Oleoresin is a refined spice that has more advantages than its raw material. Ginger (Zingiber officinalis Roscoe) is a widely used spice. To obtain oleoresin, extraction was known as an efficient method. This study aimed at determining the effects of some technological parameters on extraction yield and quality of ginger oleoresin and then to identify the suitable value of these parameters for extraction process. It was found that the most appropriate procedure is ethanol at mixing speed 450 rev min-1; extracting for 3 times, the ratio of ethanol: mass of dried ginger is 12:1 (v/w); temperature: 50oC and duration of extraction 12 hours. With these optimal conditions, the yield of oleoresin reaches 96,04%; volatile compound content 26,48%; gingerol content 10,97% and pungent compound content is estimated of 25 – 30%. The ginger oleoresin and commercial Indian product are of equal quality.
Trang 1Tạp chí KHKT Nông nghiệp 2007: Tập V, Số 3: 67-74 Đại học Nông nghiệp I
NGHIÊN CứU LựA CHọN MộT Số THÔNG Số CÔNG NGHệ TRONG TRíCH LI NHựA
DầU GừNG Từ GừNG Củ Determining some technological parameters in extraction of oleoresin from ginger
Trần Thị Thu Hằng1, Bùi Quang Thuật2
Summary
Oleoresin is a refined spice that has more advantages than its raw material Ginger (Zingiber officinalis Roscoe) is a widely used spice To obtain oleoresin, extraction was known as an efficient method This study aimed at determining the effects of some technological parameters on extraction yield and quality of ginger oleoresin and then to identify the suitable value of these parameters for extraction process It was found that the most appropriate procedure is ethanol at mixing speed 450 rev min -1 ; extracting for 3 times, the ratio of ethanol: mass of dried ginger is 12:1 (v/w); temperature: 50 o C and duration of extraction 12 hours With these optimal conditions, the yield of oleoresin reaches 96,04%; volatile compound content 26,48%; gingerol content 10,97% and pungent compound content
is estimated of 25 – 30% The ginger oleoresin and commercial Indian product are of equal quality
Key words: Ginger rhizome, oleoresin, extraction, gingerol
1 ĐặT VấN Đề
Mặc dù việc sử dụng gia vị đ được loài
người biết đến từ xa xưa, nhưng cho đến
khoảng hơn ba thập kỉ gần đây, các sản phẩm
ở dạng tinh chế mới được sản xuất ở qui mô
công nghiệp Gia vị tinh chế vẫn giữ được
những tính chất giống như gia vị ở dạng thô
nhưng chúng có những ưu điểm mà gia vị thô
không có được như dễ vận chuyển, dễ bảo
quản, thuận tiện khi sử dụng Gia vị ở dạng
tinh chế gồm hai loại chính là tinh dầu mang
hương thơm và nhựa dầu có cả hương thơm và
vị đặc trưng Hiện nay, xu hướng sử dụng gia
vị ở dạng tinh chế đặc biệt là nhựa dầu ngày
càng tăng, người ta ước tính tốc độ sử dụng
gia vị ở dạng tinh chế tăng 11% mỗi năm
(Mamata Muchopadhyay, 2002)
Gừng (Zingiber officinalis Roscoe) là một
loại gia vị quan trọng và chiếm tỉ lệ đáng kể
trên thị trường gia vị thế giới Bộ phận chính
được sử dụng là củ gừng (thân rễ, rhizome) Gừng được dùng làm gia vị trong nhiều món
ăn, trong những bài thuốc dân gian và là thành phần của một số loại tân dược Trong công nghiệp thực phẩm, gừng được sử dụng để tạo hương vị trong sản xuất các sản phẩm như bánh kẹo, trà, mứt Trước đây, gừng thường
được dùng ở dạng tươi, gừng thái lát hay bột khô Hiện nay, cùng với xu hướng chung, nhựa dầu gừng - dạng tinh chế từ củ gừng - đ
được dùng để thay thế các dạng nguyên liệu thô nói trên Nhựa dầu gừng (ginger oleoresin) chứa khoảng 15 - 35% các hợp chất bay hơi;
20 - 30% các hợp chất cay Bên cạnh đó, nó còn có một số thành phần hóa học khác như
đường, chất màu, axit hữu cơ, chất khoáng Zingiberene, zingerberol và d-β-phelladrene là những hợp chất chính trong hương thơm của nhựa dầu gừng Các hợp chất chủ yếu tạo vị cay trong nhựa dầu gừng là các hợp chất alkanol phenolic như gingerol, zingerone,
1 Khoa Công nghệ thực phẩm- ĐH Nông nghiệp I
2 Viện Công nghiệp Thực phẩm Việt Nam
Trang 2shogaol và các dẫn xuất của chúng (Jocelyn
G.Millar, 1998)
Để thu nhận nhựa dầu gừng thường sử
dụng công nghệ trích li Chúng tôi tiến hành
nghiên cứu ảnh hưởng của một số thông số
trích li quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng và
hiệu suất trích li nhựa dầu gừng, từ đó lựa
chọn được những thông số thích hợp cho việc
trích li thu nhận nhựa dầu gừng
2 VậT LIệU, PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Giống gừng gié trồng tại tỉnh Lạng Sơn,
được thu hoạch sau khoảng 18 tháng tính từ
khi trồng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nguyên liệu gừng trước khi đưa vào trích
li được thái lát, sấy khô và nghiền nhỏ đến độ
mịn nhất định Gừng được thái lát, đem phơi
nắng trong 8 - 10 giờ sau đó sấy ở 80o
C trong khoảng 30 phút khi độ ẩm đạt tới 4%; tiếp đó
gừng được nghiền mịn tới kích thước 1 mm <
d ≤ 2 mm; hoặc nguyên liệu gừng được sấy ở
55 - 60oC tới khi độ ẩm đạt 4% (phương pháp
này được sử dụng trong trường hợp thời tiết
không thuận lợi cho việc phơi nắng)
Hàm lượng nhựa dầu trong nguyên liệu
gừng tươi được xác định theo phương pháp của
Jozef Gora (1979), dựa trên nguyên tắc: xác
định hàm lượng tinh dầu bằng phương pháp
chưng cất sử dụng thiết bị Clevenger; sau đó,
xác định các hợp chất nhựa bằng cách trích ly
nguyên liệu khô đ đuổi kiệt các thành phần
bay hơi, sử dụng các dung môi thích hợp Hàm
lượng nhựa dầu là tổng số của phần tinh dầu
và phần nhựa đ tìm được
Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố
công nghệ như loại dung môi trích li, số lần
trích li, lượng dung môi sử dụng, tốc độ khuấy
trộn nguyên liệu, nhiệt độ trích li và thời gian
trích li tới hiệu suất trích li nhựa dầu gừng
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của một yếu tố
nhất định thì các thí nghiệm được tiến hành ở
các điều kiện công nghệ như nhau trừ yếu tố
công nghệ đang được khảo sát Sau khi lựa chọn được giá trị thích hợp của yếu tố đ nghiên cứu thì các giá trị lựa chọn được cố
định trong các thí nghiệm tiếp theo để khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố còn lại Việc lựa chọn các giá trị thích hợp của các yếu tố công nghệ dựa vào hiệu suất trích li nhựa dầu, chất lượng nhựa dầu và hiệu quả kinh tế
Khối lượng nguyên liệu gừng trong mỗi mẫu nghiên cứu là 100g Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần Sau khi trích li, hỗn hợp dung môi và nhựa dầu được đem cô chân không để
đuổi dung môi Nhựa dầu thô thu được được làm sạch bằng cloroform, làm khô bằng
Na2SO4 và cô chân không đến khi trọng lượng không đổi Sản phẩm thu được là nhựa dầu gừng tinh khiết
Hiệu suất trích li nhựa dầu được xác định như sau:
1 2
m
m
=
Trong đó:
H: hiệu suất trích li (so với lượng nhựa dầu có trong nguyên liệu) (%)
m1: khối lượng nhựa dầu thu được (g)
m2: khối lượng nhựa dầu có trong nguyên liệu (g)
Phân tích chất lượng nhựa dầu gừng Một
số chỉ tiêu hóa lí của nhựa dầu gừng đựợc phân tích gồm chỉ số khúc xạ (xác định bằng khúc xạ kế Anbe), tỉ trọng (sử dụng bình tỉ khối, đo tại 30o
C), chỉ số axít (trung hòa bằng dung dịch KOH 0,1 N) và chỉ số este (dùng phản ứng xà phòng hóa este bằng kiềm) (Lê Trọng Hoàng và Phạm Sương Thu, 1973) Hàm lượng chất bay hơi trong nhựa dầu gừng
được xác định bằng phương pháp chưng cất sử dụng bộ dụng cụ Clevenger Thành phần các chất bay hơi trong nhựa dầu gừng được phân tích bằng phương pháp sắc kí khí - khối phổ (GC - MS), trên máy sắc kí khí HP 6890 nối ghép với detector khối phổ Agilent 5973, sử dụng cột mao quản HP - 5MS Hàm lượng chất cay gingerol trong nhựa dầu gừng được
Trang 3Nghiên cứu lựa chọn một số thông số công nghệ trong trích li nhựa dầu gừng từ gừng củ
phân tích trên máy Sắc kí lỏng hiệu năng cao
HPLC 1090
Các phân tích về thành phần chất bay hơi
và hàm lượng gingerol trong nhựa dầu gừng
được thực hiện tại Viện Hóa học các hợp chất
thiên nhiên - Trung tâm Khoa học tự nhiên và
Công nghệ quốc gia
Các số liệu được xử lí thống kê bằng
chương trình IRRISTAT với độ tin cậy là 95%
3 KếT QUả Và THảO LUậN
Hàm lượng nhựa dầu trong nguyên liệu
xác định được là 10,61% chất khô
3.1 ảnh hưởng của một số yếu tố công
nghệ đến hiệu suất trích li nhựa dầu gừng
3.1.1 ảnh hưởng của loại dung môi đến hiệu
suất trích li
Đối với quá trình trích li nói chung và quá trình chiết tách nhựa dầu gừng nói riêng, việc lựa chọn dung môi thích hợp là rất quan trọng Các dung môi như acetone, n-hexane, methanol, ethyl acetate, dichloroethane, ethanol được xem là những dung môi thích hợp cho việc trích li nhựa dầu gừng Vì vậy, cần tiến hành các thí nghiệm với các loại dung môi này để tìm ra dung môi thích hợp nhất Kết quả đ cho thấy, methanol là dung môi cho hiệu suất trích li cao nhất (51,74%), tiếp
đến là ethanol (49,48%) Dung môi cho hiệu suất thấp nhất là n-hexane (28,37%) (Hình 1)
Đối với việc trích li các sản phẩm dùng trực tiếp cho thực phẩm và dược phẩm, bên cạnh yếu tố hòa tan chọn lọc của dung môi, người ta còn quan tâm đến tính độc hại của dung môi Chính vì vậy, mặc dù methanol cho hiệu suất thu nhận nhựa dầu cao nhất nhưng ethanol vẫn là dung môi thích hợp nhất cho quá trình chiết tách nhựa dầu gừng
28,37 d
51,74 a
33,74 c 34,02 c
49,48 b 34.49 a
0 10 20 30 40 50 60
Acet
one n-H ex e
Met ha l
Ethy
l Ace ta Di
loro
etha Etha
l
Loại dung môi
Đồ thị 1 ảnh hưởng của loại dung môi tới hiệu suất trích li 3.1.2 ảnh hưởng của tốc độ khuấy trộn đến
hiệu suất trích li
Việc khuấy trộn nguyên liệu có ảnh
hưởng rất lớn tới hiệu suất thu nhận nhựa dầu,
bởi sự thường xuyên đảo trộn giữa nguyên liệu
và dung môi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá
trình khuếch tán nhựa dầu vào dung môi Vấn
đề đặt ra là cần tìm được tốc độ khuấy trộn
thích hợp Vì nếu khuấy trộn ở tốc độ quá cao
sẽ gây hiện tượng phá vỡ các hạt nguyên liệu
thành các phần nhỏ, làm cản trở quá trình trích
li Do đó, cần tiến hành khảo sát ảnh hưởng của tốc độ khuấy trộn nguyên liệu tới hiệu suất thu nhận nhựa dầu để tìm ra được tốc độ khuấy trộn thích hợp Kết quả thí nghiệm cho thấy tốc độ khuấy trộn thích hợp cho hiệu suất thu nhận nhựa dầu cao nhất là 450 vòng/phút (Hình 2)
Trang 449.48e 56.46c 63.15b
54.47d
0 20 40 60 80
V1 = 200 V2 = 300 V3 = 400 V4 = 450 V5 = 500 V6 = 600
Tốc độ khuấy trộn (vòng/phút)
Hình 2 ảnh hưởng của tốc độ khuấy trộn tới hiệu suất trích li 3.1.3 ảnh hưởng của số lần trích li đến hiệu
suất trích li
Tiến hành xác định ảnh hưởng của số lần
trích li tới hiệu suất trích li và nhận thấy sau 3
lần trích li, hiệu suất thu nhận nhựa dầu đảm
bảo và hợp lí Điều này cũng phù hợp với lí
thuyết trích li cũng như có hiệu quả tốt khi xét
về mặt kinh tế
3.1.4 ảnh hưởng của lượng dung môi đến
hiệu suất trích li
Chúng ta đều biết rằng khi sử dụng càng nhiều dung môi để trích li thì khả năng khuếch tán của nhựa dầu vào dung môi càng lớn Tuy nhiên, nếu lượng dung môi quá lớn
mà hiệu suất thu nhận tăng không đáng kể thì
sẽ không hiệu quả, tốn thời gian và năng lượng
để đuổi dung môi Do đó, cần tiến hành nghiên cứu để tìm ra lượng dung môi thích hợp cho trích li nhựa dầu gừng (Hình 3)
51.53c
0 20 40 60 80
Tỷ lệ dung môi : nguyên liệ (ml:g)
Hình 3 ảnh hưởng của lượng dung môi tới hiệu suất trích li Qua kết quả thí nghiệm cho thấy, rõ ràng
khi lượng dung môi càng tăng lên thì hiệu suất
trích li cao hơn, nhưng chúng không tăng theo
một tỉ lệ nhất định Tỉ lệ dung môi:nguyên
liệu = 12:1 cho hiệu suất trích li cao và nếu
tăng tỉ lệ này lên tới 14:1 và 16:1 thì hiệu suất
trích li tăng lên không đáng kể Do vậy, tỉ lệ
dung môi:nguyên liệu = 12:1 là tỉ lệ thích hợp
cho việc trích li nhựa dầu gừng
3.1.5 ảnh hưởng của nhiệt độ trích li tới hiệu
suất trích li
Nhiệt độ trích li là một trong những yếu tố
ảnh hưởng lớn tới quá trình trích li cũng như tới chất lượng của sản phẩm sau trích li Thông thường, nhiệt độ trích li càng cao sẽ làm cho nguyên liệu trở nên xốp hơn, nhựa dầu linh
động hơn, trích li đạt hiệu suất thu nhận cao hơn Tuy nhiên, nhiệt độ tăng cao cũng đồng thời thúc đẩy các biến đổi hóa học của những thành phần có trong nguyên liệu, dẫn đến chất lượng của nhựa dầu biến đổi theo chiều hướng xấu Kết quả trích li nhựa dầu gừng tại các nhiệt độ khác nhau được thể hiện trong Hình 4
Trang 5Nghiên cứu lựa chọn một số thông số công nghệ trong trích li nhựa dầu gừng từ gừng củ
0 20 40 60 80 100 120
Nhiệt độ trích ly ( C) o
a
c
b
Hình 4 ảnh hưởng của nhiệt độ trích li tới hiệu suất trích li
Để lựa chọn được nhiệt độ trích li thích
hợp cho sản phẩm nhựa dầu gừng, bên cạnh
hiệu suất trích li, cần kết hợp với các nhận xét
cảm quan nhựa dầu thu được Với nhiệt độ
trích li nhỏ hơn 500C, sản phẩm còn giữ được
mùi thơm ngát tự nhiên của gừng Khi nhiệt
độ trích li lớn hơn 500
C, mùi thơm không còn nhiều hoặc bị biến đổi, màu sắc của sản phẩm
trở nên sẫm hơn hoặc chuyển sang màu nâu
đen (nhựa dầu gừng chất lượng tốt có màu
vàng nâu hơi đậm) Nhiệt độ trích li là 500C
cho hiệu suất trích li cao và tại nhiệt độ này,
chất lượng nhựa dầu được đảm bảo Chính vì
vậy, đây là nhiệt độ thích hợp cho quá trình
trích li nhựa dầu gừng
3.1.6 ảnh hưởng của thời gian đến hiệu suất
trích li
Với thời gian trích li, cần tiến hành trích li
thu để thu nhận nhựa dầu sau 8 giờ, 9 giờ, 12
giờ và 15 giờ; với hiệu suất trích li thu được lần
lượt là 85,11%; 87,84%; 96,04% và 96,61%
Kết quả cho thấy 12 giờ trích li là thời gian
thích hợp nhất cho việc trich li thu nhận nhựa
dầu gừng với hiệu suất thu nhận đạt 96,04%
(Hiệu suất trích li sau 12 giờ và 15 giờ không
khác nhau có nghĩa ở mức ý nghĩa α = 5%)
3.2 Xác định chất lượng của nhựa dầu gừng
Nhựa dầu gừng được trích li tại các thông
số công nghệ đ được nghiên cứu lựa chọn từ
phần trên, sau đó cô chân không để đuổi dung
môi và tinh chế, thu được nhựa dầu gừng
thành phẩm Để đánh giá chất lượng của nhựa
dầu, cần tiến hành xác định một số chỉ tiêu
chất lượng của nhựa dầu
3.2.1 Một số chỉ tiêu hóa lí của nhựa dầu gừng
Mỗi loại nhựa dầu được thể hiện bởi các chỉ số hóa lí đặc trưng như tỉ trọng, chỉ số khúc xạ, chỉ số axit, chỉ số este Khi biết
được giá trị của các chỉ số hóa lí này, có thể
đánh giá một cách tương đối chất lượng của chúng Kết quả xác định một số chỉ tiêu hóa lí
đặc trưng của nhựa dầu gừng và so sánh với nhựa dầu gừng của ấn Độ đ cho biết các chỉ
số hóa lí của nhựa dầu gừng từ thí nghiệm tương đương với các chỉ số hóa lí tương ứng của sản phẩm nhựa dầu được sản xuất ở ấn Độ (Bảng 1)
Bảng 1 Một số chỉ số hóa lí của nhựa dầu gừng
Nhựa dầu gừng Chỉ số hóa lí
Thí nghiệm Sản xuất tại ấn Độ *
Tỉ trọng d 3030 1,024 1,012 - 1,028 Chỉ số khúc xạ,
nD20 1,5106 1,5102 - 1,5121 Chỉ số axít 1,81 1,10 - 2,50 Chỉ số este 1,35 7,80 - 14,20
* Tham khảo tài liệu của Lewis & cs (1972)
3.2.2 Xác định hàm lượng và thành phần các hợp chất bay hơi
Các hợp chất dễ bay hơi hay còn gọi là tinh dầu là một phần rất quan trọng của nhựa dầu, nó quyết định giá trị hương thơm của nhựa dầu Vì vậy, cần xác định hàm lượng và thành phần của tinh dầu trong sản phẩm nhựa dầu gừng
Trang 6Hàm lượng tinh dầu gừng được xác định
bằng phương pháp chưng cất với bộ dụng cụ
Clevenger Kết quả cho thấy hàm lượng tinh
dầu là 26,48%, so với hàm lượng tinh dầu của
nhựa dầu gừng ấn Độ trên thị trường thế giới
là 25 - 32%
Thông thường, các hợp chất bay hơi có
trong nhựa dầu có sự thay đổi cả về thành
phần và hàm lượng so với tinh dầu được chưng
cất từ nguyên liệu tươi Nguyên nhân của sự
thay đổi chủ yếu là do có sự tổn thất một số
cấu tử có nhiệt độ sôi thấp trong quá trình tách
dung môi trích li Bên cạnh đó, dưới tác dụng
của nhiệt trong quá trình trích li cũng như tùy
thuộc vào bản chất của dung môi mà các cấu
tử bay hơi đ bị biến đổi Vì vậy, để tiện so
sánh, cần xác định cả thành phần của tinh dầu
từ nguyên liệu tươi Kết quả thu được cho thấy
một số hợp chất terpene có nhiệt độ sôi thấp
hơn so với các thành phần còn lại như
α-pinene, camphene, myrcene và β-phellandrene
không có mặt trong nhựa dầu gừng, ngược
lại, một số thành phần có nhiệt độ sôi cao có
mặt trong nhựa dầu nhưng không có mặt trong tinh dầu (Bảng 2) Tuy nhiên, các thành phần chính đều có mặt trong cả nhựa dầu và tinh dầu như α-zingiberne, ar-curcumene, β- bisabolene và α-sesqui-phellandrene, mặc dù
có sự khác nhau về hàm lượng Một số thành phần chính khác của tinh dầu gừng như neral, geranial, geranyl acetate cũng có mặt trong nhựa dầu nhưng với số lượng rất thấp Ví dụ như hàm lượng của geranyl acetate trong tinh dầu là 6,39%, trong khi nhựa dầu chỉ có 0,22% Đặc biệt, trong thành phần bay hơi của nhựa dầu gừng, hàm lượng của α-zingiberene rất cao (39,88% so với 9,42% ở tinh dầu)
Điều này có thể do trong quá trình trích li, một
số cấu tử đ biến đổi tạo thành α-zingiberene Với các kết quả trên đ làm cho hương thơm của nhựa dầu gừng hơi khác so với hương thơm của tinh dầu Nhựa dầu gừng có hương thơm đặc trưng rõ nét của gừng, do α-zingiberene tạo nên, nhưng thiếu đi mùi thơm thanh ngát của gừng tươi
Bảng 2 Thành phần các hợp chất bay hơi trong tinh dầu và nhựa dầu gừng
(phút)
Hàm lượng (%)
Thời gian lưu (phút)
Hàm lượng (%)
Trang 7Nghiªn cøu lùa chän mét sè th«ng sè c«ng nghÖ trong trÝch li nhùa dÇu gõng tõ gõng cñ
(phót)
Hµm lưîng (%)
Thêi gian lưu (phót)
Hµm lưîng (%)
Trang 83.2.3 Xác định thành phần chất cay chính
của nhựa dầu gừng
Thành phần chất cay chính của nhựa dầu
gừng là các hợp chất gingerol như 6-gingerol,
8-gingerol và 10-gingerol Do điều kiện phân
tích còn hạn chế nên chúng tôi mới chỉ xác
định được hàm lượng của hợp chất 6-gingerol
Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng của
6-gingerol là 109,7 mg/g hay 10,97% Từ kết
quả này có thể ước lượng tổng hàm lượng các
hợp chất cay có trong nhựa dầu chiếm khoảng
25 - 28% Trong khi hàm lượng các hợp chất
cay trong sản phẩm của nhựa dầu gừng trên
thế giới dao động từ 20 - 30% (He và cộng sự,
2001) Kết quả phân tích và đánh giá chất
lượng của nhựa dầu gừng thí nghiệm, cho thấy
chất lượng của nhựa dầu tương đối tốt, đạt gần
bằng chất lượng của mặt hàng cùng loại trên
thị trường thế giới Do đó, các thông số công
nghệ trên là phù hợp để trích li nhựa dầu gừng
4 KếT LUậN
Chế độ công nghệ trích li thích hợp cho
nhựa dầu gừng như sau: Loại dung môi trích li:
ethanol; tốc độ khuấy trộn: 450 vòng/phút; số
lần trích li: 3 lần; lượng dung môi sử dụng so
với nguyên liệu là 12:1; nhiệt độ trích li: 50o
C;
thời gian trích li: 12 giờ Với các thông số trên,
hiệu suất thu nhận nhựa dầu cao (96,04%) và
chất lượng nhựa dầu đảm bảo, tương đương với
chất lượng của sản phầm cùng loại trên thị
trường (hàm lượng chất bay hơi đạt 26,48% với
đầy đủ các thành phần chính; hàm lượng chất cay chính đạt 10,97%; hàm lượng chất cay tổng
ước tính đạt 25 - 28%)
Ghí chú: Các số liệu trong từng đồ thị 1, 2, 3 và 4 có chữ
số mũ khác nhau là có giá trị khác nhau có nghĩa ở mức ý nghĩa 5%
Tài liệu tham khảo
Lê Trọng Hoàng, Phạm Sương Thu (1973) Thí nghiệm tinh dầu và dầu béo, Đại học Bách khoa Hà Nội
Jocelyn G.Millar (1998) Rapid and simple isolation of Zingiberene from Ginger essential oil, Journal of the Natural Products, 61, 1025 - 1026
Jozef Gora (1979) Laboratorium Preparatyki organicznej (Tài liệu tiếng Ba Lan)
He Wen Shan, Li Lin et al (2001) GC - MS analysis of different solvent extracs of ginger, Plant Biochemistry, 9 (2), China, 154 - 158
Lewis Y.S, Methew A.G, Nambudini E.S, Khrish Namurth (1972) Oleoresin ginger The Flavour Chemistry, 78-81 Mamata Mulchopadhyay (2002) Natural extracts using Supercrictical Carbon Dioxide, CRC Press, 1 - 9, 177 - 200
Trang 9Xu hướng biến động dân số - lao động nông nghiệp, đất canh tác, sản lượng lúa