1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên Bái (Luận văn thạc sĩ)

108 180 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 5,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên BáiNghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên BáiNghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên BáiNghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên BáiNghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên BáiNghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên BáiNghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên BáiNghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên BáiNghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên BáiNghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên BáiNghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên BáiNghiên cứu tính đa dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên Bái

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN HUY

NGHIÊN CỨU TÍNH

ĐA DẠNG LOÀI CÂY DƯỢC LIỆU TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NÀ HẨU TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN HUY

NGHIÊN CỨU TÍNH

ĐA DẠNG LOÀI CÂY DƯỢC LIỆU TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NÀ HẨU TỈNH YÊN BÁI

Ngành: Lâm học

Mã số ngành: 8620201

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS HỒ NGỌC SƠN

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Văn Huy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy giáo, Cô giáo, các tổ chức, cá nhân

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Hồ Ngọc Sơn đã bồi dưỡng, khuyến khích và hướng dẫn tôi đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực hết sức thú vị và có ý nghĩa qua luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, cô giáo trong phòng Quản lý đào tạo sau đại học, khoa Lâm nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi nhiệt tình và chỉ dẫn nhiều ý kiến chuyên môn quan trọng

Qua bản luận văn này, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban quản lý, cán

bộ và nhân dân các xã xung quanh Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái nơi triển khai đề tài, đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập

số liệu và điều tra hiện trường

Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng nhưng trong quá trình thực hiện đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu để bản luận văn được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu được trình bày trong luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 3

1.1.1 Khái niệm dược liệu và cây dược liệu 3

1.1.2 Khái niệm đa dạng sinh học 4

1.1.3 Khái niệm suy thoái đa dạng sinh học 4

1.1.4 Bảo tồn đa dạng sinh học 4

1.2 Những nghiên cứu trên Thế giới 5

1.2.1 Nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn trên thế giới 5

1.2.2 Nghiên cứu cây dược liệu trên thế giới 6

1.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam 9

1.3.1 Nghiên cứu đa dạng cây dược liệu tại Việt Nam 9

1.3.2 Những nghiên cứu về cây thuốc địa phương ở Việt Nam 12

1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 17

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 17

1.3.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội 27

1.3.3 Nhận xét, đánh giá thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tới bảo tồn loài cây dược liệu 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

Trang 6

2.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.2 Phạm vi nghiên cứu 31

2.3 Nội dung nghiên cứu 31

2.4 Phương pháp nghiên cứu 31

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 31

2.4.2 Phương pháp phỏng vấn 32

2.4.3 Điều tra theo tuyến có sự tham gia của người cung cấp thông tin 33

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Tính đa dạng về thành phần loài, dạng sống và đặc điểm phân bố của các loài cây dược liệu tại khu vực 37

3.1.1 Đa dạng thành phần loài sử dụng làm thuốc đã ghi nhận được tại KBT 37

3.1.2 Sự phong phú và đa dạng về dạng sống 38

3.1.3 Đặc điểm phân bố của các loài cây dược liệu tại khu vực 39

3.2 Tri thức địa phương trong sử dụng cây dược liệu của người dân địa phương 40

3.3 Thực trạng sử dụng và giá trị bảo tồn của tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 51

3.3.1 Thực trạng khai thác và sử dụng cây cây dược liệu 51

3.3.2 Những cây thuốc quí hiếm, cần bảo tồn tại Khu vực nghiên cứu 51

3.3.3 Đặc điểm hình thái một số loài cây dược liệu chính được người dân sử dụng nhiều và loài dược liệu quý hiếm 52

3.4 Tác động đến các loài cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu 66

3.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây dược liệu 67

3.5.1 Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về việc thu hái cây dược liệu để đảm bảo tính đa dạng 67

3.5.2 Trồng cây thuốc ở vùng đệm để bảo tồn và phát triển các bài thuốc địa phương 68

3.5.3 Giải pháp bảo vệ, phát triển rừng để hạn chế các tác động xấu đến loài cây dược liệu 69

3.5.4 Giải pháp nghiên cứu khoa học 69

Trang 7

Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

4.1 Kết luận 70

4.2 Tồn tại 70

4.3 Kiến nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 75

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DD : Thiếu dữ liệu ĐDSH : Đa dạng sinh học

EN : Nguy cấp KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên

LC : Ít quan tâm ODB : Ô dạng bản OTC : Ô tiêu chuẩn RNSL : Rừng nguyên sinh RTS : Rừng tái sinh

VU : Sẽ nguy cấp

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản 20

Bảng 1.2 Thành phần thực vật bậc cao ở Khu bảo tồn Nà Hẩu 22

Bảng 1.3 So sánh khu hệ thực vật Nà Hẩu với một số khu bảo vệ khác 22

Bảng 1.4 Các họ thực vật có nhiều loài ở khu BTTN Nà Hẩu 23

Bảng 1.5 Phân loại thực vật theo công dụng 25

Bảng 1.6 Mức độ nguy cấp của các loài thực vật 26

Bảng 3.1 Đa dạng bậc ngành cây dược liệu trong Khu bảo tồn 37

Bảng 3.2 Tri thức địa phương trong việc khai thác và sử dụng cây dược liệu 41

Bảng 3.3 Phân cấp bảo tồn các loài cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu 52

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Vị trí địa lý khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu 17

Hình 1.2 Hiện trạng rừng năm 2017 khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu 21

Hình 3.1 Tỷ lệ dạng sống của các loài cây thuốc 39

Hình 3.2 Cây Quyển bá 53

Hình 3.3 Thiên niên kiện 53

Hình 3.4 Móc đủng đỉnh 54

Hình 3.5 Móc đủng đỉnh 54

Hình 3.6 Chè Súm 54

Hình 3.7 Cà dại hoa trắng 55

Hình 3.8 Dứa dại 55

Hình 3.9 Cỏ cứt lợn 56

Hình 3.10 Khôi tía 56

Hình 3.11 Đơm nem 57

Hình 3.12 Diếp cá 57

Hình 3.13 Râu hùm 58

Hình 3.14 Dây quai ba lô 58

Hình 3.15 Thảo quả 59

Hình 3.16 Vối thuốc 59

Hình 3.17 Mã đề 60

Hình 3.18 Tiêu ré trần 60

Hình 3.19 Cỏ Lào 61

Hình 3.20 Thông Đất 61

Hình 3.21 Thủy xương bồ 62

Hình 3.22 Bồng bồng 62

Hình 3.23 Bọt Ếch lông 63

Hình 3.24 Vàng đắng 63

Hình 3.25 Vú Bò 64

Hình 3.26 Cỏ may 64

Hình 3.27 Ngải cứu rừng 65

Hình 3.28 Rau Sam 65

Hình 3.29 Muồng Lạc 66

Hình 3.30 Thồm Lồm 66

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những vai trò quan trọng của hệ thực vật là nguồn dược liệu quý giá cho con người Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 1985 đã ướctính, trong số 250.000 loài thực vật đã biết trên thế giới, có tới trên 30.000 loài

sử dụng làm thuốc ở các mức độ khác nhau

Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu - Bộ Y tế, đến cuối năm 2005 đã biết có 3.948 loài cây thuốc, thuộc 263 họ thực vật và Nấm với nhiều công dụng khác nhau Trong đó, nhiều loài trong số này đã và đang được người dân các vùng miền núi khai thác và sử dụng, đặc biệt là người dân đồng bào dân tộc thiểu số Tuy nhiên, tại nhiều địa phương trên cả nước, việc đánh giá một cách chi tiết tính đa dạng và giá trị của các loài cây dược liệu còn nhiều hạn chế do thiếu các nghiên cứu trong lĩnh vực này Điều này không chỉ gây khó khăn trong công tác đánh giá và còn tạo khó khăn trong công tác quản lý, bảo tồn các loài cây dược liệu

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu được thành lập theo Quyết định số

512/QĐ-UB ngày 09/10/2006 của 512/QĐ-UBND tỉnh Yên Bái Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa bàn 4 xã là Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng, Phong Dụ Thượng của huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, với tổng diện tích 16.950ha Khu vực Nà Hẩu như một lòng chảo được tạo nên từ thung lũng hẹp, xung quanh được bao bọc bởi những dãy núi cao, địa hình ở đây bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều khe suối và các hợp thủy Với điều kiện khí hậu như vậy rất phù hợp cho sự sinh trưởng và khả năng tái sinh tự nhiên của cây rừng, thuận lợi cho các loài thực, động vật ở đây phát triển đa dạng và phong phú

Nguồn tài nguyên cây thuốc ở rừng đặc dụng Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái đã và đang đóng góp vào công tác chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh của các cộng đồng trong khu vực Đây là khu vực có tiềm năng về cây thuốc trong tự nhiên, song từ trước đến nay chưa được điều tra, nghiên cứu một cách đầy đủ

Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá hiện trạng của nguồn tài nguyên cây dược liệu

để làm cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp chính trong bảo tồn, phát triển và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này đối với Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, là yêu cầu hết sức

cần thiết Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa

dạng loài cây dược liệu tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái”

Trang 12

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá được mức độ đa dạng của nguồn tài nguyên cây thuốc, nghiên cứu tri thức bản địa về việc sử dụng tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển các loài cây này tại khu vực nghiên cứu

Cung cấp cơ sở dữ liệu về tính đa dạng sinh học các loài cây dược liệu, phục

vụ công tác nghiên cứu, quản lý và bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đánh giá một cách đầy đủ các đặc điểm của tài nguyên cây dược liệu tại khu vực như thành phần loài, phân bố, giá trị làm cơ sở phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và khai thác, sử dụng

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Khái niệm dược liệu và cây dược liệu

Dược liệu là nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc tự nhiên từ thực vật, động vật, khoáng vật và đạt tiêu chuẩn làm thuốc

Cây dược liệu là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ

cơ thể khi con người sử dụng Việc dùng thuốc trong nhân dân ta đã có từ lâu đời Từ thời nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc phát sinh nôn mửa hoặc rối loạn tiêu hoá, hoặc hôn mê có khi chết ngư ời, do đó cần có nhận thức phân biệt được loại nào ăn được, loại nào có độc không ăn được

Lịch sử nước ta cho biết ngay từ khi lập nước nhân dân ta đã biết chế tạo và sử dụng tên độc để chống lại kẻ thù Tuy nhiên, kinh nghiệm dần dần tích lũy, không những giúp cho loài người biết lợi dụng tính chất của cây cỏ để làm thức ăn mà còn dùng để dùng làm thuốc chữa bệnh, hay dùng những vị có chất độc để chế tên thuốc độc dùng trong săn bắn hay trong lúc tự vệ chống ngoại xâm Như vậy, việc phát minh ra thuốc đã có từ thời thượng cổ, trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, tìm tòi thức ăn mà có được Nguồn gốc tìm ra thức ăn, thuốc và cây có chất độc chỉ là một Về sau dần dần con người mới biết tổng kết và đặt ra lý luận Hiện nay đi sâu

và tìm hiểu những kinh nghiệm trong nhân dân Việt Nam cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, con người đã sử dụng hàng vạn loài thực vật để làm thuốc Trong quá trình chữa bệnh bằng kinh nghiệm và hiểu biết của con người, đến ngày nay đã hình thành các khuynh hướng khác nhau, chúng ta có thể phân biệt hai loại người làm thuốc Một loại chỉ có kinh nghiệm chữa bệnh, không biết hoặc ít biết lý luận Kinh nghiệm đó cứ cha truyền con nối mà tồn tại, mà phát huy Những người có khuynh hướng này chiếm chủ yếu tại các vùng dân tộc ít người Khuynh hướng thứ hai là những người có kinh nghiệm và có thêm phần lí luận, những người này chiếm chủ yếu ở thành thị và những người có cơ sở lí luận cho rằng vị Thần Nông là người phát minh ra thuốc Truyền thuyết kể rằng: “Một ngày ông nếm 100 loài cây cỏ để

Trang 14

tìm thuốc, ông đã gặp phải rất nhiều loài cây có độc nên có khi một ngày ngộ độc đến 70 lần”, rồi soạn ra sách thuốc đầu tiên gọi là “Thần Nông bản thảo” Trong bộ này có ghi chép tất cả 365 vị thuốc và là bộ sách thuốc cổ nhất Đông Y (chừng 4000 năm nay)[20]

1.1.2 Khái niệm đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học được hiểu là sự phong phú về sự sống trên trái đất của hàng triệu loài thực vật, động vật, vi sinh vật cùng nguồn gen của chúng và các hệ sinh thái (HST) mà chúng là thành viên Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về đa dạng sinh học (ĐDSH) Tuy nhiên trong số này thì định nghĩa được sử dụng trong Công ước Đa dạng sinh học (1992) được coi là “đầy đủ và toàn diện nhất” xét về mặt khái niệm Theo Công ước ĐDSH thì “ĐDSH là sự phong phú của cơ thể sống

có ở các nguồn trong HST trên cạn, ở biển và các HST dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các HST (đa dạng HST)” [20]

Đa dạng di truyền được hiểu là sự đa dạng của các gen và bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các quần thể với nhau

Đa dạng loài là sự phong phú về trạng thái của các loài khác nhau

Đa dạng HST là sự phong phú về trạng thái và tần số của các HST khác nhau

1.1.3 Khái niệm suy thoái đa dạng sinh học

Suy thoái đa dạng sinh học có thể hiểu là sự suy giảm tính đa dạng, bao gồm

sự suy giảm loài, nguồn gen và các hệ sinh thái, từ đó suy giảm giá trị, sự suy thoái

đa dạng sinh học được thể hiện ở các mặt:

- Hệ sinh thái bị biến đổi

- Mất loài

- Mất, giảm đa dạng di truyền

1.1.4 Bảo tồn đa dạng sinh học

Theo khoản 1 điều 3 của luật ĐDSH năm 2008 [11], bảo tồn ĐDSH được hiểu như sau: Bảo tồn ĐDSH là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường

Trang 15

xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của

tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền

1.2 Những nghiên cứu trên Thế giới

1.2.1 Nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn trên thế giới

Nghiên cứu đa dạng loài cây dược liệu nhằm mục đích bảo tồn nguồn tài nguyên này trên thế giới để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khỏe con người, cho sự phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân tộc là một vấn đề cấp thiết Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng Các nước trên thế giới đang hướng về thực hiện chương trình Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc

Vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một vấn đề chiến lược trên toàn thế giới Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời IUCN, Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) để hướng dẫn, giúp đỡ

và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên toàn thế giới

Từ ngày xưa, thậm chí đến ngày nay Người ta nghĩ rằng bệnh tật là do sự trừng phạt của các thế lực siêu tự nhiên Do đó các thầy lang đã chữa bệnh bằng các lời cầu nguyện, nghi lễ cúng thần linh và ma lực của cây cỏ Cây cỏ làm thuốc được lựa chọn bởi màu sắc, mùi, hình dáng hay sự hiếm có của chúng Việc sử dụng cây

cỏ làm thuốc là quá trình mò mẫm rút kinh nghiệm trải qua nhiều thế hệ Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền như

cỏ thi, cúc bạc, Người dân bản xứ Mehico từ nhiều nghìn năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mehico mà ngày nay được biết là chứa chất gây ảo giác, kháng khuẩn [17]

Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên 700

Trang 16

cây thuốc trong đó có Lan kim tuyến (cỏ nhung), hoàng thảo tam bảo sắc, hoàng tảo henri, lan phi điệp, cây thất diệp nhất chi hoa, hoàng liên chân chim, quả toả dương, tam thất hoang, bạch hạc thunia, củ bạch đẳng sâm, sâm đương quy, sâm cheo, sâm cau, quả toả dương,cây râu hùm, bát giác niên, nấm hác linh chi, linh chi cổ cò, chè dây, cây hoằng đằng, hà thủ ô, cốt toái, máu chó, cây chìa vôi, Người Trung Quốc

cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông Bản thảo (khoảng 5.000 năm trước đây) 365 vị thuốc và loài cây thuốc Người Ấn Độ cổ đại đã ghi chép nền y học của người Hinđu khoảng 2.000 năm trước, trong đó có các loài cây gây ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn,… [17]

1.2.2 Nghiên cứu cây dược liệu trên thế giới

Theo các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên

700 cây thuốc trong đó có Lan kim tuyến (cỏ nhung) lan thạc hộc tía, hoàng thảo tam bảo sắc, hoàng tảo henri, lan phi điệp, cây thất diệp nhất chi hoa, hoàng liên chân chim, quả toả dương, tam thất hoang, bạch hạc thunia, củ bạch đẳng sâm, sâm đương quy, sâm cheo, sâm cau, quả toả dương,cây râu hùm, bát giác niên, nấm hác linh chi, linh chi cổ cò, chè dây, cây hoằng đằng, hà thủ ô, cốt toái, máu chó, cây chìa vôi, Người Trung Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông Bản thảo (khoảng 5.000 năm trước đây) 365 vị thuốc và loài cây thuốc Người Ấn Độ cổ đại đã ghi chép nền y học của người Hinđu khoảng 2.000 năm trước, trong đó có các loài cây gây ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn,… [18]

Manju Panghal và cs (2010) nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của các cộng đồng tại huyện Jhajjar, bang Haryana, Ấn độ [18] Kết quả cho thấy có 57 loài cây thuốc được sử dụng, thuộc 51 chi và 35 họ thực vật Trong đó có

19 loài thuộc 13 họ có tác dụng chữa trị rắn cắn Có 48 loài thuộc 34 họ được sử dụng để chữa trị các bệnh khác Phân theo dạng sống có 20 loài cây thân thảo (36%), 16 loài cây gỗ (28%), 10 loài dây leo (18%), 9 loài cây bụi (16%) và 1 loài thân bò (2%) Những họ có số loài nhiều nhất là họ Đậu (Fabaceae) 8 loài, họ Loa kèn (Liliaceae) 5 loài, họ Hoa môi (Laminaceae) và họ Cúc (Asteraceae) mỗi họ có

3 loài

Trang 17

Koushalya Nandan Singh (2013) nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc ở phía Tây dãy Himalaya, Ấn độ [23] Kết quả ghi nhận có 86 loài thực vật thuộc 69 chi và 34 họ được sử dụng để chữa trị khoảng 70 bệnh khác nhau Các loài thực vật được sử dụng trong các bài thuốc thảo dược chủ yếu thuộc về các họ Asteraceae, Lammiaceae, Gentianaceae, và Polygonaceae Hầu hết các loại thuốc được sử dụng dưới dạng bột, một số là nước ép trái cây và dịch triết Trong số các

bộ phận của cây, lá đã được ghi nhận được sử dụng phổ biến, tiếp theo là hoa

Năm 1992, J.H.de Beer- một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lương thế giới khi nghiên cứu về vai trò của thị trường và của lâm sản ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của Thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người dân sống trong khu vực rừng núi, nơi có phân bố Thảo quả nhằm xóa bỏ đói nghèo, đồng thời

là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội vùng núi và bảo tồn và phát triển tài

nguyên rừng (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002) [16]

Năm 1996 Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tại Viện

Vệ sinh dịch tể công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách “Bản thảo bức tranh

màu Trung Quốc” Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc với nội dung đề

cấp là: Tên khoa học, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản, công

dụng và thành phần hóa học (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002) [16]

Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.s.de Padua,

N Bunyapraphatsara và R.H.M.J.Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu về các cây

thuộc chi Amomum trong đó có Thảo quả Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân

loại của Thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của Thảo quả Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sốc bảo

vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán Thảo quả trên thế giới (Dẫn

theo Phan Văn Thắng, 2002) [16]

Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 - 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay

Trang 18

có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu

phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Dẫn theo

Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong y học cổ truyền như cỏ thi, cúc bạc, Người dân bản xứ Mehico từ nhiều nghìn năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mehico mà ngày nay được biết là chứa chất gây ảo giác, kháng khuẩn [17]

Rey G Tantiado (2012) nghiên cứu tài nguyên cây thuốc bản địa tại Iloilo, Philippines [20] Kết quả thống kê cho thấy có 101 loài cây thuộc 92 chi và 44 họ

Bộ phận sử dụng, có 59% số loài dùng lá, 13% số loài dùng quả, 10% số loài dùng thân, 7% số loài dùng rễ, 5% số loài dùng hoa, 4% số loài dùng cả cây và 2% số loài dùng hạt

Gidey Yirga (2010) điều tra tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại phía Bắc Ethiopia [21] Kết quả thống kê có 16 loài cây được sử dụng để trị các bệnh cho người Phần lớn các loài cây (68,75 %) cây hoang dại và gây trồng được sử dụng lá

Mahwasane và cs (2013) điều tra thi thức bản địa sử dụng cây thuốc của các thầy lang tại khu vực Lwamondo, tỉnh Limpopo, Nam Phi [22] Kết quả điều tra cho thấy có 16 loài cây thuốc, thuộc 7 họ và 14 chi Họ Đậu (Fabaceae) có số lượng loài nhiều nhất (43,8%), tiếp theo là họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) với 18.8% Rễ được

sử dụng nhiều nhất (44,5%), tiếp theo là lá (25,9%), vỏ (14,8%), cả cây (11%), và hoa (3,7%)

Gangwar và cs (2010) nghiên cứu đa dạng thực vật dân tộc tại huyện Kumaun Himalaya, bang Uttarakhand, Ấn độ [24] Kết quả cho thấy các loài cây

Trang 19

thuốc dân tộc truyền thống rất đa dạng Đã thống kê được 102 loài cây thuộc 48 họ được sử dụng như là cây thuốc truyền thống của người dân bản địa, số loài thuộc các họ được thống kê từ cao tới thấp là: các họ Asteraceae, Limiaceae và Rosaceae (mỗi họ có 9 loài) tiếp theo là các họ Solanaceae và Poaceae (4 loài); Araceae, Euphorbiaceae, Polygonaceae, Ranunculaceae, Scrophularaceae và Valerianaceae (3 loài mỗi họ); Apiaceae, Apocynaceae, Liliaceae, Meliaceae, Moraceae, Pinaceae, Plantaginaceae, Rutaceae, Saxiferagaceae, Verbenaceae và Zingiberaceae (2 loài mỗi họ); và 25 họ khác (mỗi họ 1 loài) Về dạng sống, có 50 loài cây thân thảo, 24 loài cây bụi, 22 loài cây gỗ, thân bò và dây leo mỗi dạng có 3 loài Bộ phận sử dụng, có 21 loài sử dụng cả cây; 43 loài sử dụng một vài bộ phận (nhiều hơn 1 bộ phận như lá, cành và rễ, thân, rễ và vỏ…); 14 loài sử dụng rễ; 8 loài sử dụng lá; 4 loài sử dụng quả; vỏ, thân ngầm và hạt mỗi loại có 3 loài; 2 loài sử dụng thân và 1 loài sử dụng hoa

1.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam

1.3.1 Nghiên cứu đa dạng cây dược liệu tại Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh vật cao với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, cũng như sự phong phú về tri thức sử dụng cây

cỏ Theo kết quả của viện Dược liệu (Bộ y tế) kết quả điều tra từ năm 1991 đến năm

2004 đã ghi nhận được ở nước ta có 3948 loài cây thuốc thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao cũng như bậc thấp, trong số 3948 loài cây thuốc này phần lớn được ghi nhận từ kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng các dân tộc ở khắp các địa phương

Trong số đó có khoảng 6.000 loài cây có ích, được sử dụng làm thuốc, rau

ăn, lấy gỗ, nhuộm, Khoảng 3.200 loài cây cỏ và nấm đã được ghi nhận là có giá trị hay tiềm năng làm thuốc Nguồn tài nguyên cây cỏ tập trung chủ yếu ở 6 trung tâm đa dạng sinh vật trong cả nước là (i) Đông Bắc, (ii) Hoàng Liên Sơn, (iii) Cúc Phương, (iv) Bạch Mã, (v) Tây Nguyên, (vi) Cao nguyên Đà Lạt [5] Theo thống kê của ngành Dược, cả nước có khoảng 40 bệnh viện y học cổ truyền và các khoa y học cổ truyền trong các bệnh viện đa khoa Có 5.000 người hành nghề thuốc y học cổ truyền với gần 4.000 cơ sở chuẩn trị đông y Có khoảng 700 loài thường được nhắc đến trong sách đông y, sách về cây thuốc, 150-180 vị thuốc thường được sử dụng ở các bệnh

Trang 20

viện y học cổ truyền, lương y, 120 loài thường được nhân dân sử dụng như các cây thuốc thông thường để chữa bệnh trong gia đình, nhu cầu dược liệu cho y học cổ truyền khoảng 30.000 tấn/năm

Việt Nam có một nền y học cổ truyền hết sức đa dạng, đặc sắc với bề dày lịch

sử hàng nghìn năm và từ đó hình thành nên nền y học dân tộc không ngừng phát triển qua các thời kỳ lịch sử Trong đó, nhiều cây thuốc, bài thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả cao, các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, nghiên cứu cây dược liệu không chỉ góp phần sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc của đất nước, làm phong phú thêm tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh của cả dân tộc mà còn là cơ sở để sản xuất các loại dược phẩm mới để điều trị các căn bệnh hiểm nghèo Đây thực sự là một hướng nghiên cứu có triển vọng lớn trong tương lai Hiện nay, nhiều loài cây dược liệu quý phân bố chủ yếu ở miền núi, đang có nguy cơ

bị tàn phá dẫn đến tuyệt chủng do lạm dụng khai thác quá nhiều Vì vậy cần phải có biện pháp tiến hành điều tra, tư liệu hoá thực trạng sử dụng cây thuốc của các dân tộc

và tri thức bản địa về cây cỏ làm thuốc để xây dựng các giải pháp quản lý và sử dụng hiệu quả nhằm góp phần giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Từ trước đến nay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu các cây

thuốc và vị thuốc để chữa bệnh như: Sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức (1997) [7] có ghi 830 cây thuốc; Ts Võ Văn Chi có cuốn “Từ Điển cây thuốc

Việt Nam” ghi 3200 cây thuốc trong đó có cả cây thuốc nhập nội… Theo tài liệu của

Viện Dược liệu (2004) thì Việt Nam có đến 3.948 loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi

và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ hay còn bỡ ngỡ Trong những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền nước ta đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm 1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ truyền

Trang 21

tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô [8]

Khi phát hiện được tác dụng an thần rất ưu việt của I-tetrahudropalmatin từ rễ,

củ của một số loài Bình vôi thì việc khai thác chúng cũng được tiến hành ồ ạt Để tách chiết một loại ancloit I-tetrahudropalmatin làm thuốc ngủ rotundin người ta đã khai thác một hỗn hợp củ của rất nhiều loại Bình vôi mà trong đó có loại không chứa hoặc chỉ chứa hàm lượng I-tetrahydropalmatin không đáng kể Do khai thác bừa bãi

để chế biến trong nước hoặc bán nguyên liệu thô qua biên giới sang Trung Quốc mà nhiều loại Bình vôi trở nên rất hiếm Đến năm 1996, tuy mới biết được trên 10 loài

thuộc chi Bình vôi (Stephania) thì đã có 4 loài phải đưa vào sách đỏ việt Nam [8]

Theo Lê Trần Đức, 1997 [7], Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ truyền

phương Đông, thuộc chi Sa nhân (Amomum Roxb), họ Gừng (Zingiberaceae) Trên thế giới chi Amomum roxb có khoảng 250 loài phân bố phân bố chủ yếu ở vùng

nhiệt đới núi cao Ở Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có 24 loài Ở nước ta, Sa nhân phân bố hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ có khoảng 30 loài trong đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân, trong đó 23 loài đã được xác định chắc chắn Ở Viện dược liệu và trường Đại học Dược hiện có 12 mẫu vật chưa đủ tài liệu định tên loài đều mang tên Sa nhân Ở Việt Nam, Sa nhân đã được biết đến từ rất lâu đời là vị thuốc cổ truyền trong y học dân tộc bước đầu đã thống

kê được trên 60 đơn vị thuốc có vị Sa nhân dùng trong các trường hợp ăn không tiêu, kiến lỵ, đâu dạ dày, phong tê thấp, sốt rét, đau răng,… Ngoài ra Sa nhân còn dùng trong sản xuất hương liệu để sản xuất xà phòng, nước gội đầu Các tác giả đã nghiên cứu đặc điểm sinh thái học, vòng đời tái sinh, cấu tạo, nơi phân bố, kỹ thuật, thời gian trồng, thu hoạch của Sa nhân [4]

Khi nghiên cứu về trồng cây Nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán rừng, Nguyễn Ngọc Bình đã tìm hiểu kỹ thuật gây trồng các loài cây dưới tán rừng

để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các họ gia đình nhận khoán, bảo vệ, khoanh nuôi rừng Tác giả chỉ ra giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba kích, Sa nhân, Thảo quả, Trám trắng, Mây nếp,… [4]

Trang 22

1.3.2 Những nghiên cứu về cây thuốc địa phương ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền tại xã Địch Quả- huyên Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của cộng đồng dân tộc cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao ở đây Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi rất nhiều loại bệnh nan y bằng những bài thuốc cổ truyền Tuy nhiên những kiến thức quý báu này chưa được phát huy và có cách duy trì hiệu quả, có tổ chức Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân sử dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu hái chúng Thêm vào đó họ còn đưa ra một cách rất chi tiết về mục đích, thời vụ, và các điều kiêng kị khi thu hái cây thuốc; Đánh giá mức độ tác động của người dân địa phương, nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc [10]

Trong công trình cây thuốc - nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang có nguy cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc như: diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừng suy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập, trồng chéo kém hiệu quả Từ đó tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái, sự đa dạng các loài (trước hết là các loài có giá trị Y học và kinh tế, quý hiếm, đặc hữu, có nguy cơ tuyệt chủng) và sự đa dạng di truyền Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức Y học cổ truyền và Y học dân gian gắn với sử dụng bền vững và phát triển cây thuốc [1]

Trong 2 năm 2004-2005 Ngô Qúy Công đã tiến hành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc Nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại Đề tài được Quỹ nghiên cứu của Dự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam - pha II tài trợ, nghiên cứu chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suy giảm nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương đều giảm áp

Trang 23

lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải

pháp và đề xuất hợp lý để bảo tồn và phát triển [3]

Theo Nguyễn Văn Tập, để bảo tồn cây thuốc có hiệu quả cần phải tiến hành công tác điều tra quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tăng cường cây thuốc trong hệ thống các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo tồn chuyển vị kết hợp với nghiên cứu gieo trồng tại chỗ, có như vậy các loại cây thuốc quý hiếm mới thoát khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng Đồng thời lại tạo ra thêm nguyên liệu để làm thuốc

ngay tại các vùng phân bố vốn có của chúng [14]

Cũng trong thời gian này tác giả Nguyễn Tập và cộng sự đã điều tra đánh giá hiện trạng và tiềm năng về y học cổ truyền trong cộng đồng các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, kết quả đã thu thập được nhiều cây thuốc, bài thuốc các thời gian trong cộng đồng

thường sử dụng, nhằm kế thừa và quảng bá rộng rãi những tri thức bản địa này [11]

Năm 2006 nhóm tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Viện Dược liệu đã tổ chức điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm - Hoàng Bồ - Quảng Ninh và ghi nhận được 288 loài thuộc 233 chi, 107 họ và 6 ngành thực vật, tất cả đều là cây thuốc mọc hoang dại trong các quần xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi Trong đó có 8 loài được coi là mới chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam [12]

Đỗ Hoàng Sơn và cộng sự đã tiến hành đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm Qua điều tra họ thống kê được tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm có 459 loài

cây thuốc thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật là: Equisetophyta,

Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta Người dân thuộc vùng đệm ở đây

chủ yếu là cộng đồng dân tộc và Sán Dìu sử dụng cây thuốc để chữa 16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được sử dụng trong rừng tự nhiên Mỗi năm

có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia Tam Đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên cơ sở các nghiên cứu các tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần được ưu tiên và bảo tồn [13]

Trang 24

Theo Nguyễn Văn Tập trong nguồn Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế Theo điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đã phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả Rêu và Nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên chủ yếu trong các quần thể rừng Rừng cũng là nơi tập hợp hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua cùng với nhiều nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam đã bị giảm sút nghiêm trọng, biểu hiện qua các thực tế sau:

- Vùng phân bố tự nhiên của cây thuốc bị thu hẹp: Nạn phá rừng làm nương rẫy, nhất là việc mở rộng diện tích trồng Cà phê, Cao su ở các tỉnh phía Nam đã làm mất đi những vùng rừng rộng lớn vốn có nhiều cây thuốc mọc tự nhiên chưa kịp khai thác

- Hầu hết các cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao, mặc dù có vùng

phân bố rộng lớn, trữ lượng tự nhiên tới hàng ngàn tấn, như Vằng đắng (Coscinium

fenestratum); Các loài Bình vôi (Stephania Spp)… hoặc hàng trăm tấn như Hoằng

đắng (Fidraurea timctoria)… nhưng do khai thác quá mức, không chú ý bảo vệ tái

sinh, dẫn đến tình trạng mất khả năng khai thác Một số loài thuộc nhóm này như

Ba kích (Morinda offcinalis); Đẳng sâm (Codonopsis javanica)… đã phải đưa vào

Sách đỏ Việt Nam (1996) và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (1996, 2001, 2004) nhằm khuyến cáo bảo vệ [15]

- Đặc biệt đối với một số loài cây thuốc như Ba kích, Tam thất và Sâm mọc

tự nhiên, Hoàng liên, Lan một lá,… đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao

(Nguyễn Văn Tập, 2005) [14]

Ninh Khắc Bản và cộng sự (2013) nghiên cứu tri thức sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng dân tộc Cơ tu và Vân kiều tại vùng đệm Vườn quốc gia Bạch

Mã Kết quả thống kê cho thấy, các loài cây thuốc dùng để chữa bệnh không những

đa dạng về thành phần loài (249 loài thuộc 82 họ của người Cơ Tu, 27 loài thuộc 21

họ của người Vân Kiều), về dạng sống (thân thảo 61,0%, dạng gỗ, bụi 39,0%), về

bộ phận sử dụng (người Cơ Tu sử dụng làm thuốc vẫn là cành, lá 77 loài chiếm

Trang 25

31%; tiếp đến là cả cây 73 loài chiếm 30%; rễ, củ 68 cây chiếm 28%; hoa quả 15 loài chiếm 7%; các bộ phận khác 9 loài chiếm 4% Người Vân Kiều sử dụng rễ củ

13 loài chiếm 42%; cành lá 8 loài chiếm 26%; cả cây 5 loài chiếm 16%; các bộ phận khác (nhựa, dịch thân, ) 4 loài chiếm 13% và hoa quả 1 loài chiếm 3%) mà còn đa dạng về các nhóm bệnh được chữa trị (11 nhóm bệnh) [2]

Bùi Văn Hướng và cộng sự (2013) nghiên cứu đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc tại tỉnh Gia Lai Qua điều tra nghiên cứu, bước đầu đã xác định được 145 loài thực vật được sử dụng làm thuốc thuộc 112 chi và 61 họ của

3 ngành thực vật bậc cao có mạch đó là Ngọc lan (Magnoliophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta), Thông đất (Lycopodiophyta) Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế với 53 họ, chiếm 86,9%; 105 chi, chiếm 93,8% và 137 loài, chiếm 94,5% so với tổng số họ, chi, loài cây thuốc đã điều tra Về dạng sống của cây thuốc thì nhóm cây bụi với 62 loài, chiếm 42,8%; tiếp đến là nhóm cây thân thảo với 31 loài, chiếm 21,4%; nhóm cây dây leo với 25 loài, chiếm 17,2%; nhóm cây gỗ với 21 loài, chiếm 14,5% và cuối cùng là nhóm cây thân rễ với 6 loài, chiếm 4,1% tổng số loài cây thuốc đã điều tra được Trong các bộ phận của cây thuốc, rễ là bộ phận được sử dụng nhiều nhất với 51 loài chiếm 35,2%; thân với 33 loài chiếm 22,8%; lá

và cả cây được sử dụng với tỷ lệ bằng nhau là 17,2% Các bộ phận khác như: Vỏ,

củ, quả tuy được sử dụng nhưng tỷ lệ không đáng kể Có 13 nhóm bệnh chủ yếu được chữa trị bằng cây thuốc bản địa với kiến thức của đồng bào dân tộc Trong đó, nhóm bệnh về tiêu hoá là nhiều nhất với 14 loài chiếm 9,7%; tiếp đến là nhóm bệnh phụ nữ với 13 loài, chiếm 9,0% Các bệnh về ngoài da và động vật côn trùng cắn có

số loài lần lượt là 12 loài, chiếm 8,3% và 9 loài, chiếm 6,2% Một số bệnh về răng

và dạ dày tỷ lệ sử dụng cây thuốc để chữa trị là khá ít [9]

Võ Văn Minh và cộng sự (2014) nghiên cứu cây thuốc của người Hre tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi Kết quả đã điều tra xác định được 45 loài cây thuốc, thuộc 26 họ, thông qua việc sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của cộng đồng người Hre huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi Trong đó có 2 loài thuốc quý trong danh lục

Đỏ cây thuốc Việt Nam, 6 loài quý theo kiến thức bản địa của người dân Cây thuốc được khai thác chủ yếu từ tự nhiên (84,44%), kiến thức bản địa phong phú thể hiện

ở kinh nghiệm sử dụng để chữa trị 12 nhóm bệnh khác nhau, số lượng các loài cây

Trang 26

thuốc được sử dụng chữa các nhóm bệnh cơ - xương - khớp, thận, nội tiết, gan là nhiều nhất Cách thức chế biến sử dụng khá đa dạng Những loài cây thuốc quý cần

ưu tiên bảo tồn là Ba kích (Morinda officinalis), Thổ phục linh (Smilax glabre), Sa nhân tím (Amomum longiligulare) [12]

Lê Thanh Hương và cộng sự (2012) Đánh giá thực trạng cây thuốc quý hiếm

tại tỉnh Thái Nguyên, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, khoa học tự nhiên và công nghệ,

cho thấy kết quả bước đầu đã xác định được 25 loài thực vật bậc cao có mạch sử dụng làm thuốc cần đươc phải bảo tồn Trong đó, theo Sách đỏ Việt Nam có 20 loài (cấp EN có 6 loài, cấp VU có 11 loài và cấp K có 3 loài); theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP có 6 loài (1 loài ở mức độ nghiêm cấm khai thác sử dụng - IA và 5 loài hạn chế khai thác sử dụng - IIA); theo Danh lục đỏ cây thuốc có 15 loài (cấp

EN có 10 loài và cấp VU có 5 loài) [8]

Theo Nguyễn Thế Cường, Trần Duy Thái, Chu Thị Thu Hà (2015), Bổ sung

một số kết quả điều tra, nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu rừng đặc dụng Na Hang tỉnh Tuyên Quang, Hội nghị Khoa học toàn quốc về sinh thái và tài

nguyên sinh vật lần thứ 6 cho thấy kết quả điều tra trong năm 2014 và 2015 tại khu rừng đặc dụng Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, đã thống kê được 275 loài cây thuốc thuộc 204 chi và 96 họ thực vật bậc cao có mạch được người Dao và người Tày sử

dụng để làm thuốc trị bệnh) [5]

Theo Trần Thị Ngọc Diệp (2016), Nghiên cứu đa dạng cây thuốc ở khu bao

tồn thiên nhiên Hòn Bà tỉnh Khánh Hòa, cho thấy kết quả quá trình điều tra và

nghiên cứu hệ thực vật tại khu vực Hòn Bà khá đa dạng và phong phú Bước đầu đã xác định được 515 loài với 360 chi, 120 họ thuộc 3 ngành thực vật bậc cao có mạch (Polypodiophyta, Pinophyta, Magnoliophyta) được sử dụng làm thuốc [6]

Yên Bái là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc cùng sinh sống với những kinh nghiệm dân gian độc đáo trong việc sử dụng cây cỏ hoang dại để làm thuốc chữa bệnh Tuy nhiên, những nghiên cứu về cây thuốc ở Yên Bái còn ít, chưa đi sâu tìm hiểu một cách đầy đủ và hệ thống về vốn tri thức bản địa của cộng đồng các dân tộc sinh sống trong tỉnh Việc tiến hành điều tra, nghiên cứu tổng thể nguồn cây dược liệu trên phạm

Trang 27

vi toàn tỉnh sẽ góp phần bổ sung những tư liệu quý vào kho tàng y học cổ truyền Việt Nam và thế giới nhằm phục vụ công tác bảo tồn và nghiên cứu khoa học

1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

1.3.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa phận của bốn xã phía Nam của huyện Văn Yên: xã Nà Hẩu, xã Đại Sơn, xã Mỏ Vàng và xã Phong Dụ Thượng Khu BTTN cách trung tâm huyện 30km và có vị trí địa lý như sau:

Từ 104º23’ đến 104º40’ kinh độ Đông

Từ 21º50’ đến 22º01’ vĩ độ Bắc

Hình 1.1 Vị trí địa lý khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu

- Phía Bắc giáp các xã Xuân Tầm, Tân Hợp, Đại Phác huyện Văn Yên

- Phía Đông giáp xã Viễn Sơn huyện Văn Yên

- Phía Đông - Nam giáp huyện Trấn Yên

- Phía Nam giáp huyện Văn Chấn

- Phía Tây và Tây - Nam giáp huyện Mù Cang Chải

- Phía Tây Bắc giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai

Tổng diện tích tự nhiên khu vực 4 xã là 43.850 ha, chiếm 31,6% tổng diện tích (27 xã) toàn huyện

Trang 28

1.3.1.2 Địa hình, địa thế

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu nằm trong vùng địa hình đồi núi trung bình

và cao thuộc lưu vực sông Hồng của dãy Hoàng Liên Sơn Nhìn toàn cảnh các dãy núi cao phổ biến từ 1000-1400m, chạy theo hướng từ Tây-Bắc đến Đông-Nam và thoải dần về phía Đông-Bắc Cao nhất trong khu vực là đỉnh núi ở phía Nam, là điểm tiếp giáp ranh giới giữa Nà Hẩu - Phong Dụ Thượng và Văn Chấn, cao khoảng 1783m Tiếp đến là đỉnh phía Bắc thuộc Núi Khe Vàng cao 1412m, là điểm tiếp giáp ranh giới của ba xã Xuân Tầm, Đại Sơn và Phong Dụ Thượng

Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu là đầu nguồn của hai lưu vực suối lớn chảy theo hướng Bắc đổ ra sông Hồng, đó là lưu vực Ngòi Thia trên địa phận ba xã Nà Hẩu, Đại Sơn và Mỏ Vàng, lưu vực thứ hai trên địa phận xã Phong Dụ Thượng thuộc Ngòi Hút Phân chia giữa hai lưu vực này chính là dãy núi cao 1000m nối 2 đỉnh cao nhất kể trên, là ranh giới giữa Phong Dụ Thượng với Nà Hẩu và Đại Sơn

Khu vực có các kiểu địa hình chính sau đây:

- Kiểu địa hình núi cao (N1): Được hình thành trên đá biến chất, có độ cao

từ 1200m đến 1783m Kiểu này phân bố ở trung tâm và ranh giới phía Nam của khu bảo tồn Mức độ chia cắt mạnh, các sườn núi rất dốc, độ dốc trung bình phổ biến từ 30-350 Tỷ lệ diện tích chiếm khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên khu bảo tồn

- Kiểu địa hình Núi trung bình (N2): Được hình thành trên đá biến chất, có

độ cao từ 900m đến 1200m Kiểu này phân bố ở ranh giới giữa các xã của khu bảo tồn Mức độ chia cắt mạnh, các sườn núi rất dốc, độ dốc trung bình từ 25-

300 Kiểu địa hình này chiếm khoảng 20% tổng diện tích tự nhiên khu bảo tồn

- Kiểu địa hình Núi thấp (N3): Thuộc kiểu địa hình này là các núi có độ cao

từ 500m đến 900m phân bố chủ yếu ở các khu vực phía Đông Bắc và phía Tây của khu bảo tồn Được hình thành trên các đá trầm tích lục nguyên uốn nếp, tác dụng xâm thực bóc mòn, có hình dạng tương đối mềm mại, đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc trung bình từ 20-250, chiếm khoảng 25% tổng diện tích tự nhiên khu bảo tồn

- Kiểu địa hình Đồi (Đ): Thuộc kiểu địa hình này là vùng đồi có độ cao từ

300 đến 500m, phân bố chủ yếu ở các khu vực phía Đông (xã Mỏ Vàng), phía Tây (xã Phong Dụ Thượng) phía Đông Bắc (xã Đại Sơn) và vùng trung tâm xã Nà Hẩu của khu bảo tồn Được hình thành trên các đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn, hiện nay đang được trồng cây quế, cây lâu hoặc canh tác nương rẫy Độ dốc không cao, trung bình khảng 200

Trang 29

- Kiểu địa hình thung lũng (T): Đây là những vùng trũng được kiến tạo bởi

giữa các dãy đồi núi, các thung lũng suối mở rộng, có địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp Trong phạm vi ranh giới được xác định thành Khu bảo tồn, kiểu địa hình này phân bố tập trung ở trung tâm xã Nà Hẩu (khoảng 350ha) và khu vực làng Bang của xã Đại Sơn (khoảng 70ha)

1.3.1.3 Địa chất, đất đai

Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984 cho biết: Khu vực KBT

có quá trình hình thành và phát triển địa chất rất phức tạp Toàn vùng có cấu trúc dạng nếp lồi Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ

Được hình thành trong điều kiện địa chất phức tạp vời nhiều kiểu dạng địa hình và đá mẹ khác nhau, nên có nhiều loại đất được hình thành trong khu vực Chủ yếu gồm các loại đất Feralit với tầng đất được phong hoá từ đá trầm tích, đá mác ma

và đá vôi Do khí hậu nóng ẩm tạo nên tầng đất dày với các khoáng vật khó phong hoá như Thạch anh và Silíc Thành phần cơ giới chủ yếu từ trung bình đến nặng

Những nhóm loại đất chính có trong khu vực gồm:

Đất feralít có mùn trên núi cao, được hình thành trong điều kiện mát ẩm, độ dốc lớn, không đọng nước, tầng mùn nhiều, phân bố trên các đỉnh núi cao trên 1400m, chủ yếu tập trung ở phía Nam của khu bảo tồn

Đất feralit có mùn trên núi cao và núi trung bình, được hình thành trong điều kiện ẩm mát, không có kết von và nhiều mùn Nhóm loại đất này phân bố tập trung

ở các đai độ cao từ 700m đến 1400m

Đất feralit đỏ vàng phát triển trên vùng đồi và núi thấp, được hình thành với quá trình feralitic rất mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào đá mẹ và độ ẩm Nhóm loại đất này phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 700m Thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, tầng đất dầy, ít đá lẫn, đất đai khá màu mỡ, thích hợp cho nhiều loại cây trồng

Đất dốc tụ chân đồi và ven suối, là loại đất tốt, thích hợp với việc canh tác nông nghiệp, phân bố chủ yếu ở vùng thấp dưới 400m hoặc vùng thung lũng và bồn địa Đất có tầng dày, màu mỡ

Đất biến đổi do trồng lúa, là loại đất bị biến đổi do canh tác lúa nước, đất chua, quá trình glây hoá mạnh

1.3.1.4 Khí hậu, thủy văn

- Khí hậu

Khí hậu khu vực Nà Hẩu mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới núi cao Hàng năm có hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng tư đến tháng 10, thời tiết nóng và ẩm

Trang 30

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh và khô Sau đây là số liệu các chỉ tiêu khí hậu cơ bản tại hai trạm quan trắc gần nhất là trạm khí tượng Văn Chấn và Lục Yên

Bảng 1.1 Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản

Tổng bức xạ (kcl/cm2) 147 147

Lượng mây (số phần 10) 8 8

Tổng số giờ nắng (giờ) 1585,1 1519,1 Vận tốc gió TB (m/s) 1 1,1

Số ngày sương mù (ngày) 27,54 49,8

Số ngày sương muối (ngày) 0 0

- Chế độ nhiệt:

Nhiệt độ trung bình năm biến động từ 220C đến 230C Tổng bức xạ 147 Kcl/cm2 (nằm trong vành đai nhiệt đới)

Mùa lạnh chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông-Bắc, nhiệt độ trung bình các tháng này thường dưới 200C, nhiệt độ thường thấp nhất vào thàng 1 hàng năm với trung bình là 15,10C

Trang 31

Mùa nóng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, thời tiết luôn nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình thường trên 250C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7, với nhiệt độ trung bình tháng bảy từ 27,6 đến 280C

- Chế độ mưa ẩm:

Lượng mưa trung bình năm từ 1547mm ở Văn Chấn đến 2126mm ở Lục Yên, tập trung gần 90% lượng mưa vào mùa mưa, hai tháng có lương mưa cao nhất

1.3.1.5 Hệ thực vật

Theo các báo cáo điều tra về hệ thực vật Nà Hẩu trước đây, cho thấy hệ thực vật trong Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu có tính đa dạng khá cao về thành phần loài, về yếu tố địa lý, về dạng sống và về giá trị sử dụng

Hình 1.2 Hiện trạng rừng năm 2017 khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu

Trang 32

a Thành phần thực vật

Theo kết quả điều tra, hệ thực vật tại vùng lõi của Khu bảo tồn hiện nay có 516 loài thuộc 332 chi và 126 họ thuộc 5 ngành là ngành Thông đất (Lycopodiophyta), ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta), ngành Dương xỉ (Polyopodiophyta), ngành Hạt trần (Gymnospermoc) và ngành Hạt kín (Angiospermac)

Bảng 1.2 Thành phần thực vật bậc cao ở Khu bảo tồn Nà Hẩu

Số

loài

Tỷ lệ%

và họ, bộ Kết quả so sánh được ghi ở bảng 1.3

Bảng 1.3 So sánh khu hệ thực vật Nà Hẩu với một số khu bảo vệ khác

KBTTN, VQG Diện tích

KBTTN Nà Hẩu (vùng lõi) 16.950 126 332 516 KBTTN Hòn Bà 20.978 120 401 592 Khu BTTN Na Hang 7.091 121 - 607 Khu BTTN Hữu Liên 10.640 162 506 795 VQG Ba vì 6.786 98 472 812 VQG Ba Bể 7.610 114 300 417 VQG Cát Bà 9.800 133 418 603 Vườn quốc gia Pù Mát 91.113 202 931 2.494

Trang 33

Qua bảng 1.3 cho thấy so với các khu vực lân cận thì Khu bảo tồn thiên

nhiên Nà Hẩu, là KBT có mức đa dạng hệ thực vật khá cao, không thua kém với các khu vực lân cận

b Tính đa dạng

- Đa dạng về thành phần loài

Trong số 126 họ thực vật đã điều tra, thống kê được 35 họ có nhiều loài Trong đó họ nhiều nhất có 35 loài, đa số các họ có 6 đến 7 loài Số liệu cụ thể được trình bày tại bảng 1.4

Bảng 1.4 Các họ thực vật có nhiều loài ở khu BTTN Nà Hẩu

16 Lamiaceae Họ Hoa môi 8

17 Lauraceae Họ Long não 7

18 Magnoliaceae Họ Mộc lan 7

19 Meliaceae Họ Xoan 6

Trang 34

TT Tên khoa học Tên họ Việt Nam Số loài

20 Menispermaceae Họ Tiết dê 5

- Đa dạng về dạng sống

1) Nhóm cây lớn và vừa có chồi trên đất (Mm): Nhóm này có 168 loài, chiếm 32,55% Một số họ có số loài chiếm tỉ trọng cao thuộc nhóm này như Fagaceae, Elaeocarpaceae, Burseraceae, Ceasalpiniaceae,… Đây là nhóm tập trung nhiều cây gỗ lớn và vừa, có giá trị kinh tế cao như: Pơ mu, Giổi, Chò chỉ, Táu mật, Sến mật

2) Nhóm cây có chồi trên đất (Mi): Nhóm này có 98 loài, chiếm 18,99% tổng

số loài Họ có nhiều loài thuộc nhóm này như Euphorbiaceae, Myrsinaceae, Annonaceae Nhóm này có nhiều loài cây cho gỗ nhỏ, củi

3) Nhóm cây thấp có chồi trên đất (Na): Nhóm này có 75 loài, chiếm 14,53% tổng số loài, có nhiều loài thuộc nhóm này như Rubiaceae, Acantuceae, Fabaceae,… Các loài này thường tạo thành lớp thảm dưới tán rừng

4) Nhóm cây leo quấn có chồi trên đất (Lp): Nhóm này có 49 loài, chiếm 9,50% tổng số loài Họ có nhiều loài thuộc nhóm này như Fabaceae, Rubiaceae,…

Trang 35

5) Nhóm cây chồi trên đất, sống bì sinh (Ep): Nhóm này có 8 loài, chiếm 1,55%, điển hình như các loài trong họ Orchidaceae, Arceae, Asslepiadaceae… Đây

là nhóm loài có dạng sống đặc trưng cho vùng nhiệt đới ẩm

6) Nhóm cây chồi trên đất sống ký sinh và bán ký sinh (Pp): nhóm này có 3 loài, chiếm 0,58%, điển hình như một số loài trong họ Loranthaceae, Viscaceae, Balimophoraceae, Luairtaceae

7) Nhóm cây chồi trên thân thảo (PhH): Nhóm này có 36 loài, chiếm 6,97% các họ có nhiều loài thuộc nhóm này là Asteraceae, Fabaceae, Euphorbiaceae, Acanthaceae

8) Nhóm cây chồi nửa ẩn (H): Nhóm này có 38 loài, chiếm 7,36%, điển hình như một số loài trong họ: Pteridaceae, Adiantaceae, Schizeaceae

9) Nhóm cây chồi 1 năm (Th): Nhóm này có 41 loài, chiếm 7,9%, các loài trong nhóm này tập trung ở các họ Poaceae, Asterraceae, Cypenraceae

Từ kết quả trên, chúng ta có thể đi đến nhận xét sau đây:

Trong các nhóm trên nhóm cây lớn cây lớn và vừa có chồi trên đất (Mm) có

số loài nhiều nhất chiếm 32,55% tổng số loài Đây cũng chính là nhóm cây có khả năng cung cấp gỗ dùng trong xây dựng, dân sinh và gỗ củi Tiếp theo là nhóm cây

có chồi trên đất chiếm 18,99% tổng số loài Thấp nhất là nhóm Pp chỉ có 3 loài chiếm 0,58%

- Đa dạng về giá trị sử dụng

Căn cứ vào mục đích sử dụng có thể chia các loài cây vào các nhóm sử dụng sau đây:

Bảng 1.5 Phân loại thực vật theo công dụng

N: Cây cho nhựa, tinh dầu, sơn, thuốc nhuộm

Trang 36

- Nhóm cây cho gỗ lớn, vừa dùng trong xây dựng có 151 loài, chiếm 29,26%

- Nhóm cây dùng làm đồ thủ công mỹ nghệ như Pơmu (Fohienia hodginsii), Mua (Diaspyros mun), Thừng mực (Wrightia annamensis), Kim giao (Nageia

fleuryi), Vàng tâm (Manglietia fordiana), Song mật (Calamus platyacanthus), Song

bột (Calamus poilanei), Mây (Calamus tetradactylus)… chiếm số lượng ít nhất, chỉ

có 22 loài, chiếm 4,26%

- Nhóm cây làm dược liệu: điển hình như loài Cốt toái bổ (Drynaria

fortunei), Kha tử (Termilarra chebula), ổ kiến (Hydnophyllum formicarum), Đỗ

trọng nam (Evonymus chinensis), Kim tuyến (Arvectochilus setaceus), Mã tiền (Strychno ignatii)…

- Nhóm cây cho nhựa, sáp, tinh dầu thơm, chất nhuộm: Tại KBT có nhiều loài cây cho nhựa quý và có giá trị kinh tế cao, chiếm khoảng 5,62%

- Nhóm cung cấp lương thực, thực phẩm, quả ăn có nhiều loài, điển hình như

Củ mài (Dioscorea persimilis), chuối (Musa sp), Măng (Cephalostachyum

chevalieri), dây gắm (Gnetum morotanum), Bứa núi (Garcinia montanum), Rau má

(Centella asiatica), Rau tàu bay (Gynara crepidoides), quả Ươi (Scanphium

lychophorum), chiếm 11,05%

Các cây thuốc phân bố khá phổ biến trong khu vực (cả rừng núi đá, núi đất

và tản mạn trong nhân dân)

c Các loài bị đe doạ và loài đặc hữu, quý hiếm

Trong danh lục thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu có 27 loài thuộc diện quý hiếm ghi trong Sách đỏ Việt Nam Thống kê các loài quý hiếm theo cấp bị

đe doạ như sau:

Bảng 1.6 Mức độ nguy cấp của các loài thực vật

Trang 37

1.3.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội

1.3.2.1 Đặc điểm dân số và lao động

- Người dân sống ở trong xã tới 99% là dân tộc H’mông thuộc 5 thôn: Bản Tát, Khe Tát, Khe Cạn, Làng Thượng, Ba Khuy Cuộc sống của người dân nơi đây hiện còn có nhiều khó khăn Trong xã có tới 59 hộ thuộc diện cận nghèo, 271 hộ thuộc diện hộ nghèo

1.3.2.2 Điều kiện kinh tế

- Về nông nghiệp:

Trồng trọt: Diện tích đất nông nghiệp có tỷ lệ quá nhỏ so với tổng diện tích Trong đó đất trồng lúa màu ít bình quân 285km2 /khẩu sản phẩm trồng trọt chủ yếu

là lúa nước, ngô, lúa nương, sắn Ruộng nước được phân bố nơi thấp, gần nơi dân

cư, ven suối và ruộng bậc thang Năng suốt lúa thấp do kỹ thuật canh tác chưa cao, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên

Chăn nuôi trong khu vực chưa phát triển, chưa được chú trọng đầu tư Thành phần đàn gia súc tương đối đơn giản chủ yếu là trâu, bò, ngựa, lợn, gà Công tác thú

y chưa phát triển, các thôn bản chưa có cán bộ thú y hoặc cán bộ chưa từng qua trường lớp chính quy

- Về lâm nghiệp:

Trước đây lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng chủ yếu là gỗ, các loài động vật phục vụ làm nhà và nguồn thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hóa Từ khi thực hiện đóng cửa rừng tự nhiên, giao đất giao rừng, lực lượng kiểm lâm đã cấm bán cùng người dân tham gia bảo vệ rừng thì hiện tượng khai thác gỗ và săn bắn thú rừng bừa bãi không còn xảy ra thường xuyên, công khai Một nguồn lợi từ rừng đem lại sự giàu có của nhiêu hộ trong khu vực nhất là ở Phong Dụ Thượng,

Mỏ vàng, Đại Sơn là trồng và khai thác rừng quế, có thể xem cây quế ở đây là cây xóa đói giảm nghèo, là cây đem lại thu nhập chính của người dân trong khu bảo tồn

1.3.2.3 Văn hóa xã hội, giáo dục, y tế

- Văn hóa xã hội:

Trong khu bảo tồn hầu hết các cộng đồng dân cư là dân tộc H'Mông và Dao, Cộng đồng dân cư các dân tộc thiểu số ở đây vẫn giữ gìn tốt bản sắc văn hoá của

Trang 38

dân tộc mình, thể hiện trong trang phục, lối sống, các hoạt động sản xuất, dệt vải, thêu thùa và làm đồ thủ công mỹ nghệ Đây là tiềm năng lớn trong du lịch sinh thái, nhân văn Những đóng góp của khu rừng đặc dụng vào việc phòng hộ, duy trì cảnh quan thiên nhiên, cân bằng sinh thái và giữ gìn bản sắc văn hoá, nhân văn là rất to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của khu vực

Do điều kiện là vùng sâu, vựng xa của cả nước, điều kiện phát triển kinh tế

xã hội ở khu bảo tồn còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao, đời sống vật chất

và tinh thần còn nhiều thiếu thốn, lạc hậu, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế Việc đầu tư xây dựng khu bảo tồn sẽ là cơ hội góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững

- Giáo dục: Xã có trường học cấp tiểu học cơ sở và trung học cơ sở, nhưng điều kiện cơ sở vật chất và giáo viên thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân Hầu hết trẻ em đến độ tuổi đi học đều được đến trường

- Y tế: Xã đã có trạm y tế và cán bộ y tế Tuy nhiên chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân địa phương Trong điều kiện giao thông như Nà Hẩu thì rất cần thiết phải tăng cường y tế tuyến xã Các dịch bệnh lớn không xảy ra do làm tốt công tác phòng bệnh

1.3.2.4 Cơ sở hạ tầng

- Giao thông: Xã Nà Hẩu hiện nay đã có đường giao thông đổ bê tông và

cấp phối đến trung tâm xã tuy nhiên do độ dốc cao, nền địa chất kém bền vững nên hiện tượng sạt lở thường xuyên xảy ra, gây tắc đường không có khả năng khắc phục ngay, việc giao lưu văn hoá, hàng hoá gặp nhiều khó khăn Trong vùng các

xã đã chú trọng xây dựng đường liên thôn, xã, nhưng đường hẹp, dốc, lầy lội vào mùa mưa

- Thuỷ lợi: Trong vùng canh tác nông nghiệp, điều kiện nguồn nước không

khó khăn do được đầu tư nên hệ thống thuỷ lợi tương đối phát triển Cần đầu tư cho thủy lợi để tăng năng suất cây trồng, tăng vụ trên diện tích đã có, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần cho người dân tham gia vào công cuộc bảo tồn trong khu vực rừng đặc dụng

Trang 39

1.3.3 Nhận xét, đánh giá thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tới bảo tồn loài cây dược liệu

* Thuận lợi

- Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu là nơi phân bố tự nhiên của nhiều loài cây dược liệu Đặc điểm về đất đai, khí hậu phù hợp cho sự phát triển của nhiều loài, trong đó có các loài quý hiếm và có giá trị kinh tế cao

- Cây dược liệu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu có nhiều tác dụng trong việc chữa trị các loại bệnh Có nhiều loại bệnh được người dân địa phương sử dụng cây tại khu vực để chữa bệnh

- Người dân có kiến thức địa phương phong phú trong việc sử dụng các cây thuốc tại khu vực

- Tài nguyên rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu phong phú, đa dạng, nhiều loài động thực vật quý hiếm có giá trị bảo tồn cao nên thu hút được sự quan tâm của các cấp, các ngành, chính quyền địa phương cũng như các nhà khoa học

- Lực lượng lao động dồi dào, người dân có nhiều kinh nghiệm trong sử dụng, sản xuất cây lâm nghiệp nên việc huy động cộng đồng chung tay bảo vệ, phát triển lâm nghiệp nói chung và bảo tồn cây dược liệu nói riêng gặp nhiều thuận lợi

* Khó khăn

- Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu là nơi sinh sống của phần đông đồng bào dân tộc thiểu số có cuộc sống khó khăn và hạn chế về mặt nhận thức Do vậy, tình trạng xâm lấn, khai thác trái phép rừng vẫn xảy ra, gây mất rừng đồng thời mất cây dược liệu

- Trong vùng lõi của KBT vẫn còn các hộ dân sinh sống nên công tác quản lý

và bảo vệ rừng gặp những khó khăn nhất định

- Khu vực có địa bàn rộng, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, kinh tế còn nhiều hạn chế nên khó khăn trong việc triển khai các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng nói chung

- Thiếu thông tin về tầm quan trọng của các loài cây dược liệu dẫn đến việc khai thác bừa bãi hoặc vô tình tác động làm mất cây dược liệu

Trang 40

- Nguồn nhân lực hiện tại thiếu và hạn chế cả về mặt năng lực, trang thiết bị

và ngân sách để thực hiện hiệu quả công tác quản lý bảo tồn và đáp ứng các mục tiêu quản lý khu bảo tồn

- Trong địa bàn quản lý nhiều nguồn tài nguyên có giá trị cao (gỗ quý, động vật quý hiếm, khoáng sản, ) là đối tượng của các hoạt động bất hợp pháp

- Phần lớn các xã trong khu vực chưa có quy hoạch vùng chăn thả gia súc nên tình trạng thả rông gia súc vẫn còn phổ biến

Ngày đăng: 20/04/2019, 08:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Khắc Bảo (2003), “Cây thuốc - nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang có nguy cơ cạn kiệt”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, (10/2003), trang 1336 - 1338 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc - nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang có nguy cơ cạn kiệt”, "Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Trần Khắc Bảo
Năm: 2003
2. Ninh Khắc Bản, Vũ Hương Giang, Trần Mỹ Linh, Lê Quỳnh Liên, Nguyễn Quốc Bình, Trần Thiện Ân, Huỳnh Văn Kéo, Jacinto Regalado (2013), “Tri thức sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng dân tộc Cơ tu và Vân kiều tại vùng đệm Vườn quốc gia Bạch Mã”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 5, Nxb Nông nghiệp, trang 950 - 956 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tri thức sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng dân tộc Cơ tu và Vân kiều tại vùng đệm Vườn quốc gia Bạch Mã”
Tác giả: Ninh Khắc Bản, Vũ Hương Giang, Trần Mỹ Linh, Lê Quỳnh Liên, Nguyễn Quốc Bình, Trần Thiện Ân, Huỳnh Văn Kéo, Jacinto Regalado
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2013
3. Nguyễn Ngọc Bình, Phạn Đức Tuấn (2000), Trồng cây đặc sản và dược liệu dưới tán rừng, Cục khuyến nông khuyến lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng cây đặc sản và dược liệu dưới tán rừng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình, Phạn Đức Tuấn
Năm: 2000
4. Ngô Quý Công, Bruce Dunn (2005), “Đề xuất về bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn Quốc gia Tam Đảo”, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (5), trang 8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất về bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn Quốc gia Tam Đảo”, "Bản tin Lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Ngô Quý Công, Bruce Dunn
Năm: 2005
5. Nguyễn Thế Cường, Trần Duy Thái, Chu Thị Thu Hà (2015), Bổ sung một số kết quả điều tra, nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu rừng đặc dụng Na Hang tỉnh Tuyên Quang, Hội nghị Khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 6 trang 1094 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bổ sung một số kết quả điều tra, nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu rừng đặc dụng Na Hang tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Nguyễn Thế Cường, Trần Duy Thái, Chu Thị Thu Hà
Năm: 2015
6. Trần Thị Ngọc Diệp (2016), Nghiên cứu đa dạng cây thuốc ở khu bao tồn thiên nhiên Hòn Bà tỉnh Khánh Hòa, luận án tiến sỹ sinh học, viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đa dạng cây thuốc ở khu bao tồn thiên nhiên Hòn Bà tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Trần Thị Ngọc Diệp
Năm: 2016
8. Lê Thanh Hương và cs. (2012), Đánh giá thực trạng cây thuốc quý hiếm tại tỉnh Thái Nguyên, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, khoa học tự nhiên và công nghệ số 28 (2012) trang 173-194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng cây thuốc quý hiếm tại tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Lê Thanh Hương và cs
Năm: 2012
9. Bùi Văn Hướng, Nguyễn Văn Dư, Hà Tuấn Anh, Trần Huy Thái, Trần Minh Hợi (2013), “Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc tại tỉnh Gia Lai”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 5, Nxb Nông nghiệp, trang 1105 - 1109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc tại tỉnh Gia Lai”
Tác giả: Bùi Văn Hướng, Nguyễn Văn Dư, Hà Tuấn Anh, Trần Huy Thái, Trần Minh Hợi
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2013
10. Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thúy Bình (2000), Tìm hiểu việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của người Dao xã Địch Quả - huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của người Dao xã Địch Quả - huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thúy Bình
Năm: 2000
12. Võ Văn Minh, Phạm Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Kim Yến (2014), “Cây thuốc của người Hre và đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi”, Tạp chí KHLN, số 1, trang 3206 - 3215 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cây thuốc của người Hre và đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi”
Tác giả: Võ Văn Minh, Phạm Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Kim Yến
Năm: 2014
13. Đỗ Hoàng Sơn, Đỗ Văn Tuân, Thực trạng khai thác, sử dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng khai thác, sử dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm
14. Nguyễn Văn Tập (2005), “Một số vấn đề bảo tồn cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng”, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (4), trang 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề bảo tồn cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng”, "Bản tin Lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Nguyễn Văn Tập
Năm: 2005
15. Nguyễn Văn Tập (2006), “Những phát hiện về tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Nam”, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (10/2006), trang 20-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện về tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Nam”, "Bản tin Lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Nguyễn Văn Tập
Năm: 2006
16. Phan Văn Thắng (2002), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố hoàn cảnh đến sinh trưởng của thảo quả tại xã San Sả Hồ - tỉnh Lào Cai, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố hoàn cảnh đến sinh trưởng của thảo quả tại xã San Sả Hồ - tỉnh Lào Cai
Tác giả: Phan Văn Thắng
Năm: 2002
18. Manju P., Vedpriya A., Sanjay Y., Sunil K. and Jaya P. Y. (2010), “Indigenous knowledge of medicinal plants used by Saperas community of Khetawas, Jhajjar District, Haryana, India”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine, 6, (4), pp. 4 – 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indigenous knowledge of medicinal plants used by Saperas community of Khetawas, Jhajjar District, Haryana, India
Tác giả: Manju P., Vedpriya A., Sanjay Y., Sunil K. and Jaya P. Y
Năm: 2010
19. Parinitha M., Srinivasa B.H., Shivanna M.B. (2005), “Medicinal plant wealth of local communities in some villages in Shimoga Distinct of Karnataka, India”, Journal of Ethnopharmacology 2005, 98, pp. 307-312 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medicinal plant wealth of local communities in some villages in Shimoga Distinct of Karnataka, India
Tác giả: Parinitha M., Srinivasa B.H., Shivanna M.B
Năm: 2005
20. Rey G. T. (2012), “Survey on ethnopharmacology of medicinal plants in Iloilo, Philippines”, International Journal of Bio-Science and Bio- Technology, 4, (4), pp. 11 – 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Survey on ethnopharmacology of medicinal plants in Iloilo, Philippines
Tác giả: Rey G. T
Năm: 2012
21. Gidey Yirga (2010), “Assessment of indigenous knowledge of medicinal plants in Central Zone of Tigray, Northern Ethiopia”, African Journal of Plant Science, 4, (1), pp. 6 – 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment of indigenous knowledge of medicinal plants in Central Zone of Tigray, Northern Ethiopia
Tác giả: Gidey Yirga
Năm: 2010
22. Mahwasane S.T., Middleton L., Boaduo N. (2013), “An ethnobotanical survey of indigenous knowledge on medicinal plants used by the traditional healers of the Lwamondo area, Limpopo province, South Africa”, South African Journal of Botany, 88, pp. 69 – 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ethnobotanical survey of indigenous knowledge on medicinal plants used by the traditional healers of the Lwamondo area, Limpopo province, South Africa
Tác giả: Mahwasane S.T., Middleton L., Boaduo N
Năm: 2013
23. Koushalya N. S. (2013), “Traditional knowledge on ethnobotanical uses of plant biodiversity: a detailed study from the Indian western Himalaya”, Biodiversity: Research and Conservation, 28, pp. 63-77, DOI:10.2478/v10119-012-0028-z Sách, tạp chí
Tiêu đề: Traditional knowledge on ethnobotanical uses of plant biodiversity: a detailed study from the Indian western Himalaya
Tác giả: Koushalya N. S
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w