Nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm mới cho mối quan hệ giữa phát triển của quỹ hưu trí tự nguyện với sự tăng trưởng của TTCK, theo nghiên cứu của tác giả thông qua phân tích định lượng
Trang 1TRẦN NGUYỄN MINH HẢI
PHÁT TRIỂN QUỸ HƯU TRÍ TỰ NGUYỆN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Trang 3Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
Vào lúc giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại
THƯ VIỆN QUỐC GIA
THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
Trang 4DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ
Trong quá trình thực hiện luận án, một phần của luận án đã được sử dụng để công bố trên các tạp chí và hội thảo khoa học chuyên ngành về lĩnh vực Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng để gia tăng độ tin cậy của luận án khi nhận được các phản biện của Quý chuyên gia và Quý độc giả có uy tín
Các bài viết cụ thể như sau:
Trần Nguyễn Minh Hải (2016) Phát triển Quỹ hưu trí tự nguyện trên Thị trường chứng
khoán Việt Nam Tạp chí Thị trường Tài chính - Tiền tệ, số 22 (463), tháng 11/2016, tr 21 - 27
Trần Nguyễn Minh Hải (2017) Cải cách hệ thống hưu trí: Xu hướng thế giới và thực
trạng Việt Nam Tạp chí Phát triển & Hội nhập, số 34 (44), tháng 05 - 06/2017,
tr 88 - 93
Trần Nguyễn Minh Hải (2018) The impact of voluntary funded pension funds on stock
market: the case of APEC economies Proceedings of the first international conference on Vietnam’s Business & Economics Research 2018 (VBER 2018), July 22 - 24, 2018, Ho Chi Minh City Retrieved from http://vber.ou.edu.vn/speakers-slides/
Trang 5hệ thống hưu trí được tài trợ (funded pension system) này đã cho phép các quỹ hưu trí
tự nguyện tích lũy tài sản của quỹ để đầu tư trên thị trường tài chính Việc tích lũy này được kỳ vọng sẽ tăng cường chiều sâu và khả năng thanh khoản của thị trường vốn Đồng thời, với tài sản được tích lũy và nguồn vốn mang tính chất dài hạn, các quỹ hưu trí tự nguyện có động lực đầu tư nhiều hơn vào các tài sản dài hạn và thanh khoản kém nhằm đạt được lợi tức cao hơn, từ đó cũng góp phần cung ứng nguồn tài trợ dài hạn đối với thị trường vốn nói chung, TTCK nói riêng (Davis, 1998; Davis, 2000)
Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về phát triển quỹ hưu trí tự nguyện đối với sự tăng trưởng của TTCK (Catalan, Impavido & Musalem, 2000; Walker &Lefort, 2002; Impavido, Musalem & Tresselt, 2003; Davis & Hu, 2008; Raddatz & Schmukler, 2008; Hryckiewicz, 2009; Kim, 2010; Meng & Pfau, 2010; Liang & Bing, 2010; Rocholl & Niggemann, 2010; Raisa, 2012; Hu, 2012; Zandberg & Spierdijk, 2013; Sun & Hu, 2014) Mặc dù các nghiên cứu thực nghiệm này sử dụng các mô hình định lượng khác nhau nhằm tìm kiếm phương pháp ước lượng đáng tin
Trang 6cậy và khoảng thời gian các bộ dữ liệu khác nhau, nhưng hầu hết các kết luận đều cho thấy một sự đồng thuận về ý nghĩa và vai trò tích cực của quỹ hưu trí tự nguyện đến sự phát triển của thị trường vốn Qua đó, các nghiên cứu khẳng định vai trò nhà đầu tư tổ chức của loại hình quỹ hưu trí tự nguyện và sự cần thiết phát triển loại hình này trên TTCK Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm này đều gặp phải sự hạn chế về
số lượng các biến quan sát, cụ thể là khoảng thời gian quan sát sẵn có chưa đủ lâu dài Mặt khác, các nghiên cứu trên đều tập trung vào các quốc gia phát triển thuộc khối OECD cũng như các thị trường mới nổi, trong khi đó theo Ngân hàng Phát triển Châu
Á (Asian Development Bank - ADB) thì các nghiên cứu về thị trường hưu trí thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương còn rất hiếm trong các tài liệu hiện có (Hu, 2012) Nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm mới cho mối quan hệ giữa phát triển của quỹ hưu trí tự nguyện với sự tăng trưởng của TTCK, theo nghiên cứu của tác giả thông qua phân tích định lượng cho bộ dữ liệu bảng không cân bằng và sử dụng các yếu tố vĩ mô làm các biến kiểm soát, tại các nền kinh tế thuộc khối Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á
- Thái Bình Dương (Asia Pacific Economic Cooperation - APEC), sự phát triển quỹ hưu trí tự nguyện có mối tương quan dương với sự phát triển của TTCK với hệ số hồi quy là dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% trong điều kiện các yếu tố khác không đổi trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015 Các kết quả từ phân tích định lượng
mô hình hồi quy của nghiên cứu của tác giả cũng đã cho thấy sự nhất quán với cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước về mối liên quan tích cực giữa sự tăng trưởng của quỹ hưu trí tự nguyện với sự phát triển của TTCK Chính vì vậy tác giả tin rằng luận án sẽ góp phần vào cuộc tranh luận về ảnh hưởng của việc phát triển tài sản quỹ hưu trí tự nguyện trên thị trường vốn và thị trường tài chính Châu Á
Có vị trí địa lý thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, là một trong các nền kinh tế thành viên thuộc APEC, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có thu nhập bình quân đầu người còn ở mức trung bình thấp so với các nền kinh tế trong khu vực
và trên thế giới mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP ổn định qua các năm gần đây Do đó,
Trang 7Việt Nam rất có thể đối mặt với hiện trạng “già trước khi kịp giàu” trong bối cảnh dân
số già ngày càng gia tăng Vì vậy, việc bảo đảm an sinh xã hội trở thành vấn đề cấp thiết cần được giải quyết thấu đáo, bao gồm bảo đảm thu nhập hưu trí khi về già Trong khi đó, hệ thống hưu trí công của Việt Nam hoạt động theo cơ chế PAYG với mức hưởng được xác định trước (Defined Benefit - DB) do phí chi trả lương hưu cao, và dự kiến chi phí này sẽ còn gia tăng đáng kể trong những thập kỷ tới nên tiềm ẩn sự bất ổn
về mặt tài chính và sự bất công bằng giữa các thế hệ (Giang Thanh Long, 2004) Hơn nữa, áp lực chi trả thu nhập hưu trí ngày càng lớn đối với Ngân sách Nhà nước (NSNN) Việt Nam trong tương lai, từ đó góp phần làm thâm hụt NSNN, dẫn tới tác động tiêu cực đến tổng thể tài chính công (MOF, 2015a; Lưu Hải Vân, 2014) Chính vì vậy, Việt Nam đã tiến hành thực hiện các cải cách hệ thống hưu trí nhưng những cải cách này chủ yếu vẫn là những cải cách tham số (Giang Thanh Long, 2004; Điều Bá Dược, 2013; MOLISA, 2015)
Năm 2013, sự kiện Bộ Tài chính công bố Thông tư số 115/2013/TT-BTC hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử đối với hệ thống hưu trí Việt Nam cũng như giới thiệu nhân tố trung gian tài chính mới trong vai trò nhà đầu tư tổ chức trên TTCK Việt Nam Trong khi sự phát triển của TTCK Việt Nam vẫn còn được đánh giá, xếp hạng ở mức thấp so với các TTCK khác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới (WEF, 2015) do
số lượng, chất lượng hàng hóa giao dịch (VSD, 2015) cũng như hoạt động của các tổ chức tham gia thị trường vẫn còn rất hạn chế (SSC, 2012) thì sự kiện này đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước và các bên liên quan đến phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK tại Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội và thị trường, cũng như góp phần phát triển TTCK
Mặc dù được quan tâm, nhưng tại Việt Nam vẫn còn thiếu vắng các nghiên cứu
về phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Hầu hết các nghiên cứu được thực hiện
kể từ sau năm 2013 và chỉ tập trung vào (i) hiện trạng và thách thức của hệ thống hưu
Trang 8trí trong bối cảnh dân số già hóa và (ii) vai trò của quỹ hưu trí tự nguyện trong hệ thống hưu trí đa trụ cột (Điều Bá Dược, 2013; Khuất Thị Kiều Vân, 2013; TTBD, 2014; Chí Tín, 2014; Lưu Hải Vân, 2014; Nguyễn Thị Lê Thu, 2014; Trần Phương Thảo & Nguyễn Anh Tuấn, 2014; Lương Xuân Trường, 2014; Bùi Cẩm Hường, 2014; Thùy Dương, 2017)
Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận án về phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK, quỹ hưu trí tự nguyện được tập trung tìm hiểu và phân tích vì những lý do chính yếu sau đây:
Thứ nhất, quỹ hưu trí tự nguyện là một nhà đầu tư tổ chức dài hạn trên TTCK Quỹ hưu trí tự nguyện đã góp phần cấu thành nên cơ sở nhà đầu tư tổ chức (instistutional investor base) trong sự phát triển của TTCK khi (i) cung cấp cho TTCK nguồn vốn quy mô lớn, mang tính chất ổn định, dài hạn; (ii) nắm giữ phần lớn lượng tài sản tài chính và không ngừng phát triển với quy mô tài sản ngày một tăng trên TTCK
Thứ hai, quỹ hưu trí tự nguyện là một trụ cột trong hệ thống hưu trí của quốc gia, góp phần cải thiện thu nhập hưu trí khi về già, góp phần bảo đảm an sinh xã hội trong bối cảnh dân số đang già hóa theo thời gian và gánh nặng hệ thống hưu trí công đang ngày càng lớn
Từ những lý do trên, trong khuôn khổ luận án với đề tài “PHÁT TRIỂN QUỸ
HƯU TRÍ TỰ NGUYỆN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM”,
nghiên cứu tập trung hệ thống hóa lý luận chung về quỹ hưu trí tự nguyện, vị trí của quỹ hưu trí tự nguyện trong hệ thống hưu trí đa trụ cột, tiêu chí đánh giá cũng như các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện tư nhân trên TTCK từ lý thuyết đến thực nghiệm nhằm bổ sung, đóng góp vào hệ thống kiến thức về phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK và góp phần phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam
Trong đó, tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu thứ cấp từ các tổ chức quốc tế tin cậy để tiến hành xem xét tác động của phát triển quỹ hưu trí tự nguyện đến sự phát
Trang 9triển TTCK, các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK tại một số nền kinh tế trên thế giới, cụ thể là các nền kinh tế thuộc APEC nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; và dữ liệu sơ cấp từ quá trình khảo sát trực tuyến đối với cá nhân là công dân Việt Nam để thu thập thông tin về sự lựa chọn của họ đối với các nội dung liên quan đến quỹ hưu trí tự nguyện dựa vào (i) mức độ hiểu biết về tài chính và thái độ với rủi ro và (ii) sở thích, hành vi cá nhân trong vấn đề thu nhập hưu trí Nghiên cứu được tiến hành xử lý theo phương pháp kết hợp cả định tính lẫn định lượng Từ đó, luận án khẳng định sự cần thiết phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK, tạo thêm nhà đầu tư tổ chức trên TTCK Việt Nam và đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
Mục tiêu nghiên cứu chung của luận án là xác định các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu chung, luận án tập trung vào giải quyết các mục tiêu cụ thể như sau:
Phân tích, trình bày các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam thông qua mô hình PESTLIED, qua đó xác định mức độ phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam
Phân tích định lượng bằng mô hình hồi quy ảnh hưởng của phát triển quỹ hưu trí
tự nguyện đến phát triển TTCK của các nền kinh tế trên thế giới, cụ thể là các nền kinh tế thuộc APEC, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam, vốn là một nền kinh tế thành viên thuộc APEC
Trang 10 Tìm hiểu, khảo sát, thống kê mô tả nhu cầu của các cá nhân là công dân Việt Nam về những vấn đề liên quan đến quỹ hưu trí tự nguyện, phát triển quỹ hưu trí trên TTCK Việt Nam
Đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu cụ thể, luận án giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:
Các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK thông qua mô hình PESTLIED là gì? Phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam đã đạt được đến mức độ nào?
Phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK tác động đến sự phát triển của TTCK tại các nền kinh tế trên thế giới, cụ thể là các nền kinh tế thuộc APEC ra sao? Bài học kinh nghiệm nào từ nghiên cứu thực nghiệm về phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK của các nền kinh tế APEC được rút ra cho phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam?
Các cá nhân là công dân Việt Nam có hiểu biết như thế nào về những vấn đề liên quan đến quỹ hưu trí tự nguyện, phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK
và có nhu cầu ra sao về quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam?
Từ kết quả nghiên cứu tác động của phát triển quỹ hưu trí tự nguyện đến sự tăng trưởng TTCK tại các nền kinh tế thuộc APEC và kết quả khảo sát nhu cầu cá nhân là các công dân Việt Nam, các khuyến nghị nào có thể được đề xuất đối với việc phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam?
1.3 Đối tượng nghiên cứu, đối tượng khảo sát và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK
Trang 111.3.2 Đối tượng khảo sát
Các quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK của các nền kinh tế được lựa chọn, cụ thể
là các nền kinh tế thuộc APEC nhằm xem xét ảnh hưởng của phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK và các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK của các nền kinh tế thuộc APEC này
Các cá nhân là công dân Việt Nam để khảo sát nhu cầu và sự lựa chọn của họ đối với các vấn đề liên quan đến quỹ hưu trí tự nguyện, phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian
Đối với dữ liệu thứ cấp
Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp thu thập được từ các nghiên cứu thực nghiệm, tài liệu, văn bản, báo cáo, các nguồn tài liệu tham khảo tin cậy của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB), Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organiztaion - ILO), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD) … được cập nhật cho giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015 về phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK, quá trình hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam, quá trình cải cách hệ thống hưu trí Việt Nam
từ năm 2000 đến năm 2015, cập nhật thông tin liên quan năm 2016, 2017, 2018
Đối với dữ liệu sơ cấp
Đối với nguồn dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát trực tuyến đối với
cá nhân, nhà đầu tư là công dân Việt Nam về lĩnh vực tài chính - bảo hiểm để thu thập thông tin về sự lựa chọn của họ đối với các nội dung liên quan đến quỹ hưu trí tự nguyện dựa vào (i) mức độ hiểu biết về tài chính và thái độ với rủi ro; (ii) sở thích và hành vi cá nhân trong vấn đề thu nhập hưu trí vào khoảng thời gian từ ngày 24/02/2018 đến 15/3/2018
Trang 121.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Về phương pháp tiếp cận
Nghiên cứu tiếp thu và kế thừa tư tưởng của các lý thuyết sau: (i) lý thuyết phát triển các trung gian tài chính trên TTCK (David, 2000; Claus & Grimes, 2003; Andrieş, 2009; Enache, Miloş & Miloş, 2013); (ii) lý thuyết về các bên liên quan đến hoạt động của tổ chức (Phillips & Reichart, 2000; Freeman, Wick & Parmar, 2004; Buchholz, 2004); (iii) lý thuyết về thực hiện quyết định tài chính (Franzen, 2010); (iv)
lý thuyết về phân bổ tài sản dài hạn (Valdés-Prieto, 2008; Viceira, 2010; Falkenheim, 2015)
Các lý thuyết này cũng chính là nền tảng cho việc lựa chọn hướng nghiên cứu
về quỹ hưu trí tự nguyện và phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK của đề tài Ngoài ra, nghiên cứu cũng tham khảo nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ của phát triển quỹ hưu trí tự nguyện đối với sự phát triển của TTCK nhằm tham khảo và làm cơ
sở so sánh, đối chiếu kết quả khảo sát, kết quả phân tích định lượng
1.4.2 Về phương pháp thu thập dữ liệu
Đối với dữ liệu thứ cấp
Nghiên cứu dựa trên việc thu thập các dữ liệu thứ cấp từ các nguồn tài liệu tham khảo tin cậy của các tổ chức quốc tế như WB, ILO, OECD … và các công trình nghiên cứu được công bố tại các tạp chí chuyên ngành liên quan đến kinh tế, tài chính và bảo hiểm trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015
Các dữ liệu thứ cấp được sử dụng nhằm củng cố cơ sở lý luận từ lúc khái niệm
về quỹ hưu trí tự nguyện được xây dựng và giới thiệu trong mô hình thu nhập hưu trí
đa trụ cột trên thế giới cũng như kiểm định sự phát triển của quỹ hưu trí tự nguyện đối với sự tăng trưởng TTCK, các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK trên thế giới, cụ thể là tại các nền kinh tế thuộc APEC
Đối với dữ liệu sơ cấp
Trang 13Bên cạnh đó, số liệu sơ cấp cũng được thu thập thông qua khảo sát trên mạng internet (link truy cập goo.gl/PsEzXV), nghiên cứu nhận được số phiếu hợp lệ là 215 phiếu trong tổng số 223 phiếu khảo sát phản hồi (chiếm tỷ lệ 96,41%) với 10.240 lượt truy cập vào khoảng thời gian từ ngày 24/02/2018 đến 15/3/2018 Các câu hỏi được trả lời thông qua các thiết bị điện tử cá nhân có kết nối mạng internet của người tham gia khảo sát, do đó người trả lời (i) không bị ảnh hưởng bởi quan điểm người khảo sát; (ii) không có cảm giác vội vã hay bị thúc giục để trả lời và (iii) hoàn toàn ẩn danh khi trả lời
Các câu hỏi được thiết kế theo hình thức bắt buộc hoàn thành mới có thể chuyển sang câu hỏi kế tiếp nhằm giúp người tham gia thực hiện khảo sát không bỏ sót bất cứ câu hỏi nào Người tham gia không được trả phí cho việc trả lời khảo sát này
Nội dung khảo sát bao gồm 32 câu hỏi chia làm 4 phần: (i) thông tin cá nhân bao gồm 7 câu hỏi; (ii) tự đánh giá về sự am hiểu tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro khi ra quyết định tài chính trên nhiều phương diện bao gồm 9 câu hỏi; (iii) hành vi, sự
ưu tiên và mức độ đầu tư của cá nhân đối với thu nhập hưu trí nếu có chương trình hưu trí có mức đóng góp xác định trước (Defined Contribution - DC) bao gồm 8 câu hỏi; (iv) thực tiễn Việt Nam bao gồm 8 câu hỏi (PHỤ LỤC 1)
Đối tượng khảo sát của nghiên cứu là những cá nhân đang hoặc sẽ sớm trở thành người tham gia vào chương trình hưu trí tư nhân được tài trợ (private funded pension schemes), bao gồm chương trình hưu trí nghề nghiệp (private occupational/employee funded pension schemes) và kế hoạch hưu trí cá nhân (private individual/personal funded pension schemes) bên cạnh hệ thống hưu trí công (public unfunded pension system - Pay as You Go defined benefit system) tại Việt Nam Do
đó, các cá nhân được lựa chọn khảo sát là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên đã có công việc được trả lương, đang tìm kiếm việc làm hoặc đã liệt kê công việc đầu tiên khi đi làm sẽ theo đúng chuyên ngành học tập của mình
Trang 141.4.3 Về phương pháp xử lý dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính các các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK theo mô hình PESTLIED (Political, Economic, Sociological, Technological, Legal, International, Environmental, Demographic factors) Mô hình PESTLIED là một dạng mở rộng từ mô hình PESTLE (Political, Economic, Sociological, Technological, Legal, Environmental), một kỹ thuật quản trị chiến lược được sử dụng hiệu quả trong quy trình xác định các yếu tố tác động đến từ bên ngoài của kế hoạch quản lý rủi ro (Rastog & Trivedi, 2016)
Nếu như các yếu tố tác động đến từ bên trong nội bộ tổ chức có thể dễ dàng xác định hơn vì có nhiều dữ liệu lịch sử đối với các dạng tổ chức tương tự (các yếu tố phi
hệ thống) thì các yếu tố tác động đến từ bên ngoài lại vượt tầm kiểm soát của tổ chức
và có ít dữ liệu có sẵn hơn (các yếu tố hệ thống) nên có thể khiến các tổ chức dễ bị tổn thương và tổn thất nặng nề về tài chính trong khi các bên liên quan đến hoạt động của
tổ chức đều mong đợi một tỷ suất sinh lời cao Do vậy, bên cạnh việc xác định các yếu
tố tác động từ bên trong tổ chức, thì việc xác định các yếu tố tác động liên quan đến từ bên ngoài là điều cần thiết cũng như thực hiện các giải pháp thích hợp để đối mặt với những thách thức hoặc tận dụng các cơ hội từ chúng Từ đó, hoạt động của tổ chức có thể đáp ứng mục tiêu phát triển và mang lại lợi ích tốt hơn cho các bên liên quan
Phân tích PESTLIED hoạt động tốt khi kết hợp cùng với phân tích SWOT (Strengths - Weakenesses - Opportunities - Threats) vì phân tích SWOT cũng giúp chỉ
ra các yếu tố tác động từ bên trong tổ chức
Đồng thời, nghiên cứu cũng kết hợp sử dụng phương pháp phân tích định lượng cho dữ liệu bảng không cân bằng đối với các nền kinh tế thuộc APEC trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2015 để xem xét mối quan hệ giữa phát triển quỹ hưu trí tự nguyện với sự tăng trưởng của TTCK tại các nền kinh tế thuộc APEC và phương pháp thống kê mô tả kết quả khảo sát trực tuyến về sự lựa chọn của các cá nhân
Trang 151.5 Khung quy trình nghiên cứu của luận án
Hình 1.1 Khung quy trình nghiên cứu của luận án
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Nội dung nghiên cứu
- Trình bày các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam theo mô hình PESTLIED
- Xác định mức độ ảnh hưởng của phát triển quỹ hưu trí tự nguyện đến sự tăng trưởng TTCK và các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK của các nền kinh tế thuộc khối APEC bằng ước lượng mô hình hồi quy theo phương pháp Pooled OLS, FE, FE - cluster, RE
- Thống kê mô tả sự hiểu biết và nhu cầu của cá nhân là công dân Việt Nam đối với các vấn đề liên quan đến quỹ hưu trí tự nguyện, phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam
Đề xuất một số khuyến nghị về điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam nhằm góp
phần phát triển TTCK Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Sự cần thiết phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu
Phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các điều kiện phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam
- Đề xuất một số khuyến nghị phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận: Lý thuyết về phát triển trung gian tài chính trên TTCK, lý thuyết về các bên liên quan, lý thuyết tài chính hành vi, lý thuyết phân bổ tài sản dài hạn và các nghiên cứu thực nghiệm về phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK trong nước và nước ngoài
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ các tổ chức quốc tế WB, ILO, OECD …, dữ liệu sơ cấp
từ khảo sát trực tuyến các cá nhân là công dân Việt Nam
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Kết hợp phân tích định tính (mô hình PESTLIED, thống kê mô tả) và phân tích định lượng (ước lượng mô hình hồi quy theo phương pháp Pooled OLS, FE, FE - cluster, RE)
Phát triển quỹ hưu trí tự nguyện trên TTCK