1. Trang chủ
  2. » Tất cả

sang kien 1

45 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: “Làm thế nào để vừađảm bảo chất lượng học tập cho toàn lớp, đồng thời vừa đáp ứng nhu cầu họctập của trẻ khó khăn học tập trong trường học hiện nay?” Muốn

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Giáo dục Tiểu học là cấp học cơ bản và nền tảng trong toàn bộ hệ thốnggiáo dục quốc dân Giáo dục Tiểu học góp phần hình thành những cơ sở ban đầucho sự nghiệp phát triển đúng đắn và lâu dài của nhân cách, phát triển toàn diện

và hài hòa về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để các

em có thể học tập tiếp lên các bậc học cao hơn Chính vì thế, chú trọng hìnhthành và phát triển tri thức ban đầu cho HS Tiểu học, góp phần đào tạo conngười mới trong xã hội là vai trò hàng đầu của nền giáo dục nước ta nói chung

và giáo dục Tiểu học nói riêng

Môn Toán là một trong những môn học cơ bản trong nội dung chươngtrình dạy học ở bậc Tiểu học Môn Toán có vai trò giúp HS hình thành những trithức cơ bản ban đầu về số học, đo đại lượng thông dụng, một số yếu tố ban đầu

về đại số, hình học, hình thành kỹ năng thực hành tính toán, giải toán có lời văngóp phần phát triển năng lực cá nhân đồng thời chuẩn bị công cụ về kỹ năng vàphương pháp tư duy để HS có thể học các môn khác Trong đó nội dung về sốhọc và các yếu tố đại số là một nội dung quan trọng trong môn Toán ở Tiểu họcnói chung và lớp 3 nói riêng Đây là đơn vị kiến thức cơ bản đầu tiên mà HS cầnnắm được Nội dung số học và các yêu tố đại số đươc trải đều từ đầu cấp họcđến cuối cấp học và là đơn vị kiến thức tiền đề giúp các em học những nội dungtoán học khác

Lớp 3 là thời kì quan trọng đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp kiến thức từđơn giản đến phức tạp để hình thành các kĩ năng cơ bản làm tiền đề cho các emtiếp tục phát triển cả về kĩ năng lẫn tri thức ở các lớp trên

Đối với đa số HS có thể chất và tinh thần ổn định, bình thường sẽ tiếp thucác kiến thức toán học một cách dễ dàng Thậm chí, các em có thể giải được một

số bài toán vận dụng nâng cao nhờ vào tư duy suy luận của bản thân Tuy nhiên,

HS học hòa nhập có nhiều hạn chế trong phát triển tư duy đặc biệt là tư duylogic nên dẫn tới việc các em gặp nhiều khó khăn trong học tập nhất là với mônToán

Trẻ em nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng đều là tương lai của đấtnước Điều 23 của Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em đã thừa nhận:

Trang 2

“Trẻ em khuyết tật có quyền được chăm sóc đặc biệt, được hưởng quyền giáodục bình đẳng, được đào tạo để có điều kiện hòa nhập vào xã hội, phát triểnnhân cách cả về mặt thể chất lẫn tinh thần nhằm giúp trẻ tham gia tích cực vàocộng đồng.”

Trong tình hình giáo dục liên tục đổi mới hiện nay, giáo dục hòa nhập trẻ

em khuyết tật được tiếp tục đẩy mạnh Bản chất của dạy học hòa nhập cho HSkhuyết tật nói chung và HS khó khăn học tập nói riêng là dạy học dựa trên nhucầu và khả năng của trẻ Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: “Làm thế nào để vừađảm bảo chất lượng học tập cho toàn lớp, đồng thời vừa đáp ứng nhu cầu họctập của trẻ khó khăn học tập trong trường học hiện nay?” Muốn làm được điềunày, đòi hỏi GV phải hết sức linh hoạt trong việc điều chỉnh mục tiêu bài học,nội dung và phương pháp giảng dạy để HS gặp khó khăn học tập tham gia tíchcực vào quá trình học tập cùng bạn bè để hình thành, rèn luyện các kĩ năng tưduy, nhận thức cho các em

Theo hai nhà giáo dục học người Mỹ Jacqueline S.Thousand Và RichardA.Villa: “Người GV muốn dạy học có hiệu quả phải biết các phương pháp điềuchỉnh, phải luôn luôn điều chỉnh và tự điều chỉnh các hoạt động của chính bảnthân mình.” Thực tế cho thấy, mỗi HS là một cá thể có những đặc điểm tâm sinh

lí và quá trình nhận thức khác nhau Vì vậy, việc điều chỉnh trong dạy học nóichung và với môn Toán nói riêng ở lớp 3 có HS gặp khó khăn trong học tập họchòa nhập là hết sức cần thiết bởi nó đáp ưng nhu cầu và khả năng học Toán củahầu hết HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán

Ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về môn Toán nhưngvẫn còn quá ít công trình nghiên cứu về biện pháp dạy học môn Toán lớp 3 cho

HS khó khăn về học hòa nhập trong trường học mới Đến nay, chưa có côngtrình nghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống và triệt để về vấn đề này

Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài: “Một số biện

pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán cho học sinh lớp 3 có khó khăn trong học tập tại trường Tiểu học Điện Biên Phủ, Thanh Khê - Thành phố Đà Nẵng” làm vấn đề nghiên cứu của mình.

II MỤC TIÊU NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI

Nghiên cứu lí luận về phương pháp dạy học môn Toán và nghiên cứu cơ

sở thực tiễn việc sử dụng những phương pháp dạy học môn Toán cho HS bình

Trang 3

thường cũng như học sinh khó khăn trong học tập (HS KKTHT) học hòa nhậplớp 3 và đề xuất các biện pháp dạy học môn Toán giúp HS KKTHT lĩnh hội kiếnthức, kĩ năng của bài học có hiệu quả, đảm bảo tính vừa sức chung và vừa sứcriêng trong lớp học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hòa nhập môn Toáncho HS KKTHT ở Tiểu học nói chung và lớp 3 nói riêng.

III GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

Đề tài chỉ nghiên cứu trên HS khối lớp 3 của trường Tiểu học Điện BiệnPhủ, Thành phố Đà Nẵng

Do thời gian nghiên cứu có hạn, tôi chỉ tiến hành nghiên cứu về nội dunggiải toán có lời văn của môn Toán lớp 3 cho học sinh chậm phát triển trí tuệ và

tự kỉ ở mức độ nhẹ

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện có kết quả đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau:

1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Nghiên cứu, thu thập, xử lí, chọn lọc và khái quát hóa các thông tin, nhữngnghiên cứu thuộc các vấn đề có liên quan đến đề tài của các tác giả trong vàngoài nước Làm sáng tỏ các thuật ngữ liên quan đến đề tài Xây dưng các cơ sởkhoa học về mặt lí luận cho đề tài

2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

a) Phương pháp nghiên cứu điều tra

Nghiên cứu hồ sơ, báo cáo việc dạy học môn Toán cho HS KKTHT học hòanhập ở lớp 3

b) Phương pháp phỏng vấn

Nhằm tham khảo ý kiến của các GV dạy học môn Toán cho HS KKTHT họchòa nhập lớp 3, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt nhất là vềmặt phương pháp

Trang 4

Nghiên cứu kế hoạch bài dạy môn Toán của GV dạy học hòa nhập cho HSKKTHT lớp 3 Đồng thời, nghiên cứu sản phẩm hoạt động học tập của HSKKTHT và những HS khác.

e) Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Xin ý kiến chuyên gia về việc sử dụng biện pháp dạy học giải toán có lời văntrong môn Toán cho HS KKTHT học hòa nhập ở lớp 3

f) Phương pháp xử lí số liệu

Tổng hợp số liệu bằng phương pháp thống kê Toán học

Trang 5

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Nội dung và phương pháp dạy học môn Toán lớp 3

a) Các khái niệm liên quan

* Dạy học

Dạy học là hoạt động đặc trưng nhất, chủ yếu nhất của nhà trường, diễn ratheo một quá trình nhất định Dạy học là một hình thức đặc biệt của giáo dục.Dạy học là con đường đặc biệt quan trọng trong mối quan hệ biện chứng và phốihợp với các con đường, các hoạt động khác trong quá trình giáo dục để thựchiện các mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục đặt ra

Dạy học là một quá trình truyền thụ, tổ chức nhận thức kiến thức, kinhnghiệm xã hội và nghệ nghiệp cho người học nhằm hình thành và phát triểnnhân cách nói chung và nhân cách nghề nghiệp nói riêng Dạy học bao hàmtrong nó sự học và sự dạy gắn bó với nhau, trong đó sự dạy không chỉ là sựgiảng dạy, mà còn là sự tổ chức chỉ đạo và điều khiển sự học

Dạy học là một mặt của quá trình dạy và học do người GV thực hiện theonội dung, chương trình đào tạo đã định nhằm giúp người học đạt được các mụctiêu học tập theo từng bài học hoặc toàn khóa đào tạo Hoạt động dạy học khôngchỉ hướng đến yêu cầu truyền thụ kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và thái

độ nghề nghiệp đúng đắn ở người học mà còn góp phần phát triển tính tích cực

và tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Dạy là hoạt động của GV, không chỉ là hoạt động truyền thụ cho HSnhững nội dung đáp ứng được các mục tiêu đề ra, mà còn hơn nữa là những hoạtđộng giúp đỡ, chỉ đạo và hướng dẫn HS trong quá trình lĩnh hội

Học theo nghĩa rộng nhất, được hiểu là quá trình cơ bản của sự phát triểnnhân cách trong hoạt động của con người Đó là hoạt động phản ánh những mặtnhất định của hiện thức khách quan vào ý thức người học

Hoạt động dạy học gồm hai mặt của quá trình đó là dạy và học luôn dikèm biện chứng với nhau Hoạt động dạy học có các đặc trưng sau đây:

- Thể hiện vai trò chủ đạo của GV

- Là một hoạt động có mục đích rõ ràng

- Có nội dung, chương trình kế hoạch cụ thể

Trang 6

- Diễn ra trong một môi trường nhất định (lớp học, phòng thí nghiệm).

- Sử dụng các phương tiện đa dạng (ngôn ngữ, thiết bị, tài liệu)

- Đa dạng về hoạt động dạy được đánh giá thông qua kết quả hoạt độnghọc tập

Có rất nhiều khái niệm về dạy học:

- Dạy học là quá trình chia sẻ kiến thức

- Dạy học là tổ chức cho HS tự học

- Dạy học là quá trình hợp tác và gợi mở kiến thức

Có thể kết luận: “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có

tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các

kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học”.

* Phương pháp dạy học

Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” có nghĩa làcon đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định Vì vậy,phương pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt đượcnhững kết quả phù hợp với mục đích đã định

Từ khái niệm trên ta thấy phương pháp có cấu trúc phức tạp, bao gồmmục đích được đề ra, hệ thống những hành động (hoạt động), những phương tiệncần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ), quátrình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp (mục đích đạt được)

Khi sử dụng đúng phương pháp sẽ dẫn đến kết quả theo dự định Nếu mụcđích không đạt được thì có nghĩa là phương pháp không phù hợp với mục đíchhoặc nó không được sử dụng đúng

Bất kỳ phương pháp nào, dù là phương pháp nhận thức hay phương phápthực hành sản xuất, để thực hiện có kết quả vào đối tượng nào đó thì cũng phảibiết được tính chất của đối tượng, tiến trình biến đổi của nó dưới tác động củaphương pháp đó Nghĩa là phải nhận thức những quy luật khách quan của đốitượng mà chủ thể định tác dộng vào thì mới đề ra những biện pháp hoặc hệthống những thao tác cùng với những phương tiện tương ứng để nhận thức và để

Trang 7

hành động thực tiễn Vậy thì phương pháp dạy học có đặc trưng gì khác vớiphương pháp nói chung? Cấu trúc của nó như thế nào?

Trong phương pháp dạy học, chủ thể tác động – giáo viên và đối tượngcủa họ là HS Còn HS lại là chủ thể tác động của mình vào nội dung dạy học

Vì vậy, giáo viên phải nắm vững những quy luật khách quan chi phối tác độngcủa mình vào HS và nội dung dạy học thì mới đề ra những phương pháp tácđộng phù hợp

Từ đó có thể nhận thấy đặc trưng của phương pháp dạy học: người học làđối tượng tác động của GV, đồng thời là chủ thể, là nhân cách mà hoạt động của

họ (tương ứng với sự tác động của người GV) phụ thuộc vào hứng thú, nhu cầu,

ý chí của họ Nếu GV không gây cho HS có mục đích tương ứng với mục đíchcủa mình thì không diễn ra hoạt động dạy và hoạt động học và phương pháp tácđộng không đạt được kết quả mong muốn

Vì vậy, cấu trúc của phương pháp dạy học trước tiên là mục đích củangười GV đề ra và tiến hành một hệ thống hành động với những phương tiện mà

họ có Dưới tác động đó của người GV làm cho người học đề ra mục đích củamình và thực hiện hệ thống hành động với phương tiện mà họ có nhằm lĩnh hộinội dung dạy học

Trên cơ sở đó, ta có thể hiểu về phương pháp dạy học như sau: Phươngpháp dạy học là cách thức hành động có trình tự, phối hợp tương tác với nhaucủa GV và của HS nhằm đạt được mục đích dạy học

Nói cách khác phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có chủđích theo một trình tự nhất định của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức vàhoạt động thực hành của HS nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học vàchính như vậy mà đạt được mục đích dạy học

Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học với

sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, cònphương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phươngpháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy

Phương pháp dạy học là tổ hợp những biện pháp với tư cách là nhữngthành phần cấu trúc của nó, song việc phân như vậy cũng chỉ có tính chất tươngđối Chẳng hạn giảng giải là phương pháp dạy học trong triết học lĩnh hội trithức mới nhưng lại là một biện pháp của phương pháp công tác trong phòng thí

Trang 8

nghiệm Điều đó có nghĩa là trong những điều kiện nhất định, chúng có thểchuyển hóa lẫn nhau.

Có thể kết luận: “Phương pháp dạy học là những cách thức làm việc giữa

thầy giáo và học sinh, nhờ đó mà HS nắm vững được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành được thế giới quan và năng lực”.

b) Vị trí của môn Toán ở Tiểu học

Trong các môn học ở tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vịtrí hết sức quan trọng bởi vì:

- Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụngtrong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học tốtcác môn học khác ở Tiểu học và chuẩn bị cho việc học tốt môn Toán ở bậc trunghọc

- Môn Toán giúp HS nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hìnhdạng không gian của thế giới hiện thực Đối tượng nghiên cứu của toán học vớiquan hệ về số lượng và hình dạng là thế giới của hiện thực vì thế ở tiểu học cho

dù là những kiến thức đơn giản nhất cũng là những thể hiện của các mối quan hệ

về số lượng và hình dạng không gian Chẳng hạn, các mối quan hệ về số lượngbao gồm các quan hệ cộng, trừ, nhân, chia, lớn hơn, nhỏ hơn, bằng trên các tậphợp N, Q hoặc những quan hệ giữa nhưng đại lượng Ví dụ: quãng đường, thờigian, vận tốc; diện tích với chiều dài, chiều rộng hoặc với cạnh đáy, chiều cao…Các hình dạng không gian bao gồm: các biểu tượng hình học: hình tròn, hìnhchữ nhật, hình vuông,… Nhờ đó mà HS có phương pháp nhận thức một số mặtcủa thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống

- Môn Toán góp phần rất quan trọng tỏng việc rèn luyện phương pháp suynghĩ, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh Những thao tác tưduy có thể rèn luyện cho HS qua môn Toán bao gồm phân tích tổng hợp, sosánh, tương tự, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa, đặc biệt hóa Cácphẩm chất trí tuệ có thể rèn luyện cho HS bao gồm: tính độc lập, tính linh hoạt,tính nhuần nhuyễn, tính sáng tạo Ví dụ: giải 1 bài toán nào đó GV ghi ra

c) Mục tiêu và nhiệm vụ của môn Toán ở Tiểu học

* Mục tiêu của môn Toán ở Tiểu học

Giáo dục môn Toán ở Tiểu học nhằm giúp HS:

Trang 9

- Có những cơ sở ban đầu về số học các số tự nhiên, các số thập phân, cácđại lượng cơ bản và một số yếu tố hình học đơn giản.

- Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán

có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống

- Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quáthóa, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập môn Toán, phát triển hợp

lí khả năng suy luận và biết diễn đạt đúng (bằng lời, bằng viết) các suy luận đơngiản, góp phần rèn luyện phương pháp học tập, làm việc khoa học, linh hoạt,sáng tạo

Ngoài những mục tiêu trên, cũng như các môn học khác ở Tiểu học, mônToán góp phần hình thành và rèn luyện các phẩm chất, các đức tính rất cần thiếtcủa người lao động trong xã hội hiện đại

* Nhiệm vụ của môn Toán ở Tiểu học

Hình thành hệ thống các kiến thức cơ bản, đơn giản, có nhiều ứng dụngtrong đời sống về số học các số tự nhiên, các số thập phân, bao gồm: cách đọc,viết, so sánh các số tự nhiên, phân số, số thập phân, một số đặc điểm của tập hợp

số tự nhiên, số thập phân

Có những hiểu biết ban đầu, thiết thực nhất về các đại lượng cơ bản như:

độ dài, khối lượng, thời gian, diện tích, thể tích, dung tích, tiền Việt Nam và một

số thông dụng nhất của chúng Biết sử dụng các dụng cụ để thực hành đo lường,biết ước lượng các số đo đơn giản

Rèn luyện để nắm chắc các kĩ năng thực hành tính nhẩm, tính viết về bốnphép tính với các số tự nhiên, số thập phân, số đo các đại lượng

Biết nhận dạng và bước đầu biết phân biệt một số các hình học thườnggặp Biết tính chu vi, diện tích, thể tích của một số hình Biết sử dụng một sốdụng cụ đơn giản để đo và vẽ hình

Có những hiểu biết ban đầu, sơ giản về dùng chữ thay số, về biểu thứcToán học và giá trị biểu thức Toán học, về phương trình và bất phương trình đơngiản bằng phương pháp phù hợp với Tiểu học

Biết cách giải và cách trình bày bài giải với những bài toán có lời văn.Nắm chắc, thực hiện đúng quy trình bài toán Bước đầu biết giải một số bài toánbằng những cách khác nhau

Trang 10

Thông qua những hoạt động học tập toán để phát triển đúng mức một sốkhả năng trí tuệ và thao tác tư duy quan trọng nhất như: so sánh, phân tích, tổnghợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa, lập luận có căn cứ, bước đầu làmquen với những chứng minh đơn giản.

Hình thành tác phong học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, cókiểm tra, có tinh thần hợp tác, độc lập và sáng tạo, có ý chí vượt khó khăn, cẩnthận, kiên trì, tự tin

2 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ khó khăn trong học tập

a) Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ tự kỉ

* Cảm giác, tri giác

Phản ứng với cảm giác gần kề: Trẻ tự kỉ hoặc rất nhạy cảm hoặc kémnhạy cảm với mọi thứ xung quanh trẻ Trẻ có thể liếm và ngửi người khác nhưmột món đồ ăn hay nhìn họ như một món đồ Một số trẻ khác thì lại có phản ứng

rõ rệt khi bị người khác đụng đến mình và có ai tỏ ý muốn vuốt ve thì chúng lạitìm cách lãng tránh hay tỏ vẻ khó chịu hoặc sợ hãi Có trẻ lại tỏ ra quá nhạy cảmvới số mùi, có trẻ lại rất ghét khi đụng chạm đến quần áo của chính mình

Cũng có những trẻ không cảm thấy nóng hay lạnh và trong mùa nóng vẫn

có thể mặc áo len hoặc ăn mặc phong phanh khi trời lạnh Một trong những đặcđiểm đáng ngạc nhiên nhất là trẻ tỏ ra không biết đau, có nhiều trẻ bị gãy xương,sưng răng, đau bụng hay bị các vết trầy xước cũng không hề kêu ca gì Khichúng tự mình làm đau cũng không hề chạy đến người lớn để được chăm sóc.Ngược lại, cũng có trẻ lại quá nhạy cảm với các vết thương, chỉ hơi một chút xíu

là cũng đủ để trẻ la toáng lên, điều này gây trở ngại rất lớn cho những ngườichăm sóc trẻ

* Tư duy, tưởng tượng

Trí tưởng tượng: Một trẻ tự kỉ không sử dụng trí tưởng tượng của mìnhkhi chơi hay học tập Thay vào đó, trẻ tự kỉ chỉ chú ý đến một chi tiết nhỏ củamột món đồ chơi, một bài toán hoặc chỉ ngồi đọc mãi một bài văn Một trẻ tự kỉ

có đeo đuổi những hoạt động thu hút trí tưởng tượng, chẳng hạn như đọc sáchhoặc giải một bài toán song những sinh hoạt này có tính lặp đi lặp lại và rậpkhuôn Thí dụ trẻ có thể đọc đi đọc lại chỉ một cuốn sách duy nhất hay cứ xemmãi một cuốn phim Đối với giờ học Toán thì trẻ tự kỉ thường lặp đi lặp lại giảimột bài toán mà chúng thích Các trẻ nhỏ mắc chứng tự kỉ hầu như không biết

Trang 11

chơi các trò chơi giả vờ và các hoạt động tưởng tượng một cách giống như cáctrẻ khác Chúng cầm các đồ chơi hay các đồ vật khác lên chỉ là để có cảm giác

về sự đụng chạm, hay số khá hơn có thể sử dụng các món đồ chơi công cụ thunhỏ như bộ làm bếp, hay cho xe lửa chạy trên đường ray, nhưng cũng rất đơngiản ở một số động tác

Trẻ tự kỉ có bề ngoài như những trẻ bình thường Các chỉ số phát triểnnhư: lẫy, ngồi, bò, trườn, đứng, đi, chạy… giống như trẻ bình thường cùng tuổi.Khác với một số bệnh cơ thể và bệnh tinh thân khác, trẻ bị rối loại tự kỉ có tuổithọ trung bình như người bình thường Đồng thời, theo mô tả của Kanner, dườngnhư trẻ tự kỉ nói chung lại có bề ngoài khôi ngô tuấn tú Nhưng hầu hết các mô

tả về mặt chức năng tâm lý cho thấy có vấn đề rõ rệt Nhất là trong vấn đề tươngtác xã hội, giao tiếp và hành vi

* Ngôn ngữ, giao tiếp

Trẻ tự kỉ có rất nhiều vấn đề về ngôn ngữ và giao tiếp, điển hình là: sựkhiếm khuyết về các kĩ năng giao tiếp sớm trước khi sử dụng ngôn ngữ có lời vàkhông lời

Hầu hết những trẻ tự kỉ đều có khó khăn trong ngôn ngữ biểu cảm Đa sốtrẻ không hiểu và đồng thời cũng không biết thể hiện ra ngoài những hành vi phingôn ngữ Điều này thể hiện khá rõ thông qua việc trẻ không muốn giao tiếpbằng mắt và không biết sử dụng ngón trỏ để chỉ các đồ vật Cụ thể là khi muốnđiều gì, trẻ không nhìn vào mặt người khác và không sử dụng các tín hiệu cử chỉ

để báo cho người khác biết mà thường đến kéo tay họ đến chỗ trẻ cần (đối vớitrẻ, bàn tay quan trọng hơn khuôn mặt)

b) Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ chậm phát triển trí tuệ

* Cảm giác, tri giác

Tính nhạy cảm chậm và hạn chế: Trong cùng một thời gian nhất định thìkhối lượng đối tượng mà ra, tính ổn định của hình ảnh tri giác kém

* Chú ý

Mức độ phát triển chú ý của trẻ CPTTT thấp, khó tập trung chú ý trongthời gian dài, dễ bị phân tán chú ý Nguyên nhân là do sự mất cân bằng giữa quátrình hưng phấn và ức chế, dao động trong tính tích cực tâm lý, tính chú ý cóbệnh lí của các quá trình thần kinh, tính lựa chọn không rõ,… Trẻ không thể chú

Trang 12

ý, tập trung vào việc gì dó trong thời gian dài Điều nay gây khó khăn trong việcnhận thức môn Toán của trẻ

Trẻ CPTTT chậm nhớ, mau quên, ghi nhớ máy móc và tái hiện khôngchính xác Trẻ gặp khó khăn trong ghi nhớ ý nghĩa, không biết cách ghi nhớ vàtái hiện có mục đích Ghi nhớ không chính xác

* Tư duy

Mức độ phát triển tư duy thấp Tư duy mang tính cụ thể Các thao tác tưduy hình thành không trọn vẹn Khó tư duy khái quát Yếu vai trò điều khiển tưduy

* Ngôn ngữ

Ngôn ngữ trẻ CPTTT phát triển chậm hơn so với trẻ bình thường cùng độtuổi Lời nói của trẻ nghèo nàn, tri nhận từ và trật tự từ không chính xác, tiếpnhận lời nói không phân thành thành phần Vốn từ của trẻ nghèo, nghe và phát

âm kém, ngữ pháp đơn giản và đặc biệt trẻ chậm phản ứng với lời nói của ngườikhác

* Tình cảm, cảm xúc

Ở trẻ CPTTT xuất hiện nhiều loại phản ứng mang tính xúc cảm khácnhau:

Tự vệ - công kích, tự vệ - thụ động, quá trẻ con

Trẻ thường ngại lao động, khả năng đồng cảm kém

Trẻ thường không có khái niệm về bản thân, người khác và khó thiết lậpmối quan hệ với người khác

* Hành vi

Trẻ CPTTT thường có những hành vi bất thường như: tự xâm hại bảnthân, sống thu mình ít giao tiếp với người khác, hung hãn, dễ bị kích động…

c) Những vấn đề lí luận về trẻ khó khăn trong học tập

* Thông tin chung về trẻ khó khăn trong học tập

Trẻ KKTHT là trẻ gặp trở ngại trong việc đáp ứng với những yêu cầuhàng ngày, có cách cư xử giống như người nhỏ hơn họ về tuổi, về thể chất, cótuổi trí tuệ thấp hơn tuổi thể chất và sự thông minh giảm nhiều so với trẻ cùngtuổi

Trang 13

Trẻ khó khăn về học chủ yếu là trẻ CPTTT, động kinh, hội chứng down

và bệnh ngu đần… hoặc những trẻ bị tự kỉ, tăng động

* Những vấn đề lí luận về trẻ chậm phát triển trí tuệ

- Khái quát về trẻ chậm phát trí tuệ

CPTTT còn được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như: “chậm pháttriển tinh thần”, “giảm khả năng về tinh thần”, “thiểu năng trí tuệ”…

Hiện nay có rất nhiều khái niệm về trẻ CPTTT:

Năm 1905, A.Binet và T.Simon đã công bố “trắc nghiệm trí tuệ” nhằmphân biết trẻ học kém bình thường và học kém do CPTTT Theo trắc nghiệmnày thì trẻ có IQ dưới 70 là trẻ CPTTT

Năm 1954, Benda, Mỹ đã đưa ra khái niệm trẻ CPTTT như sau: TrẻCPTTT là trẻ không có khả năng xử lý các vấn đề của riêng mình, hoặc phải dạymới biết làm như vậy, họ có nhu cầu về sự giám sát, kiểm soát, chăm sóc sứckhỏe của bản thân và sự chăm sóc của cộng đồng Là người không đạt đến cuộcsống độc lập

Năm 1966, Luria, nhà tâm lý học người Nga đưa ra cách nhìn nhận: trẻCPTTT là trẻ mắc bệnh về não rất nặng từ khi còn trong bào thai hoặc trongnhững năm tháng đầu đời, bệnh cản trở sự phát triển của não do vậy nó gây ra sựphát triển không bình thường về tinh thần, khả năng lĩnh hội ý tưởng và tiếpnhận thực tế bị hạn chế

Năm 2002, Hiệp hội chậm phát triển trí tuệ Mỹ (AAMR) đã đưa ra kháiniệm về trẻ CPTTT: CPTTT là loại KKTHT được xác định bởi hạn chế đáng kể

về hoạt động trí tuệ và hành vi thích ứng thể hiện ở các kĩ năng nhận thức, xãhội và kĩ năng thích ứng thực tế; KKTHT xuất hiện trước 18 tuổi

Việt Nam có một khái niệm về CPTTT như sau:

+ CPTTT xuất hiện từ nhỏ hoặc khi mới đẻ

+ Khi trưởng thành vẫn giảm các khả năng như cũ

+ Đi học thường học khó hoặc học kém

+ Có những hành vi bất thường từ nhỏ

- Các mức độ chậm phát trí tuệ

DSM-IV (viết tắt của chẩn đoán và thống kê hướng dẫn sử dụng của rốiloạn tâm thần, 4 Ấn bản Nó là một sổ tay được xuất bản bởi Hiệp hội tâm lýngười Mỹ, và được sử dụng bởi các chuyên gia sức khỏe tâm thần để hiểu rõ

Trang 14

hơn về các bệnh nhân rối loạn tâm lý có, và làm thế nào họ đang được điều trị)dùng chỉ số trí tuệ làm tiêu chí để phân loại mức độ CPTTT Có bốn mức độCPTTT:

+ CPTTT nhẹ

+ CPTTT trung bình

+ CPTTT nặng

+ CPTTT rất nặng

- Các nguyên nhân gây chậm phát triển trí tuệ

Có rất nhiều nguyên nhân gây CPTTT nhưng ở đây phân loại theo 3 nhómnguyên nhân: trước khi sinh, trong khi sinh và sau khi sinh

+ Nguyên nhân trước khi sinh bao gồm: di truyền, do đột biến nhiễm sắcthể, người mẹ mắc một số bệnh trong thời kì mang thai như cúm, sởi Rubela,thiếu Iốt…, sự mệt mỏi căng thẳng của người mẹ

+ Nguyên nhân trong khi sinh: đẻ non, đẻ khó, trẻ bị ngạt thở…

+ Nguyên nhân sau khi sinh: trẻ mắc các bệnh về não như: viêm não, chấnthương sọ não do tai nạn, do biến chứng từ các bệnh: sởi, đậu mùa, do rối loạntuyến nội tiết, do dùng thuốc không theo chỉ định, suy dinh dưỡng, thiếu Iốt

+ Nguyên nhân từ môi trường: Thiếu thốn về tâm lý xã hội, sử dụng ngônngữ một cách hạn chế trong gia đình, ít có cơ hội đến trường, không được chămsóc đầy đủ về y tế và thể chất…

* Những vấn đề lí luận về trẻ tự kỉ

- Khái niệm trẻ tự kỉ

Năm 1934, Kanner đã đưa ra định nghĩa trẻ tự kỉ là những trẻ không tạolập mối quan hệ với con người, thường có thái độ bàng quan, thờ ơ với mọingười xung quanh, có biểu hiện chậm nói chủ yếu giao tiếp qua các cử chỉ đôikhi có vẽ kỳ dị, cùng các hoạt động vui chơi đơn giản, mang tính lặp đi lặp lại.Năm 1969, Rutter đã đưa ra 4 đặc trưng chủ yếu của tự kỉ:

+ Thiếu quan tâm và đáp ứng trong quan hệ xã hội

+ Rối loạn ngôn ngữ: Từ mức độ không có lời nói lập dị

+ Hành vi, hành động dị thường: Từ mức độ chơi hạn chế, cứng nhắc chođến khuôn mẫu hành vi phức tạp mang tính nghi thức và thúc ép

+ Khởi phát sớm trước 30 tháng

- Phân loại trẻ tự kỉ

Trang 15

+ Nhóm đối tượng xa lánh mọi người: Những trẻ này thường có biểu hiệncoi như mọi người không tồn tại Khi có ai gọi, trẻ không phản ứng, có ai nóivới mình cũng không trả lời, trên khuôn mặt hầu như không biểu lộ cảm xúcnào, trừ những lúc trẻ giận dữ, buồn hoặc vui cực độ Trẻ có thể nhìn bạn rất kỹhoặc lờ đi, chỉ liếc qua một cái, nếu chạm tay vao người trẻ thì nó co lại Nếu trẻmuốn lấy một vật gì thì thường nắm lấy mu bàn tay hay cánh tay của người lớn

mà không đặt tay vào lòng bàn tay họ, sau đó kéo họ đến gần vật mà nó muốnlấy, khi đã được như ý, trẻ lại lờ họ đi

+ Nhóm đối tượng bị động: Đây là loại ít gặp nhất, các trẻ loại này khônghoàn toàn tách rời khỏi người lớn Trẻ chấp nhận việc tiếp xúc, không xa lánhnhưng không chủ động, và cũng như nhóm trẻ trên, trẻ ít giao tiếp qua ánh mắt.Khi còn nhỏ, trẻ rất dễ bảo nên các trẻ khác cũng thích chơi với nó Tuy nhiên,

nó chỉ thích hợp với những trò chơi mà chúng là người được chăm sóc như tròchơi mẹ con, bác sĩ và bệnh nhân, khi đổi qua các trò chơi tích cực, trẻ dễ dàng

bị loại ra vì không có vai trò nào thích hợp Nói chung, dạng trẻ này ít có vấn đềhơn các nhóm trẻ khác, tuy nhiên khi lớn hơn chúng vẫn có thể bị rối nhiễu nặnghơn nếu không nhận được sự chăm sóc trong lúc còn bé

+ Nhóm đối tượng hoạt động kì hoặc: Đứa trẻ thuộc nhóm này thường tỏ

ra tích cực trong việc tiếp cận người khác, thường là đối với những người haychăm sóc mình, luôn luôn đòi hỏi theo yêu cầu của mình mà không hề chú ý đếnthái độ hay phản ứng của người khác Khi tiếp xúc, trẻ thường nhìn chằm chằmvào người đối diện hay có khi ôm thật chặt Khi không được chú ý như đòi hỏi,trẻ trở nên cáu gắt hay hung hãn Nhóm này hơi khó chuẩn đoán vì các kiểu tiếpcận tích cực của trẻ dễ khiến người ta nhầm lẫn là trẻ không có vấn đề về tươngtác xã hội

+ Nhóm đối tượng quá hình thức, khoa trương: Kiểu hành vi này thườngchỉ xuất hiện ở tuổi thanh niên, thường phát triển ở những đối tượng có khả năngcao nhất và nói năng lưu loát Các đối tượng này có cách ứng xử lễ độ và mangtính hình thức Họ tỏ ra cố gắng trong các cách ứng xử, và thường bám một cáchcứng nhắc vào các nguyên tắc giao tiếp Thực ra thì họ không hiểu rõ cácnguyên tắc này, vì thế trong các tình huống cần sự linh hoạt, biến đổi đi chút ítthì họ dễ dàng phạm phải những sai lầm, nhiều khi rất sơ đẳng Trong các nhómnhỏ hơn thì thường cho thấy việc không nắm vững các ý nghĩa và cảm xúc của

Trang 16

người khác, ngay cả khi các trẻ này muốn tỏ ra mình là người tử tế và muốngiúp người khác

- Các nguyên nhân gây tự kỉ

Không có một nguyên nhân đơn lẻ nào gây ra tự kỉ, song nhìn chungngười ta chấp nhận rằng tự kỉ gây nên bởi bất thường về chức năng của cấu trúcnão hoặc bất thường về chức năng của não Chụp cắt lớp vi tính sọ não cho thấymột số bất thường về hình dáng, cấu trúc của não trẻ tự kỉ so với trẻ bìnhthường

Giả thuyết cho rằng tự kỉ có liên quan đến di truyền: Những nghiên cứuhiện đại đã tìm thấy một số chỉ báo cho thấy những ảnh hưởng của gen đối vớibệnh tự kỉ Theo các nhà nghiên cức thì trong số những trẻ của các trẻ mắcchứng tự kỉ có gần 3% mắc chứng tự kỉ và gần 3% khác mắc các chứng rối loạnphát triển lan tỏa Ngoài ra một cặp sinh đôi đồng hợp tử có nhiều khả năng bị tự

kỉ hơn so với cặp sinh đôi khác trứng

Giả thuyết về bệnh lý ở não: Các nghiên cứu cho thấy rằng chất dẫntruyền thần kinh Serotonin rất quan trọng đối với sự vận hành của não có nhiều

ở một số nhóm tự kỉ hơn người bình thường Bên cạnh đó, một số trẻ mắc chứng

tự kỉ và những rối loạn liên quan có nhiều vấn đề về hệ miễn dịch và sinh hóa

Giả thuyết về rối loạn chức năng tâm lý: Các nghiên cứu đã tiến hànhnhiều công trình khảo sát các dạng rối loạn chức năng tâm lý để xác định cácchứng tật gây hành vi tự kỉ Các công trình này khảo sát về ngôn ngữ, tập trung,chú ý, trí nhớ và kỹ năng thị giác – không gian Có những trẻ bị tự kỉ do cáchchăm sóc của cha mẹ, đặc biệt là do sự thiếu quan tâm của người mẹ

Cũng có những bằng chứng cho thấy virus có thể gây ra tự kỉ Nguy cơ trẻmắc chứng tự kỉ sẽ tăng cao nếu người mẹ bị bệnh sởi trong 3 tháng đầu tiên củathời kì mang thai Virus cytolomegalo cũng có liên quan đến tự kỉ Ngoài ra hiệnnay một số quan niệm tin rằng virus liên quan đến các loại vắc-xin như vắc-xinMMR dành cho bệnh sởi cũng có thể gây ra chứng tự kỉ

Sự ô nhiễm và chất độc trong môi trường cũng được coi là nguyên nhân

có thể gây ra tự kỉ Năm 2001, các nhà nghiên cứu bang Texas – Mỹ phát hiện rarằng số trẻ mắc bệnh tự kỉ tỷ lệ thuận với lượng thủy ngân được thải ra môitrường Một ví dụ khác là thị trấn nhỏ Leomenster, Massachusetts với tỉ lệ tự kỉ

Trang 17

cao Nơi đây đã từng có một nhà máy sản xuất kính mát Điều đặc biệt là tỉ lệ tự

kỉ cao nhất ở những hộ nằm dưới hướng gió từ các cột khói của nhà máy

Tuy nhiên, hiện nay càng có nhiều bằng chứng cho rằng tự kỉ là do nhiềuvấn đề gây nên Theo một số chuyên gia trong lĩnh vực tự kỉ, ví dụ như tiến sĩEdward Ritvo của đại học California, Los Angeles đưa ra giả thuyết rằng tồn tạimột tố bẩm về gen liên quan đến tự kỉ tố bẩm này được mã hóa trong một số gennhất định và dưới sự tương tác với một số nhân tố về môi trường hiện vẫn chưaxác định và gây nên sự thay đổi của hệ thống miễn dịch, hệ thống thần kinh cảmgiác, não và cơ quan tiêu hóa Những sự thay đổi này gây ra những triệu chứnglâm sáng ở cá nhân đó

Như vậy, có rất nhiều nghiên cứu về nguyên nhân gây ra hội chứng tự kỉ,nhưng vẫn chưa có một nguyên nhân nào được coi là nguyên nhân chính thứcgây ra hội chứng nào Tuy nhiên các nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố đượccoi là nguy cơ cao gây ra hội chứng tự kỉ:

+ Cấu tạo khác thường của não bộ

+ Các yếu tố môi trường: sự ô nhiễm không khí, nguồn nước, hóa chất,thực phẩm không an toàn…

+ Những khó khăn trong thai nghén, sinh nở gây tổn thương não

+ Một số bệnh nhiễm khuẩn: Rubella, viêm não Herper…

d) Những vấn đề lí luận về giáo dục hòa nhập

* Các khái niệm liên quan

- Giáo dục hòa nhập

Giáo dục hòa nhập (GDHN) là phương thức giáo dục trong đó HSKKTHT cùng học với HS bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi HSsinh sống

GDHN là mô hình giáo dục trong đó HS KKTHT cùng học với HS bìnhthường, trong trường phổ thông ngay tại nơi HS sinh sống Giáo dục hòa nhậpdựa trên quan điểm tích cực, đánh giá đúng HS KKTHT HS KKTHT được nhìnnhận như mọi HS khác Mọi HS KKTHT đều có những năng lực nhất định,chính từ sự đánh giá đó mà HS KKTHT được coi là chủ thể chứ không phải làđối tượng thụ động trong quá trình tiếp nhận các tác động giáo dục

Bản chất của giáo dục hòa nhập:

Trang 18

+ Giáo dục cho mọi đối tượng HS Đây là tư tưởng chủ đạo, yếu tố đầutiên thể hiện bản chất của GDHN Trong GDHN không có sự tách biệt giữa các

HS với nhau Mọi HS đều được tôn trọng và đều được đối xử bình đẳng nhưnhau

+ Mọi HS đều cùng hưởng một chương trình giáo dục phổ thông Điềunay vừa thể hiện sự bình đẳng trong giáo dục, vừa thể hiện sự công nhận nănglực học tập của HS KKTHT

+ Điều chỉnh chương trình, và thay đổi quan điểm, cách đánh giá là việclàm tất yếu của GDHN, nhằm đáp ứng nhu cầu, năng lực khác nhau của từng đốitượng HS

+ GDHN không đánh đồng mọi HS Mỗi HS là một cá nhân, một nhâncách có năng lực khác nhau, cách học khác nhau, tốc độ học không giống nhau

Vì thế, cần phải biết lựa chọn phương pháp, điều chỉnh phù hợp và sử dụngđúng lúc các phương pháp đồng loạt, phương pháp đa trình độ, phương pháptrùng lặp giáo án và phương pháp thay thế

- Dạy học hòa nhập

Dạy học hòa nhập HS KKTHT là quá trình, trong đó HS KKTHT

học ở trường phổ thông tại địa phương nơi mình sinh sống cùng với các bạncùng lứa tuổi Các HS được học cùng một chương trình và tham gia mọi hoạtđộng djay học

- Trường học hòa nhập

Trường hòa nhập là tổ chức giải quyết vấn đề đa dạng nhằm chú trọng đếnviệc học của mọi HS Mọi GV, cán bộ và nhân viên nhà trường cam kết làm việccùng nhau tạo ra và duy trì môi trường đầm ấm có hiệu quả cho việc học tập,trách nhiệm cho mọi HS được chia sẻ

* Môi trường giáo dục hòa nhập học sinh khó khăn trong học tập

Yếu tố môi trường có ý nghĩa quyết định trong việc giáo dục HS KKTHT.Hơn nữa, nhờ việc tổ chức môi trường, tổ chức các hoạt động trong môi trường

và thông qua những tác động trong các mối quan hệ tương tác mà người GV cóthể kiểm soát, nâng cao được kết quả học tập của HS KKTHT

Khi phân tích ảnh hưởng của môi trường hòa nhập nói chung và môitrường lớp học hòa nhập, theo nghiên cứu, về phương diện tích cực thì môitrường hòa nhập tạo những cơ hội cho HS KKTHT: được tương tác với những

Trang 19

HS bình thường khác, có những mẫu hành vi tích cực, học tập lẫn nhau, đươcchấp nhận là thành viên, tạo sự thay đổi tích cực đối với những HS bình thường.Đây là tiền đề để HS KKTHT hòa nhập cuộc sống cộng đồng sau này.

Theo các chuyên gia nghiên cứu giáo dục HS KKTHT thì môi trường giáodục hòa nhập có những ảnh hưởng tích cực đối với HS KKTHT trên nhữngphương diện sau: xóa bỏ mặc cảm, giao tiếp phát triển nhanh, phát triển tính độclập, học được nhiều hơn Như vậy, môi trường hòa nhập trong lớp học tạo cho

HS có được những cơ hội học tập lẫn nhau

* Ý nghĩa của giáo dục hòa nhập đối với khó khăn trong học tập

Tính hiệu quả của giáo dục hòa nhập: Được giáo dục trong môi trườnghòa nhập, HS KKTHT đều tiến bộ hơn, các tiềm năng của HS được khơi dậy vàphát triển tốt hơn so với cách giáo dục trong môi trường khác Thực tế, hơn 10năm tiến hành giáo dục hòa nhập ở Việt Nam và các kinh nghiệm giáo dục trênthế giới cho thấy tính hiệu quả đối với đối tượng HS KKTHT là rất khả quan:

+ HS CPTTT: Xóa bỏ mặc cảm, giao tiếp phát triển nhanh, phát triển tínhđộc lập, học được nhiều hơn

+ HS tự kỉ: Cởi mở với bạn bè cũng như tất cả mọi người xung quanhnhiều hơn

Trong giáo dục hòa nhập, HS KKTHT được học ở môi trường bìnhthường học ở trường gần nhà Điều này tạo cho các HS không có sự cách biệtvới bố mẹ, anh, chị HS trong gia đình Các HS luôn gần gũi với bạn bè, ngườithan, người quen ở địa phương, sống trong môi trường như vậy, các HS luôn cócảm giác được bảo vệ; tâm lý ổn định, phát triển cân đối, hài hòa như những HSkhác, không có sự hụt hẫng đáng tiếc Trong điều kiện đó, các HS yên tâm phấnđấu, học tập và phát triển

Các HS KKTHT được học cùng một chương trình với các bạn cùng lứatuổi khác Chương trình và phương pháp ở đây sẽ được điều chỉnh, đổi mới chophù hợp với nhu cầu, năng lực của các HS Như vậy, sẽ kích thích sự hứng thútrong học tập, phát triển hết khả năng của mình

Giáo dục hòa nhập coi trọng sự cân đối giữa kiến thức và kỹ năng xã hội.Đây là yếu tố quan trọng giúp HS thực sự hòa nhập vào cộng đồng Môi trườnggiáo dục thay đổi, các HS được tự do giao lưu, giúp đỡ lẫn nhau làm cho các emphát triển toàn diện hơn và thích ứng tốt hơn với môi trường xã hội

Trang 20

Giáo dục hòa nhập sẽ tạo ra cơ hội, môi trường để các lực lượng tham giagiáo dục có điều kiện hợp tác với nhau vì mục tiêu chung Đây cũng là môitrường mà mọi người trong cộng đồng có dịp tiếp cận với HS KKTHT nhiềuhơn, thấy rõ hơn những nhu cầu, tiềm năng của các HS, những mặt mạnh, yếu,những khó khăn và yêu cầu của HS, từ đó thấy cần phải làm những gì để hỗ trợcác HS nhiều hơn Càng có nhiều người hiểu các HS và giúp đỡ, các HS càng cóđiều kiện để khẳng định mình và càng được xã hội công nhận càng có điều kiệnphát triển, nhanh trưởng thành.

Giáo dục hòa nhập là mô hình hoàn thiện nhất trong các mô hình giáo dục

HS KKTHT:

+ Hoàn thiện vì nó tạo ra môi trường, cơ hội để HS KKTHT phát triển tốtnhất khả năng của mình

+ Giáo dục hòa nhập có cơ sở lý luạn vững chắc để đánh giá con người,

về mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và các giải pháp thích hợp trong tổchức cũng như trong tiến hành giáo dục

+ Giáo dục hòa nhập HS KKTHT là sự vận dụng đúng đắn những lý luậndạy học hiện đại lấy người học làm trung tâm Chương trình được điều chỉnh,phương pháp được đổi mới thích hợp cho mọi HS

+ Giáo dục hòa nhập (GDHN) là mô hình giáo dục kinh tế nhất, mangtính nhân văn nhất: Tập hợp được những HS cùng học, cùng hoạt động vui chơi,cùng giúp đỡ nhau tiến bộ, nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình đối với

Hiệu trưởng không chỉ nhận thức đúng mà còn phải nắm vững qui trìnhtriển khai và biết cách khai thác sức mạnh của cộng đồng để cùng Ban giám hiệu

Trang 21

lãnh đạo tập thể GV thực hiện GDHN Hiệu trưởng là người trực tiếp giám sát,đôn đốc, tổng kết đánh giá GDHN tại trường.

Nhà trường, nơi có học sinh khuyết tật học hòa nhập phải trang bị kiếnthức cho các HS thông qua phương pháp sư phạm lấy HS làm trung tâm, có đủkhả năng đáp ứng các nhu cầu đặc biệt của các HS

Các trường học chính quy theo hướng hòa nhập là phương thức tốt nhất

để xóa bỏ thái độ phân biệt, tạo ra những cộng đồng thân ái, xây dựng một xãhội cho tất cả mọi người

Nguyên tắc chỉ đạo của “Cương lĩnh hành động về nhu cầu giáo dục đặcbiệt” (Hội nghị thế giới về giáo dục HS có nhu cầu giáo dục đặc biệt, Salamaca,Tây Ban Nha, 1994) là các trường học phải tiếp nhận tất cả HS, bất kể điều kiệnthể chất, trí tuệ, xã hội, ngôn ngữ hay bất kì điều kiện gì khác của chúng

Các yếu tố thành công của trường học hòa nhập:

+ Đủ kinh phí, có chương trình định hướng, đào tạo GV và cách dịch vụcần thiết, thay đổi việc sắp xếp tổ chức lớp học, chương trình giảng dạy, phươngpháp giảng dạy cho phù hợp, cách đánh giá, tuyển dụng cán bộ, quy tắc nhàtrường và tổ chức các hoạt động ngoại khóa

+ Nội dung giảng dạy phải thích nghi với nhu cầu của HS HS có nhu cầuđặc biệt phải được phụ đjao thêm để có thể học theo nội dung chính quy, chứkhông nên học thêm một chương trình khác

Việc tiếp thu kiến thức không chỉ đơn giản là việc hướng dẫn về lý thuyết.Nội dung giáo dục cần nhằm vào việc nâng cao tiêu chuẩn và nhu cầu của mỗi

cá hân, nhằm giúp các HS có khả năng tham gia tích cực vào quá trình pháttriển Việc giảng dạy cần dựa trên kinh nghiệm và khả năng của mỗi HS

HS có nhu cầu đặc biệt phải được sự giúp đỡ thường xuyên của lớp học,nhà trường, các chuyên gia về KKTHT

+ Cán bộ quản lý giáo dục và hiệu trưởng nhà trường đóng vai trò quantrọng trong GDHN: cần có các kế hoạch quản lý linh hoạt, đa dạng hóa các hìnhthức học tập, huy động các nguồn tài trợ Hiệu trưởng có trách nhiệm giám sátcác hoạt động trong trường, thúc đẩy sự tích cực trong nhà trường, tổ chức cáchoạt động phối hợp giữa các GV, giữa GV và phụ huynh

- Giáo viên

Trang 22

 Không nên quan niệm rằng giáo dục HS KKTHT là một lĩnh vực dànhriêng cho các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao Các GV tiểu học đều cóthể học được các kỹ thuật giáo dục HS KKTHT nói chung và có thể tiến hànhgiáo dục HS KKTHT có hiệu quả.

Trong đào tạo GV cần sử dụng đúng nhân lực sẵn có, đẩy mạnh côngtác đào tạo GV tiểu học có trình độ sư phạm tật học sơ cấp Có thể áp dụng cáchthức đào tạo: các chuyên gia ở Trung ương đào tạo các chuyên gia cho các địaphương – cán bộ nòng cốt địa phương Những cán bộ nòng cốt này sẽ tự đào tạocác GV trực tiếp dạy hòa nhập cho HS KKTHT ở địa phương mình

 Vai trò của người GV trực tiếp giảng dạy:

+ GV là người trực tiếp điều hành hoạt động dạy học hòa nhaajonên GV hiểu rõ nhất nhu cầu và năng lực của từng HS KT để xây dựng mục tiêugiáo dục phù hợp với từng HS

+ GV tổ chức và điều hòa các hoạt động của HS, đặc biệt là họchợp tác nhóm

+ GV là người trực tiếp phối hợp với gia đình HS KKTHT và cáclực lượng cộng đồng để thực hiện tốt mục tiêu GDHN

+ GV là người theo dõi quá trình phát triển của từng HS KT để điềuchỉnh mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học cho phù hợp

+ GV là người thiết lập và duy trì các mối quan hệ với đồng nghiệp

để thực hiện phương pháp cùng hợp tác trong dạy học hòa nhập

+ GV là người tổ chức các mối quan hệ giữa HS bình thường với

HS KKTHT thông qua tổ chức đoàn, đội và tổ chức lớp để tạo nên môi trườnghòa nhập hai chiều mà trong đó cả hai đối tượng HS đều phát triển thuận lợi

+ GV là người trực tiếp liên hệ, phối hợp với phụ huynh HS vềchăm sóc giáo dục HS KT

Người GV dạy HS KKTHT ngoài tình thương, tinh thần trách nhiệm, cáctri thức về sự phạm tật học, nhận thức về HS KKTHT v.v… còn cần phải có tưduy, sáng tạo, khả năng đánh giá và phải chú ý đến chương trình giảng dạy Dạy

HS KKTHT, các chương trình phải hết sức linh hoạt, cần dựa trên nhu cầu vàkhả năng tiếp thu của HS KKTHT để định ra chương trình học

 Yêu cầu của GV dạy HS KKTHT học hòa nhập:

+ Có thái độ đúng đắn và tích cực với HS KKTHT và gia đình HS

Ngày đăng: 20/04/2019, 10:18

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w