The experiments were conducted in the laboratory to identify the main biological features of the newly found important predatory mite Amblyseius victoriensis Womersley such as developmental time, intrinsic rate of natural increase, predation rate to carmine spider mite and thrips in vegetable at Hanoi region. The predatory mite was reared individually on bean leaf discs with diameter of 1.5 cm with surplus of carmine spider mites as prey from the egg to natural death. The predation rate was assessed by using different developmental stages of prey (30 eggs of the carmine spider mite or 10 larvae or 10 pupae of thrips) given to the predatory mite for 24 hours. Besides that, the growth of the predatory mite on 8 treatments with different ratio of females of the predatory and the carmine spider mites on young bean plants was observed at room condition. The results shown that the predatory mite developmental was 7.12 ± 0.31 days and 6.22 ± 0.29 days at 25oC and 30oC, respectively. Their intrinsic rate of natural increase was 0.247 at 25oC and 0.262 at 30oC. Total carmine spider mite eggs consumed in a whole life of one female predatory mite was very high (219.5 eggs/female). They also attacked all developmental stages of investigated thrip, Thrips palmy. In the experiment condition, the growth rate of population in the bean plant with different ratio of predatory and prey adult females was high, but they could control the carmine spider mite when this ratio was higher than 5%. In short, the predatory mite Amblyseius victoriensis Womersley was a promising important narural enemy for biological control of the carmine spider mite Tetranychus cinnabarinus Koch and the thrip Thrips palmy Karny in this region.
Trang 1Tạp chí KHKT Nông nghiệp 2006, Tập IV, Số 6: 3-10 Đại học Nông nghiệp I
Khả năng phát triển quần thể
Population growth of the predatory mite Amblyseius victoriensis Womersley, an important natural enemy of the carmine spider mite Tetranychus cinnabarinus Koch and the thrip
Thrips palmy Karny Nguyễn Văn Đĩnh1, Phạm Thị Hiếu1, Phạm Vân Khánh1, Nguyễn Đức Tùng1 Lê Ngọc Anh, Hoàng Thị Kim Thoa2
Summary The experiments were conducted in the laboratory to identify the main biological features of the newly found important predatory mite Amblyseius victoriensis Womersley such as developmental time, intrinsic rate of natural increase, predation rate to carmine spider mite and thrips in vegetable at Hanoi region
The predatory mite was reared individually on bean leaf discs with diameter of 1.5 cm with surplus of carmine spider mites as prey from the egg to natural death The predation rate was assessed by using different developmental stages of prey (30 eggs of the carmine spider mite
or 10 larvae or 10 pupae of thrips) given to the predatory mite for 24 hours Besides that, the growth of the predatory mite on 8 treatments with different ratio of females of the predatory and the carmine spider mites on young bean plants was observed at room condition
The results shown that the predatory mite developmental was 7.12 ± 0.31 days and 6.22 ± 0.29 days at 25oC and 30oC, respectively Their intrinsic rate of natural increase was 0.247 at
25oC and 0.262 at 30oC Total carmine spider mite eggs consumed in a whole life of one female predatory mite was very high (219.5 eggs/female) They also attacked all developmental stages
of investigated thrip, Thrips palmy In the experiment condition, the growth rate of population in the bean plant with different ratio of predatory and prey adult females was high, but they could control the carmine spider mite when this ratio was higher than 5%
In short, the predatory mite Amblyseius victoriensis Womersley was a promising important narural enemy for biological control of the carmine spider mite Tetranychus cinnabarinus Koch and the thrip Thrips palmy Karny in this region
Key words: Predatory mite Amblyseius victoriensis, Carmine spider mite Tetranychus cinnabarinus, plant thrip Thrips palmy, population growth
1 Đặt vấn đề
Nhóm côn trùng nhỏ và nhện hại có vai
trò ngày càng tăng trong sản xuất nông nghiệp
(Nguyễn Văn Đĩnh, 2002; Hà Quang Hùng và CTV., 2005), đặc biệt đối với các cây trồng
được thâm canh cao Việc phòng chống các
1 Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
2Cục Bảo vệ thực vật
Trang 2loài dịch hại nhất là côn trùng và nhện hại
bằng thuốc hóa học bảo vệ thực vật (BVTV)
làm cho nhóm thiên địch của chúng giảm mật
độ đáng kể và dẫn đến dịch hại nói chung
được “giải phóng” khỏi thiên địch và đặc biệt,
với sức tăng quần thể cao, nhóm nhện hại và
bọ trĩ dễ dàng bùng phát số lượng gây hại
nghiêm trọng trên các cây trồng được thâm
canh cao Do đó chúng còn được gọi là nhóm
do con người tạo nên (man-made pest)
Không những thế, việc sử dụng hóa chất
BVTV còn gây ô nhiễm nông sản và môi
trường Trên thế giới, biện pháp phòng chống
nhóm dịch hại này cho các cây trồng thực
phẩm như rau có hiệu quả nhất và chủ yếu
dựa vào biện pháp sinh học (Lenteren, 2005)
Tại vùng rau ở Hà Nội trong một số năm gần
đây nổi lên 2 loài dịch hại là nhện đỏ son
Tetranychus cinnabarinus và Thrips palmy
thường xuyên xuất hiện và gây hại nặng, vụ
sau nhiều hơn vụ trước (Nguyễn Văn Đĩnh,
2005) Nguyễn Thị Kim Oanh và cs (2006) đ_
đề cập tới khả năng nhân nuôi và sử dụng loài
Amblyseius sp trong phòng chống nhện đỏ và
bọ trĩ
Bài viết dưới đây đề cập tới một số đặc
tính sinh học cơ bản và khả năng sử dụng loài
nhện bắt mồi Amblyseius victoriensis
Womersley, một loài thiên địch quan trọng
của nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus
Koch và bọ trĩ Thrips palmy Karny, mới được
phát hiện ở vùng Hà Nội
2.phương pháp nghiên cứu
2.1 Nuôi sinh học loài NBM Amblyseius
victoriensis
Đầu tiên bắt trưởng thành nhện bắt mồi
(NBM) Amblyseius victoriensis trên ruộng đậu
đỗ, xác định đúng loài (định loại theo khóa
phân loại của Chant, 1959), rồi nhân nuôi
hàng loạt trong lồng cách ly trong đó có cây
đậu cove và nhiều nhện đỏ son Thí nghiệm
nuôi sinh học được tiến hành bằng cách dùng
bút lông chuyển trưởng thành cái NBM thả
trên đĩa lá đậu có đường kính 1,5 cm đặt trên
bông ẩm, trên đó có sẵn 5-6 nhện đỏ son
trưởng thành Sau 3-4 giờ chuyển NBM trưởng
thành ra và chỉ để 1 trứng NBM trong đĩa lá
Hàng ngày theo dõi đĩa lá 2 lần để xác định
thời gian trứng nở, sự chuyển tuổi nhờ xác lột,
số lượng trứng đẻ trong 1 ngày, thời gian chết sinh lý Khi nhện lột xác hoá trưởng thành thả hai nhện đực từ lồng nuôi NBM và cho giao phối trong 2 giờ rồi chuyển nhện đực ra ngoài Khi nhện đẻ trứng, hàng ngày chuyển toàn bộ trứng đẻ ra ngoài để tránh ảnh hưởng của mật
độ trứng đến tỷ lệ giới tính và 2 ngày 1 lần thay
đĩa lá có nhiều trứng và nhện trưởng thành nhện
đỏ son Trứng đẻ ra từ ngày thứ 2 đến ngày thứ
7 được nuôi tiếp tục trên các đĩa lá khác cho
đến khi hoá trưởng thành để xác định tỷ lệ cái sống sót Thí nghiệm được tiến hành ở nhiệt độ
250
Cvà 300
C (tủ định ôn) Điều kiện thí nghiệm như nhiệt độ và ẩm độ ổn định, thức ăn dư thừa
và không có sự ảnh hưởng của mật độ đ_ đáp ứng yêu cầu của môi trường không hạn chế về thức ăn và không gian (Birch, 1948)
2.2 Thí nghiệm về khả năng ăn mồi của NBM
Đối với nhện đỏ son: Thí nghiệm được tiến hành trên đĩa lá đường kính 1,5 cm đặt trên đĩa Petri có bông ẩm Dùng bút lông đưa 7-10 trưởng thành cái nhện đỏ son vào trên đĩa lá
đậu trong thời gian 12 giờ Sau đó chuyển nhện cái trưởng thành và trứng ra ngoài, chỉ để 30 trứng/đĩa lá Tiếp theo thả 1 NBM ở từng pha (tuổi 1, 2, 3 và trưởng thành) vào từng đĩa lá
Đưa đĩa lá vào tủ ở 300C Đếm số trứng còn lại sau 24 giờ để xác định sức ăn trong thời gian một ngày Các thí nghiệm được nhắc lại 30 lần
Đối với bọ trĩ: Thí nghiệm cũng được tiến hành trên đĩa lá như đối với nhện đỏ Số lượng
bọ trĩ là 10 con bọ trĩ/1 pha Các pha phát dục của bọ trĩ được chọn làm thức ăn cho NBM là
bọ trĩ non tuổi 1, tuổi 2, tiền nhộng và nhộng Các thí nghiệm được nhắc lại 30 lần
2.3 Thí nghiệm về khả năng phát triển quần thể của NBM trên nhện đỏ son và bọ trĩ
Tiến hành trồng cây đậu mỗi chậu 1 cây Cây thí nghiệm phải là cây khỏe không nấm bệnh Chậu cây được bao quanh bằng tấm mika trắng nhằm cách ly cũng như hạn chế các tác động của điều kiện ngoại cảnh Sau khi gieo được 1 tuần, cây có 2 lá thật
to khỏe thì lây thả nhện đỏ (NĐ) cái trưởng thành theo 2 mật độ 15 con/lá và 30 con/lá
Trang 3con Sau đó 4-5 giờ thả trưởng thành cái NBM
lên cây đậu theo 8 công thức 4 công thức có
mật độ nhện đỏ son là 15 con/lá và 4 công
thức có mật độ nhện đỏ son là 30 con/lá
Công thức 1 và 5: (đối chứng): Có 15 và
30 con NĐ tương ứng/lá, không thả NBM
Công thức 2 và 6: Có 15 và 30 con NĐ
tương ứng/lá, thả 0,5 NBM/lá
Công thức 3 và 7: Có 15 và 30 con NĐ
tương ứng/lá, thả 1,5 NBM/lá
Công thức 4 và 8: Có 15 và 30 con NĐ
tương ứng/lá, thả 2,5 NBM/lá
Chỉ tiêu theo dõi: Số lượng nhện đỏ son
Tetranychus cinnabarinus và NBM Amblyseius
victoriensis ở các pha: trứng, nhện non, nhện
trưởng thành trên cây sau 3 ngày, 7 ngày, 15
ngày, 25 ngày
Phương pháp đếm: mỗi cây lấy 3 lá ở 3
tầng khác nhau, mỗi lá cắt lấy 1/4 diện tích
đếm số lượng nhện trên kính lúp rồi suy ra
trung bình con/ lá
2.4 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tính
toán
Sức tăng quần thể của bất kỳ loài động vật
nào là tổ hợp bao gồm một loạt các yếu tố như
tốc độ phát triển, khả năng sinh sản, tỷ lệ cái
và tỷ lệ sống sót của con cái trong môi trường
ở đây là môi trường không hạn chế về thức
ăn, không ảnh hưởng của các cá thể hay kẻ thù
tự nhiên Với môi trường tối ưu này khả năng
tăng quần thể là cao nhất Có một chỉ số sinh
thái học để đánh giá khả năng tăng quần thể
đó chính là tỷ lệ tăng tự nhiên (the intrinsis
rate of natural increase = r) (Birch, 1948) Chỉ
số này được gọi là chỉ số (index) của môi
trường Chỉ số này được tính từ công thức
Trong đó: dN: số lượng chủng quần gia tăng
trong thời gian dt
N: số lượng chủng quần ban đầu
Hay đó cũng chính là tỉ lệ sinh (b) trừ đi tỉ
lệ chết (d)
Hay dưới dạng tích phân:
Trong đó:
Nt: số lượng chủng quần ở thời điểm t No: số lượng chủng quần thời điểm ban đầu
e : cơ số logarit tự nhiên
Để tính được (3), phải lập được bảng sống (life table) bao gồm số liệu sinh sản mx, tỉ lệ sống lx qua các tuổi x và lx là sắc xuất sống sót trung bình của cá thể mẹ
Tổng số con cái sinh ra sống sót trong một thế hệ (do 1 mẹ đẻ ra) được gọi là chỉ số nhân của thế hệ (Ro):
Ro = Σ lx mx (4) Thời gian của thế hệ :
0
x.lx.mx Tc
R
Σ
Cũng vậy, thời gian của một thế hệ:
Tc là tuổi trung bình của mẹ khi đẻ con nhưng Tc tính theo mẹ, còn T tính theo con mới sinh
Từ công thức (3) ta tính được tỉ lệ tăng tự nhiên (r) Để dễ tính toán ta nhân hai vế của phương trình với một trị số ek
, giá trị k thường lấy từ 5 – 7, trong trường hợp này chúng tôi thay k = 7 vào (3) ta có:
Σ e 7 – r x. lx mx = e7
Do vế trái ít khi dùng với e7 nên cần tìm 2 giá trị gần đúng trên và dưới của (r) và bằng phương pháp đồ thị có thể tìm được r đúng Lấy logarit nghịch của cơ số e của r ta có
G, đó là chỉ số giới hạn tự nhiên Nó cho ta biết
số lần chủng quần tăng trong 1 đơn vị thời gian
3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3.1 Đặc điểm hình thái của nhện bắt mồi Theo khóa phân loại của Chant (1959) loài nhện bắt mồi nghiên cứu là Amblyseius victoriensis Womersley thuộc họ Phytoseiidae,
bộ Ve bét (Acarina), lớp Nhện (Arachnida)
Trang 4Đây là loài mới được ghi nhận ở Việt Nam
Chúng có mặt trên cây đậu đỗ, cây có múi ở
vùng Hà Nội Con trưởng thành cái hình o val,
cơ thể căng bóng, có 30 lông ngắn ở trên lưng
Phía cuối tấm bụng có 9 lông, trong đó hàng
thứ 2 từ trên xuống có 4 lông xếp thành 1
đường hơi cong Nhện trưởng thành di chuyển
nhanh nhẹn Mầu sắc cơ thể nhện thay đổi
theo thức ăn Kích thước con trưởng thành cái
khoảng 0,5 x 0,3 mm Khích thước con trưởng
thành đực nhỏ hơn khoảng 0,48 x 0,27 mm
Trưởng thành cái có phần bụng phình to và
tròn Trưởng thành đực cơ thể có phần dẹt hơn, phần cuối bụng không tròn như con cái 3.2 Thời gian phát dục của NBM Amblyseius victoriensis
NBM có 3 pha phát triển là trứng nhện non
và nhện trưởng thành Nhện non có 3 tuổi Vòng
đời của NBM là tương đối ngắn, ở 25oC là 7,12 ± 0,31 ngày và ở 30oC là 6,22 ± 0,29 ngày 3.3 Khả năng ăn trứng nhện đỏ và các pha phát dục bọ trĩ của nhện bắt mồi Amblyseius victoriensis
Bảng 1 Sức ăn trứng của nhện bắt mồi Amblyseius victoriensis ở 30oC
Khả năng ăn mồi Giai đoạn phát triển của NBM
Tối thiểu Tối đa Trung bình ± ∆
Nhện non T2
+ Mỗi ngày
+ Cả giai đoạn
2
3
6
9 Nhện non T3
+ Mỗi ngày
+ Cả giai đoạn
4
4
11
13 Trưởng thành cái
Trước đẻ trứng
+ Mỗi ngày
+ Cả giai đoạn
5
11,5 Trưởng thành cái
Giai đoạn đẻ trứng
+ Mỗi ngày
+ Cả giai đoạn
12
121
18
198 14,33 ± 0,68
159,5 Trưởng thành cái
Giai đoạn sau đẻ trứng
+ Mỗi ngày
+ Cả giai đoạn
Cả đời
4
16
151
9
40
288
7,47 ± 0,82
28 219,5 Trưởng thành đực
+ Mỗi ngày
+ Cả giai đoạn
1
15
4
35,5
Ghi chú: ∆ sai số ước lượng ở mức α = 0,05; n =30
Qua bảng trên cho thấy sức ăn trứng từ
tuổi hai đến trước đẻ trứng tăng dần và tăng
rất nhiều vào giai đoạn đẻ trứng sau đó giảm
dần NBM tuổi 1 không ăn, đến tuổi 2 nhện
ăn khoảng 2-6 quả trong một ngày, ở tuổi 3
tăng rõ rệt là 4 -11 quả Giai đoạn trước khi
đẻ sức ăn của nhện vẫn chưa tăng nhiều so
với tuổi 3 (5-11 quả/ngày) Đến giai đoạn đẻ
trứng sức ăn của nhện trưởng thành cái tăng
cao 12 -18/quả/ngày Đối với con cái giai
đoạn đẻ trứng sức ăn cao nhất trong giai đoạn này nó có thể ăn tới 159,5 quả Con đực có khả năng ăn kém hơn nhiều so với con cái Nếu tính từ khi nhện cái có thể ăn đến lúc chết sinh lý nó có thể tiêu diệt tới 219,5 quả
So với sức ăn trứng của các loài nhện khác
được nhân nuôi nhiều trên thế giới như Amblyseius anonymus, Amblyseius idaeus
Trang 5(Nguyễn Văn Đĩnh, 1988) thì NBM
Amblyseius victoriensis có sức ăn cao hơn
nên loài NBM mới này rất có triển vọng làm
tác nhân khống chế nhện đỏ hại Không những thế NBM còn tấn công mạnh trên bọ trĩ, Thrips palmy
Bảng 2 Sức ăn bọ trĩ Thrips palmi của NBM trưởng thành A victoriensis trong 24 giờ
Nhiệt độ Pha phát dục của bọ trĩ Tối thiểu Tối đa Trung bình ± ∆
25 0 C
30 0 C
Ghi chú: ∆ sai số ước lượng ở mức α = 0.05, n =30
Loài NBM Amblyseius victoriensis trưởng
thành có sức ăn bọ trĩ là khá cao ở nhiệt độ
cao chúng ăn nhiều hơn nhiệt độ thấp Tuy
vậy sức ăn bọ trĩ của loài NBM thấp hơn loài
bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius (Nguyễn Thị Kim Oanh, 2006)
3.3 Sức tăng quần thể của NBM Amblyseius victoriensis
Bảng 3 Bảng sống (Life table) của NBM Amblyseius victoriensis trên thức ăn nhện đỏ
ở 25oC và 30oC (n=30)
Ngày tuổi
Trang 6Loài Amblyseius victoriensis có tỷ lệ sống
sót cao (bảng 3) ở 25oC sau 14 ngày tuổi tỉ lệ
sống vẫn là 100% đến ngày tuổi thứ 15 tỉ lệ
sống bắt đầu giảm và giảm nhanh vào ngày
tuổi thứ 18 trở đi NBM bắt đầu đẻ trứng vào
ngày tuổi thứ 6 và đạt đỉnh cao vào ngày tuổi
thứ 11, 12
ở 30oC sau 12 ngày tuổi tỉ lệ sống vẫn
là 100% đến ngày tuổi thứ 13 tỉ lệ sống bắt
đầu giảm NBM bắt đầu đẻ trứng vào ngày tuổi thứ 5,5 và đạt đỉnh cao vào ngày tuổi thứ 11, 12
Căn cứ vào bảng sống, giá trị tỷ lệ tăng tự nhiên của loài Amblyseius victoriensis là khá cao, tương ứng ở 25oC và ở 30oC là 0,247 và 0,262 (bảng 4)
Bảng 4 Các chỉ tiêu sinh học của một số loài nhện bắt mồi ở 25oC
Amblyseius victoriensis 0,247 14,90 14,36 1,28 Báo cáo này
A anonymus 0,274 40,86 10,94 1,31 Nguyễn Văn Đĩnh và CTV.,1988
A idaeus 0,279 38,53 10,65 1,32 Nguyễn Văn Đĩnh và CTV., 1988 Amblyseius sp 0,247 15,95 12,96 1,28 Ng Thị Kim Oanh và CTV.,2006
Qua bảng 3 chúng ta thấy ở nhiệt độ 25oC
giới hạn tăng tự nhiên, thời gian giữa hai thế
hệ của 4 loài này là khác nhau không nhiều,
nhưng hệ số nhân của thế hệ của Amblyseius
victoriensis thì lại thấp hơn nhiều, tỷ lệ tăng tự
nhiên (r) của Amblyseius victoriensis cũng
thấp hơn Tuy nhiên 2 loài Amblyseius
anonymus; Amblyseius idaeus có nguồn gốc ở
Nam Mỹ có thể chịu đựng được điều kiện khô
hạn Ngoài ra so sánh với kết quả của Nguyễn
Thị Kim Oanh (2006) về loài Amblyseius sp
thì loài A victoriensis có tỷ lệ tăng tự nhiên
không khác nhau ở 250C nhưng lại thấp hơn nhiều ở nhiệt độ cao hơn (loài Amblyseius sp
ở 290C có r = 0,287)
3.4 Sức tăng quần thể của nhện bắt mồi A victoriensis tại thí nghiệm phòng trừ nhện
đỏ son T cinnabarinus hại trên cây đậu côve
Với tỉ lệ thả NBM và NĐS theo các công thức khác nhau, khả năng phát triển quần thể của chúng trên cây đậu có khác nhau (bảng 5) Bảng 5 Mật độ nhện bắt mồi (NBM) và nhện đỏ son (NĐ) (con/lá) tại các công thức thả
Khi thả Sau 3 ngày Sau 7 ngày Sau 15 ngày Sau 25 ngày
CT
2 0,5 15 0,58 13,7 6,6 57,00 Cây đậu bị chết hoàn toàn
3 1,5 15 2,32 8,33 7,33 44,44 16,73 13,93 4,91 12,09
6 0,5 30 1,7 25 7,4 87,00 Cây đậu bị chết hoàn toàn
Ghi chú: n = 30
Trang 715 14.48
101.25
0
20
40
60
80
100
120
Nhn ủ son
0,0NBM:30NĐ
127,5
0 20
40 60
80 100 120 140
ngày sau thả
Nhện đỏ
s o n
15 13,7
57
0,5 0,58
6,6
0
20
40
60
80
100
0 5 10 15 20
T cinnabarinus A.victoriensis
Ngày sau thả
NBM:NĐ = 0,5:30
30 25
87
7,4 1,7 0,5
0
20
40
60
80
10
0
Khi thả 3 7 15 25
ngày sau lây thả
A.cinnabarinus
0
5
10
15
20 A.victoriensis
NBM:NĐ = 1,5:15
15
8.33
44,44
13,9 4,91 1.5 2.32
8,73
16,73 12,09
0
2
0
4
0
6
0
8
0
10
0
Khi thả 3 7 15 25 ngày sau thả
T.cinnabarinus
0
5
10
15
20 A.victoriensis
NBM:NĐ = 1,5:30
30
22
66
28,8 7,7 3.9
11 1,5
18,6
3 12,65
0
20
40
60
80
10
0
Khi thả 3 7 15 25 ngày sau thả
T.cinnabarinus
0
5
10
15
20 A.victoriensis
NBM:NĐ = 2,5:15
15
7,67 9,2 3,6 4,63
2.5
5,1
7
15,4 13,2
4,1
4
0
20
40
60
80
100
Khi thả 3 7 15 25 ngày sau thả
T.cinnabarinus
0
5
10
15
20 A.victoriensis
30 17.08 20.75
8.37 5.63 3.5 5.7
19.4 16.2
4.6 0
10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
0 5 10 15 20
T cinnabarinus A victoriensis NBM:NĐ = 2,5:30
Hình 1 Diễn biến mật độ nhẹn bắt mồi Amblyseius victoriensis (NBM) và nhện đỏ son Tetranychus
cinnabarinus (NĐ) trên cây đậu côve (con/lá) tại các công thức (CT)
Trang 8Qua bảng 5 và hình 1 ta thấy NBM hoàn
toàn có thể khống chế được NĐ nếu tỷ lệ
NBM/NĐ đạt trên 5,0% (CT3, CT4 và CT7,
CT8), 4 công thức còn lại cây đậu bị chết do
bị hại quá nặng Khi mật độ nhện đỏ son cao
thì nhện bắt mồi só khả năng tăng quần thể
nhanh, cụ thể với mật độ nhện đỏ là 15 con/lá
thì nhện bắt mồi ở CT4 sau 3 ngày tăng từ 2,5
đến 5,7 con/lá, ở CT3 tăng từ 1,5 đến 2,32
con/lá còn với mật độ nhện đỏ là 30 con/lá thì
nhện bắt mồi ở CT8 tăng từ 2,5 đến 5,17con/lá
ở CT7 tăng từ 1,5 đến 3,9con/lá Khi mật độ
nhện đỏ son là 15 con/lá thì sau thả 1,5 NBM/lá
15 ngày NBM sẽ khống chế được số lượng
nhện đỏ với công thức 2,5 NBM/lá sau 7 ngày
NBM đ_ khống chế được nhện đỏ Con khi mật
độ nhện đỏ son là 30 con/lá tại mật độ
1,5NBM/lá sau 25 ngày mới khống chế được
nhện đỏ, còn mật độ 2,5 NBM/lá 15 ngày là đ_
khống chế được nhện đỏ son
Kết quả điều tra trên nhiều ruộng đậu đũa
tại thời điểm sau trồng 45-60 ngày ở Gia Lâm
và ở Đông Anh, Hà Nội mật độ nhện đỏ son
có thể đạt từ 7-20 con/lá, cá biệt có một số
ruộng mật độ nhện hại đạt 20-30 con/lá Do
đó cần có chiến lược sử dụng thuốc BVTV
thận trọng và có thể thả nhện bắt mồi sớm vừa
tránh sự gây hại của nhện hại và quan trọng
hơn là NBM có khả năng thiết lập quần thể
cao, không cho nhện hại tích lũy số lượng
4 Kết luận
Nhện bắt mồi Amblyseius victoriensis W
là loài mới được phát hiện ở Việt Nam, chúng
có khả năng kìm h_m số lượng nhện đỏ son
Tetranychus cinnabarinus và bọ trĩ Thrips
palmy cao Loài Amblyseius victoriensis W
có tỷ lệ tăng tự nhiên (r) cao, tương ứng ở
250
C và ở 300
C là 0,247 và 0,262
Tỷ lệ nhện bắt mồi và nhện đỏ son càng
cao thì thời gian khống chế mật độ nhện đỏ
son thành công càng ngắn Tỷ lệ nhện bắt mồi
bằng 5% trong điều kiện thí nghiệm có thể
khống chế sự gia tăng mật độ của nhện hại sau
15 ngày
Tài liệu tham khảo Birch L.C., (1948) The intrinsic rate of natural increase on an insect population The Journal of Animal Ecology 17 : 15-26 Chant D.A (1959) Phytoseiid mites The Canadian Entomologist
Nguyễn Văn Đĩnh (2005) Sâu hại rau chủ yếu trồng trong nhà có mái che ở Lĩnh Nam (Hoàng Mai và Đặng Xá (Gia Lâm) Hà Nội năm 2003-2004 Tạp chí BVTV, số 4: trang 5-11
Nguyễn Văn Đĩnh (2002) Nhện hại cây trồng
và cách phòng chống NXB Nông nghiệp
Dinh N Van A Janssen and M.W Sabelis
Amblyseius idaeus and A anonymus on
a diet of two - spotted spider mites Experimental and applied acarology 4:
41 - 51
Nguyễn Thị Kim Oanh Nguyễn Văn Đĩnh
Hà Quang Hùng và CTV (2006) Nghiên cứu quy trình nhân nuôi nhện bắt mồi Amblyseius sp (Phytoseiidae-Acarina), bọ xít bắt mồi (Orius sauteri)
và khả năng ứng dụng chúng trong phòng trừ nhện, bọ trĩ, rệp hại rau, cam vùng Hà Nội và vùng phụ cận Đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ
Hà Quang Hùng, Yorn Try, Hà Thanh Hương (2005) Bọ trĩ hại cây trồng và biện pháp phòng trừ NXB Nông nghiệp Hà Nội 58 trang
Leteren J.C van (2005) IOBC internet book
of biological control WWW.IOBC Global.org