Quá trình phát triển này được biết đến phổ biến qua giả thuyết về các “tuyến”, các “con đường” phát triển lên VHOE.Trên không gian Nam Bộ, vùng TGLX có mức độ tập trung đậm đặc các ditíc
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-NGUYỄN QUỐC MẠNH
CÁC DI TÍCH TIỀN ÓC EO Ở VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN TRONG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VĂN HÓA ÓC EO
Ở MIỀN TÂY NAM BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHẢO CỔ HỌC
HÀ NỘI - năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHẢO CỔ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS BÙI CHÍ HOÀNG
HÀ NỘI - năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, những kết luận khoa học của luận án này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu không đúng sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019
Tác giả luận án
Nguyễn Quốc Mạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Nội dung nghiên cứu trong luận án là sự tiếp tục một vấn đề đã được đặt ra
từ nhiều thập niên trước về văn hóa Óc Eo, là sự kế thừa những thành tựu đã đượctạo dựng qua nhiều thế hệ nhà khoa học Tác giả luận văn xin bày tỏ sự trân trọng
và biết ơn sâu sắc đối với đóng góp của các nhà khoa học đã dày công tạo dựng nênnền tảng cho các lập luận và nhận thức của luận án
Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ cácbảo tàng trong công tác tiếp cận và xử lý tư liệu gốc như Bảo tàng các tỉnh Long
An, Đồng Tháp, Trà Vinh, Kiên Giang Đặc biệt là Bảo tàng tỉnh An Giang đã chophép tôi được tiếp cận và thực hiện công tác hệ thống, tổng hợp nguồn tư liệu phục
vụ cho nghiên cứu này
Về mặt tổ chức, lãnh đạo Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ đã tạo điềukiện tốt nhất để tôi có thể tập trung triển khai các chương trình nghiên cứu Các bạnđồng nghiệp trong Trung tâm Khảo cổ học đã chia sẻ, khích lệ, động viên tôi rấtnhiều trong quá trình thực hiện các nghiên cứu liên quan luận án Học viện Khoahọc xã hội và Khoa Khảo cổ học đã quan tâm, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quátrình học tập và hoàn thành đề tài này
Tôi cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các nhà nghiên cứu là các thành viêntrong hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đã nghiêm khắc góp ý, chỉ ra những hạn chế
và thiếu sót cần điều chỉnh, để tôi có thể bổ sung kịp thời, hoàn thành các mục tiêu
và nhiệm vụ khoa học đặt ra trong luận án
Các nhà khảo cổ học TS Đào Linh Côn, PGS.TS Bùi Chí Hoàng, đã trựctiếp đào tạo tôi từ buổi đầu nghiên cứu, giúp tôi trưởng thành trong công tác và địnhhướng nghiên cứu chuyên sâu, đặt nền tảng cho tôi định hình đề tài nghiên cứu củachương trình học nghiên cứu sinh
Trang 5Sau cùng, tôi kính gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Bùi Chí Hoàng, làngười trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận án Bằng trách nhiệm, sự tận tâm củangười làm khoa học, thầy đã luôn hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoànthành luận án Hơn hết, thầy giúp tôi rèn luyện không ngừng để dần trưởng thànhtrong học thuật-chuyên môn, hoàn thiện nhân cách cùng tính chuyên nghiệp trongcông tác khoa học và cuộc sống Thầy truyền cho tôi động lực, sự kiên định, niềmtin lớn lao để hoàn thành đề tài nghiên cứu này và để tiếp tục con đường khoa học
mà tôi đã chọn
Tôi chân thành cảm ơn
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, MÔI TRƯỜNG VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 1.1.1.Lịch sử hình thành vùng Tứ Giác Long Xuyên 7
1.1.2.Vị trí và đặc điểm địa hình vùng Tứ Giác Long Xuyên 12
1.1.3.Các khu vực địa lý của vùng Tứ Giác Long Xuyên 13
1.1.4.Vùng Tứ Giác Long Xuyên trong bối cảnh địa lý miền Tây Nam Bộ 14
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.2.1.Thời kỳ trước năm 1975 15
1.2.2.Thời kỳ từ sau năm 1975 đến nay 17
1.3 CÁC KHÁI NIỆM VÀ KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1.3.1.Các khái niệm 24
1.3.2.Khung lý thuyết 26
1.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2: DI TÍCH, DI VẬT TIỀN ÓC EO Ở VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 2.1 TÍCH DI 2.1.1.Di tích tiền Óc Eo ở khu vực Núi Sam-Bảy Núi 33
2.1.2.Di tích tiền Óc Eo ở khu vực Hà Tiên-Rạch Giá 42
2.1.3.Di tích tiền Óc Eo và Óc Eo sớm ở khu vực Thoại Sơn-Núi Sập 45
Trang 72.2 DI VẬT
2.2.1 Đồ đá 52
2.2.1.1 Công cụ đá 53
2.2.1.2 Dụng cụ chế tác đá 57
2.2.1.3 Đồ trang sức bằng đá 58
2.2.2 Đồ thủy tinh 60
2.2.3 Đồ kim loại 60
2.2.3.1 Đồ vàng 60
2.2.3.2 Đồ chì-thiếc 61
2.2.4 Đồ đất nung 61
2.2.4.1 Tượng đất nung 61
2.2.4.2 Dụng cụ chế tác, sản xuất bằng đất nung 61
2.2.4.3 Vật liệu kiến trúc-ngói lợp 63
2.2.5 Đồ gốm 64
2.2.5.1 Phân loại gốm tiền Óc Eo và Óc Eo sớm vùng Tứ Giác Long Xuyên 64
2.2.5.2 Các loại hình gốm tiêu biểu trong các di tích tiền Óc Eo và Óc Eo sớm ở vùng Tứ Giác Long Xuyên 80
2.2.5.3 Các loại đồ gốm khác 91
2.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 93
CHƯƠNG 3: CÁC DI TÍCH TIỀN ÓC EO Ở VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN ĐẶC TRƯNG, NIÊN ĐẠI VÀ QUAN HỆ VĂN HÓA
3.1 ĐẶC TRƯNG DI TÍCH
Trang 83.1.1 Phân bố di tích 95
3.1.2 Loại hình di tích 96
3.1.1.1 Di tích cư trú 96
3.1.1.2 Di tích mộ táng 99
3.1.1.3 Di tích cư trú-xưởng thủ công 99
3.2 ĐẶC TRƯNG DI VẬT 101
3.3 NIÊN ĐẠI VÀ PHÂN KỲ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VĂN HÓA 3.3.1 Niên đại 107
3.3.2 Phân kỳ các giai đoạn phát triển tiền Óc Eo-Óc Eo sớm ở vùng Tứ Giác Long Xuyên 111
3.4 VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN TRONG BỐI CẢNH VĂN HÓA TIỀN ÓC EO-ÓC EO SỚM Ở NAM BỘ VÀ KHU VỰC 3.4.1 Quan hệ văn hóa giữa vùng Tứ Giác Long Xuyên với vùng Vàm Cỏ-Đồng Tháp Mười 115
3.4.2 Quan hệ văn hóa giữa vùng Tứ Giác Long Xuyên với miền Đông Nam Bộ .123
3.4.3 Quan hệ văn hóa giữa vùng Tứ Giác Long Xuyên với duyên hải miền Trung Việt Nam 131
3.4 4 Quan hệ văn hóa giữa vùng Tứ Giác Long Xuyên với khu vực Đông Nam Á .133
3.4.5 Quan hệ giữa vùng Tứ Giác Long Xuyên với Ấn Độ 135
3.5 SỰ HÌNH THÀNH ĐÔ THỊ CỔ ÓC EO VÀ VẤN ĐỀ CHỦ NHÂN VĂN HÓA ÓC EO 3.5.1 Sự hình thành đô thị cổ Óc Eo 137
Trang 93.5.2 Vấn đề chủ nhân văn hóa Óc Eo 140
3.6 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 143
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
PHỤ LỤC 175
BẢN THỐNG KÊ 176
BIỂU ĐỒ 200
HÌNH ẢNH 207
Trang 10BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TCN - Before Christ (trước Công nguyên)
l’Indochine (Tập san của Ủy ban Khảo cổ học Đông Dương)
BFEO - Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême-Orient (Tập san của Viễn đông Bác cổ Pháp)
BP - Before Present (cách ngày nay)
BSEI - Bulletin de la Société des Études Indochinoises
KHXH&NV - Khoa học Xã hội và Nhân văn
MSVĐKCHMNVN - Một số vấn đề về khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam.NPHMVKCH - Những phát hiện mới về khảo cổ học
Trang 11TPHCM - Thành phố Hồ Chí Minh.
TTKCH - Trung tâm Khảo cổ học
VHOE&VHCĐBSCL- Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long
VHOE&VQPN - Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU SỬ DỤNG TRONG CHÍNH VĂN
Bảng 1.1: Thống kê diễn biến mực nước biển qua các đợt biển tiến-thoái Holocene [146, tr.75-76]
Bảng 2.1: Thống kê các di tích tiêu biểu thời tiền Óc Eo và giai đoạn Óc Eo sớm ở vùng Tứ Giác Long Xuyên [108] [109] [148] [172]
Bảng 2.2: Thống kê chung hiện vật phát hiện ở di chỉ Gò Cây Tung [162] [166] [170] [108]
Bảng 2.3: Thống kê chung hiện vật phát hiện tại di tích An Phú [108] [172]
Bảng 2.4: Thống kê chung hiện vật phát hiện tại di tích Gò Cây Sung [108] [172] Bảng 2.5: Thống kê hiện vật phát hiện ở di tích Phum Quao [104] [108]
Bảng 2.6: Thống kê hiện vật phát hiện ở di tích Gò Me-Gò Sành [104] [108]
Bảng 2.7: Thống kê hiện vật phát hiện tại di tích K9 (năm 2006) [101]
Bảng 2.8: Thống kê chung hiện vật đá phát hiện ở vùng TGLX [9] [166] [170] [108] [172]
Bảng 2.9: Thống kê công cụ đá phát hiện ở vùng TGLX [9] [166] [170] [108] [172] Bảng 2.10: Thống kê đặc điểm nhóm công cụ rìu hình thang đốc hẹp [Tác giả].Bảng 2.11: Thống kê đặc điểm nhóm công cụ rìu hình thang đốc rộng [Tác giả] Bảng 2.12: Thống kê đặc điểm công cụ rìu hình vuông sắc cạnh [Tác giả]
Bảng 2.13: Thống kê đặc điểm nhóm phác vật công cụ đá [Tác giả]
Bảng 2.14: Thống kê số liệu, đặc điểm kỹ thuật nhóm rìu đá có vai [Tác giả]
Bảng 2.15: Thống kê số liệu, đặc điểm kỹ thuật nhóm hiện vật cuốc không có vai [Tác giả]
Trang 13Bảng 2.16: Thống kê số liệu, kích thước nhóm loại hình hiện vật cuốc có vai [Tác giả].
Bảng 2.17: Thống kê mảnh vỡ công cụ đá tìm thấy trong các di tích ở vùng TGLX [Tác giả]
Bảng 2.18: Thống kê số lượng vòng trang sức đá ở vùng TGLX [9] [166] [170] [108][172]
Bảng 2.19: Thống kê hiện vật vòng đá phát hiện ở vùng TGLX [tác giả]
Bảng 2.20: Thống kê các tỷ lệ kích thước vòng đá ở vùng TGLX [tác giả]
Bảng 2.21: Thống kê hiện vật vòng đá phát hiện ở di tích Rạch Rừng [Tác giả].Bảng 2.22: Thống kê hiện vật vòng đá phát hiện ở di tích Gò Ô Chùa [41] [64] [tác giả]
Bảng 2.23: Thống kê số liệu hạt chuỗi thủy tinh ở di tích K9 và Gò Cây Thị [65] [101]
Bảng 2.24: Thống kê hiện vật gốm-đất nung tiền Óc Eo-Óc Eo sớm vùng TGLX [5] [6] [9] [32] [108] [111] [166] [170] [172]
Bảng: 2.25: Thống kê chất liệu phân loại được ở các di tích tiền Óc Eo và Óc Eo sớm ở vùng TGLX [5] [6] [9] [32] [166] [170] [108] [172]
Bảng 2.26: Thống kê tỷ lệ chất liệu gốm loại 1 (“gốm thô truyền thống”) so với các loại gốm khác ở di chỉ Gò Cây Tung [166] [170]
Bảng 2.27: Thống kê tỷ lệ các loại chất liệu gốm ở di chỉ K9 [101]
Bảng 2.28: Thống kê chất liệu gốm di chỉ Giồng Xoài [4] [5]
Bảng 2.29: Thống kê chất liệu gốm trong lớp cư trú sớm ở di tích Óc Eo-Ba Thê [5] [111]
Trang 14Bảng 2.30: Thống kê so sánh tỷ lệ gốm loại 4, loại 5 và 6 trong các di tích tiền Óc Eo-Óc Eo sớm ở vùng TGLX [tác giả].
Bảng 2.31: Thống kê mảnh đồ đựng gốm các loại phát hiện ở di chỉ Gò Cây Tung [9] [108] [166] [170] [172]
Bảng 2.32: Thống kê số lượng mảnh thân có và không có hoa văn [9] [108] [162] [166] [170] [172]
Bảng 2.33: Thống kê các loại hoa văn trên gốm ở di chỉ Gò Cây Tung [9] [108] [162] [166] [170] [172]
Bảng 2.34: Thống kê so sánh tỷ lệ các loại hoa văn trong các di tích tiền Óc Eo và
Óc Eo sớm ở vùng TGLX [4] [5] [9] [108] [162] [166] [170] [172]
Bảng 2.35: Thống kê tổng hơp loại hình hiện vật cà ràng phát hiện trong các di tích tiền Óc Eo và Óc Eo sớm ở vùng TGLX [9] [108] [109] [111] [162] [166] [170][172]
Bảng 2.36: Thống kê hiện vật cà ràng (loại 1) phát hiện ở di chỉ Gò Cây Tung [9] [108] [109] [111] [162] [166] [170] [172]
Bảng 2.37: Thống kê chung gốm loại hình 11 (“nồi nấu kim loại”) phát hiện trong các di tích ở vùng TGLX [9] [108] [109] [111] [162] [166] [170] [172]
Bảng 2.38: Thống kê số lượng mảnh gốm loại hình 10 phát hiện ở di tích Gò Cây Tung từ năm 1994 đến 2015 [9] [108] [109] [111] [162] [166] [170] [172]
Bảng 2.39: Thống kê tổng hợp theo giai đoạn văn hóa gốm loại hình 10 ở Gò Cây Tung [tác giả]
Bảng 3.1: Thống kê các di tích tiền Óc Eo tiêu biểu ở vùng Vàm Cỏ-Đồng Tháp Mười
Bảng 3.2: Bảng Thống kê cao độ các di tích tiền Óc Eo ở vùng TGLX
Trang 15Bảng 3.3: Thống kê kết quả phân tích niên đại 14C các di tích Tiền Óc Eo vùng TGLX
Bảng 3.4: Bảng hệ thống đặc điểm tình trạng công cụ đá ở vùng Tứ Giác Long Xuyên
Trang 16DANH MỤC BIỂU ĐỒ SỬ DỤNG MINH HỌA TRONG LUẬN ÁN
Biểu đồ 1.1: các đợt dao động nước biển tiến-thoái trong Holocene [146]
Biểu đồ 1.2: diễn biến dao động mực nước biển qua các đợt biển tiến-thoái trong Holocene - từ 4.300 BP đến 665 AD ở Nam Bộ [Bảng 2.1] [146]
Biểu đồ 2.1: Diễn biến tỷ lệ các chỉ số vòng đá ở vùng Tứ Giác Long Xuyên [bảng 2.19] [bảng 2.20]
Biểu đồ 2.2: tỷ lệ các loại chất liệu gốm giai đoạn 2 - Di tích K9 [bảng 2.27]
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ tỷ lệ các loại chất liệu gốm giai đoạn Óc Eo sớm - di tích Gò
Trang 17DANH MỤC PHỤC LỤC MINH HỌA
Hình 1.1: Bản đồ phân vùng địa hình đồng bằng sông Cửu Long [Tác giả]
Hình 1.2: Bản đồ phân vùng địa chất miền Tây Nam Bộ [218]
Hình 1.3: Bản đồ phân vùng địa hình đồng bằng sông Cửu Long [91]
Hình 1.4: Bản đồ phân bố các đường bờ biển cổ từ 8.000 BP đến nay [165]
Hình 1.5: Các mẫu vỏ sò cổ ở Đồng Tháp Mười và vùng Tứ Giác Long Xuyên [Tác giả]
Hình 1.6: Bản đồ địa chất và phân bố các di tích tiền Óc Eo-Óc Eo sớm tiêu biểu ởđồng bằng sông Cửu Long trên các thềm phù sa cổ và giồng cát [Nền: 91; bổ sung:tác giả]
Hình 2.1: Bản đồ các di tích tiền Óc Eo ở vùng Tứ Giác Long Xuyên [Nền Google Map; bổ sung: tác giả]
Hình 2.2: Bản đồ các di tích khảo cổ học tiền Óc Eo – Óc Eo và hậu Óc Eo ở vùng
Tứ Giác Long Xuyên [Nền Google Map; bổ sung: tác giả]
Hình 2.3: Cảnh quan di tích Gò Cây Tung [9, tr.217]
Hình 2.4: Sơ đồ phân bố các hố khai quật năm 194,1995 và hố thám sát năm 2007 [166, 170; 9]
Hình 2.5: Mặt cắt bắc-nam Gò Cây Tung và vị trí các hố khai quật, thám sát năm
1994, 1995 và 2007 [9] [166] [170]
Hình 2.6: Khai quật di tích Gò Cây Tung 1994 [166]
Hình 2.7: Cấu trúc ền cư trú đất đắp và dấu tích mộ táng (năm 2007) [9] [172] Hình 2.8: Mặt cắt địa tầng di chỉ Gò Cây Tung - Hố 95GCT.HII [170]
Hình 2.9: Mặt cắt địa tầng di chỉ Gò Cây Tung - hố thám sát 07GCT.TS4 [9]
Hình 2.10: Các loại hiện vật gốm và đá phát hiện ở Gò Cây Tung [9] [109] [166]
Trang 18Hình 2.24: Hiện vật gốm tiền Óc Eo phát hiện ở di chỉ Giồng Xoài [4] [5]
Hình 2.25: Mặt cắt địa tầng di chỉ Gò Óc Eo và các loại hình gốm tiêu biểu trong di chỉ cư trú Óc Eo sớm [211] [213]
Hình 2.26: Mặt cắt địa tầng Gò Óc Eo và các loại gốm trong lớp cư trú Óc Eo sớm [211] [212] [213]
Hình 2.27: Các loại hình di tích, di vật tiêu biểu phát hiện ở Gò Cây Thị [65] [211] Hình 2.28: Cấu trúc địa tầng di tích Gò Cây Thị [65] [211]
Hình 2.29: Di tích, di vật giai đoạn Óc Eo sớm ở di chỉ Gò Tư Trâm [5] [6]
Trang 19Hình 2.30: Cột địa tầng và các loại hiện vật tiêu biểu giai đoạn Óc Eo sớm - di chỉ
Gò Tư Trâm (2002, 2005) [5] [6]
Hình 2.30: Bản vẽ mặt bằng khai quật di tích Linh Sơn Nam 1998 (98OE.LS1) [210]
Hình 2.31: Di tích kiến trúc, mộ vò Linh Sơn Nam [5] [210] [tác giả]
Hình 2.32: Công cụ đá – các loại rìu không có vai [tác giả]
Hình 2.33: Công cụ đá – bản vẽ các loại rìu không có vai [9] [166] [170] [172] Hình 2.34: Cuốc, mảnh cuốc không vai, thân hình trụ [9] [tác giả]
Hình 2.35: Công cụ đá - cuốc hình trụ [9] [108] [166]
Hình 2.36: Phác vật công cụ, công cụ hình oval, đục tứ giác [9] [108] [166] [170]Hình 2.37: Các loại công cụ có vai tiêu biểu ở vùng Tứ Giác Long Xuyên [5] [6] [172]
Hình 2.38: Sưu tập các loại công cụ đá có vai phát hiện ở vùng Tứ Giác Long Xuyên [5] [6] [172] [206]
Hình 2.39: Vòng trang sức bằng đá phiến, lõi vòng, bàn mài lõi ở vùng Tứ Giác Long Xuyên [166] [170] [206]
Hình 2.40: Các loại bàn mài bằng, bàn mài rãnh trong các di tích tiền Óc Eo ở vùng
Tứ Giác Long Xuyên [108] [170]
Hình 2.41: Trang sức bằng đá quý, thủy tinh, kim loại [65] [101]
Hình 2.42: Tượng thú bằng đất nung và chạc gốm [32] [162] [170]
Hình 2.43: Các loại chạc gốm phát hiện trong các di tích tiền Óc Eo và Óc Eo sớm
ở vùng Tứ Giác Long Xuyên [101] [162] [206]
Hình 2.44: Ngói lợp kiến trúc [5] [6]
Trang 20Hình 2.45: Bảng phân loại loại hình miệng, chân đế, vòi bình gốm tiền Óc Eo và giai đoạn Óc Eo sớm ở vùng Tứ Giác Long Xuyên [tác giả]
Hình 2.46: Bảng phân loại loại hình “nồi nấu kim loại”, cà ràng, nắp đậy [tác giả]Hình 2.47: Bảng phân loại các loại hình hoa văn gốm tiền Óc Eo và Óc Eo sớm ở vùng
Tứ Giác Long Xuyên [6] [65] [101] [166] [170]
Hình 2.48: Gốm loại hình 1-Đĩa hoặc tô sâu lòng [166] [170]
Hình 2.49: Gốm loại hình 2 [166] [170]
Hình 2.50: Gốm loại hình 3-Tô gốm sâu lòng [101] [109]
Hình 2.51: Gốm loại hình 4-Vò gốm thân hình cầu, vành miệng đắp gờ cao [166] [170]
Hình 2.52: Gốm loại hình 5-đồ đựng có thân hình cầu, miệng loe xiên khum [166] [170]
Hình 2.53: Gốm loại hình 6-đồ đựng có miệng loe xiên thẳng, vành bẻ lật [170] Hình2.54: Gốm loại hình 7-Vò hình cầu có miệng thấp, vành miệng đắp dầy [7]
Hình 2.55: Loại hình 8-Vò hình cầu có miệng loe xiên khum hoặc miệng tròn khum [7] [166] [170]
Hình 2.56: Loại hình 9-Đồ đựng hình cầu, vành miệng loe thấp đắp dầy [6] [101] Hình 2.57: Gốm loại hình 10 - Vò gốm hình cầu có miệng loe xiên [tác giả]
Hình 2.58: Gốm loại hình 11 (“nồi nấu kim loại”) [108] [162] [166] [170]
Trang 21Hình 2.62: Gốm loại 16b-Bình/vò gốm miệng loe xiên [101]
Hình 2.63: Gốm loại 17-Bình gốm có thân hình cầu [5] [6]
Hình 2.64: Gốm loại 18-Tô, bát có đáy tròn [5] [6] [101] [109]
Hình 2.65: Gốm loại 19-Bát bồng chân cao, gốm mịn đen loại 5 [101] [tác giả] Hình 2.66: Gốm loại hình 20 - Ly chân cao (chất liệu gốm mịn loại 6) [5] [108]Hình 2.67: Gốm loại hình 21 - Nắp đậy các loại (gốm mịn loại 6) [5] [9] [101] [170]Hình 2.68: các loại nắp đậu thuộc loại gốm loại hình 14 và loại hình 21 [tác giả] Hình 2.69: Các loại đồ đựng gốm kiểu Kalanay (di chỉ Gò Tư Trâm) [5] [6]
Hình 2.69: Loại hình hiện vật chai gốm [9] [206] [tác giả]
Hình 2.70: Các loại đồ gốm ngoại nhập [6] [tác giả]
Hình 2.71: Bản dập hoa văn gốm - văn kỹ thuật (văn thừng) [5] [101]
Hình 2.72: Bản dập các loại hoa văn có nguồn gốc ngoại nhập [5] [6] [65] [108]Hình 3.1: Bản đồ các di tích khảo cổ học tiền Óc Eo và Óc Eo sớm ở Nam Bộ [Nền bản đồ Nam Bộ, bổ sung: tác giả]
Hình 3.2: Một số loại hình gốm tiêu biểu ở di chỉ Lò Gạch (Long An) [tác giả]Hình 3.3: So sánh một số loại miệng gốm Gò Cây Tung (giai đoạn 1) với miệng gốm tiêu biểu ở di chỉ Lò Gạch (Vàm Cỏ Tây) [166] [170] [tác giả]
Hình 3.4: Một số loại hình gốm tiêu biểu ở di chỉ Gò Cao Su (Vàm Cỏ Đông) [tác giả]
Hình 3.5: Các loại đồ gốm tiêu biểu ở di tích Gò Hàng (Đồng Tháp Mười) [tác giả] Hình 3.6: Các loại đồ gốm tiêu biểu ở di tích Gò Ô Chùa [72] [137]
Hình 3.7: Loại hình cà ràng, chạc gốm và các loại đồ trang sức ở di tích Gò Ô Chùa [72]
Trang 22Hình 3.8: Mộ vò Linh Sơn Nam với mộ vò Gò Ô Chùa, Giồng Lớn, Hòa Diêm [12] [147] [210] [tác giả]
Hình 3.9: So sánh vò gốm Óc Eo với vò gốm ở di tích Hòa Diêm [147] [tác giả]Hình 3.10: So sánh gốm Kalanay ở Óc Eo với gốm thuộc truyền thống Kalanay ở Hòa Diêm [7] [147]
Hình 3.11: Một số loại hình công cụ đá tiêu biểu ở di tích Samrong Sen (Campuchia) [200]
Hình 3.12: Bảng phân loại loại hình và niên đại của các loại ngói ở Ấn Độ [216]Hình 3.13: So sánh ngói phát hiện ở phía đông Ấn Độ và vùng Tứ Giác Long Xuyên [6] [183] [205]
Hình 3.14: Bản đồ phân bố ngói cổ ở Ấn Độ và khu vực Đông Á tư thế kỷ I BC sang đầu Công nguyên [183]
Trang 23MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa Óc Eo (VHOE) là một bộ phận trong lịch sử hình thành, phát triểnvùng đất Nam Bộ Nền văn hóa này được xem là cơ sở vật chất của nhà nước cổ đại
ra đời sớm nhất ở khu vực Đông Nam Á (ĐNÁ)-vương quốc Phù Nam [100,tr.161] Sau hơn bảy thập niên phát hiện và nghiên cứu, diện mạo của VHOE dầnđược làm rõ, từ không gian phân bố, đặc trưng-quan hệ văn hóa, niên đại… đều đạt
có những thành tựu quan trọng
Vấn đề nguồn gốc và chủ nhân của VHOE là một đối tượng nghiên cứu quantrọng và được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Paul Pelliot (1903) và George E.Coedes (1944, 1947) khi nghiên cứu về lịch sử các quốc gia cổ đại ở Đông Nam Áđều xem văn hóa bản địa được hình thành từ thời tiền sử chính là nền tảng cho
sự tiếp nhận, trao đổi và lan tỏa của văn minh Ấn Độ [15, tr.20, 37] [134, tr.56]
Cơ tầng bản địa này là nhận tố quan trọng góp phần thúc đẩy sự hình thành cácnhà nước sớm trong khu vực vào đầu Công nguyên như Phù Nam hay Lâm Ấp
Ngay buổi đầu khám phá VHOE, từ việc đồng nhất VHOE với văn minh PhùNam, L Malleret đã nhận thấy nó là sản phẩm từ sự kết hợp của nhiều yếu tố vănhóa ngoại nhập với truyền thống văn hóa bản địa thông qua trao đổi thươngmại, giao lưu [100, tr.178] Đồng thời ông cũng tìm hiểu mối quan hệ nguồn gốctrực tiếp giữa VHOE với các văn hóa tiền sử bản địa qua so sánh và phân tíchnhững nét gần gũi giữa các loại đồ đá, đồ gốm phát hiện ở miền tây sông Hậu vớicác hiện vật cùng loại thuộc văn hóa Sa Huỳnh, Đông Sơn, các di tích Cù LaoRùa, Samrong Sen, Mlu Prei hay khu vực cao nguyên Trấn Ninh [98, tr.10, 19] [100,tr.179]
Vào cuối thập niên 70 sang đầu thập niên 80 thế kỷ XX, nhiều phát hiện mới
về thời Tiền-Sơ sử Nam Bộ đã góp phần bổ sung cho việc nhận diện nguồn gốcVHOE Theo đó, văn hóa này hình thành từ sự kết tinh của hai thành tố nội sinh và
Trang 24ngoại nhập, hội tụ từ sự phát triển đa tuyến với vai trò cơ bản của cơ tầng bản địa.
Trang 25Những phát hiện ở đáng chú ý đến từ nhiều địa bàn khác nhau, từ caonguyên Long Khánh, vùng cận biển Nhơn Trạch (Đồng Nai), Cần Giờ (Tp Hồ ChíMinh), bán đảo Long Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), lưu vực sông Vàm Cỏ, Đồng ThápMười (Long An và Đồng Tháp), đến miền núi sót ở miền Tây Nam Bộ… Qua đógóp phần nhận diện các yếu tố mầm mống cho sự ra đời của VHOE, về nhữngchuyển biến mạnh mẽ ở Nam Bộ trong nửa cuối thiên niên kỷ I trước Côngnguyên sang đầu Công nguyên, từ xã hội tiền sử sang thời sơ sử, về mối quan
hệ chuyển tiếp giữa giai đoạn đầu của VHOE (giai đoạn Óc Eo sớm hay Óc Eo sơ kỳ)với giai đoạn văn hóa trước đó (trước VHOE hay tiền Óc Eo) Quá trình phát triển
này được biết đến phổ biến qua giả thuyết về các “tuyến”, các “con đường” phát
triển lên VHOE.Trên không gian Nam Bộ, vùng TGLX có mức độ tập trung đậm đặc các ditích khảo cổ học thuộc phạm trù VHOE cũng như thời tiền Óc Eo được xem là cóquan hệ trực tiếp đối với sự hình thành của nền văn hóa này Những phát hiệnkhảo cổ học trên vùng đất này đã góp phần quan trọng cho nhận thức về nềnVHOE, bao gồm nguồn gốc và sự hình thành của nó
Tuy nhiên, dù đã được nhận diện từ nhiều góc độ tiếp cận, song tình hình
tư liệu hiện nay về VHOE nói chung và vấn đề nguồn gốc VHOE nói riêng đang còntản mạn, chưa được thu thập và nghiên cứu đầy đủ Thực tế này khiến côngtác nghiên cứu và tổng hợp về các vấn đề có liên quan, bao gồm việc nhận diệnđặc điểm hình thành của VHOE còn nhiều nội dung chưa được làm rõ Nó đặt rayêu cầu hệ thống tư liệu để phân tích và tổng hợp, làm rõ các đặc trưng văn hóa
là một nhu cầu cấp thiết hiện nay trong nghiên cứu VHOE, cụ thể là qua đó làm rõtính kế thừa trong quá trình phát triển từ thời tiền Óc Eo đến VHOE
Từ yêu cầu thực tế trên và tính thực tiễn cao đối với việc nghiên cứu và nhận
thức VHOE hiện nay, chủ để “Các di tích tiền Óc Eo vùng Tứ Giác Long Xuyên trong quá trình hình thành văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ” được chọn làm
nội dung đề tài luận án tiến sĩ Khoa học lịch sử-chuyên ngành Khảo cổ học Mụctiêu của luận án là phân tích, làm rõ đặc trưng văn hóa của thời tiền Óc Eo, mối
Trang 26quan hệ của nó với giai đoạn đầu của VHOE ở vùng TGLX và đặt trong bối cảnh
Trang 27nhận thức chung về VHOE ở vùng đất Nam Bộ Đây là cơ sở để xem xét những tiền
đề quan trọng góp phần vào sự hình thành nền văn hóa này
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích của luận án
* Mục đích chung: làm rõ mối quan hệ văn hóa giữa thời kỳ tiền Óc Eo và
giai đoạn sớm của VHOE ở Nam Bộ và sự hình thành của nền văn hóa này
* Mục đích cụ thể:
-Hệ thống toàn bộ tư liệu tiền Óc Eo và Óc Eo sớm ở vùng TGLX
-Xác định đặc trưng văn hóa, đặc điểm quan hệ văn hóa, niên đại và phân kỳcác giai đoạn phát triển từ tiền Óc Eo sang giai đoạn đầu của VHOE ở vùng TGLX
2.2 Nhiệm vụ của luận án
Nhiệm vụ của luận án để làm rõ các nội dung sau:
-Nội hàm của khái niệm “tiền Óc Eo”
-Xác định đặc trưng văn hóa của các di tích tiền Óc Eo ở vùng TGLX
- Làm rõ quan hệ chuyển tiếp từ thời tiền Óc Eo sang văn hóa Óc Eo, cụ thể
là từ giai đoạn tiền Óc Eo sang giai đoạn sớm của VHOE ở vùng TGLX
- Nhận thức về truyền thống, đặc điểm phát triển và vai trò của các di tíchtiền Óc Eo ở vùng TGLX trong quá trình hình thành VHOE ở miền Tây Nam Bộ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là các di tích, di vật tiền Óc Eo và giai đoạn
Óc Eo sớm phát hiện ở vùng TGLX Nghiên cứu so sánh với các di tích, di vật cóliên quan ở miền Tây Nam Bộ và khu vực
Trang 283.2 Phạm vi nghiên cứu
* Không gian nghiên cứu: không gian nghiên cứu trực tiếp là vùng TGLX.
Bên cạnh đó, đồng bằng Nam Bộ và không gian rộng hơn trong khu vực cũng nằmtrong phạm vi nghiên cứu-so sánh của đề tài
* Khung thời gian nghiên cứu:
Để hoàn thành mục tiêu đề tài, luận án xác định các di tích thời tiền Óc Eo vàgiai đoạn sớm của VHOE là đối tượng nghiên cứu chính của luận án, phân tích vàlàm rõ đặc điểm phát triển từ thời Tiền sử sang Sơ sử; là làm rõ đặc trưng văn hóagiữa tiền Óc Eo và VHOE, làm rõ mối quan hệ chuyển tiếp từ tiền Óc Eo sang giaiđoạn Óc Eo sớm Vì vậy, khung thời gian nghiên cứu của đề tài nằm trong khoảng
từ thiên niên kỷ I trước Công nguyên (TCN) sang đầu Công nguyên (CN)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm duy vậtlịch sử và duy vật biện chứng để nhận diện quá trình phát triển văn hóa nội tại,các quan hệ, ảnh hưởng văn hóa qua từng giai đoạn phát triển, từ tiền Óc Eođến giai đoạn sớm của VHOE trên vùng TGLX
Phương pháp luận sử học được vận dụng trên cơ sở tập hợp nguồn sửliệu thông qua các tư liệu khảo cổ học, phân tích, làm rõ các đặc trưng văn hóahàm chứa bên trong nội dung của từng loại, từng nhóm tư liệu khảo cổ học khácnhau Từ đó tổng hợp chúng lại với mục đích làm rõ diễn trình phát triển văn hóaqua từng giai đoạn gắn với từng khung niên đại cụ thể, là cơ sở để nhận thứcmối quan hệ biện chứng, làm rõ tính kế thừa trong phát triển giữa các giai đoạnvăn hóa thông qua đặc điểm diễn biến loại hình di tích, di vật bên cạnh những yếu
tố mới phát sinh từ các quá trình sống, lao động và trao đổi giữa các cộng đồng[154, tr.152-163]
Trang 294.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành
Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành khảo cổ học được thực hiện gồm có
điền dã, khai quật hiện trường, đo vẽ… nhằm thu thập tư liệu; phương phápphân loại loại hình, thống kê định lượng kết hợp với mô tả, là những phươngpháp được vận dụng dụng trong xử lý tư liệu thu thập được Tập trung vào cácnghiên cứu so sánh để làm rõ các đặc trưng văn hóa, cụ thể là so sánh để làm rõtiền Óc Eo là gì, Óc Eo sớm là gì với những điểm giống-khác nhau như thế nào…
Phương pháp phân tích, tổng hợp: tư liệu sau khi thu thập được tiến
hành phân tích và liên kết, thống nhất các bộ phận, các mặt, các yếu tố đã đượcphân tích [154, tr.64] Kết quả phân tích được tổng hợp trên cơ sở làm rõ quan hệbiện chứng về sự tương đồng và dị biệt, là cơ sở cho việc đánh giá khách quan sựviệc, để làm rõ sự chuyển biến trong các đặc điểm văn hóa từ tiền Óc Eo sangVHOE ở vùng TGLX và Nam Bộ
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: phương pháp lịch sử được
vận dụng để mô tả sự vật gắn với cột địa tầng khảo cổ học, làm rõ đặc điểm phátsinh, phát triển văn hóa từ tiền Óc Eo sang VHOE ở vùng TGLX và trong bốicảnh Nam Bộ Thông qua quả nhận thức rõ các mối quan hệ truyền thống, cótính kế thừa trong phát triển cùng các mối quan hệ và tác động khách quan khácnhau, phương pháp logic giúp về quá trình phát triển này
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: sử dụng các phương pháp nghiên cứu
liên ngành như địa chất, cổ môi trường, nhân học, xã hội học, đô thị học… trongnhững trường hợp cụ thể nhằm xác định niên đại, giải thích những vấn đề vănhóa- cư dân trong quá trình chuyển biến từ tiền Óc Eo sang VHOE ở miền Tây NamBộ
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Hệ thống tư liệu, làm rõ đặc trưng cơ bản của các loại hình di tích-di vật tiền
Trang 30Óc Eo, niên đại và các giai đoạn phát triển từ tiền Óc Eo sang VHOE.
Trang 31Phân tích đặc điểm quá trình phát triển chuyền tiếp từ tiền Óc Eo sangVHOE, cụ thể là làm rõ mối quan hệ giữa giai đoạn tiền Óc Eo và Óc Eo sớm ởNam Bộ, đồng thời làm rõ vị trí-vai trò của các di tích tiền Óc Eo ở vùng TGLXtrong quá trình hình thành VHOE ở miền Tây Nam Bộ.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Tư liệu được tổng hợp, phân tích trong đề tài góp phần đem lại nguồn tưliệu đầy đủ đối với việc tìm hiểu, làm rõ vấn đề nguồn gốc và sự hình thành củaVHOE ở vùng TGLX và Nam Bộ Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõlịch sử buổi đầu hình thành và phát triển của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long,
cụ thể là đặc điểm quá trình hình thành và diện mạo của nền văn hóa đô thịxuất hiện sớm nhất trên vùng đất Nam Bộ
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xác lập một truyền thống pháttriển, nhận thức đầy đủ về một giai đoạn lịch sử quan trọng của vùng đất Nam Bộ
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm ba phần mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung được chiathành ba chương như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Gồm ba phần trình bày: 1- Khái quát đặc điểm địa lý, môi trường của vùng TGLX; 2- Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề nguồn gốc VHOE; 3- Các khái
niệm và khung lý thuyết nghiên cứu sử dụng trong luận án
Trang 32CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, MÔI TRƯỜNG VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN
1.1.1 Lịch sử hình thành vùng Tứ Giác Long Xuyên
Vùng TGLX là một bộ phận cấu thành quan trọng của đồng bằng sông CửuLong, được hình thành bắt nguồn từ sự dịch chuyển vỏ trái đất trong thời kỳ TânKiến Tạo và quá trình bồi tụ xen lẫn tác động của thủy triều theo xu hướng hạ thấp
dần của mực nước biển qua nhiều giai đoạn lâu dài và liên tục (Biểu đồ 1.1).
Vào cuối Kainozoi (Kỷ Neogen), cách nay khoảng 20 triệu năm, thuộc CánhTân (Pleistocene) đã diễn ra hàng loạt sự dịch chuyển xô húc lục địa Ấn Độ vào lụcđịa châu Á tạo nên các rãnh trượt ngang - dọc, góp phần hình thành khối nâng lớncho dãy Hymalaya và hàng loạt các khối nâng khác bên cạnh những khu vực sụt
lún, đứt gãy Đường đứt gãy ở phía nam Đông Dương được gọi là đứt gãy sông Hậu theo hướng đông bắc-tây nam Vỏ Trái Đất ở khu vực Nam Bộ Việt Nam và
một phần lãnh thổ Campuchia bị nứt nhiều nơi, gây ra các khối sụt lún không đều
Sự vận động này thúc đẩy hình thành hai khối nâng lớn ở Nam Trung Bộ Việt Nam
và Campuchia, mà xen giữa là các khối sụt lún và đường đứt gãy tạo ra những vùngtrũng rộng tới vài chục kilomet, kéo dài hàng trăm kilomet theo hướng tây bắc-đôngnam đến tận biển Đông, tạo lòng cho hệ thống sông Cửu Long Các cụm núi sót ởNam Bộ cũng hình thành từ quá trình này, phân bố kéo dài gần 100km phân bố trênđịa bàn hai tỉnh An Giang và Kiên Giang Ở phía đông từ xã Phú Hữu (huyện AnPhú) qua xã Vĩnh Tế (Châu Đốc), tập trung cao ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, đến xãVọng Thê và Vọng Đông rồi dừng lại ở thị trấn Núi Sập (huyện Thoại Sơn)thuộc tỉnh An Giang Phía tây của vòng cung núi sót này có các nhóm núi Hòn Đất,
Ba Hòn, núi Đá Dựng… ở Kiên Giang, một số rải rác trong vịnh Thái Lan
Trang 33Sau giai đoạn kiến tạo này, sông Cửu Long trước đây chảy qua miền ĐôngNam Bộ (dấu tích để lại là những vùng phù sa cổ tuổi Pliocene và Pleistocene) đãdịch chuyển dần xuống phía nam Do tác động của hệ thống đứt gãy xuyên ĐôngDương hướng tây bắc-đông nam, con sông đã chuyển hướng tại Phnompenh
để chảy theo cùng hướng này [155, tr.255], bắt đầu tiến trình hình thành vùng châuthổ rộng lớn, theo đó, con sông đã vận chuyển vật liệu trầm tích xuống các vùngtrũng, tạo nên nhóm trầm tích đáy lòng sông
Dưới tác động của các đợt biển tiến Flandrian (18.000-10.000 BP) nước biển
đã tràn ngập khắp vùng Nam Bộ, góp phần lấp đầy những thung lũng sông và mởrộng trầm tích biển, đến khoảng 11.000-10.000BP thì chấm dứt Sự kết thúc nàytương ứng với thời điểm biển thoái và quá trình hoàn tất nhóm trầm tích
Pleistocene mà ngày nay gọi là phù sa cổ Dấu tích của đợt biển tiến này là các
bậc thềm biển cổ ở xung quanh khu vực núi Cấm, núi Dài, núi Phú Cường(huyện Tịnh Biên), nhóm đất trầm tích ở vùng Vĩnh Gia, Lạc Quới (huyện TriTôn) thuộc tỉnh An Giang và cụm Hòn Đất (huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang).Trên đồng bằng sông Cửu Long, lớp phù sa cổ có tuổi Pleistocene muộn, hìnhthành kéo dài đến khoảng 8.000BP Dải đất xám có kết cấu pha cát, xốp tơi, mềm
và nhẹ, độ phì thấp phân bố dọc theo rìa phía bắc của vùng đồng bằng châu thổphù sa mới, gần như chạy dọc theo biên giới Campuchia, từ khu vực Bảy Núi qua
bắc Đồng Tháp Mười đến Vàm Cỏ Tây (Hình 1.3) Từ đây, hình dạng cơ bản của
vùng TGLX đã định hình và tiếp tục hoàn thiện ở các giai đoạn sau qua những đợtbiển tiến-thoái từ Holocene I đến Holocene IV, góp phần hoàn tất quá trình thànhtạo châu thổ
Vào khoảng 4.500-4.000BC (tuổi tuyệt đối khoảng 6.450-5.950BP), đợt biểndâng mới bắt đầu lấn sâu vào đất liền (biển tiến Holocene I), đạt đỉnh điểm +4m,+5m để lại ngấn nước trên vách đá vôi ở Hà Tiên Nhiều vỏ sò cổ cũng được tìmthấy trên vùng đất châu thổ như khu vực Óc Eo (An Giang), các giồng như Giồng
Đá (Kiên Giang), Tân Hội, Nhị Quý, Cai Lậy (Tiền Giang), Chợ Lớn (TPHCM)… đượcgọi là trầm tích hệ tầng Hậu Giang [57, tr.10] Các bãi vỏ sò này được tìm thấy
Trang 34không quá sâu trong lớp phù sa mới, phần lớn là loại sò Crassostrea và Thai
Trang 35gradata ưa sống ở vùng cửa sông nhiều phù sa và bùn nước lợ Quanh núi Chóc, núi Tượng (Thoại Sơn, An Giang) có nhiều vỏ hàu Crassistrea gigantissma (Hình 1.5),
có tuổi khoảng 5.800BP [140, tr.445], là bằng chứng cho thấy nơi đây từng có môitrường cửa sông và chịu tác động rất mạnh từ thủy triều Sông Cửu Long lúc này đổ
ra biển qua ba cửa ở Châu Đốc, bắc Hà Tiên và Vàm Cỏ [178, tr.70]
Mực nước biển tiếp tục hạ thấp xuống theo các xung nhịp dao động củacác đợt biển tiến-thoái Holocene tạo nên những bậc thềm biển có xu hướng hạthấp dần Đồng bằng sông Cửu Long dần lộ rõ ở các mức +3m (khoảng 4.300 BP).Quá trình dao động này tiếp tục ở mức +3m (2.950BC), +1,75m (2.350BC) và+1,25m [146, tr.76], hình thái châu thổ xuất hiện ngày một rõ nét
Cần nói thêm, thời điểm khoảng 3.600BP, mực nước biển hạ thấp khiến vùngTGLX dần lộ diện bên trên lớp bùn xanh có chứa sinh vật biển Diễn biến này gắnvới quá trình mở rộng cung bờ biển hướng về phía tây-tây nam và phía nam, đồngthời hình thành các giồng đất thấp như Giồng Đá có tuổi 14C là 3.430 ± 110 BP[146, tr.81] Tác động đào khoét sâu của thủy triều đã tạo nên các nhánh sông kiểu
lạch triều có cửa sông lớn và thông ra vịnh Thái Lan, dòng chảy ngắn tỏa nhánh
vào nội địa và kết thúc mà không nối với sông Hậu, ngày nay có sông Giang Thành,Vĩnh Điều (Hà Tiên), Cái Bé, Cái Lớn hay Vĩnh Thanh (Kiên Giang và Hậu Giang) Dấutích các cửa sông này là trầm tích biển đầm lầy, các lớp vỏ hàu ở quanh núiChóc, Ba Thê (An Giang), Giồng Đá (Kiên Giang)…, cùng với những giồng thấpđược hình thành do gió và dòng chảy tích tụ nên
Giai đoạn 3.100-2.800BP, mực nước biển dao động dâng lên (biển tiếnHolocene II) đạt đỉnh +3m vào khoảng 2.900 BP Đến khoảng 2.800-2.400 BP, mựcnước dừng ở +2m đến +1,5m và có dao động hạ thấp dần (biển thoái Holocene II)khiến bồn trũng Cửu Long lộ ra trên bề mặt và được bồi lấp, lan rộng dần về phíanam và phía tây, đồng bằng châu thổ được mở rộng nhanh chóng Các đường
bờ biển của giai đoạn này là các giồng cát phân bố ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh,Bến Tre [57, tr.11] Theo đó, vùng đất này vẫn nằm trong vịnh Rạch Giá, khu vực từ
Óc Eo là một cửa sông lớn ở phía tây của vùng tứ giác mà dấu tích là các mẫu vỏ
Trang 36sò ở
Trang 37vịnh này (Rạch Giá) có tuổi vào khoảng 2.500±100BP [146,tr.74-85] Tương tự,vùng Đồng Tháp Mười hình thành từ sự chuyển biến của một vịnh biển ăn sâu vềphía Tây Ninh Vịnh này nối với một đầm lầy rộng lớn là nơi thoát nước của sôngCửu Long mà ngày nay được cho chính là lưu vực của hai nhánh sông Vàm Cỏ
Đông và Vàm Cỏ Tây Dấu tích cửa sông ở vùng này là lớp vỏ hàu Crassostrea,
tiêu biểu là các mẫu được tìm thấy ở khu vực Gò Tháp với tuổi tuyệt đối khoảng
3.000BP (Hình 1.5) Về sau, phù sa dần lấp đầy đã biến vịnh và đầm lầy thành vùng
trũng khép kín Đồng Tháp Mười cho đến như hiện nay [59, tr.4-5]
Về hình thế, vùng đất châu thổ được bao bọc bởi thềm cao phù sa cổ ởphía bắc-đông bắc và phía đông; phía tây là vùng vịnh Thái Lan; phía nam và đôngnam là tuyến đê tự nhiên tạo bởi các giồng các ven biển Sự hạ thấp dần củabiển làm đồng bằng châu thổ dần nổi lên trong khoảng 2.500BP Ngoại trừ cácthềm đất cao phù sa cổ, thì hầu hết các khu vực còn lại chịu ảnh hưởng rất lớn từthủy triều khiến cho gần như toàn bộ châu thổ bị ngập mặn [155, tr.32]
Sau hải thoái Holocene II, tốc độ bồi lắng theo dòng chảy sông Cửu Longdiễn ra nhanh chóng làm cho đồng bằng sông Cửu Long cơ bản hoàn thiện Bề mặtđồng bằng phù sa mới đã nổi cao song vẫn chịu tác động mạnh từ thủy triều nên
có tính chất của vùng thường ngập với hệ thực vật vùng cửa sông phát triển mạnh.Các mũi khoan ở Đá Nổi (Kiên Giang), Nhơn Thành (Cần Thơ), Gò Tháp (ĐồngTháp) cho thấy có sự chuyển đổi từ môi trường ngập mặn sang đầm lầy khi sự bồi
tụ đẩy dần các cửa sông lùi về phía tây và phía nam, tương ứng với dao động hạthấp mực nước biển từ khoảng 3.000 BP sang nửa đầu Công nguyên [77, tr.57]
Giai đoạn hải xâm Holocene III (2.150-2.000BP), nước biển dâng đạt mứccao nhất +0,4m so với hiện nay, cánh đồng Óc Eo vẫn là một cửa biển cho đến thờiđiểm khoảng 2.000BP [178, tr.70-71] Đến cuối giai đoạn này, (hải thoái HoloceneIII) mực nước biển hạ -0,5m (đầu Công nguyên đến 200-350AD), sông Mê Kông
đến Châu Đốc bắt đầu phân nhánh (sông Tiền và sông Hậu) dưới tác động mạnh của thủy triều tạo nên kiểu đồng bằng châu thổ mang đặc trưng đồng bằng triều thống trị (Hình 1.4).
Trang 38Các pha dao động hạ thấp mực nước biển trong Holocene II và III (bảng 1.1)
đã mở ra không gian rộng lớn của miền châu thổ trù phú, tạo nên sức hút mạnh
mẽ con người đến chinh phục và định cư Đặc điểm hình thành và phân bố củacác di tích tiền Óc Eo ở Nam Bộ phản ánh xu hướng lan phát triển từ thềm đất caoxuống các các gò-giồng đất thấp của đồng bằng châu thổ mới hình thành trên cáccửa sông Lớp văn hóa này hình thành trên nền sét biển, kết cấu sét pha cát hạtmịn màu xám đen có nhiều hạt cây, quả dừa nước, vỏ sò nước lợ [138, tr.431]
Phân tích các mẫu vỏ hàu, mẫu bào tử phấn hoa và thành phần khoánghọc thu thập được quanh khu vực núi Chóc, núi Tượng và trên cánh đồng Óc Eocho thấy từ khoảng 3.500BP đến đầu Công nguyên, nơi đây có điều kiện đặc trưngcủa môi trường ngập mặn-cửa sông [77, tr.55] [213, tr.19] Ở di tích Giồng Cu cũng
có lớp vỏ hàu crassistrea Ở Cạnh Đền (Kiên Giang) cũng có một lớp tích tụ của loài này phủ trên lớp văn hóa Óc Eo (Hình 1.5).
Đặc điểm phân bố di tích tiền Óc Eo và VHOE ở vùng TGLX như Giồng Cu, K9,
Óc Eo, Đá Nổi, Nền Chùa… phản ánh sự dao động hạ thấp dần mực nước biển, tácđộng đến xu hướng bồi tích và mở rộng nhanh chóng về phía đông và phía namcủa miền tây sông Hậu vào nửa cuối thiên niên kỷ I BC sang nửa đầu Công nguyên
Xu hướng này thể hiện sự dịch chuyển dần của các cửa sông từ rìa thềm phù sa cổquanh khu vực Núi Sam-Bảy Núi ra vịnh Rạch Giá và vùng U Minh Thượng
Quá trình bồi lắng và mở rộng đồng bằng gắn liền với dao động hạ thấp dầncủa mực nước biển giai đoạn hải thoái Holocene III (50-350AD) [146, tr.76] và cóthể thấy rõ nét qua đặc điểm sự dịch chuyển đường bờ biển rộng dần về phía
nam mà dấu vết để lại qua các trầm tích trên vùng đồng bằng (Biểu đồ 1.2) (Hình 1.2).
Trên cánh đồng Óc Eo và vùng phụ cận đã tìm thấy các vỉa vỏ sò sống ở cửasông… song từ khoảng đầu Công nguyên đã dần bị bồi lấp về phía tây-tây nam
Điều này đã tác động đến sự phát triển và thay đổi của đô thị cổ Óc Eo từ cảng thị thành đô thị có tiền cảng là Nền Chùa hình thành vào thế kỷ III-VII [32, tr.47-
48,431], kết nối qua con kênh đào (lung Lớn) dài 17km Kết quả phân tích niên đại
Trang 3914C trong lớp trầm tích của Lung Lớn (02OE.GCA1) vào khoảng thế kỷ II-III AD
Trang 40[213, tr.10, 22, 42], mà nhiều khả năng nó đã được cư dân cổ đào-vét dựa theodòng chảy cũ đã bị bồi tích.
Về cơ bản định dạng đồng bằng ở vùng TGLX có hai loại khác nhau:
- Đồng bằng phù sa có nguồn gốc trầm tích bồi lắng lâu dài của sông Mê
Kông, độ nghiêng nhỏ chỉ từ 0,5cm/km đến 1cm/km-đồng bằng châu thổ
đồng bằng kiểu sườn tích (deluvi).
Đồng bằng ven núi kiểu phù sa cổ có nguồn gốc từ phù sa sông ở thời kỳPleistocene phân bố tập trung chủ yếu ở các xã An Cư, xã Vĩnh Trung (Tịnh Biên,
An Giang), khu vực huyện Giồng Riềng và thị xã Hà Tiên (Kiên Giang)
Đồng bằng kiểu sườn tích hình thành từ quá trình phong hóa, xâm thựcbào mòn và rửa trôi trong điều kiện địa hình có độ dốc lớn, tập trung quanhchân các khối núi sót như núi Cấm, núi Dài, núi Cô Tô, núi Ba Thê
1.1.2 Vị trí và đặc điểm địa hình vùng Tứ Giác Long Xuyên
Vùng TGLX là bộ phận cấu thành quan trọng ở phía tây bắc của đồng bằngsông Cửu Long, có diện tích vào khoảng gần 4.900 km2, bốn đỉnh của tứ giác làLong Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên và Rạch Giá, phân bố trên địa bàn tỉnh An Giang và
Kiên Giang, một phần nhỏ thuộc phía bắc thành phố Cần Thơ (Hình 1.1) Phía
nam và tây nam tiếp giáp với các vùng đất thấp trũng Ô Môn-Phụng Hiệp và UMinh Thượng; về phía đông là tuyến “đê” tự nhiên dọc theo sông Hậu, ngoài tuyến
đê này là dải đất nằm giữa hai sông Tiền và sông Hậu, ngăn cách vùng TGLX vớiĐồng Tháp Mười; phía bắc giáp vương quốc Campuchia, có đặc điểm tương tự vànối liền với khu vực thềm cao ở phía bắc của vùng tứ giác; về phía tây là cung bờbiển kéo dài từ Hà Tiên đến Rạch Sỏi (Kiên Giang) Trên tổng thể, vùng TGLX là cửangõ phía tây của đồng bằng châu thổ mở ra biển tây qua vùng vịnh Thái Lan
Địa hình vùng TGLX đan xen giữa đồi-núi và đồng bằng, là sự kết hợp giữathềm cao phù sa cổ và đồng bằng thấp phù sa mới Các khối núi sót tập trung ở