ứng với thời điểm 6 - 12 - 18 tháng sau trồng Ba dòng vô tính có khả năng ra cành cấp 1 mạnh nhất là SK-1, CH-1 và ĐH-1 đạt 16,27 - 15,87
- 15,83 cành/cây theo thứ tự sau 18 tháng trồng Vì đây là các cây đầu dòng được tuyển chọn trong 10 dòng vô tính tại huyện Ea Suop
để nhân giống Khả năng ra cành cấp 1 của các dòng vô tính theo trình tự: SK-1 > CH-1 >
ĐH-1 > PN-1 > LG-1 > BO-1 > ES -80 >
ES-196 > ES-197 (Bảng 3)
Trang 4Bảng 3 Số cành cấp 1 của một số dòng vô tính trong vườn so sánh giống (cành/cây)
Ghi chú: các chữ số a, b, c, d trong một cột khác nhau chỉ sự sai khác thống kê (P<0,05)
3.3 Khả năng sinh trưởng và cung cấp chồi
ghép của vườn nhân
Khả năng sinh trưởng của một số dòng
điều trong vườn nhân sau 18 tháng
* Đường kính gốc
Sau 18 tháng trồng, mức tăng trưởng
đường kính gốc của các dòng điều ghép được chọn lọc từ các cây điều đầu dòng xếp theo thứ tự CH-1 > PN-1 > LG-1 > SK-1 > BO-1 >
ĐH-1, tương ứng với đường kính gốc 49,41
cm > 48,32 cm > 47,90 cm > 45,20 cm > 43,71 cm > 43,60cm (Bảng 4)
Bảng 4 Đường kính gốc của một số dòng vô tính (DVT) điều trong vườn nhân
Dòng vô
tính
X ± S X (mm) CV (%) X ± S X (mm) CV (%) X ± S X (mm) CV (%)
* Chiều cao cây
Sự khác biệt chiều cao cây giữa các dòng
vô tính càng thể hiện rõ sau 12 tháng trồng,
cây cao nhất là CH-1 (126,23 mm) và ĐH-1
(124,62 mm), thấp nhất là BO-1 (107,63 mm) Sau đó chúng tôi tiến hành hãm ngọn ở độ cao 1,4 mét để cây phát sinh nhiều cành thứ cấp với mục đích thu hoạch chồi ghép
Trang 5Bảng 5 Chiều cao cây của một số dòng vô tính điều trồng trong vườn nhân
Dòng vô
* Số cành cấp 1
Sau 6 tháng trồng, số cành cấp 1 đã đạt từ
4,80 cành/cây ở dòng vô tính LG 1 đến 7,20
cành/cây ở dòng vô tính SK 1 Sau 12 tháng
trồng, số cành cấp 1 của các dòng vô tính
được xác định như sau CH-1>SK-1> LG-1>
BO-1> ĐH-BO-1> PN-1 ứng với số cành cấp 1/cây là 9,37>
9,23> 8,70> 8,61> 8,56> 7,28
Khả năng cung cấp chồi ghép của một số dòng vô tính điều trong vườn nhân sau 18 tháng trồng
Theo dõi số chồi đạt tiêu chuẩn sau 10 và
18 tháng trồng, giúp cho việc xác định lượng chồi ghép cung cấp cho vườn ươm trong năm
2002 và năm 2003 (Bảng 6)
Bảng 6 Khả năng cung cấp chồi của vườn nhân
X
(chồi/cây)
CV (%)
Tổng số chồi/DVT
X ± SX (chồi/cây)
CV (%)
Tổng số chồi/DVT
Kết quả cho thấy khả năng cung cấp chồi
ghép rất khác nhau theo từng dòng vô tính và
theo tuổi cây trồng trong vườn nhân Sau 10
tháng trồng, hai dòng vô tính SK -1 và PN -1
tuy sinh trưởng ở mức trung bình có khả năng
cung cấp chồi ghép cao nhất 14,57 và 14,03
chồi/cây, tiếp theo là BO - 1 và ĐH- 1
Sau 18 tháng trồng, Khả năng cung cấp
chồi của 6 dòng vô tính trong vườn nhân được
xếp theo thứ tự: BO-1> PN-1> ĐH-1> LG-1>
CH-1> SK-1 ứng với số chồi/cây là: 49,12 > 41,40 > 37,44 > 32,18 > 30,60 > 26,29 Tổng số chồi ghép trong vườn nhân đạt tiêu chuẩn phục vụ cho vườn ươm năm 2002 là 17.551 chồi và năm 2003 là 86.354 chồi 3.5 ảnh hưởng của tuổi sinh lý chồi ghép
đến chất lượng cây sau khi ghép Chất lượng cây sau khi ghép kém nhất khi cắt chồi ở giai đoạn còn xanh (non), tỷ lệ sống
Trang 6chỉ đạt 76,67% và tỷ lệ xuất vườn rất thấp
53,33% Chất lượng cây sau khi ghép tốt nhất
khi cắt chồi ở giai đoạn ngủ, tỷ lệ sống đạt
97% và tỷ lệ xuất vườn đạt 83,67% Đối với
chồi thức, chất lượng cây sau khi ghép thấp
hơn chồi ngủ nhưng thời gian nảy chồi rất
nhanh (sau ghép 5-10 ngày đã nảy chồi) chồi
phát triển khoẻ và thời gian để chồi phát triển
trong vườn ươm dài nên tỷ lệ xuất vườn cao
(81,33%) (Bảng 7)
Bảng 7 ảnh hưởng của tuổi sinh lý của chồi
ghép đến chất lượng cây ghép
Công thức
Chỉ tiêu
Chồi ngủ
Chồi thức
Chồi xanh LSD
Tỷ lệ sống (%) 97,00a 95,67a 76,67b 1,51
Tỷ lệ xuất vườn (%) 83,67a 81,33a 53,33b 9,33
Ghi chú: a≠b (P<0,05)
3.6 Tập huấn và chuyển giao kỹ thuật
ghép áp
Kết quả sau các lớp tập huấn rất khả
quan, các nông hộ đã nâng cao nhận thức về
cây điều ghép, biết sử dụng kỹ thuật để chăm
sóc và nâng cao năng suất và chất lượng vườn
điều, thành thạo thao tác ghép áp và tự sản
xuất cây điều ghép tại địa phương
Tổ chức các hội nghị tham quan mô
hình, hội nghị đánh giá và nghiệm thu các kết
quả thực hiện mô hình trên toàn địa bàn
huyện Ea Soup
4 KếT LUậN
Từ năm 2001 đến nay, một số hộ đã trồng
cây điều ghép từ 202 cây điều đầu dòng lựa
chọn, bước đầu đã xác định được một số cây
đầu dòng có triển vọng gồm: 10 cây có năng suất > 35,7 kg/cây, 35 cây có kích cỡ hạt <161 hạt/kg và 6 cây có tỷ lệ nhân > 27,6% Tuy nhiên, các nông hộ trồng điều ít quan tâm đến các biện pháp kỹ thuật hoặc không có điều kiện đầu tư thâm canh vườn cây
Khả năng sinh trưởng của các dòng vô tính sau 18 tháng trồng trong vườn nhân có khác nhau Dòng vô tính CH-1 và LG-1 sinh trưởng tốt nhất SK-1, PN-1 và ĐH-1 sinh trưởng trung bình và BO-1 sinh trưởng kém Khả năng cung cấp chồi của BO-1 và PN-1 nhiều nhất (41- 49 chồi/cây); ĐH-1, LG-1 và CH-1 đạt mức trung bình (30 - 37 chồi/cây) và kém nhất là SK-1 (26 chồi/cây) Sau 18 tháng trồng, bốn dòng vô tính CH-1, SK-1, PN-1 và
ES -196 có khả sinh trưởng tốt; ba dòng vô tính LG-1, ĐH-1 và BO-1 sinh trưởng trung bình; riêng hai dòng địa phương ES -180 và ES-197 sinh trưởng kém
Để nâng cao tỷ lệ ghép sống và tỷ lệ xuất vườn đối với cây điều ghép trong điều kiện tại huyện Ea Soup, có thể dùng lưới che bóng cho vườn ươm trong giai đoạn trước khi ghép,
đồng thời có thể sử dụng chồi thức và chồi ngủ
để ghép
Tiếp tục đầu tư thâm canh vườn nhân để cung cấp kịp thời chồi ghép đạt chất lượng phục
vụ kế hoạch trồng mới trong những năm tới cần phải lưu trữ các cây điều đầu dòng có triển vọng
để theo dõi thí nghiệm so sánh giống
Tài liệu tham khảo UBND huyện Ea Soup (2002) Niên giám thống kê qua các năm từ 1995 - 2002 Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam (2001) Quy trình kỹ thuật nhân giống điều bằng phương pháp ghép chồi vạt ngọn và nêm ngọn