An experiment was conducted to compare the effect of different mulching materials on growth and yield of L14 groundnut cultiavr. The mulching materials included plastic,, rice husks, rice straws and maize stalks. Among the mulching materials used, rice husks was able to retain soil moisture better at the first growth stages while in later stages plastic appeared superior. In general, mulching accelerate the rate of field emergence and improve growth and physiological characteristics and yield traits, especially plastic mulch, in comparioson with the control. In effect, mulching brought about higher net income, particularly rice husks, followed by plastic mulch.
Trang 1ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển
và năng suất của giống lạc l14 trong điều kiện vụ thu
trên đất Gia Lâm - Hà Nội
Effect of covered materials on growth, development and yield of groundnut variety L14
in condition autumn season at Gia Lam district, Hanoi city
Vũ Ngọc Thắng1
, Vũ Đình Chính1
SUMMARY
An experiment was conducted to compare the effect of different mulching materials on growth and yield of L14 groundnut cultiavr The mulching materials included plastic,, rice husks, rice straws and maize stalks Among the mulching materials used, rice husks was able
to retain soil moisture better at the first growth stages while in later stages plastic appeared superior In general, mulching accelerate the rate of field emergence and improve growth and physiological characteristics and yield traits, especially plastic mulch, in comparioson with the control In effect, mulching brought about higher net income, particularly rice husks, followed by plastic mulch
Key words: Groundnut, mulching materials, growth, yield
1 ĐặT VấN Đề
Để tăng năng suất lạc, ngoài công tác
chọn tạo giống áp dụng một số biện pháp kỹ
thuật tiên tiến cũng góp phần mang lại nhiều
thành công Cheng Dong Wean (1990) cho biết
ở các tỉnh miền Bắc Trung Quốc kỹ thuật trồng
lạc che phủ nilon đ< mở ra thời vụ trồng lạc
xuân sớm khi nhiệt độ còn thấp, mặt khác kỹ
thuật này đ< tăng năng suất lạc lên 36,6% ở ấn
Độ, nhiều công trình nghiên cứu đ< khẳng
định năng suất lạc trong các thí nghiệm che
phủ nilon đ< đạt từ 5,4 đến 9,5 tấn/ha trong
khi đó năng suất trung bình trồng đại trà
không áp dụng kỹ thuật che phủ chỉ đạt 2,6
tấn/ha (IAN, 1977).Tại Hàn Quốc, nhờ kết hợp
giống mới cùng với các biện pháp kỹ thuật canh
tác, đặc biệt kỹ thuật che phủ nilon Đầu năm
1990 năng suất lạc của Hàn Quốc đ< tăng gấp 4
lần so với năm 1960 Hiện nay, trên những nông
trại lớn sử dụng các giống lạc mới và áp dụng tiến
bộ kỹ thuật canh tác đ< đưa năng suất lạc đạt trên
6 tấn/ha (Ngô Thế Dân, 2000).Khi nghiên cứu về
kỹ thuật che phủ nilon cho lạc, tác giả Duan Shufen (1999) đ< khẳng định kỹ thuật che phủ nilon làm tăng nhiệt độ đất, duy trì độ ẩm, cải thiện kết cấu đất, tạo môi trường thuận lợi cho
vi sinh vật hoạt động, hạn chế sự thoát hơi nước và dinh dưỡng, tăng khả năng phát triển của hệ thống rễ, làm cho cây lạc sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất cao Ngoài ra tác giả Trần Đình Long và cộng sự (1999) cũng khẳng định: Lạc trồng có che phủ nilon, cây mọc nhanh, phân cành sớm, sinh trưởng khoẻ,
tỷ lệ chín cao, rút ngắn thời gian sinh trưởng 8-10 ngày, năng suất tăng từ 30-60%, trên diện tích hẹp có thể tới 80% so với không che phủ nilon
Tuy nhiên kỹ thuật che phủ bằng nilon còn
có nhiều nhược điểm khó khắc phục như: Giá thành còn cao, kỹ thuật áp dụng khó đặc biệt
1 Khoa Nông học, Đại học Nông nghiệp I- Hà Nội
Trang 2gây ô nhiễm môi trường Do đó nhằm tăng
năng suất cho lạc ngoài biện pháp che phủ
nilon trong những năm gần đây đ< có nhiều
công trình công bố áp dụng biện pháp che phủ
bằng một số vật liệu khác như trấu, xác thực
vật, đ< mang lại hiệu quả kinh tế cao và tránh
được ô nhiễm môi trường Viện Cây lương thực
cây thực phẩm cho biết che phủ bằng rơm rạ
cho lạc có ưu điểm tận dụng được phụ phẩm
trong sản suất nông nghiệp, giảm đầu tư so với
phương pháp che phủ nilon, trong khi vẫn bảo
đảm năng suất lạc và không ảnh hưởng tới ô
nhiễm môi trường Trong năm 2006, Trung tâm
ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ Bắc
Giang triển khai thử nghiệm mô hình trồng lạc
vụ thu đông bằng phương pháp che phủ xác
thực vật (rơm, rạ, trấu, thân cây ngô, đỗ, lạc)
cũng khẳng định phương pháp này có nhiều ưu
điểm như tận dụng nguyên liệu sẵn có, tiết
kiệm chi phí và tránh ô nhiễm môi trường hơn
so với phương pháp che phủ bằng nilon
Mục đích nghiên cứu này nhằm đánh giá
chính xác khả năng sinh trưởng, phát triển và
năng suất của giống lạc L14 trên một số vật
liệu che phủ khác nhau từ đó góp phần xây
dựng quy trình thâm canh tăng năng suất lạc ở
Việt Nam
2 VậT LIệU Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN
CứU
Các vật liệu được sử dụng trong thí
nghiệm là nilon trắng, trấu, rơm rạ và thân
lá ngô
Thí nghiệm được tiến hành trên giống lạc
L14 tại đồng ruộng của khoa Nông học, Đại
học Nông nghiệp I Hà Nội Thí nghiệm bố trí
theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh 3 lần nhắc
lại Diện tích ô thí nghiệm là 10m2 với tổng
diện tích khu thí nghiệm là 150m2 (chưa kể
dải bảo vệ)
Thí nghiệm gồm có 5 công thức:
CT1: Trồng lạc trong điều kiện bình
thường không che phủ (Đ/C)
CT2: Trồng lạc che phủ bằng nilon CT3: Trồng lạc che phủ bằng trấu CT4: Trồng lạc che phủ bằng rơm rạ CT5: Trồng lạc che phủ bằng thân lá ngô Xác định độ ẩm đấttại các thời điểm sau gieo 10 ngày, cây bắt đầu ra hoa, cây ra hoa rộ
và quả vào chắc, tại 5 điểm theo đường chéo vuông góc, bằng máy đo độ ẩm đất Aquater Instruments T300 (USA), mỗi công thức trong
1 lần nhắc lại
Các chỉ tiêu quang hợp được xác định tại các thời điểm cây bắt đầu ra hoa, cây ra hoa rộ
và quả vào chắc Mỗi công thức trong 1 lần nhắc lại lấy 5 cây mỗi cây lấy 1 lá chét của lá kép thứ 3 tính từ trên xuống để đo cường độ quang hợp, cường độ thoát hơi nước và hiệu suất sử dụng nước bằng máy PP Systems trong
điều kiện nhiệt độ 300C, cường độ ánh sáng là 35.000 lux với nồng độ CO2là 370 ppm Ngoài ra, tiến hành theo dõi các chỉ tiêu nông học như thời gian sinh trưởng, chỉ số diện tích lá và các yếu tố cấu thành năng suất Thời gian sinh trưởng được xác định sau mọc
100 ngày, 110 ngày, 120 ngày Xác định quả già/tổng số quả chắc >80% số quả/cây thì các công thức đó đ< chín và có thể thu hoạch Các chỉ tiêu diện tích lá; chỉ số diện tích lá; khả năng hình thành nốt sần; khả năng tích luỹ chất khô
và hiệu suất quang hợp thuần được xác định tại các thời điểm (cây bắt đầu ra hoa; ra hoa rộ; sau
ra hoa rộ 20 ngày; quả chắc) trên 5 cây theo
đường chéo vuông góc của 1 công thức trong 1 lần nhắc lại Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất được xác định tại mỗi công thức trong 1 lần nhắc lại lấy 10 cây ngẫu nhiên tại thời điểm thu hoạch để theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất như tổng số quả trên cây; tổng số quả chắc trên cây; khối lượng 100 quả; khối lượng 100 hạt; tỷ lệ nhân; năng suất cá thể
Số liệu được phân tích theo phương pháp thống kê bằng phần mềm IRRISTAT và EXCEL
Trang 33 KếT QUả NGHIÊN CứU Và THảO LUậN
3.1 Diễn biến thời tiết khí hậu tại Gia Lâm
trong vụ thu năm 2006
Độ ẩm không khí biến động từ 72 - 83%
Tháng 9 là tháng có ẩm độ không khí thấp
nhất Chế độ nhiệt có xu hướng giảm dần từ
tháng 7 đến tháng 10, biến động từ 27,4 - 300C
(Hình 1), tương đối thuận lợi cho cây lạc sinh
trưởng và phát triển Tuy nhiên, nhiệt độ thời
kỳ đầu khá cao dẫn đến giai đoạn sinh trưởng
sinh dưỡng của cây diễn ra nhanh, không đảm
bảo thời gian cho cây tích luỹ đủ sinh khối để
tạo năng suất cao, cuối vụ nhiệt độ lại có xu
hướng giảm xuống ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình vận chuyển và tích lũy vật chất về quả
Đây cũng là nhược điểm của vụ lạc thu và vụ lạc thu đông ở miền Bắc nước ta Khi được che phủ thì nhiệt độ đất cũng được tăng lên 4 - 50C tạo điều kiện cho quá trình vận chuyển và tích luỹ vật chất về quả (Ngô Thế Dân, 2000) Bên cạnh đó, lượng mưa tại Gia Lâm qua các tháng (tháng 7, tháng 8) tương đối cao đạt 7,89 mm/ngày và 11,41 mm/ngày Tuy nhiên cuối
vụ lượng mưa lại giảm xuống dưới 1 mm/ngày không thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển của cây lạc Giai đoạn đầu mưa nhiều, tập trung mưa lớn vào một số ngày nên đất bị bí dí gây
ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển của cây nhất là ở công thức trồng không được che phủ
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
ẩm độ Nhiệt độ Lượng mưa
Hình 1 Diễn biến một số yếu tố khí tượng trong thời gian tiến hành thí nghiệm
Nguồn số liệu khí tượng trạm Láng - Hà Nội.
3.2 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ
đến độ ẩm đất qua một số thời kỳ
Bảng 1 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến
ẩm độ đất qua một số thời kỳ (%)
Công
thức Gieo-mọc
Bắt đầu ra hoa Ra hoa rộ Quả chắc
1 86,45 75,48 60,79 46,79
2 90,12 85,35 74,36 68,25
3 92,78 82,14 73,89 65,96
4 89,23 80,69 70,71 59,13
5 87,18 79,24 68,38 58,17
ở thời kỳ gieo đến mọc do có những trận
mưa lớn dẫn đến độ ẩm đất của các công thức
che phủ đều tương đối cao biến động từ 86,45
- 92,78% (Bảng 1) Với độ ẩm như vậy tương
đối thuận lợi cho quá trình nẩy mầm của hạt
độ ẩm đất ở các công thức thời kỳ này không
có sự khác biệt nhiều Các giai đoạn sau, độ
ẩm đất có xu hướng giảm xuống và giảm rõ rệt vào thời kỳ quả chắc ở các thời kỳ trên, công thức che phủ nilon vẫn là công thức có
độ ẩm đất đạt giá trị cao nhất, tiếp đến là công thức che phủ bằng trấu (Bảng 1)
Như vậy, các công thức có che phủ luôn giữ được ẩm độ cao và ổn định hơn so với không che phủ Độ ẩm đất khi được che phủ phù hợp cho lạc sinh trưởng và phát triển Khi
được che phủ đ< làm giảm đáng kể lượng nước bốc hơi qua bề mặt của đất và các vật liệu che
Trang 4phủ đ< làm giảm nhiệt độ của ánh sáng mặt
trời khi chiếu xuống đất Trong các vật liệu
che phủ thì nilon có khả năng giữ được độ ẩm
tốt nhất tiếp đến là trấu
3.3 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến
sinh trưởng phát triển của giống lạc L14
3.3.1 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ
đến thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng
và tỷ lệ mọc mầm của giống lạc L14
Bảng 2 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ
đến tỷ lệ mọc mầm và thời gian
qua các giai đoạn sinh trưởng
Công
thức
Tỷ lệ
mọc
mầm(%)
Từ gieo - mọc (ngày)
Từ mọc -
ra hoa (ngày)
Thời gian sinh trưởng (ngày)
Thời gian từ gieo đến mọc dài nhất ở công
thức không che phủ (10 ngày), công thức che
phủ bằng trấu có thời gian từ gieo - mọc ngắn
nhất (8 ngày) Tỷ lệ mọc ở các công thức có
che phủ đều cao hơn công thức không che phủ (Bảng 2) Với đặc điểm khí hậu, thời tiết của các tỉnh đồng bằng trung du Bắc bộ hay gặp các trận mưa lớn kéo dài, làm cho đất bị rửa trôi, xói mòn, đất gieo lạc bị dí chặt, đóng váng làm cho hạt lạc dễ bị thối, mầm khó đội lên khỏi mặt đất, sức sống cây con giảm Tuy nhiên với các công thức có che phủ đ< khắc phục
được nhược điểm này So với các vật liệu che phủ khác, trấu có thời gian mọc mầm nhanh và
tỷ lệ mọc mầm cao hơn cả, chứng tỏ trấu có khả năng giữ ẩm tốt trong thời kỳ này
ở các công thức có che phủ, thời gian sinh trưởng của các giai đoạn sinh trưởng đều ngắn hơn so với công thức không che phủ, trong đó công thức che phủ nilon là ngắn nhất, tiếp đến là công thức che phủ bằng trấu (Bảng 2) Như vậy, tại các công thức được che phủ, các chất dinh dưỡng được tập trung ngay từ
đầu, nhiệt độ và ẩm độ thích hợp làm cho cây sinh trưởng, phát triển tốt, phân cành sớm, thúc đẩy quá trình ra hoa sớm, tập trung, khả năng tích luỹ sinh khối nhanh, làm rút ngắn thời gian sinh trưởng Điều này có ý nghĩa cho việc bố trí thời vụ cho cây trồng sau
3.3.2 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến chiều cao thân chính của giống lạc L14
0.00
5.00
10.00
15.00
20.00
25.00
30.00
cm
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5
Hình 2 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây
của giống lạc L14
ở tất cả các thời điểm theo dõi, chiều cao
thân chính của các công thức có che phủ đều cao
hơn công thức không che phủ Trong các công
thức có che phủ thì công thức che phủ bằng nilon
có sự tăng trưởng chiều cao là lớn nhất, tiếp đến là công thức che phủ bằng trấu (Hình 2)
Trang 53.3.3 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá
Bảng 3 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá
Thời kỳ bắt đầu ra hoa Thời kỳ ra hoa rộ Thời kỳ sau ra hoa rộ 20 ngày Thời kỳ quả chắc Công
thức DT lá
(dm 2 /cây)
LAI (m 2 lá/m 2 đất)
DT lá
(dm 2 /cây)
LAI (m 2 lá/m 2 đất)
DT lá
(dm 2 /cây)
LAI (m 2 lá/m 2 đất)
DT lá
(dm 2 /cây)
LAI (m 2 lá/m 2 đất)
ở cả 4 thời kỳ theo dõi diện tích lá và chỉ
số diện tích lá ở các công thức có che phủ đều
cao hơn so với công thức không che phủ Công
thức che phủ bằng nilon vẫn là công thức có
diện tích lá và chỉ số diện tích lá đạt cao nhất,
cao hơn so với đối chứng không che phủ, tiếp
đến là công thức che phủ bằng trấu (Bảng 3)
Điều này khẳng định kỹ thuật trồng lạc có che phủ ảnh hưởng tích cực, làm tăng diện tích lá
và chỉ số diện tích lá của lạc Đây là cơ sở tạo tiền đề cây lạc đạt năng suất cao
3.3.4 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến khả năng tích luỹ chất khô
Bảng 4 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến khả năng tích luỹ chất khô (gam/cây)
TK bắt đầu ra hoa TK ra hoa rộ Sau ra hoa rộ 20 ngày TK quả chắc Công thức
ở giai đoạn bắt đầu ra hoa, lượng chất
khô tích luỹ ở cả thân lá và rễ còn thấp Các
công thức che phủ đều có lượng chất khô tích
luỹ cao hơn công thức không che phủ và cao
nhất là ở công thức che phủ nilon (0,30g/cây)
Sang thời kỳ ra hoa rộ, lượng chất khô tích
luỹ ở thân lá và rễ tăng đều ở tất cả các công
thức Công thức che phủ bằng nilon vẫn là
công thức có khối lượng chất khô ở thân lá và
rễ đạt cao nhất Sau khi ra hoa rộ 20 ngày, lượng chất khô tích luỹ tăng lên ở cả thân lá
và rễ Đến thời kỳ quả chắc, lượng chất khô tích luỹ vào thân lá tăng mạnh, trong khi đó lượng chất khô tích luỹ vào rễ lại giảm so với thời kỳ trước ở giai đoạn này lượng chất khô tạo thành chủ yếu tập trung vào quả và hạt (Bảng 4)
Trang 63.3.5 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến số lượng và khối lượng nốt sần của giống lạc L14
Bảng 5 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến số lượng và khối lượng nốt sần của giống lạc L14
Bắt đầu ra hoa Ra hoa rộ Sau ra hoa rộ 20 ngày Quả chắc Giai đoạn sinh trưởng
Công thức Số lượng (nốt/cây)
Khối lượng (g/cây)
Số lượng (nốt/cây)
Khối lượng (g/cây)
Số lượng (nốt/cây)
Khối lượng (g/cây)
Số lượng (nốt/cây)
Khối lượng (g/cây)
2 33,26 0,07 82,59 0,42 97,74 0,45 115,13 0,54
3 35,64 0,09 79,46 0,39 102,45 0,49 108,92 0,51
Thời kỳ bắt đầu ra hoa, số lượng nốt sần
còn ít biến động ở công thức che phủ bằng
trấu, số lượng nốt sần cao nhất ở công thức
không che phủ, số lượng nốt sần thấp nhất
Tương tự, khối lượng nốt sần cũng thấp ở
công thức không che phủ và cao ở công thức
che phủ bằng trấu ở các thời kỳ sau, số
lượng và khối lượng nốt sần tăng và đạt cực
đại vào giai đoạn quả vào chắc (Bảng 5)
Trong đó, công thức không che phủ vẫn là
công thức có số lượng và khối lượng nốt sần
thấp nhất, còn ở công thức che phủ nilon và
trấu có xu hướng vượt trội so với các công
thức khác chứng tỏ nilon và trấu là các vật
liệu có khả năng tạo điều kiện thuận lợi cho
vi khuẩn nốt sần hoạt động
3.4 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ
đến hiệu suất quang hợp thuần của giống
lạc L14
Bảng 6 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến
hiệu suất quang hợp thuần của giống lạc L14
(g/m2lá/ngày đêm)
CT Thời kỳ bắt đầu ra hoa Thời kỳ ra hoa rộ Thời kỳ quả vào chắc
ở thời kỳ bắt đầu ra hoa, các công thức có che phủ đều có hiệu suất quang hợp thuần cao hơn công thức không che phủ Trong đó, cao nhất là công thức che phủ nilon, tiếp đến công thức che phủ trấu Vào thời kỳ ra hoa rộ, hiệu suất quang hợp thuần giảm xuống Đến thời
kỳ quả vào chắc, hiệu suất quang hợp thuần thấp nhất, tuy nhiên hiệu suất quang hợp thuần
ở công thức che phủ nilon đạt cao nhất, thấp nhất là công thức không che phủ (Bảng 6) 3.5 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống lạc L14 Cường độ thoát hơi nước tăng dần từ thời
kỳ bắt đầu ra hoa, đạt cực đại vào thời kỳ ra hoa rộ, đến thời kỳ quả chắc cường độ thoát hơi nước có xu hướng giảm xuống Trong đó, công thức che phủ nilon có cường độ thoát hơi nước lớn nhất, thấp nhất là công thức không che phủ Đến thời kỳ ra hoa rộ cường độ thoát hơi nước tăng lên rõ rệt Bước vào thời kỳ quả chắc cường độ thoát hơi nước giảm xuống
đáng kể (Bảng 7)
Cường độ quang hợp tăng dần ở thời kỳ bắt đầu ra hoa đến ra hoa rộ và giảm dần khi cây bước vào thời kỳ quả chắc ở các công thức có che phủ đều có cường độ quang hợp cao hơn so với công thức không được che phủ
và cao nhất là công thức che phủ bằng nilon, tiếp đến là công thức che phủ bằng trấu Đến thời kỳ ra hoa rộ cường độ quang hợp có xu
Trang 7hướng tăng lên và thời kỳ quả chắc, cường độ
quang hợp có xu hướng giảm xuống (Bảng 7)
Khả năng sử dụng nước của cây có xu
hướng tăng dần từ thời kỳ bắt đầu ra hoa đến
thời kỳ ra hoa rộ và giảm dần vào thời kỳ quả
chắc Khả năng sử dụng nước của các công
thức che phủ đều cao hơn công thức không
che phủ Trong các vật liệu che phủ thì nilon
có khả năng giữ ẩm độ tốt hơn nên khả năng
sử dụng nước cũng cao hơn, đây là tiền đề để
tạo năng suất sau này (Bảng 7)
Bảng 7 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến
một số chỉ tiêu sinh lý
Thời
kỳ CT
Ithn
(mmol/m 2 /s)
Iqh (àmol/m 2 /s)
Hssdn (gCO 2 /kgH 2 O)
Bắt
đầu
Ra
hoa
Ra
hoa
rộ
Quả
chắc
Hssdn: Hệ số sử dụng
nước (gCO 2 /kgH 2 O)
Iqh: Cường độ quang
hợp (àmol/m 2 /s)
Ithn: Cường độ thoát hơi nước (mmol/m 2 /s)
3.6 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ
đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng
suất của giống lạc L14
3.6.1 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ
đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống
lạc L14
Bảng 8 ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ
đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống
lạc L14
Công thức
TS quả/cây (quả)
Tỷ lệ quả
chắc (%)
KL 100 hạt (g)
Tỷ lệ nhân (%)
1 8,47 72,44 50,27 69,85
2 11,60 87,37 52,49 71,32
3 10,67 80,94 51,98 71,01
4 9,13 75,91 51,25 70,64
5 9,10 76,92 51,36 70,96
ở các công thức có che phủ có thời gian bắt đầu ra hoa sớm và quá trình ra hoa tạo quả dài hơn so với công thức không che phủ, do đó
số hoa nhiều hơn và số hoa hữu hiệu cũng cao hơn Vì vậy số quả trên cây và tỷ lệ quả chắc trên cây của các công thức có che phủ luôn cao hơn Trong số các công thức, công thức không che phủ có tổng số quả/cây ít nhất (8,47), công thức che phủ nilon có tổng số quả
đạt cao nhất (11,60 quả/cây), tiếp đến là công thức che phủ bằng trấu (10,67 quả/cây) (Bảng 8) Tương tự, tỷ lệ quả chắc, khối lượng 1000 hạt, tỷ lệ nhân của giống lạc L14 ở công thức che phủ bằng nilon là cao nhất, tiếp đến là công thức che phủ bằng trấu và thấp nhất ở công thức không che phủ (Bảng 8)
3.6.2 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ
đến năng suất của giống lạc L14 Năng suất cá thể, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của giống lạc L14 ở công thức không che phủ đạt thấp nhất, thấp hơn nhiều so với các công thức có che phủ và cao nhất là công thức che phủ nilon, tiếp đến là công thức che phủ bằng trấu (Bảng 9)
Bảng 9 ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến
năng suất của giống lạc L14
Công thức
Năng suất cá
thể (gam/cây)
Năng suất lý thuyết (tạ/ha)
Năng suất thực thu (tạ/ha)
Trang 83.7 Hiệu quả kinh tế của các vật liệu che phủ khác nhau trên giống lạc L14
Bảng 10 Hiệu quả kinh tế của các vật liệu che phủ khác nhau
(Đơn vị tính: đồng/ha)
Công thức
1.Tổng chi phí (đ) 11.053.333 12.495.000 10.003.333 10.253.333 10.253.333 Giống (đ) 2.333.333 2.333.333 2.333.333 2.333.333 2.333.333 Phân bón (đ) 2.270.000 2.270.000 2.270.000 2.270.000 2.270.000
Chi phí BVTV (đ) 400.000 400.000 400.000 400.000 400.000 Vật liệu che phủ (đ) - 1.666.667 500.000 500.000 500.000 Công lao động (đ) 5.500.000 5.275.000 3.950.000 4.200.000 4.200.000
2 Tổng thu (đ) 21.696.000 28.512.000 26.688.000 24.624.000 24.992.000
3 Lãi thuần (đ) 10.642.667 16.017.000 16.684.667 14.370.667 14.738.667
Với mức chi phí vật tư, giá nhân công lao
động, giá bán sản phẩm trên thị trường nội địa
như hiện nay thì 1 ha lạc trồng có che phủ đều
thu được l<i thuần cao hơn so với công thức
đối chứng (không che phủ) Trong khi công
thức đối chứng (không che phủ) chỉ đạt
10.642.667đ/ha thì các công thức có che phủ
có l<i thuần từ 14.370.667 - 16.684.667đ/ha
Trong các vật liệu che phủ thì trấu cho hiệu
quả kinh tế cao nhất, với mức l<i thuần đạt
16.684.667 đ/ha, cao hơn đối chứng 6.292.000
đ/ha Bên cạnh trấu, nilon cũng cho hiệu quả
kinh tế cao đạt 16.017.000đ/ha, cao hơn đối
chứng 5.374.333 đ/ha
4 KếT LUậN
Trong các vật liệu che phủ, trấu có khả
năng giữ ẩm đất tốt trong giai đoạn đầu, tuy
nhiên đến giai đoạn sau nilon có khả năng giữ
ẩm tốt hơn
Các công thức che phủ đều có thời gian
mọc mầm ngắn hơn và tỷ lệ mọc mầm cao hơn
so công thức không che phủ Trong các vật liệu che phủ trấu là thích hợp nhất
Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính, diện tích lá và chỉ số diện tích lá, khả năng tích luỹ chất khô, số lượng và khối lượng nốt sần ở các công thức có che phủ đều cao hơn công thức không che phủ
Thời gian từ mọc đến ra hoa và thời gian sinh trưởng của giống ở các công thức có che phủ đều ngắn hơn công thức không che phủ Trong đó công thức che phủ nilon có thời gian
từ mọc đến ra hoa và thời gian sinh trưởng là ngắn nhất
Cường độ thoát hơi nước, cường độ quang hợp, hiệu suất sử dụng nước của giống có sử dụng vật liệu che phủ đều cao hơn công thức không che phủ Các chỉ tiêu này đạt cao nhất ở tất cả các thời kỳ theo dõi ở công thức có vật liệu che phủ nilon
Tổng số quả/cây, tỷ lệ quả chắc, khối lượng 100 hạt, tỷ lệ nhân ở các công thức che
Trang 9phủ đều cao hơn công thức không che phủ và
đạt cao nhất ở công thức che phủ nilon
Năng suất cá thể, năng suất lý thuyết,
năng suất thực thu ở các công thức có che phủ
cao hơn công thức không che phủ và đạt cao
nhất ở công thức che phủ nilon
Các công thức có che phủ đều có l<i thuần
cao hơn công thức không che phủ Trong đó
che phủ bằng trấu có thu nhập thuần cao nhất
đạt đạt 16.684.667đ/ha, cao hơn đối chứng
6.292.000 đ/ha, tiếp đến là công thức che phủ
bằng nilon
Tài liệu tham khảo
Chen Dong Wean (1990) Review of
groundnut production development in
Shang Dong province Peanut Science
and technique, tr 12-14
International Arachis New sletter (1977) New
and View IRISAT Patancheru, 502324
Andhra pradesh India N0 17, tr.4
Ngô Thế Dân (2000) Kỹ thuật đạt năng suất lạc cao ở Việt Nam NXB Nông nghiệp
Hà Nội
Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn (1979) Giáo trình cây lạc NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 5-68
Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, Vũ Quang Sáng (2006) Giáo trình sinh lý thực vật, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Http://www.bacgiang.gov.vn/htx/Vietnamese/ default.asp?Newid=1576
Http://www.qdnd.vn/qdnd/baongay.kinhte.chi nhsachkinhte.4253.qdnd trích dẫn 30/9/2006
Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh, Nguyễn Văn Thông, Hoàng Minh Tâm (1999) Tổng quan tình hình nghiên cứu và phát triển kỹ thuật tiến bộ trồng lạc ở Việt Nam trong thời gian qua và phương hướng trong thời gian tới Hội thảo về
kỹ thuật trồng lạc tổ chức tại Thanh Hoá từ 2-4/6/1999