1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG vấn đề cơ BẢN về KHẤU TRỪ VÀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

27 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 39,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG vấn đề cơ BẢN về KHẤU TRỪ VÀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG NHỮNG vấn đề cơ BẢN về KHẤU TRỪ VÀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG NHỮNG vấn đề cơ BẢN về KHẤU TRỪ VÀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG NHỮNG vấn đề cơ BẢN về KHẤU TRỪ VÀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHẤU TRỪ VÀ HOÀN THUẾ GIÁ

TRỊ GIA TĂNG

Trang 2

Tổng quan về Thuế giá trị gia tăng

Khái niệm thuế giá trị gia tăng

Thuế là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Quốc gia Nhà nướcnào cũng có những khoản chi ngân sách hàng năm, để bù đắp cho nhữngkhoản chi đó, có 5 nguồn tài trợ chính: bằng thuế, bằng phát hành tiền tệ,bằng cách phát hành công trái, bằng viện trợ hoàn lại và vay, nợ của nướcngoài, bằng viện trợ không hoàn lại của nước ngoài Trong 5 nguồn này,thuế là nguồn thu quan trọng nhất vì thuế có sự điều tiết chia sẻ và côngbằng giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp đồng thời nóilên sức mạnh tự chủ về tài chính của một quốc gia

Thuế là một biện pháp kinh tế của mọi Nhà nước, được thực thi khihoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng nguồn thu nhập tạo ra Cáckhoản thuế đóng góp của dân tạo thành quỹ tiền tệ của Nhà nước, Nhànước sử dụng quỹ này để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng vànhiệm vụ của mình

Một số học giả đã đưa ra quan điểm về thuế, theo Selagman “Thuế

là sự đóng góp mang tính cưỡng chế của mỗi người cho chính phủ để trang trải các chi phí và lợi ích chung không căn cứ vào lợi ích riêng được hưởng”, theo Adam Smith:“Các công dân của mỗi nước phải đóng góp cho Chính phủ theo tỷ lệ và khả năng của mỗi người, nghĩa là tỷ lệ với lợi tức mà họ được thụ hưởng do sự bảo vệ của Nhà nước”, Theo K.Marx

“Thuế là khoản đóng góp nghĩa vụ cần thiết để nuôi dưỡng Nhà nước Pháp quyền, thuế là nguồn sống đối với Nhà nước pháp hành” [10]

Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân cónghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bảnpháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trảtrực tiếp cho đối tượng nộp thuế Thuế không phải là một hiện tượng tự

Trang 3

nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắnliền với phạm trù Nhà nước và pháp luật.

Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thànhcác giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước - pháp luật

Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tạicủa nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào cácđiều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định

Sự xuất hiện của Nhà nước đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cầnthiết chi cho hoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảocho Nhà nước tồn tại, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xãhội của mình Trong điều kiện có các giai cấp, tồn tại chế độ tư hữu cùngvới phạm vi hoạt động của Nhà nước ngày càng mở rộng thì chế độ đónggóp theo phương thức tự nguyện của dân cư trong chế độ cộng sản nguyênthủy không còn phù hợp nữa Ðể có được lượng của cải cần thiết, Nhà nước

đã sử dụng quyền lực của mình ban hành pháp luật, ấn định bắt buộc cácthể nhân và pháp nhân phải đóng góp cho Nhà nước một phần của cải màhọ làm ra và hình thành qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước Ban đầu nhữngcủa cải vật chất này được thu nộp dưới hình thức hiện vật, dần dần thuếđược chuyển sang hình thức tiền tệ Ðồng thời với việc ấn định nghĩa vụthu nộp của cải vật chất đối với dân cư, Nhà nước đảm bảo việc thực hiệncác nghĩa vụ đó bằng bộ máy cuỡng chế của Nhà nước

Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu đểthuế tồn tại và phát triển Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và làmột tất yếu khách quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chứcnăng của Nhà nước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhànước

Trang 4

Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành Ở cácquốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành quỹ ngânsách nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh tế - xã hộinên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc cơ quanlập pháp Ðây là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật của cácnước Chẳng hạn ở nước Anh đạo Luật về dân quyền năm 1688 quy định:cấm mọi sự thu thuế để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước nếu khôngđược Quốc hội chấp thuận Ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: bất cứ mộtkhoản thuế nào nếu không được Quốc hội chấp thuận thì không được ápdụng Hiến pháp của nước Cộng hòa Pháp năm 1791 quy định Quốc hộiPháp có quyền biểu quyết và định đoạt các Luật thuế [22]

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luậtthuế Tuy vậy, do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốchội có thể giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi

bỏ một số loại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghịquyết về thuế

Nhà nước thu thuế làm phát sinh quan hệ phân phối giữa Nhà nướcvới các thể nhân và pháp nhân trong xã hội Ðối tượng của quan hệ phânphối này là của cải vật chất được biểu hiện dưới hình thức giá trị

Tóm lại, Thuế ra đời gắn liền với sự ra đời, tồn tại của Nhà nướccùng sự phát sinh, phát triển của nền kinh tế hàng hóa Đây là khoản thubắt buộc nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, và quản lý vĩ môvới nền kinh tế Với bản chất này, Nhà nước đặt ra ngày càng nhiều các sắcthuế, tùy điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi Quốc gia mà hệ thống thuếgồm các loại thuế khác nhau

Thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là thuế GTGT) ra đời từ nướcPháp với tên gọi Taxe Sur La Valeur Ajou tée (TVA) (Tiếng Anh là Value

Trang 5

Added Tax - VAT), sau đó được tiếp thu và áp dụng rộng rãi ở nhiều Quốcgia trên Thế giới

Theo quan điểm của Liên minh Châu Âu, Thuế GTGT là một loạithuế tiêu thụ được áp dụng chung, dựa trên giá trị tăng thêm của hàng hóavà dịch vụ Nó được áp dụng nhiều hay ít với tất cả các loại hàng hóa vàdịch vụ được mua, bán để sử dụng hoặc tiêu thụ trong toàn Liên minh Châu

Âu Do đó, hàng hóa được bán để xuất khẩu hoặc dịch vụ được bán chokhách hàng ở nước ngoài thường không phải chịu thuế GTGT Ngược lại,hàng hóa nhập khẩu bị đánh thuế GTGT để giữ công bằng cho các nhà sảnxuất EU, để họ có thể cạnh tranh bình đẳng trên thị trường Châu Âu với cácnhà cung cấp nằm ngoài Liên minh [45]

Tại Việt Nam, theo quan điểm của một số học giả, xét về bản chất,thuế GTGT là loại thuế gián thu Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấpdịch vụ là người nộp thuế nhưng thực chất người tiêu dùng lại là ngườichịu thuế thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ Điều này giúp cho cơ quanquản lý thu thuế GTGT tránh được sự phản ánh gay gắt về thuế Bên cạnhđó thuế GTGT cũng ảnh hưởng đến sức mua của công chúng do phần thuếnày đã được cấu thành trong giá bán của hàng hóa, cung cấp dịch vụ chongười tiêu dùng Những phân tích này cho thấy việc áp dụng thuế GTGTtại các quốc gia cần phải cân nhắc tính phù hợp, những yếu tố ảnh hưởngcủa loại thuế này cho nền kinh tế [22]

Tóm lại, thuế GTGT thường được dùng để chỉ một loại thuế giánthu, đánh vào việc sử dụng thu nhập, tức đánh vào việc tiêu dùng hàng hóa,dịch vụ mà cụ thể là đánh vào hành vi chuyển giao tài sản và cung cấp dịchvụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng thông qua việcmua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ Thuế GTGT được cộng vào giá bán

Trang 6

hàng hóa, dịch vụ, và người tiêu dùng phải chịu số thuế đó khi mua hànghóa, dịch vụ.

Cơ sở của thuế GTGT là khoản chênh lệch giữa các khâu mua bán,cung ứng dịch vụ, tức là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa trong quátrình sản xuất và tiêu dùng Một trong những nguyên tắc cơ bản của thuếGTGT là sản phẩm, hàng hoá dù qua nhiều khâu hay ít khâu từ sản xuấtđến tiêu dùng, đều chịu thuế như nhau

Đây là một loại thuế gián thu, vì thế thuế GTGT do người tiêu dùngchịu nhưng không phải do người tiêu dùng trực tiếp nộp mà là do ngườibán sản phẩm (hoặc dịch vụ) nộp thay vào kho bạc, do trong giá bán hànghoá (hoặc trong dịch vụ) có cả thuế giá trị gia tăng Vì qua từng công đoạn,thuế GTGT đã được người bán đưa vào giá hàng hoá, dịch vụ, cho nên thuếnày được chuyển toàn bộ cho người mua hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụcuối cùng chịu

Với ưu điểm của thuế GTGT là Nhà nước chỉ thu thuế đối vớiphần giá trị tăng thêm của các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lưu thôngmà không thu thuế đối với toàn bộ doanh thu phát sinh, nếu như không cócác sự kiện biến động về tài chính, tiền tệ, sản xuất và lưu thông giảm sút,yếu kém, kinh tế suy thoái và các nguyên nhân khác tác động thì việc ápdụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu sẽ không ảnh hưởng gì đến giácả các sản phẩm tiêu dùng, mà trái lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xáchơn vì tránh được thuế chồng lên thuế

Việc áp dụng thuế GTGT đã góp phần ổn định giá cả, mở rộng lưuthông hàng hoá, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuấtkhẩu Nhìn chung trong các loại thuế gián thu, thuế GTGT được coi làphương pháp thu tiến bộ nhất hiện nay, được đánh giá cao do đạt được các

Trang 7

mục tiêu lớn của chính sách thuế, như tạo được nguồn thu lớn cho ngânsách nhà nước, đơn giản, trung lập , cụ thể:

Thuế GTGT góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế, tạo nên sự cạnhtranh bình đẳng giữa các chủ thể khi nó bắt buộc các chủ thể phải sử dụnghệ thống hóa đơn chứng từ

Thuế GTGT giúp nhà nước kiểm soát được hoạt động, sản xuất,nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa nhờ kiểm soát được hệ thống hóa đơn,chứng từ, khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu là trốn thuế Quađó, còn cung cấp cho công tác nghiên cứu, thống kê những số liệu quantrọng

Thuế GTGT góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước một cáchhợp lý thông qua việc đánh thuế GTGT hàng nhập khẩu ngay từ khi nóxuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam; bên cạnh đó thuế GTGT đánh vào hànghóa xuất khẩu nhằm tạo ra thuế GTGT đầu ra để được hoàn thuế GTGT

Căn cứ tính thuế GTGT

Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất

Giá tính thuế giá trị gia tăng: Giá tính thuế được xác định tuỳ theo

loại hàng hoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật từng quốc gia

Tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy giátính thuế GTGT là giá cuối cùng bao gồm tất cả các các loại thuế gián thu,các khoản phí, lệ phí thu vào hàng hóa và dịch vụ đó do người mua phải trảmà chưa bao gồm thuế GTGT

Theo đó, đối với hàng sản xuất trong nước là giá hàng hóa bán ra(chưa bao gồm thuế GTGT) Ví dụ ở Thái Lan, ô tô nhập khẩu phải chịuthuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và một loại thuế địa phương có têngọi là interior tax (áp dụng ở mức tương đương 10% số thuế TTĐB phải

Trang 8

nộp), khi đó giá tính thuế GTGT là giá nhập khẩu cộng với tất cả các loạithuế này Tương tự, ở Đài Loan, giá tính thuế GTGT đối với thuốc lá baogồm thuế tiêu tiêu thụ đặc biệt và khoản phụ thu sức khỏe và phúc lợi đánhvào thuốc lá (health and wealfare surcharges)

Đối với những quốc gia có áp dụng thuế môi trường, giá tính thuếGTGT đối với những mặt hàng chịu thuế môi trường là giá đã có thuế môitrường, ví dụ ở Nam Phi, kể từ năm 2010, khi phí khí thải CO2 được ápdụng, giá tính thuế được quy định có bao gồm cả mức phí này Các nướctrong khu vực EU có áp dụng quy định tương tự, giá tính thuế GTGT đốivới hàng hóa chịu thuế môi trường là giá có bao gồm thuế môi trường

Thuế suất thuế giá trị gia tăng: Thuế suất là mức thuế phải nộp trên

một đơn vị khối lượng chịu thuế Định mức thu thuế (tỉ lệ %) tính trên khốilượng thu nhập hoặc giá trị tài sản chịu thuế

Khi ban hành luật thuế GTGT, các nước thường lựa chọn thực hiệnchế độ nhiều mức thuế suất hoặc chế độ một thuế suất (không tính mứcthuế suất 0% áp dụng đối với hàng xuất khẩu) Khi ban hành thuế suất thuếGTGT thường dựa trên những tiêu chí cơ bản: thứ nhất, mức thuế suấtđược ban hành phải tạo nguồn thu ổn định và chiếm tỉ trọng mong muốntrong tổng thu ngân sách Nhà nước Thứ hai, là loại thuế tiêu dùng, mứcthuế suất phải có khả năng định hướng tiêu dùng trong dân cư Thứ ba, quacác mức thuế suất áp dụng cho các hàng hóa thuộc diện chịu thuế, Nhànước thực hiện một số chính sách khuyến khích, thay đổi đầu tư trong nềnkinh tế

Hiện nay các nước áp dụng thuế GTGT có sự khác nhau trong việcthiết kế mức thuế suất và số lượng thuế suất trong đạo luật thuế giá trị giatăng

Trang 9

Một số nước thực hiện cơ cấu một mức thuế suất như Ðan Mạch(22 %), Nhật Bản, Singapore (3%), Italia (38%) Một số nước khác thựchiện cơ cấu nhiều thuế suất như: Bỉ, Colombia (6 mức thuế suất), Pháp (5mức thuế suất) Theo thông lệ chung, Luật thuế gía trị gia tăng của cácnước thường áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hóa xuất khẩu và một sốhàng hoá thiết yếu đối với đời sống của dân cư.

Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng:

Phương pháp khấu trừ thuế:

Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thựchiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luậtvề kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấutrừ thuế

Số thuế giá trị gia tăng phải nộp bằng (=) thuế giá trị gia tăng đầu ratrừ (-) thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ

Thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng (=) giá tính thuế của hàng hoá,dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất thuế giá trị gia tăng củahàng hoá, dịch vụ đó

Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp nàyphải tính và thu thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bán ra Khi lậphoá đơn bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giábán chưa có thuế, thuế giá trị gia tăng và số tiền người mua phải thanhtoán Trường hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán, không ghi giá chưa cóthuế và thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụbán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng từ

Thuế giá trị gia tăng đầu vào bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghitrên hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế

Trang 10

giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu dùng vào sản xuất, kinh doanh hànghoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng.

Thuế giá trị gia tăng đầu vào được tính khấu trừ quy định như sau:Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng vào sản xuất, kinh doanhhàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng thì được khấu trừ

Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ được khấu trừ phát sinh trongtháng nào được kê khai khấu trừ khi xác định thuế phải nộp của tháng đókhông phân biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho

Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng chung cho các tổ chức kinhdoanh trừ các đối tượng áp dụng tinh thuế theo phương pháp tính trực tiếptrên giá trị gia tăng

b Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng:

Phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT áp dụng cho cơ sở kinhdoanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không có cơ sở thườngtrú tại Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh tại Việt Nam chưa thực hiệnđầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ; Hoạt động mua bán vàng, bạc,đá quý

Theo phương pháp này, số thuế giá trị gia tăng phải nộp bằng giá trịgia tăng của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế nhân (x) với thuế suất thuế giá trịgia tăng của loại hàng hoá, dịch vụ đó

Giá trị gia tăng bằng giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ bán ra trừgiá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng

Những vấn đề cơ bản về khấu trừ thuế GTGT

Khái niệm, đặc điểm khấu trừ thuế GTGT

Trang 11

Theo quan điểm của các học giả Pháp, đối với phần thuế GTGTphải trả trong quá trình mua hàng hóa và dịch vụ nhằm mục đích trung giantiêu thụ, hình thành số vốn cố định hoặc để bán lại, nhà sản xuất được phépkhấu trừ trách nhiệm thuế GTGT của mình cho Chính phủ đối với thuếGTGT ghi trên hóa đơn của khách hàng của mình [14]

Quyền khấu trừ thuế GTGT là quyền của người nộp thuế trong yêucầu được các cơ quan thuế hoàn lại số tiền thuế GTGT đã trả khi hàng hóa,dịch vụ được mua lại Thuế GTGT được khấu trừ bằng cách trừ đi số tiềnđược khấu trừ từ thuế GTGT phải nộp trong số thuế GTGT phải nộpthường xuyên của chủ thể đó.[45]

Từ phương pháp tính thuế bằng khấu trừ thuế GTGT đầu vào,doanh nghiệp được phép lấy phần thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ thuế giá trịgia tăng đầu vào được khấu trừ Nếu kết quả là số dương thì đó chính là sốthuế giá trị gia tăng phải nộp cho Ngân sách nhà nước trong tháng hoặcquý Nếu kết quả là một số âm thì được chuyển bù trừ vào số thuế giá trịgia tăng phải nộp của tháng hoặc quý tiếp theo hay đề nghị cơ quan thuếhoàn lại theo quy định của pháp luật Xác định nghĩa vụ thuế theo phươngpháp khấu trừ hoàn toàn loại trừ khả năng tính thuế chồng lên thuế Bởi lẽ,cách tính thuế dựa vào hóa đơn đảm bảo xác định thuế có cơ sở và căn cứđể kiểm tra thuế do giá tính thuế, thuế suất cũng như số thuế phải nộp đượcthể hiện rõ ràng trên hóa đơn Như vậy, có thể hiểu Khấu trừ thuế GTGT làviệc xác định số thuế giá trị gia tăng phải nộp trong kỳ tính thuế trên cơ sởthuế GTGT đầu ra và đầu vào của doanh nghiệp/ cơ sở kinh doanh

Đặc điểm khấu trừ thuế giá trị gia tăng được thể hiện:

Thứ nhất, phần thuế giá trị gia tăng được khấu trừ là số thuế được

xác định một cách trực tiếp, là hiệu số thuế của các khâu trong quá trình

Trang 12

sản xuất lưu thông mà không phải phần giá trị gia tăng được xác định trựctiếp qua các khâu Trên nguyên tắc, không phải bất cứ thuế giá trị gia tăngcủa hàng hóa, dịch vụ mua vào nào cũng được khấu trừ mà chỉ có thuế giátrị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho hoạt động SXKD hàng hóa,dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng mới được khấu trừ

Thứ hai, căn cứ để xác định số thuế giá trị gia tăng đầu vào được

khấu trừ là số thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng khi muahàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóanhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoàitheo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoàikhông có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanhhoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam Trường hợp hàng hóa, dịch vụmua vào không có hóa đơn giá trị gia tăng hoặc hóa đơn giá trị gia tăngkhông đúng theo quy định của pháp luật thì cơ sở kinh doanh không đượckhấu trừ thuế Như vậy, khấu trừ thuế giá trị gia tăng chỉ áp dụng đối với

cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ và cóhóa đơn giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theophương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng hoặc cơ sở kinh doanh nộp thuếgiá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ nhưng mua hàng hóa, dịch vụcủa cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên giá trị giatăng (hóa đơn bán hàng thông thường) thì không được khấu trừ thuế giá trịgia tăng đầu vào

Việc khấu trừ thuế GTGT có vai trò vô cùng quan trọng, thể hiệnbước tiến bộ của Luật thuế GTGT so với luật thuế doanh thu trước đây:

Chống thất thu thuế cho Nhà nước, do xác định đúng số thuế phảinộp ở từng khâu

Trang 13

Đơn giản hóa quá trình quản lý và thu thuế, do số thuế phát sinh ởcác khâu được thể hiện rõ ràng qua hóa đơn, chứng từ.

Thúc đẩy các tổ chức kinh tế hạch toán theo chuẩn mực pháp luật

Nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT

Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinhdoanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ

Trường hợp hàng hóa có hao hụt tự nhiên do tính chất lý hóa trongquá trình vận chuyển, bơm rót như xăng, dầu… thì được kê khai, khấu trừsố thuế GTGT đầu vào của số lượng hàng hóa thực tế hao hụt tự nhiênkhông vượt quá định mức hao hụt theo quy định Số thuế GTGT đầu vàocủa số lượng hàng hóa hao hụt vượt định mức không được khấu trừ, hoànthuế

Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ hình thành tài sản cốđịnh là nhà ăn ca, nhà nghỉ giữa ca, phòng thay quần áo, nhà để xe, nhà vệsinh, bể nước phục vụ cho người lao động trong khu vực sản xuất, kinhdoanh và nhà ở, trạm y tế cho công nhân làm việc trong các khu côngnghiệp được khấu trừ toàn bộ

Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ (kể cả tài sản cố định)sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế vàkhông chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào củahàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịuthuế GTGT Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vàođược khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêngđược thì thuế đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu chịuthuế GTGT so với tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra không hạchtoán riêng được

Ngày đăng: 18/04/2019, 23:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w