Nhà triết học người Anh Ph.Becơn lập luận về bản chất của các cuộc xung đột xã hội, phân tích các nguyên nhân dẫn đến các cuộc xung đột xã hội trong nội bộ đất nưóc, xem xét một cách cụ
Trang 1N KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
GS TS VÕ KHÁNH VINH
(Chù biên)
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN ở VIỆT NAM
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3XUNG ĐỘT XÃ HỘI:
MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN
ở VIỆT NAM
Trang 4TẬP THỂ TÁC GIẢ
GS TS Võ Khánh Vinh, Chủ biên PGS.TS Nguyễn Mạnh Khảng Thiếu tướng, PGS.TS Lê Văn Cương PGS.TS Phạm Văn Đức
Trang 52.5 Tính động cơ và nguyên nhân 61
Trang 66 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
Chương II
THỰC TIỄN VỀ XƯNG ĐỘT XẢ HỘI
ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 T ình hình x u n g đ ộ t x ả hội
1.1 Khái quát chung
1.2 Những biểu hiện cơ bản
2 Nguyên nhân của xung đột x ã hội
2.1 Khái quát chung
2.2 Các nguyên nhân cơ bản
3 Thực tiển giải quyết và phòng ngừa xung đột xã hội
Chương III
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP
VỂ PHÒNG NGỪA, GIẢI QUYẾT x u n g đ ộ t x ã hội
ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1 Q uan điểm về phòng ngừa và giải quyết xung đột
xả hội
2 Giải pháp về phòng ngừa và giải quyết xung đột
xả hội
107 107 107
120
150 250 152 162
168
168
171
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đem lại nhiều thành tựu
to lớn về phát triển kinh tê - xã hội, văn hóa, giáo dục Tuy nhiên, đến nay nưỏc ta chưa thoát khỏi ngưỡng của sự nghèo khổ, tăng trưởng kinh tê chưa bền vững, tỷ lệ thất nghiệp còn cao, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh như phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội và tham nhũng ngày càng gia tăng, lối sống ích kỷ cùng với những thói hư, tật xấu đang có nguy cơ lây lan mạnh Trong khi
đó một số cơ chế, chính sách phát triển kinh tê còn có
những bất cập, việc triển khai thực hiện còn nhiều vưống mắc, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, chưa đồng bộ Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những xung đột xã hội nói chung và từng cuộc xung đột xã hội cụ thê ở nưốc ta hiện nay Việc xác định rõ nguyên nhân và mối quan hệ phức tạp giữa các nguyên nhân sinh ra xung đột xã hội là vấn để có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và sử dụng các giải pháp phòng ngừa và giải quyết xung đột.
Ớ Việt Nam, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về xung đột xã hội còn rất ít, thường được đề cập dưối các hình thức khác nhau, như mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn
Trang 88 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
trong xã hội, hoặc liên quan đến một số lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, chính trị, văn hoá Có thể nói dưới góc độ tiếp cận khác nhau, vấn đề lý luận về xung đột xã hội mối chỉ được nghiên cứu riêng rẽ, từng mặt
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống
về xung đột xã hội, đặc biệt là sự ra đời của cuốn sách Xung
đột xã hội: Một sô' vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam do
GS TS Võ Khánh Vinh, Phó Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam chủ biên là một công trình có ý nghĩa về lý luận, thực tiễn và rất cần thiết đôi với sự phát triển xã hội và quản
lý phát triển xã hội.
Nội dung cuốn sách gồm 3 chương.
Chương 1: Lịch sử và lý luận về xung đột xã hội
Chương 2 : Thực tiễn về xung đột xã hội ở Việt Nam
hiện nay
Chương 3: Quan điểm và giải pháp về phòng ngừa, giải
quyết xung đột xã hội ở nước ta hiện nay
Xung đột xã hội là vấn đề mối mẻ, do đó khó tránh khỏi những khiếm khuyết rất mong nhận được ý kiến trao đổi và góp ý của độc giả để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Hà Nội, tháng 1 năm 2010
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 9Chương I LỊCH SỬ VÀ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT XÃ HỘI
1 LỊCH SỬ VỀ XUNG ĐỘT XÃ HỘI
1.1 C á c quan niệm thời c ổ đại
Trong thời kỳ c ổ đại, con người đã quan tâm nghiên cứu xung đột xã hội và vai trò của nó đối với đòi sống xã hội Các nhà triết học Hy Lạp c ổ đại là những người đầu tiên làm sáng tỏ một cách tương đối bản chất của các cuộc xung đột xã hội Heraclít đã lập luận về các cuộc chiến tranh và xung đột xã hội dựa trên hệ thống các quan điểm chung vể thê giới quan Ông cho rằng chiến tranh và xung đột xã hội là quy luật chung duy nhất thông trị trên hành tinh và lập luận vê vai trò tích cực của các cuộc xung đột đôi với quá trình phát triển xã hội Xung đột xã hội, theo Heraclít, hiện diện với tính cách là thuộc tính quan trọng
và t ấ t yôu củ a đòi Bống x ã hội M ột m ặt ch ia sẻ vâi các
quan điểm của Heraclít, Epicơ cho rằng những hậu quả tiêu cực của các cuộc xung đột xã hội buộc mọi người phải sống trong trạng thái hòa bình và ổn định Những ưốc mơ
vê một trạng thái xã hội không có xung đột xã hội bưốc đầu được lập luận dựa vào những biện luận như vậy.
Trang 1010 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lỷ luận và thực tiễn ở Việt Nam
Trong thời kỳ đầu phát triển của mình, triết học Cơ đốic giáo cố gắng chứng minh tính ưu việt của hòa bình, của đồng thuận và tình anh em giữa mọi người vối nhau Một
số nhà triết học Cơ đốc giáo thê kỷ II và thê kỷ III đã lập
luận chống lại các cuộc xung đột vũ trang, nhưng vào lúc
đó, lập luận của các nhà triết học đó tác động không lốn đến quá trình phát triển tất yếu của lịch sử Đến đầu thế
kỷ IX với học thuyết “Khristos”, nguyên tắc về tính xung đột đã bắt đầu bị nghi ngò.
Trong thời kỳ Phục Hưng, người ta đã nêu ra những đánh giá khác nhau và phức tạp về các cuộc xung đột xã hội Những người theo chủ nghĩa nhân đạo thường xuyên lên án các cuộc xung đột xã hội và các cuộc xung đột vũ trang Erazm Potterdamskij cho rằng, xung đột xã hội có lôgic riêng, khi tất cả các tầng lốp dân cư của đất nước bị cuốn hút vào quỹ đạo của xung đột xã hội thì xung đột xã hội sẽ phản ứng theo phản ứng dây chuyền tương tự và tính phức tạp của việc trung hòa các quan điểm của các bên đối lập trong cuộc xung đột xã hội, thậm chí kể cả trường hợp khi cả hai bên cùng dựa trên quan điểm tư tưởng thống nhất Nhà triết học người Anh Ph.Becơn lập luận về bản chất của các cuộc xung đột xã hội, phân tích các nguyên nhân dẫn đến các cuộc xung đột xã hội trong nội bộ đất nưóc, xem xét một cách cụ thể các điều kiện vật chất, chính trị và tâm lý của các cuộc xung đột xã hội và những phương thức khắc phục các cuộc xung đột đó Ông đặc biệt chú ý đến vai trò quyết định của các nguyên nhân vật chất đối với sự hình thành các vụ mất trật tự xã hội, các cuộc xung đột xã hội, một trong những nguyên nhân đó
Trang 11Chương I: Lịch sử và lỷ luận về xung đột xã hội 11
là tình trạng nghèo đói về vật chất của nhân dân Ph.Becơn nhấn mạnh rằng, “trong quốc gia có bao nhiêu người bị bần cùng hóa thì có bấy nhiêu người sẵn sàng trở thành kẻ nổi loạn”1 Khi đưa ra các giải pháp ngăn ngừa các cuộc xung đột xã hội, ông cho rằng “mỗi một căn bệnh” đều có thứ thuốc của mình Các giải pháp đó, theo Ph Becơn, xóa bỏ các nguyên nhân mang tính vật chất của các cuộc xung đột xã hội, nghệ thuật sử dụng các mánh khóe chính trị, có thủ lĩnh thích hợp có khả năng hợp nhất mọi người lại với nhau và khả năng đàn áp các vụ lộn xộn và nổi loạn của dân chúng.
1.2 C ác quan niệm thời Cận đại
Trong thời kỳ này, các nhà dân chủ nước Anh và các nhà Khai sáng nước Pháp công khai phê phán các cuộc xung đột vũ trang, sự xâm lược và dùng bạo lực Họ coi các cuộc xung đột vũ trang là những tàn tích của thòi kỳ man rợ và cho rằng chỉ có việc xóa bỏ những nền tảng phong kiến mới tiến đến được nền hòa bình vĩnh cửu Chính vì vậy trong các công trình nghiên cứu của thòi kỳ này, các nhà dân chủ riước Anh và các nhà Khai sáng nưóc Pháp đã chú ý nhiều đến việc tìm kiếm các hình thức tổ chức hợp lý đời sống xã hội, loại trừ các nguyên nhân dẫn đến các cuộc xung đột xã hội vốn bám sâu vào các Nhà nước lỗi thời lúc đó.
Đến th ế kỷ thứ XVIII các nhà tư tưởng đã cố gắn nhận
1 Ph Becơn Tuyển tập: 02 tập, M.1979, T.2, tr.382 (tiếng Nga).
Trang 1212 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ỏ Việt Nam
thức lôgic thông nhất của sự phát triển thê giối, xem xét đòi sống xã hội trong phạm vi lịch sử toàn thê giới Tất cả các khía cạnh của những vấn đê đó được thể hiện rõ nét nhất trong triết lý của J.J.R u sso (1712-1778) về xã hội Quá trình lịch sử thê giới theo cách hiểu của J J Russo thì dường như được chia thành ba thời điểm cấu thành: trưốc hết, đó là sự tồn tại của “trạng thái tự nhiên” khi con người có được sự tự do và bình đẳng, tiếp đến là sự phát triển của nền văn minh làm cho con người bị m ất đi trạng thái bình đẳng, tự do và hạnh phúc và cuối cùng, bằng việc ký kết “Khế ước xã hội”, con người lại một lần nữa tìm thấy sự hòa hợp vốn đã mất đi trong các quan hệ
xã hội, tìm thấy “thê giới vĩnh hằng”, tìm thấy sự đồng thuận và sự thống nhất Những vấn đề này tiếp tục làm bùng nổ các cuộc tranh luận sôi nổi của thời kỳ Cận đại Nhà triết học Đức I.Kant cho rằng tình hình hòa bình giữa những người hàng xóm láng giềng không phải là trạng thái tự nhiên , ngược lại, tình hình chiến tranh là trạng thái tự nhiên, do vậy theo Kant hòa bình và đồng thuận cần phải được thiết lập.
Trong thòi kỳ này, người ta cũng đã nêu ra những ý kiến rất khác nhau về các nguyên nhân của các cuộc xung đột xã hội và triển vọng khắc phục chúng Tuy nhiên, trong tất cả những ý kiến vốn vất đa dạng và khác nhau
đó, người ta cũng tìm thấy khá nhiều điểm giống nhau chẳng hạn như đều thừa nhận vai trò quyết định của sự đồng thuận giữa mọi người với nhau đối với sự phát triển của xã hội; đều đánh giá tính chất tiêu cực của các cuộc nổi loạn, mất trậ t tự xã hội và chiến tranh đã xảy ra ở thời kỳ
Trang 13Chương I: Lịch sử và lý luận về xung đột xã hội 13
Trung đại, cũng như đều hy vọng tới một viễn cảnh “hòa bình vĩnh cửu” trong tương lai Vào đầu thê kỷ XIX Heghen đã đánh giá các cuộc chiến tranh và các cuộc xung đột xã hội theo một cách tiếp cận khác Trước hết, ông bàn luận nhiều hơn về vai trò tích cực của các cuộc chiên tranh đối với sự phát triển xã hội.
Bản thân sự chuyển biến của quá trình lịch sử đặt ra nhu cầu phải nhận thức sâu sắc hơn các quá trình phát triển xã hội vốn rất phức tạp, do đó phải nhận thức sâu sắc hơn vai trò của các cuộc xung đột xã hội đối vối đời sông xã hội Trong th ế kỷ XIX, các lý luận, học thuyết về
xã hội bắt đầu nhìn nhận rằng, đấu tranh, các cuộc xung đột xã hội và các cuộc đụng độ không đơn giản là những hiện tượng có thể mà là những hiện tượng tất yếu của thực tiễn xã hội Hơn thế nữa, xuất hiện những lý luận, học thuyết muốn lập luận cho sự hiện diện dường như vĩnh cửu của các nguyên nhân của các cuộc xung đột xã hội và bằng cách đó lập luận cho tính không thể tránh khỏi mang tính nguyên tắc của các cuộc xung đột trong đòi sống xã hội.
Trong công trình nghiên cứu “Kinh nghiệm về quy luật
dân số", nhà kinh tế học người Anh, linh mục Tomax Mal’tutx
(1766-1834) cho rằng sự đấu tranh của mọi người vì các phương tiện tồn tại là hiện tượng tấ t yếu, còn các cuộc xung đột xã hội có thể xảy ra là nhân tố vĩnh cửu của sự phát triển xã hội.
Chủ nghĩa Darwin về xã hội cố gắng lý giải sự tiến triển của đời sống xã hội bằng những quy luật sinh học của
Trang 1414 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ỏ Việt Nam
sự lựa chọn tự nhiên và đấu tranh sinh tồn Gerbert Spenser (1820-1903) cho rằng quy luật xung đột là quy luật chung và là quy luật cơ bản, giới hạn sự phát triển xã hội mang tính ổn định trước, trong quá trĩnh phát triển xã hội, quy luật này chỉ xuất hiện trên thực tê khi có sự mất cân bằng đáng kể giữa các dân tộc và chủng tộc.
Lútvích Gumplovích (1838-1909) có cách tiếp cận mối trong phân tích lý luận về xung đột xã hội Ông không coi các đặc điểm sinh học mà coi các đặc điểm của nền văn hóa
là bản chất của sự khác biệt về chủng tộc và khẳng định rằng lịch sử toàn thê giới là lịch sử đấu tranh liên tục giữa các chủng tộc vì sự tồn tại của mình Cho nên, ông cho rằng không chỉ đi tìm nguồn gốc của các cuộc xung đột xã hội trong bản chất của con người mà còn phải đi tìm cả trong những hiện tượng đặc biệt của các nền văn hóa mà xét về kiểu chúng rất phong phú và đa dạng Cũng theo
L Gumplovích các cuộc xung đột xã hội không phải là nhân tố duy nhất có vai trò quan trọng trong quá trình xã hội Quá trình liên kết thống nhất hóa xã hội mà trên cơ sở
đó Nhà nưốc và các cộng đồng xã hội rộng lớn hơn được thiết lập cũng giữ vai trò chẳng kém phần quan trọng Tuy nhiên, ngay cả trong quá trình hình thành Nhà nưốc và các cộng đồng xã hội đó xung đột xã hội vẫn gữ vai trò
quyôt định vì rằ n g sự liên k ết củ a các nhóm x ã hội VỐI1 là
kết quả của cuộc xung đột xã hội Với tính cách là kết quả của cuộc đấu tranh giữa các nhóm xã hội với nhau sự thống nhất về một lề lốì mới là điều có thể xảy ra Như vậy, các quan điểm của L Gumplovích về xung đột xã hội chủ yếu tập trung vào ba luận điểm chính sau đây: 1, các
Trang 15Chương I: Lịch sử và lý luận về xung đột xã hội 15
cuộc xung đột xã hội có tính chất khác nhau nhưng tất cả chúng đêu là nhân tố thúc đẩy sự tiến bộ của lịch sử; 2, sự phân hóa xã hội thành những người thống trị và những ngưòi bị trị là hiện tượng vĩnh cửu; xung đột xã hội cũng xuất phát từ sự phân hóa đó; 3, các cuộc xung đột xã hội thúc đẩy sự thống nhất xã hội, thúc đẩy sự hình thành những mối liên kết rộng rãi hơn.
Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, xã hội học bắt đầu có ảnh hưởng đáng kể đến việc nghiên cứu toàn bộ các vấn đề xung đột xã hội Các trường phái khác nhau trong
xã hội học đều nghiên cứu các vấn đề của xung đột xã hội
và đểu nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của các cuộc xung đột trong đời sống xã hội và nhu cầu cần thiết phải phân tích một cách sâu sắc khía cạnh lý luận của chúng.
Nhà xã hội học người Đức Heorg Zimmel (1858-1918)
đề nghị không nhận thức bản chất của quá trình lịch sử
mà nên phân tích “các hình thức thuần túy” của giao tiếp
xã hội và của sự tác động qua lại lẫn nhau Trong số những hình thức tác động qua lại lẫn nhau tương đôi bền vững chẳng hạn như uy tín, hợp đồng, phụ thuộc, hợp tác thì xung đột xã hội giữ một vị trí đặc biệt Theo H.Zimmel xung đột xã hội là hình thức bình thường và đặc biệt quan trọng của đời sống xã hội Xung đột xã hội thúc đẩy sự liên kết xã hội, xác định tính chất của các cấu thành xã hội mới, củng cố các nguyên tắc và các quy tắc
tổ chức chung.
Các nhà xã hội học nhìn nhận quá trình xã hội trên bình diện biến dạng mối liên hệ mật thiết và tác động qua
Trang 1616 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ỏ Việt Nam
lại lẫn nhau: tranh đua, xung đột, thích nghi, đồng hóa Các cuộc xung đột giữ vị trí trung tâm trong số các dạng trên đây của sự tác động qua lại lẫn nhau trong xã hội, giữ vai trò chuyển tiếp từ dạng tranh đua đến dạng thích nghi
và tiếp đó là dạng đồng hóa và như vậy, là khởi nguồn quan trọng của những thay đổi xã hội Mục đích thực tiễn của xã hội học là góp phần biến các cuộc xung đột xã hội thành sự hợp tác, làm hài hòa các mốì quan hệ giữa các nhóm xã hội khác nhau.
Theo V Papetô các cuộc xung đột xã hội vốn rất đa dạng và không ít cuộc kéo theo các quá trình tiến bộ xã hội, nhưng vai trò và ý nghĩa của chúng tùy thuộc vào giai đoạn phát triển cụ thể của giới thượng lưu nắm quyền lực Các cuộc xung đột xã hội có thể làm ổn định hệ thống chính trị, duy trì trạng thái cân bằng trong sự vận động của xã hội, nhưng cũng có thể dẫn đến những biến đổi cơ bản trong tính chất cách mạng và bằng cách đó đảm bảo cho quá trình thay thế thế giỏi thượng lưu được “xoay vần” một cách liên tục.
Luật gia người Italia Gaetano Moska (1858-1941) coi sự phân chia xã hội thành giai cấp thống trị nắm quyền lực chính trị, nắm giữ tất cả các chức năng của Nhà nước và
sử dụng những đặc quyền đặc lợi có được từ quyồn lực
chính trị và những chức năng đó và giai cấp thống trị vốn đông đảo và không được tổ chức tốt là hiện tượng vĩnh cửu Theo G.Moska, cưỡng chê và các cuộc xung đột xã hội vẫn giữ một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển biến và
ổn định xã hội Sự tương hợp giữa bản chất của giai cấp
Trang 17Chương I: Lịch sử và lý luận về xung đột xã hội 17
này hay của giai cấp khác vói những nhu cầu cụ thê của thời đại là lối thoát cho cuộc đấu tranh đó.
Như vậy, các quan niệm về sự phát triển xã hội trong buổi giao thời giữa thế kỷ XIX và thế kỷ XX nhìn từ góc
độ pháp luật và chính trị - xã hội cho thấy rõ nhu cầu nghiên cứu lý luận của toàn bộ hệ thống các vấn đề vê xung đột xã hội Nhu cầu đó chủ yếu được phân tích dựa trên nền tảng phương hướng có tính phương pháp luận của chủ nghĩa Darwin vê xã hội, của xã hội học phương Tây, của chính trị học và của luật học Những ưu điểm cũng như những nhược điểm tạo thành thực chất của hiện tượng rấ t đỗi phức tạp như xung đột xã hội ở mức độ đáng kể được xác định bởi những đặc điểm của phương pháp luận của những phương hướng nghiên cứu đó Và chúng ta không nghi ngờ về sự ảnh hưởng nhất định của các sự kiện chính trị và xã hội lúc bấy giò đối vối các kết luận mang tính lý luận về những vấn đề chung của sự phát triển xã hội cũng như về xung đột xã hội Khi bàn
về những tư tưởng cơ bản vốn đã được thể hiện trong
những học thuyết vê' sự phát triển xã hội của thòi kỳ này,
hãy lựa chọn trong sô' đó những tư tưởng có tính phổ quát
và tính thời sự đối với các quan điểm hiện đại về xung đột xã hội.
T h ứ nhất, đó là tư tưởng cho rằng, xu ng đột xã hội là hiện tượng xã hội bình thường Các yếu tố sinh học, tâm lý,
xã hội và những yếu tố khác nữa là những yếu tố vốn có trong bản chất con người, nhất định làm nảy sinh rất nhiều tình tmống xung đột, vốn rấ t da dạng và phong phú.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TKUNG TẮM lĩõ c LIEU
Trang 1818 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lỷ luận và thực tiễn ở Việt Nam
T hứ hai, tư tưởng cho rằng các cuộc xu n g đột xã hội g iữ những vai trò tích cực đôi với quá trình phát triển xã hội
Chúng đảm bảo đời sông xã hội vận động và phát triển theo xu hưóng tiến bộ chung, góp phần duy trì sự thống nhất giữa các bộ phận cấu thành xã hội, xác lập các quy phạn và các giá trị xã hội có ý nghĩa chung.
T hứ ba, tư tưởng khẳng định có môì liên hệ và sự phụ
thuộc lẫn nhau giữa trạng thái xung đột của sự phát triển xã hội với kiểu cấu trúc xã hội sinh ra trạng thái xung đột đó, tức tư tưởng xác định trạng thái xung đột về mặt cấu trúc.
T hứ tư, đó là luận điểm cho rằng, sự mâu thuẫn giữa số
ít những người thống trị vỏi số đông những người bị thống trị là hiện tượng tất nhiên và vĩnh cửu làm phát sinh các
vụ va chạm, xích mích và xung đột xã hội.
T hứ năm, tư tưởng thừa nhận mối liên hệ và sự phụ
thuộc lẫn nhau giữa những thay đổi của đời sống xã hội trên các mặt kinh tế, chính trị, tinh thần với những tình huống xung đột vốn là kết quả của những thay đổi đó, tức tư tưởng thừa nhận có sự xung đột về chức năng (hoạt động).
T h ứ sáu, tư tưởng khẳng định trong trạ n g thái cân bằng trong sự vận động của quá trình phát triển xã hội, khi các lợi ích của các nhóm xã hội khác nhau vốn không
trù n g hdp n h au , có được sự cân bằng là nhờ cá c cuộc xung
đột nảy sinh và đã được giải quyết tạo ra sự cân bằng nhất định về mặt xã hội.
1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác
Ngay vào cuối thế kỷ XIX và đầu th ế kỷ XX, các nhà
Trang 19Chương I: Lịch sử và lý luận về xung đột xã hội
xung đột học đã quan tâm đến" lý luận xã hội học của C.M ác Điều đó không hoàn toàn ngẫu nhiên Xã hội học Mácxít đã thay đổi các quan điểm ngự trị lúc bấy giờ vê các quá trình phát triển xã hội.
Theo C.Mác, con người sông trong xã hội không tùy thuộc vào các mối quan hệ ý chí hay lý trí cá nhân, mà buộc phải liên kết lại với nhau Chính sự hiện diện của các mối quan hệ đó tạo ra tính xã hội của chúng với tính cách
là vấn để xã hội đặc thù mà bằng khoa học có thể nhận thức được một cách khách quan.
Có thê coi tháng Giêng năm 1859, được đê trong Lời tựa của cuốn sách “Góp phần phê phán khoa kinh t ế chính trị”
của c Mác, là thời điểm lịch sử của sự nhận thức hoàn chỉnh lịch sử xã hội Theo quan điểm của Mác, cơ cấu xã hội có bốn yếu tố cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng và các hình thái ý thức xã hội
Hệ thống các yếu tô này có mối liên hệ qua lại chặt chẽ với nhau Đây chính là lý luận chung của xã hội học Mácxít Đồng thời, lý luận xã hội học Mácxít không chỉ là bộ phận chính của xã hội học nghiên cứu một cách có cơ sở khoa học lý luận chung về xã hội học mà còn là hệ thống lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về xung đột xã hội.
Trên mọi mức độ nhận thức về các quá trình xã hội: chuyên sâu vể bán chất, phô quát, lịch sứ cụ thế, xã hội học và chính trị học, chủ nghĩa Mác đều thừa nhận các cuộc xung đột xã hội, những vụ va chạm diễn ra trong xã hội và những mâu thuẫn đối kháng Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác khẳng định đấu tranh giai cấp là những hiện tượng tất yếu của đời sống xã hội.
Trang 2020 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
Cả c Mác lẫn Ph.Ảngghen đều tin tưởng rằng, mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản chỉ giải quyết được trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa
- cuộc cách mạng thủ tiêu chê độ sở hữu tư nhân đổi với tư liệu sản xuất, xây dựng các điều kiện để xóa bỏ các quan hệ đối kháng, xóa bỏ các giai cấp bóc lột vốn không muốn từ bỏ
sở hữu và địa vị thông trị của mình Quan điểm của các ông
về những vấn đê này có quan hệ trực tiếp với hệ vấn đề vê xung đột xã hội Các vấn đề như động lực cách mạng và mối quan hệ biện chứng của động lực cách mạng, nghệ thuật lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vũ trang và logic của việc lôi kéo đồng minh đứng về phía giai cấp công nhân, ngăn chặn cuộc phản cách mạng và tổ chức công tác trong điều kiện hòa bình cũng như những vấn đề tương tự khác từ lập trường Mácxít, tạo ra kinh nghiệm phân tích lịch sử cụ thể các tình huống xung đột xã hội phong phú và đa dạng.
Chủ nghĩa Mác luôn coi trọng hành động cách mạng Quan điểm này thể hiện rõ nét nhất trong chương kết thúc
“Cuộc đấu tranh giai cấp ở nước Pháp”, ở đây, c Mác trực tiếp kêu gọi những người công nhân và những người dân chủ không ngả theo những ảo tưởng sửa đổi Hiến pháp, không tuyệt đối hóa nền dân chủ tư sản và các phương pháp cải lương, không thỏa hiệp vì nhân danh một thê giới dân sự tưởng tượng ra c Mác cũng tin tưởng ràng, chỉ thông qua con đường đấu tranh, các hành động ngoài nghị trường với sự “áp lực từ bên ngoài” mới có thể sò được kết quả mong muốn, mới có thể tạo ra được những thay đổi lốn lao trong xã hội Quan niệm đúng đắn đó của c Mác đã được thực tiễn chứng minh.
Trang 21Chương I: Lịch sử và lỷ luận về xung đột xã hội 21
1.4 C á c quan niệm thời Hiện đại
Từ những năm ba mươi của th ế kỷ XX trở đi, việc nghiên cứu lý luận những vấn đề về xung đột xã hội càng
ít được quan tâm hơn Xu hưỏng này trước tiên xuất hiện ở
Mỹ và sau đó là ỏ Châu Âu Việc ít quan tâm nghiên cứu những vấn đề lý luận vê xung đột xã hội do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nhu cầu của người đặt hàng không chú trọng vào nghiên cứu lĩnh vực đó, tính chính trị của vấn đề Về cơ bản, hệ vấn đề xung đột xã hội chủ yếu được phân tích trên bình diện phương pháp giải quyết các tình huống xung đột xã hội.
Trong thời kỳ này có sự thay đổi thái độ chung đối vối xung đột xã hội tương thích với mô hình hoạt động phổ biến của xã hội lúc bấy giò Jolkott Parsons (1902-1979), nhà lý luận xã hội học ngưòi Mỹ, đã phân tích rất sâu sắc các hiện tượng xung đột xã hội nhưng từ vị trí của quá trình liên kết với mục đích hướng đến sự đồng thuận xã hội Từ những vị trí đó, xung đột xã hội được J Parsons lý giải như là một sự dị thưòng của xã hội, một căn bệnh cần phải chữa trị J.Parsons nêu ra một loạt “các điều kiện hoạt động” đảm bảo tính ổn định của xã hội, bảo vệ hệ thống xã hội trong khuôn khổ các quy phạm và định hưống giá trị đã được hình thành, tránh được xung đột xã hội và chấn động xã hội.
Trường phái “đối xử nhân từ” cho rằng trạng thái xã hội hợp lý và nhân đạo mà các nưóc tư bản chủ nghĩa cần phải hướng đến là trạng thái tự nhiên Những người theo trường phái này khẳng định rằng xung đột xã hội là “căn
Trang 2222 Xung đột xa hội: Một sõ vân đê lý luận và thực tiễn ỏ Việt Nam
bệnh xã hội” nguy hiểm phải được loại bỏ bằng mọi cách để
có được “sự cân bằng xã hội” và “trạng thái hợp tác” vốn là dấu hiệu của “một xã hội khỏe mạnh” Họ đưa ra những kiến nghị nhằm khắc phục xung đột xã hội và tăng đồng thuận xã hội là “đồng quản lý”, “nhân đạo hóa lao động”,
“quyết định tập thể”, “đạo đức công chức” v.v
Trong những năm năm mươi của thế kỷ XX, do một loạt các nguyên nhân mà người ta quay trở lại vối mô hình lý luận vê xung đột xã hội Do hoàn cảnh quôc tế, các cuộc tiếp xúc về mặt khoa học ngày càng được tổ chức nhiều hơn, thái độ của các nhà nghiên cứu trong các nước tư bản chủ nghĩa đối vối chủ nghĩa Mác cũng ngày càng ít tính định kiến hơn Toàn bộ các vấn đề của xung đột xã hội cũng được chuyển hướng nhận thức về mặt lý luận Cũng trong thòi kỳ này, nhất là trong các nưốc tư bản chủ nghĩa cũng đã có những thay đổi đáng kể trong lĩnh vực sản xuất Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thúc đẩy một cách nhanh chóng quá trình tự động hóa sản xuất và cùng với quá trình đó là tăng cường vai trò của Nhà nưóc đối với
sự phát triển của nền kinh tế Vai trò và ý nghĩa của các tổ chức công đoàn với tư cách là những tổ chức đại diện chính thức cho lợi ích của các nhóm lốn người lao động cũng được tăng cường Tất cả những điều đó đã góp phần làm thaỵ đổi những quan điểm trưốc đây về xung đột xã hội.
Sự thay đổi định hướng lý luận được thực hiện theo hai
xu hướng Ó xu hưống thứ nhất, người ta nhận thức lại có phê phán chủ nghĩa chức năng, v ề mặt tư tưởng, sự phê phán chủ nghĩa chức năng hướng tối việc chống lại xu hưóng ổn định, cân bằng và trạng thái liên kết toàn bộ xã
Trang 23Chương I: Lịch sử và lý luận về xung đột xã hội 23
hội, chống lại tính thiếu khả năng của việc mô tả và phân tích các cuộc xung đột xã hội Các công trình nghiên cứu của nhà xã hội học người Mỹ Robert Merton, đặc biệt là
cuốn sách của ông xuất bản vào năm 1949 vối tên gọi “Lý
thuyết về xã hội và cấu trúc xã hội” cũng góp phần đáng kê
vào việc phê phán chủ nghĩa chức năng Trong cuôn sách này, Robert Merton phân tích một cách chi tiết các chức năng xã hội hiện và ẩn cũng như tính phi chức năng của những hiện tượng trái quy luật xã hội Cũng trong chính thời gian này xuất hiện các quan niệm hiện đại về xung đột xã hội Trong số những quan niệm đó, các quan niệm của L.Kozer, R.Đarenđorph là nổi tiếng hơn cả.
Vào năm 1956, nhà nghiên cứu L ’vjuis Kozer cho xuất
bản cuốn sách “Các chức năng của xung đột xđ hội" Trong
cuốn sách này, L ’vjuis Kozer khẳng định một cách trực tiếp
rằng, không tồn tại các quan hệ xung đột thì không tồn tại
các nhóm xã hội và rằng, các cuộc xung đột xã hội có ý nghĩa tích cực đối với việc hình thành và tổ chức hoạt động của các nhóm xã hội và đối với việc thay đổi chúng “Quan
niệm về xung đột chức năng tích cực” được L Kozer xây dựng theo hưống đối trọng hoặc là không lâu sau đó, bổ sung các lý luận kinh điển về chức năng cấu trúc, nơi mà các cuộc xung đột xã hội dưòng như đã được đưa ra ngoài giói hạn phân tích xã hội học Nếu nhxí các quan điểm về chức năng cấu trúc nhìn thấy trong các cuộc xung đột dấu hiệu “phá vỡ” xã hội, thì Kozer lại lập luận vai trò tích cực của xung đột xã hội đối với việc bảo đảm trật tự xã hội và ổn định hệ thông xã hội nhất định.
Tính ổn định của xã hội, theo Kozer, tùy thuộc vào sô"
Trang 2424 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ỏ Việt Nam
lượng các mối quan hệ xung đột tồn tại trong xã hội và tùy thuộc vào kiểu liên hệ giữa chúng với nhau Trong xã hội, càng có nhiều cuộc xung đột xã hội khác rihau đan xen nhaư, thì việc phân chia xã hội thành các nhóm càng phức tạp; việc thành lập mặt trận thống nhất các thành viên trong xã hội vốn được chia thành hai phe không có những quy phạm và những giá trị chung càng khó Điều đó có nghĩa là, các cuộc xung đột xã hội càng độc lập với nhau thì càng tốt cho việc thống nhất xã hội.
Sự quan tâm đến xung đột xã hội cũng được phục hồi ở Châu Âu Vào năm 1965, nhà nghiên cứu người Đức Ral’pm Đarenđorph, người cộng sự và là người tuyên truyền mạnh
mẽ hợc thuyết “X ã hội hậu tư bản chủ nghĩa”, “Xã hội hậu công nghiệp” đã công bô' tại nước Đức, công trình nghiên
cứu với tên gọi “Cơ cấu giai cấp và xung đột giai cấp” Hai
năm sau, một công trình nghiên cứu của R.Đarenđorph có
tựa đề “Ngoài sự viễn tưởng” cũng đã được công bố tại nước
Mỹ Trong công trình nghiên cứu ngày, R.Đarenđorph chỉ
ra xu hướng phân tích lý luận theo hướng xây dựng mô hình mới về xã hội Quan niệm “Mô hình xung đột xã hội” của ông được xây bằng hình ảnh thế giới “chống viễn tưởng” - thê giối của quyền lực, của xung đột và của quá trình phát triển Nếu như L Kozer đã xây dựng xong lý
th u y ết cân bằng x ã hội trư ớc khi th ừ a n h ận vai trò tích cực
của các cuộc xung đột xã hội đốỉ với việc củng cô" sự thông nhất của xã hội thì R Đarenđorph coi xung đột xã hội là trạng thái vốn có của cơ chế xã hội Theo R Đarenđorph thì “không phải là có sự xung đột mà là không có sự xung đột mới là điều đáng ngạc nhiên và không bình thường”.
Trang 25Chương I: Lịch sử và lý luận về xung đột xã hội 25
Có lý do để nghi ngờ khi không phát hiện được xung đột trong xã hội hoặc là trong tổ chức R Đarenđorph cho rằng, trong mọi xã hội đểu có sự chia rẽ và xung đột Theo ông ta, “toàn bộ đời sống xã hội chính là sự xung đột vì đòi sống xã hội luôn thay đổi Trong xã hội loài người không tồn tại cái gì là không biến đổi vì rằng trong xã hội loài người không có cái gì là cố định Cho nên, người ta nhìn thấy trong sự xung đột hạt nhân sáng tạo của các cộng đồng xã hội và khả năng tự do cũng như sự cần thiết phải làm chủ và kiểm tra các vấn đề xã hội”.
Nhà xã hội học và nhà kinh tế hiện đại người Mỹ Kennet Boulding, tác giả của “Lý luận chung về xung đột” vì mong muốn xây dựng học thuyết mang tính khoa học đầy đủ vể xung đột xã hội đã mô tả trong phạm vi của học thuyết này tất cả những hiện tượng của thế giới hữu cơ và vô cơ của đời sống cá nhân và đời sống xã hội Trong học thuyết này, thuật ngữ “sự xung đột” được Kennet Boulding sử dụng một cách rộng rãi khi ông phân tích các hiện tượng vật lý, sinh học và
xã hội Viện vào “cuộc chiến tranh bất tận của thần mưa chống lại thần hạn hán và của một số loài này chống lại một
số loài khác trong tự nhiên, K Boulding, cho rằng, thậm chí là ngay trong giới vô sinh cũng có nhiều cuộc xung đột gay gắt
Trong tác phẩm “Lý luận chung về sự xung đột và sự bảo vệ”
xuất bản vào năm 1963, K.Boulding, nhất mạnh rằng, “tất cả các cuộc xung đột đều có những yếu tô và kiểu phát triển chung và nhờ việc nghiên cứu những yếu tố chung đó, có thể rút ra những hiện tượng xung đột trong mọi biểu hiện đặc thù của chúng” Luận điểm này của K Boulding chủ yếu mang tính phương pháp luận đối vối “Lý luận chung về xung đột”.
Trang 2626 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ỏ Việt Nam
Trong những năm bảy mươi của thế kỷ XX, khi mà những sự kiện khủng hoảng xảy ra trong chín năm trước
đó đã làm dấy lên sự nghi ngờ về tính đúng đắn của tư tưởng về trạng thái cân bằng của xã hội Đặc biệt, trong thời gian này, nhà xã hội học người Mỹ, đại diện hàng đầu cho trường phái xã hội học: “lựa chọn giải pháp” Alvin Goudnher (1920-1980) đã phê phán một cách mạnh mẽ tư tưỏng khẳng định tính không khủng hoảng của sự phát triển xã hội Theo quan điểm của A Goudnher, nhiệm vụ
cơ bản của xã hội học là làm sáng tỏ các nguyên nhân của trạng thái xung đột xã hội và tìm ra những phương hưóng khắc phục các tình huống khủng hoảng trong quá trình phát triển xã hội A Goudnher nhìn thấy cơ sở sâu xa của cuộc khủng hoảng của xã hội Tây Âu, trong “tính phi chuyên nghiệp” của con người, trong sự thiếu một cái nhìn tổng thể về thế giới, trong mối quan hệ đối lập giữa tri thức và quyền lực.
Khi phê phán tất cả các cách tiếp cận xã hội học hiện đại, A Goudnher cố thoát ly “tư tưởng học” bằng quan niệm phản xạ có điều kiện A Goudnher chia cơ cấu xã hội của xã hội Tây Âu hiện đại thành ba giai cấp: giai cấp tư sản già nua hoặc là giai cấp các nhà tư bản chủ nghĩa có tiền; giai cấp vô sản và cuối cùng là giai cấp mới xuất hiện -
giai cấp tr í thứ c A G oudnher đặc b iệt lưu ý đến giai cấp
này Việc có “vốn” văn hóa và văn hóa thảo luận phê phán, theo A Goudnher làm cho giai cấp mới - giai cấp trí thức trở thành niềm hy vọng duy nhất của tiến bộ xã hội Goudnher chia giai cấp mối này thành hai nhóm: nhóm trí thức khoa học - kỹ thuật và nhóm những người trí thức (trí
Trang 27Cl ương I: Lịch sử và lý luận về xung đột xã hội 27
thức nhân đạo) Goudnher đặt hy vọng vào nhóm những nỉười trí thức bởi ông coi nhóm này mới là nhóm có vai trò quyết định đối với sự phát triển của xã hội trong tương lai.
Sự phê phán gay gắt đối với quan niệm phát triển xã hội không có xung đột được nêu ra trong các công trình nịhiên cứu của Ch Milis và các đồng nghiệp của ông Tuy nhiên, vào đầu những năm tám mươi của thế kỷ XX, trạng thái yên bình xã hội tồn tại ỏ các nưốc Tây Ãu một lần nữa kích thích sự tăng cường xu hướng ổn định xã hội Những thay đổi mang tính khách quan diễn ra trong thế giới hiện đại, nhu cầu thống nhất cộng đồng thế giới nhằm giải quyết những vấn đề có tính toàn cầu, đã thúc đẩy nhanh đáng kể quá trình này Các thành viên của Câu lạc bộ Rim, một tổ chức quốc tế phi Chính phủ (1968) nhằm thống nhất sự nỗ lực của các nhà khoa học, các nhà chính trị và các nhà hoạt động xã hội từ các nưổc khác nhau trên thế giới, là những người đầu tiên chú ý đến sự cần thiết cùa việc nghiên cứu hệ những vấn đề toàn cầu và sử dụng ttột cách có kết quả mô hình hệ thống toàn cầu vào mục đích đó Tại phiên họp đầu tiên được tổ chức tại thành phố Rim (do vậy mà câu lạc bộ có tên gọi là Câu lạc bộ Rim), CÌC đại biểu đã nhấn mạnh rằng các môi quan hệ qua lại
n ật thiết giữa các nước với nhau ngày càng phát triển đòi hỏi phái có tư duy mới mang tính toãn cầu, ràng, bởi thòi hạn hoạt động bị ràng buộc bởi nhiệm kỳ bầu cử nên các Chính phủ của các nước không thể giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề có tính nền tảng và lâu dài, cũng như không thể giải quyết một cách có thứ tự những vấn đề phát sinh Đồng thòi, những vấn đề phát sinh cũng không
Trang 2828 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lỷ luận và thực tiễn ở Việt Nam
thể giải quyết một cách riêng biệt vì giữa chúng có những mối liên hệ bất ngò và không thể nói trước Các luận điểm
và kết luận của Bản báo cáo đầu tiên “giới hạn của sự tăng trưởng” (1972) do một nhóm các nhà nghiên cứu khoa học (dưối sự chỉ đạo của Denh và Đonhelư) soạn thảo trình Câu lạc bộ Rim, đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của cộng đồng quốíc tế Từ những ý kiến vốn rất đa dạng và thậm chí là trái ngược nhau về những ưu điểm của Bản báo cáo, có thể nhận xét rằng, được xuất bản dưới dạng một cuốn sách, Bản báo cáo buộc toàn bộ thê giới phải suy nghĩ và thảo luận về những mối nguy hiểm và những cuộc xung đột có tính toàn cầu trong tương lai như sự suy thoái của môi trường xung quanh, sự bùng nổ về dân sô", sự bất bình đẳng về kinh tế; hiểu rằng tất cả những điều đó đòi hỏi phải đi trước một bưốc cả về tư duy lẫn cả về hành động so vối thực tiễn hiện nay; sự phản ứng đối với các hiện tượng tiền khủng hoảng hoặc khủng hoảng thường là
đã quá muộn.
Tại các phiên họp của Câu lạc bộ Rim, những vấn đề về đối lập chính trị, xung đột, chiến tranh và hòa bình được thảo luận nhiều lần và rất sôi nổi Chủ đề chính của các cuộc thảo luận về những vấn đề đó là hòa bình - không đơn giản là không có chiến tranh Không có chiến tranh chỉ là một trong những dấu hiệu của hòa bình Chỉ trong những điều kiện phát triển một cách hài hòa và thông qua sự hợp tác, thê giới mới có được sự an ninh, thực sự vững chắc Sự bớt căng thẳng trong quan hệ quốc tê cho phép đạt được kết quả của những nỗ lực tìm kiếm những lợi ích chung của các nưốc vốn là những địch thủ tiềm tàng, v ề lâu dài
Trang 29Chương I: Lịch sử và lý luận về xung đột xã hội 29
thì đối với các thành viên Câu lạc bộ Rim sự hợp tác sẽ có lợi hơn so với sự cạnh tranh hoặc ganh đua.
Với mục đích đạt tối một trật tự xã hội mới trong điều kiện hòa bình, hợp tác hiểu hết đầy đủ về nhau, các chuyên gia của Câu lạc bộ Rim nêu ra một quan niệm mới
về sự tăng trưởng và phát triển có giới hạn Chẳng hạn, nhà hoạt động chính trị và hoạt động xã hội nổi tiếng của Cộng hòa Liên bang Đức, E Pestel’ đã xác định nội hàm
của sự phát triển có giới hạn bằng cách liệt kê các dấu hiệu
đặc trưng như sau:
- Phát triển có sự tác động qua lại lẫn nhau và phát triển có tính hệ thống, theo đó, không có một bộ phận nào của hệ thống (tiểu hệ thông) phát triển mà gây thiệt hại cho các bộ phận (các tiểu hệ thông) khác Những chuyển biến mang tính tiến bộ của một bộ phận nào đó chỉ có ý nghĩa thực tế một khi chúng phù hợp với những quá trình tiến bộ diễn ra trong các bộ phận khác.
- Phát triển đa dạng và nhiều mặt, đáp ứng được các nhu cầu của các bộ phận khác nhau của hệ thống - vì vậy các khu vực khác nhau của thê giối sẽ phát triển theo các cách khác nhau Tính chất của các quá trình phát triển xã hội cùng vối thòi gian sẽ thay đổi theo hướng đó.
- P h á t triển có sự phôi hợp m ột cá ch hài hòa cốc m ục
đích nhằm đảm bảo một thê giới ổn định.
- Phát triển một cách năng động và mềm dẻo linh hoạt đảm bảo năng lực của các bộ phận cấu thành thệ thống tiếp tục phát triển trước sự tác động từ bên ngoài, tức là mặc dù có những ảnh hưởng của những chuyển biến từ
Trang 3030 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lỷ luận và thực tiễn ở Việt Nam
bên ngoài ngoài sự trông đợi,.song những ảnh hưởng đó không tác động đến được những hoạt động chính trong tổng thể chức năng của các bộ phận cấu thành hệ thống Nói cách khác, các bộ phận cấu thành hệ thống vẫn thực hiện chương trình hoạt động của mình.
- Phát triển trên cơ sở coi chất lượng phát triển là quan trọng nhất đồng thời thừa nhận tính bất di bất dịch của phương hưóng phát triển là bảo đảm phúc lợi vật chất cho mọi người, để họ “không chỉ sống bằng bánh mì”.
- Phát triển có xác định mục đích phát triển trên cơ sỏ cân nhắc đến tính phức tạp của những vấn đề mới mẻ.
- Phát triển có “đổi mới” mục đích, khi những mục đích
“mới” xuất hiện sau khi đạt được hoặc “nhận thức lại” mục đích đã đặt ra.
Từ những điều phân tích trên đây và các công trình nghiên cứu ở các nưốc phương Tây hiện nay về xung đột xã
hội, có thể thấy rõ hai xu hướng cơ bản Xu hướng thứ nhất
được phổ biến rộng rãi ở Tây Âu (tại các nước như Pháp,
Hà Lan, Italia, Tây Ban Nha) và gắn với hoạt động của các
viện nghiên cứu mà chủ yếu là nghiên cứu về xung đột ', còn
xu hướng thứ hai gắn với hoạt động của các viện nghiên cứu hòa bình, được phổ biến tương đối rộng rãi tại nước
M ỹ V ề nguyên tắc, m ục đích củ a các viện đó là giổng
nhau, nhưng cơ sở tiếp cận mục đích của chúng lại có sự
khác nhau Trong một số công trình nghiên cứu, những ý
kiến đầu tiên được dành cho các phương pháp để đạt được kết quả: “Nếu như anh muốn hòa bình, hãy nghiên cứu chiến tranh” Chính các nhà chuyên môn thuộc các viện
Trang 31Chương I: Lịch sử và lỷ luận về xung đột xã hội 31
nghiên cứu hòa bình là những người đánh giá rất cao ý nghĩa hàng đầu của các vấn đề về hòa bình và đồng thuận
Về điều này, có thể lấy cuốn sách của R.Phishera và Ju
Juri: “Con đường dẫn đến sự đổng thuận hoặc n hững hiệp
ước không có sự thất bại” xuất bản vào năm 1990, bằng
tiếng Nga, làm thí dụ minh họa v ề đại thể, những cuộc xung đột xã hội và những giải pháp giải quyết chúng nhận được sự quan tâm lớn đến nỗi chúng trở thành chủ để chính của Hội nghị toàn thể thường kỳ của Hiệp hội quốíc
tê về khoa học chính trị, tổ chức năm 1997 tại Xơ Un.
2 LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT XẢ HỘI
2.1 Khái niệm
• Đ ịnh nghĩa xu n g đột xã hội
Trong các công trình nghiên cứu được xuất bản, khái niệm xung đột xã hội được hiểu theo nhiều cách khác nhau Đến nay, có một số lượng lốn những thuật ngữ được dùng để định nghĩa xung đột xã hội Quan điểm tiếp cận khái quát nhất về khái niệm xung đột xã hội là định nghĩa
nó thông qua mâu thuẫn vối tư cách một khái niệm chung
và trưóc hết là thông qua mâu thuẫn xã hội Sự phát triển của b ấ t kỳ m ột x ã hội nào cũ n g là m ột quá trìn h phức tạp
vcn dựa trên nền tảng của những mâu thuẫn vốn phát sinh, phát triển và đã được giải quyết.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về xung đột
xả hội Có quan điểm cho rằng: xung đột xã hội là sự mâu (thuẫn xã hội căng thẳng nhất 'thể hiện sự xung khắc giữa
Trang 3232 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ỏ Việt Nam
các cộng đồng xã hội khác nhau - các giai cấp, các chủng tộc, các quốc gia, các nhóm xã hội, các thiết chế xã hội
do sự đối lập hoặc sự khác biệt đáng kể về lợi ích, mục đích, khuynh hưỏng phát triển của chúng quyết định Xung đột xã hội nảy sinh và được giải quyết trong tình huống xã hội cụ thể do xuất hiện vấn để xã hội đòi hỏi phải được giải quyết Xung đột xã hội có các nguyên nhân, những người đại diện của mình (các giai cấp, các chủng tộc, các nhóm xã hội ), có các chức năng, độ dài và mức
là hình thức đặc biệt về mặt lịch sử của sự thống nhất mới
về mặt xã hội.
Xung đột xã hội, theo quan điểm khác - đó là tình huống khi các bên tác động lẫn nhau, theo đuổi những mục đích nào đó của mình mà những mục đích đó đôi lập hoặc loại trừ nhau.
Những khái niệm được nêu ở trên, nhìn chung là đáng
tin cậy, nhung quá rộng và trừ u tượng T ron g những khái
niệm đó không có chỗ cho những cuộc xung đột xã hội “có quy mô hẹp hơn”, chẳng hạn như các cuộc xung đột xã hội trong đời sống thường ngày, các cuộc xung đột trong lao động sản xuất kinh doanh Trong khi đó những cuộc xung đột xã hội này không thể không nói đến.
Trang 33Chương I: Lịch sử và lỷ luận về xung đột xã hội 33
Vấn đề mâu thuẫn, ở một mức độ đáng kể cũng đã được
các nhà khoa học nước ta nghiên cứu Tuy nhiên, không thể nói đó là lý luận về xung đột xã hội Xét về thực chất, thì lý luận về xung đột xã hội chưa được quan tâm nghiên cứu trong sách báo nước ta Cần phải nhận thức rằng, mâu thuẫn và xung đột (mâu thuẫn xã hội và xung đột xã hội), một mặt không được coi là những khái niệm đồng nghĩa, mặt khác cũng không được coi là những khái niệm trái ngược nhau Sự mâu thuẫn, sự đối lập, sự khác biệt là những điều kiện cần nhưng chưa phải là những điều kiện
đủ của xung đột (xung đột xã hội) Sự khác biệt, sự mâu
thuẫn, sự đối lập chuyển hóa thành xung đột xã hội khi
những lực lượng đại diện cho chúng bắt đầu tác động lẫn
nhau N h ư vậy, x u n g đột xả hội - đó là sự biểu hiện của
n hững mâu thuẫn xã hội khách quan hoặc chủ quan phản ánh sự đối lập giữ a những người đại diện (các bên) của chúng Trong xã hội, những lực lư ợ n g đó là những chủ thể của xã hội: những con người cụ thể như các cá thể (cá nhân), các nhóm, các tầng lốp xã hội, các tô chức chính trị, các tổ chức xã hội hoặc các quốc gia Chính vì vậy, khi nói đến xung đột xã hội, trước hết, chúng ta phải nói đến quá trình mà trong đó hai (hoặc nhiều hơn) cá nhân hoặc nhóm
xã hội tích cực tìm kiếm khả năng cản trở nhau trong việc đạt được mục đích nào đó, ngăn chặn đôi phương thỏa mãn
n h u cầu lioặc buộc đối pliUơug pliải th ay đổi q u an điểm và
khuynh hướng xã hội nhất định Nói khái quát lại, các bên trong xung đột xã hội phải là con người Như vậy, trong xung đột xã hội luôn luôn phải có ít nhất là hai bên (phía tác động) đối lập nhau Hành vi của những người thuộc mỗi bên thường hưóng tới việc đạt được những lợi ích của
Trang 3434 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ỏ Việt Nam
họ và rõ ràng, về nguyên tắc là xung khắc với nhau Các cuộc xung đột xã hội, vì vậy có đặc điểm là rất căng thẳng, bởi những người thuộc các bên xung đột xã hội, hoặc là thay đổi cách xử sự, thích nghi, hoặc là “tự bảo vệ” trước tình huống đó.
Xung đột xã hội thường được hiểu là dạng mâu thuẫn
xã hội mà trong đó các bên mong muốn xâm chiếm lãnh thổ hoặc tài nguyên; đe dọa các cá nhân hoặc các nhóm người đối lập; đe dọa xâm phạm quyền sở hữu hoặc truyền
thống văn hóa của họ, vì vậy hình thức xung đột giữa họ là
tấn công hoặc phòng thủ bảo vệ X u n g đột xã hội còn bao hàm trong nó tính chủ động của cá nhân, hoặc của nhóm
cá nhân trong việc phong tỏa hoạt động hoặc gây thiệt hại cho những người hoặc nhóm ngươi khác Những thuật ngữ như: các cuộc tranh chấp, các cuộc tranh luận, các cuộc đâu giá, sự cạnh tranh, cưỡng bức trực tiếp và cưỡng bức gián tiếp thường được sử dụng để làm sáng tỏ hệ vấn đề vê xung đột xã hội Nhiều nhà nghiên cứu về xung đột xã hội còn gắn xung đột xã hội với quy mô, với những sự đổi thay của lịch sử.
Để làm cơ sở cho việc nhận thức về xung đột xã hội cần nhắc đến những hiện tượng gần gũi với xung đột xã hội, chẳng hạn như thi đua, tranh đua, cạnh tranh Vê nguyên tác, trong những trường hợp kể trên cũng có sự đấu tranh của các bên đối lập Tuy nhiên, sự đấu tranh của các bên đối lập đó không đến nỗi căng thẳng để dẫn đến sự thù địch hoặc là thậm chí dẫn đến sự thù địch đi chăng nữa thì
sự thù địch đó cũng không chuyển thành những hành vi cản trở nhau thực hiện hành vi hợp pháp Mỗi bên hoạt
Trang 35Chương I: Lịch sử và lý luận về xung đột xã hội 35
dộng “trên địa phận của mình” với mong muốn đạt tối kết quả và như vậy gây “tổn thương” cho đối phương Bởi các bên muốn đạt được một cách tối đa thành quả của mình, nên thường hành động một cách chủ động Đôi với các bên, việc đè bẹp đối phương là không có mục đích tự thân Tuy nhiên, điều đó không loại trừ sự hình thành xung đột ngay trong quá trình thực hiện những hành vi “hòa bình” đã liệt
kê trên đây Như vậy, xung đột xã hội và sự thi đua là không đồng nhất với nhau, nhưng sự thi đua có thể chuyển hóa thành xung đột xã hội Điều đó cũng liên quan đến cạnh tranh mà trong đó đối phương có thể đi đến đè bẹp trực tiếp lẫn nhau.
Các cuộc đấu, trong đó có các cuộc đấu thể thao lại là trường hợp đặc biệt Trong số các cuộc đấu thể thao, có một
số cuộcđấu chẳng hạn như đấm bốc được ngưòi ta xem như
xung đột Tuy nhiên, mọi người đều rõ rằng, xét về thực chất, đó chỉ là sự xung đột được mô phỏng Khi cuộc đấm bốc chấm dứt, thì mối quan hệ “xung đột” qua lại cũng kết thúc Sự ghét bỏ giữa những người chơi thuộc những đội chơi khác nhau cho dù còn đọng lại sau cuộc chơi, về nguyên tắc, được loại bỏ một cách nhanh chóng Trong thể thao, sự hằn học, ghét bỏ đó không được khuyến khích.
• Các ranh giới của xung đột xã hội
Đê lý giải một cách chính xác hơn bản chất của xung đột xã hội và sự khác biệt của nó với các hiện tượng giáp ranh, cần phải xác định được các ranh giới của xung đột xã
hội, tức là xác định được các giới hạn bên ngoài theo không
gian và theo thời gian.
Trang 3636 Xung đột xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ỏ Việt Nam
Các ranh giối của xung đột xã hội có thể được phân thành ba phương diện, đó là:
Ranh giới theo không gian của xung đột xã hội được xác định bởi lãnh thổ nơi diễn ra xung đột xã hội Không gian
lãnh thổ của xung đột xã hội có thể rất khác nhau, từ không gian nhỏ nhất, chẳng hạn diện tích căn nhà cho đến không gian lốn nhất là toàn bộ trái đất Việc xác định chính xác ranh giới của xung đột xã hội theo không gian gắn vói vấn đề chủ thể tham gia xung đột có tầm quan trọng đặc biệt đối vối các quan hệ quốc tế Việc xác định rõ ràng đường ranh giối về lãnh thổ của vùng xung đột xã hội
là để thực hiện các biện pháp phòng ngừa xung đột xã hội.
R anh giới theo thời gian của xung đột xã hội là độ dài của xung đột xã hội được đánh dấu bằng thời điểm bắt đầu
và kết thúc của nó Việc đánh giá về mặt pháp luật đối với
các hành vi của những người tham gia vào cuộc xung đột
xã hội ỏ thời điểm này hay thòi điểm khác tùy thuộc vào việc coi xung đột xã hội đã được bắt đầu diễn ra, đang tiếp diễn hoặc đã được kết thúc khi nào Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với việc đánh giá vai trò của những người vừa mới tham gia vào cuộc xung đột xã hội.
- Thời điểm bắt đầu của cuộc xung đột xã hội được xác
định bỏi những hàn h vi khách quan chông lại bên x u n g đột
với điều kiện bên xung đột (đối phương) nhận thức được những hành vi mà phía bên kia thực hiện là nhằm chống lại mình, vì vậy có hành động đáp trả lại Từ đó cho thấy
để coi thời điểm nào đó là thòi điểm bắt đầu của cuộc xung đột xã hội phải có đồng thòi ba điều kiện sau đây:
Trang 37Chương I: Lịch sử và lý luận về xung đột xã hội 37
1 Một bên (hay còn gọi là người đầu tiên trong xung đột xã hội) đang thực hiện hành vi một cách có chủ ý và chủ động gây thiệt hại cho bên khác (hay còn gọi là người thứ hai trong xung đột xã hội) Hành vi đang được đề cập ở đây được hiểu có thể là những động tác cơ học bằng sức mạnh của cơ thể, có thể là sự truyền đạt 'thông tin (bằng lời nói, bằng ấn phẩm xuất bản, bằng phát thanh truyền hình );
2 Bên khác (hay còn gọi là người thứ hai trong xung đột xã hội) nhận thức được rằng hành vi mà phía bên kia thực hiện là chông lại lợi ích của mình;
3 Vì vậy, bên này (tức người thứ hai trong xung đột xã hội) thực hiện những hành vi đáp trả (chống lại) đối phương Thòi điểm này có thể được coi là thời điểm xảy ra xung đột xã hội.
Từ những điều trình bày trên đây, có thể thấy sẽ chưa
có xung đột xã hội nếu mới chỉ có một bên hành động hoặc khi các bên đang tư duy về hành động của mình (hay còn gọi là những hành động trong tư tưởng) như suy nghĩ về
kế hoạch hành động, suy ngẫm về cách thức hành động của đối phương, dự báo về diễn biến của xung đột xã hội trong tương lai
- Thời điểtn kết thúc củ a cuộc x u n g đột xã hội là k h ô n g
giống nhau Cuộc xung đột xã hội có thể kết thúc (ví dụ, do
các bên dàn hòa được vối nhau), nhưng có thể kết thúc do một bên rút ra khỏi cuộc xung đột xã hội hoặc bị tiêu diệt (trong thòi gian chiến tranh, hoặc trong khi tội phạm xảy ra) Cuối cùng, cuộc xung đột xã hội bị ngăn chặn và kết
Trang 3838 Xung đột xê hội: Một số vấn đề lý luận vă thực tiễn ỏ Việt Nam
thúc do có bín thứ ba (ngưòi thứ ba) can thiệp ngăn chặn
vă chấm dứt Một loạt câc trường hợp vốn được gọi lă
“những xung đột mang tính hình sự ’ được kết thúc như vậy Thực tiễn quan hệ quốc tế ngăy căng sử dụng nhiều hơn lực lượng thứ ba nhằm ngăn chặn câc cuộc xung đột quốc tế (sử dụng lực lượng quđn sự của Liín hợp quốc; trung gian hòa giải bằng con đường ngoại giao ) Tất cả những phương phâp năy, như chúng ta đê biết cũng đê được âp dụng rộng rêi trín thí giới Như vậy, cần phải coi thời điểm chấm dứt tất cả những hănh động của tấ t cả câc bín xung đột xê hội không tùy thuộc văo bất kỳ một nguyín nhđn năo đó lă thòi điểm kết thúc của cuộc xung đột xê hội.
R anh giới bín trong của xung đột xê hội vă xâc định ranh giới của nó Bất kỳ một cuộc xung đột xê hội năo củng diễn ra trong một hệ thông nhất định, hệ th ốn g đó có th ể lă
gia đình, nhóm những người bạn (hay đồng nghiệp), quốc gia, cộng đồng quốc tế Câc mối liín hệ bín trong lă những môì liín hệ nhiều mặt vă phức tạp Cuộc xung đột
xê hội giữa câc bín cùng trong một hệ thống có thể nghiím trọng hay ít nghiím trọng hơn, rộng hoặc hẹp hơn, phổ biến hoặc ít phổ biến hơn
Việc xâc định ranh giới bín trong của xung đột xê hội gân liền với việc phđn chia câc bẽn xung đột xê hội từ tổng
số những người tham gia xung đột xê hội Ngoăi câc bín trực tiếp đối lập nhau, tham gia xung đột xê hội có thể có những người khâc như những người xúi dục, những người giúp sức, những người tổ chức xung đột xê hội (mă bản thđn họ không trực tiếp nhúng tay vằ xung đột xê hội),
Trang 39Chương I: Lịch sử và lỷ luận vé' xung đột xã hội 39
cũng như các thẩm phán trọng tài, các cô" vấn, những người đồng tình và những người phản đối những người này hay những người khác (bên này hay bên khác) đang xung đột vối nhau Tất cả những người này (người hay tổ chức)
là những thành phần của hệ thống Các ranh giới của cuộc xung đột xã hội trong hệ thống chủ yếu phụ thuộc vào phạm vi rộng hay hẹp diện những người (tổ chức) bị lôi kéo tham gia vào cuộc xung đột xã hội Việc nhận thức ranh giới bên trong của xung đột xã hội là vô cùng quan trọng
để tác động đến các quá trình đang diễn ra, trong đó để phòng ngừa sự tan vỡ của hệ thống (dĩ nhiên, nếu điều đó
là cần thiết).
• Đối tượng của xu n g đột xã hội
Đối tượng của xung đột xã hội được hiểu là vấn đ ề tồn tại một cách khách quan hoặc do tưởng tượng được coi là nguyên cớ dẫn đến xung đột giữa các bên Mỗi một bên đều
quan tâm giải quyết vấn đề đó theo hướng có lợi cho mình Hơn th ế nữa, đối tượng của xung đột xã hội là sự mâu thuẫn
cơ bản mà vì để giải quyết nó các bên hành động chống đối nhau Đó có thể là vấn đề quyền lực, việc có được các giá trị này hay giá trị khác Việc tìm kiếm các hướng giải quyết xung đột xã hội được bắt đầu từ việc xác định đối tượng của xung đột xã hội và để làm được điều đó quả thật là không
đdn giản Cuộc xu n g đột x ã hội có đối tương cđ bản được tách
ra thành những đối tượng riêng rẽ, thành vô sô'“những điểm nóng” Đối tượng của xung đột xã hội có thể không chỉ là mục đích chưa được tiết lộ của nhà hoạt động trung gian hoặc của trọng tài viên mà còn có thể là điều khoản mà các bên - những người tham gia đang thương lượng.
Trang 4040 Xung đột xã hội: Một s ố vấn đề lỷ luận và thực tiễn ỏ Việt Nam
• Khách th ể của xung đột xã hội
Khách th ể của xung đột xã hội được hiểu là giá trị vật chất hay tinh thần cụ thể mà các bên xung đột xã hội hướng tới chiếm g iữ hoặc sử d ụ ng riêng, v ề thực chất, bất
kỳ một yếu tô' nào của thế giới vật chất và của thực tiễn xã hội đều là khách thể của xung đột xã hội, đều có thể được
cá nhân, nhóm xã hội, xã hội, Nhà nước coi là đốì tượng thuộc lợi ích của mình Để có thể trở thành khách thể của xung đột xã hội, yếu tố đó phải “nằm ở chỗ giao nhau” của các lợi ích của các chủ thể mong muốn “kiểm soát” theo cách của mình Trong hệ thống quan hệ cụ thể, khách thể của xung đột xã hội bao giò cũng là nguồn nào đó bị thiếu hụt hay khan hiếm Khách thể của xung đột xã hội với tư cách là nguồn nào đó bị thiếu hụt hay khan hiếm mang tính tương đốì và thường xuyên thay đổi Bên cạnh những cuộc xung đột xã hội có khách thể rõ ràng, còn có những cuộc xung đột xã hội có khách thể không rõ ràng, tức là những tham vọng hay mong muốn của các bên trong việc chiếm hữu hay sử dụng “vật” nào đó.
2.2 Chức năng
Xung đột xã hội ảnh hưởng lón đến đời sống xã hội, “lan tỏa” đến tất cả các phương diện hoạt động sống của con người và xã hội Sự ảnh hưởng đó có thể được cụ thể hóa nhờ việc áp dụng khái niệm chức năng vốn được dùng để chỉ, thứ nhất, ý nghĩa chung của xung đột xã hội đối vói đòi sống xã hội, và thứ hai, sự phụ thuộc vốn xuất hiện giữa xung đột xã hội với các thành phần khác của đời sống
xã hội ở trường hợp thứ nhất, chức năng được hiểu là tổng