Nam là sự ganh đua giữa các chính quyền cấp tỉnh thông quaquá trình đổi mới và sáng tạo liên tục để tạo ra môi trườngđầu tư và kinh doanh thuận lợi thu hút đầu tư phát triển sảnxuất kinh
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CẤP TỈNH
Trang 2Cạnh tranh cấp tỉnh
Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh được tồn tại từ cấp độ vi mô đến vĩ mô, baotrùm mọi lĩnh vực đời sống kinh tế- xã hội Ở mức độ kháiquát, cạnh tranh được hiểu là quá trình đổi mới và sáng tạovận động liên tục và không có điểm kết thúc Kế thừa nhữngquan điểm đã có Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thểthông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục nhằm đạtđược mục tiêu xác định với hiệu quả cao và bền vững
Cạnh tranh cấp tỉnh
Theo cấp độ có thể phân loại cạnh tranh như cấp quốcgia, cấp tỉnh (vùng), cấp DN, cấp sản phẩm (ngành) Các cấp
độ cạnh tranh liên quan chặt chẽ với nhau
Cạnh tranh cấp tỉnh là đặc thù của Việt Nam bởi sự phâncấp cho chính quyền tỉnh đã tạo ra cho cấp tỉnh quyền hạnđược mở rộng, trách nhiệm được nâng cao, giữa các tỉnh có
sự ganh đua nhau để thu hút đầu tư phục vụ các mục tiêu pháttriển kinh tế- xã hội của tỉnh Trong luận văn, tác giả đưa rakhái niệm cạnh tranh cấp tỉnh Cạnh tranh cấp tỉnh ở Việt
Trang 3Nam là sự ganh đua giữa các chính quyền cấp tỉnh thông quaquá trình đổi mới và sáng tạo liên tục để tạo ra môi trườngđầu tư và kinh doanh thuận lợi thu hút đầu tư phát triển sảnxuất kinh doanh hiệu quả nhất nhằm mục tiêu phát triển bềnvững trên cơ sở các chính sách pháp luật của TW và khai tháccác yếu tố khác một cách hợp lý.
Cạnh tranh cấp tỉnh được hiểu là kiểu cạnh tranh “ganhđua” cùng thắng khác với kiểu cạnh tranh DN thắng- thua
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Xếp hạng NLCT cấp tỉnh là quá trình tổ chức, sử dụngcác phương pháp, tiêu chí, chỉ tiêu, thang đo xác định để tínhtoán, đánh giá, phân loại NLCT các tỉnh Việc xếp hạngNLCT cấp tỉnh nhằm đánh giá môi trường kinh doanh (mức
độ thuận lợi của môi trường kinh doanh) nhằm thúc đẩy chínhquyền tỉnh đổi mới quản lý, tạo dựng lòng tin và làm hài lòngnhà đầu tư và DN Mục đích của việc cải thiện xếp hạngNLCT cấp tỉnh được khái quát như sau
- Thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội địa phương
Trang 4Vấn đề đặt ra cho chính quyền cấp tỉnh là thu hút đượccác nguồn lực trong và ngoài tỉnh vào đầu tư phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh Do đó, cần tạo được môi trường đầu tư hấpdẫn (trong khuôn khổ chính sách, luật pháp thống nhất) Việcnày đặt ra yêu cầu phải đổi mới quản lý (đồng hành cùng cácnhà đầu tư) và tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho hoạt độngđầu tư (như hạ tầng, nhân lực, ) Vì thế, xếp hạng NLCTthực chất là so sánh mức độ thuận lợi của môi trường đầu tư ởcác tỉnh với mục tiêu thúc đẩy sự ganh đua
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và cải thiện môi trường đầu
tư có mối quan hệ biện chứng với nhau Một tỉnh có môitrường đầu tư và kinh doanh tốt thì sẽ có năng lực cạnh tranhcao hơn, ngược lại để nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnhđòi hỏi phải không ngừng cải thiện môi trường đầu tư Môitrường đầu tư và kinh doanh được xem là điều kiện quyết địnhđến năng lực cạnh tranh của một địa phương
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được nâng cao, tức là môitrường kinh doanh của tỉnh được cải thiện, sẽ hấp dẫn hơn vớicác nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh trong việc tiến hành hoạtđộng đầu tư sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Khi đã thuhút nhiều các dự án đầu tư có chất lượng và sản xuất kinh
Trang 5doanh phát triển sẽ tạo ra nhiều sản phẩm, tăng nhanh giá trịtăng thêm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nhiều việc làm vànâng cao thu nhập cho người lao động và người dân địaphương.
- Khai thác thế mạnh mối quan hệ liên vùng, liên địa phương
Phát triển kinh tế vùng bao gồm các hoạt động xây dựnglợi thế cạnh tranh của vùng và của các DN trong vùng nhằmtạo thu nhập và việc làm Đó là các hoạt động được thực hiệnbởi chính quyền địa phương, các hiệp hội DN, các DN và cácđối tượng khác nhằm xoá bỏ những cản trở và giảm chi phícho các DN, đẩy mạnh tính cạnh tranh của các DN và tạo ralợi thế hơn hẳn cho từng địa phương và các DN thuộc vùng
đó
Thực chất mục tiêu này chính là khai thác và phát huylợi thế so sánh của mỗi tỉnh trong vùng Nâng cao NLCT mộttỉnh không tách rời mục tiêu phát triển chung của vùng và của
cả nước Bởi thực tiễn cho thấy, có những tỉnh chủ yếu cungcấp nguồn lực cho các tỉnh khác, nhưng xét trên tổng thể quốc
Trang 6gia hay vùng thì lại thu được nhiều lợi ích Mặt khác, các tỉnhcũng không thể đua nhau cùng xây dựng những công trình hạtầng lớn (như bến cảng, sân bay, ) tại địa phương mình bởichi phí đầu tư cao, nếu xét trên phạm vi cả nước rất lãng phíhoặc phân tán nguồn lực, lúc đó mỗi tỉnh dường như trở thànhmột nền kinh tế độc lập tương đối, dẫn đến suy giảm NLCTcủa nền kinh tế quốc gia
Do đó, để thực hiện mục tiêu này, quá trình cạnh tranhgiữa các tỉnh trong vùng phải trên dựa trên cơ sở hợp tácnhằm phát huy lợi thế so sánh của mỗi địa phương Với hàmnghĩa ấy, nâng cao NLCT cấp tỉnh cũng nhằm khai thác thếmạnh mối quan hệ liên vùng, liên ngành, liên địa phươngtrong phạm vi cả nước
Trang 7Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, viết tắt là PCI(Provincial Competitiveness Index), là chỉ số định lượng để
đo lường NLCT cấp tỉnh, được xác định từ hệ thống chỉ sốthành phần theo những nguyên tắc, phương pháp riêng bảođảm tính khoa học, tính khả thi, tính hướng đích, tính hiệuquả, tính so sánh
Có nhiều cách phân loại yếu tố ảnh hưởng đến môitrường đầu tư cấp tỉnh, trong đó có cách phân loại theo nhómyếu tố truyền thống (như điều kiện địa lý - tự nhiên, xã hội; hệthống cơ sở hạ tầng; quy mô thị trường,…) và nhóm yếu tốnguồn lực mềm bao gồm những khía cạnh quan trọng khácnhau của môi trường kinh doanh cấp tỉnh, những khía cạnhnày chịu tác động trực tiếp từ thái độ và hành động của chínhquyền cấp tỉnh Nhóm yếu tố truyền thống là những nhân tốcăn bản, quan trọng cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhưngrất khó hoặc thậm chí không đạt được trong thời gian ngắn.Nhóm yếu tố nguồn lực mềm là nhân tố quyết định đến sự hấpdẫn đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh của DN Vì vậy,NLCT cấp tỉnh được xác định theo các tiêu chí xác định khảnăng của nguồn lực mềm và chỉ số NLCT cấp tỉnh hiện nayđược cấu thành từ hệ thống các chỉ số thành phần sau:
Trang 8- Chi phí gia nhập thị trường
Là chỉ số thành phần xác định về thời gian hoàn thànhcác thủ tục và giấy tờ cần thiết để DN chính thức đi vào hoạtđộng (gia nhập thị trường) Gồm các chỉ tiêu đo lường về:Thời gian DN phải chờ để ĐKKD và xin cấp đất; thời gianchờ nhận đủ các loại giấy tờ cần thiết để tiến hành hoạt độngsản xuất kinh doanh; số giấy phép, giấy đăng ký, quyết địnhchấp thuận cần thiết để chính thức hoạt động; mức độ khókhăn theo đánh giá của DN để có đủ giấy đăng ký, giấy phép
và quyết định chấp thuận Mục đích của việc xây dựng chỉ sốthành phần này là đánh giá sự khác biệt giữa các tỉnh về chiphí gia nhập thị trường của các DN mới ở tỉnh Theo LuậtDoanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành, trình tự,thủ tục ĐKKD thống nhất ở các tỉnh nhưng thực tế vẫn có sựkhác biệt
- Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
Là chỉ số thành phần xác định khả năng tiếp cận đất đai
và mức độ ổn định trong sử dụng đất Gồm các chỉ tiêu đolường về hai khía cạnh của vấn đề đất đai mà DN phải đốimặt: Mức độ khó khăn tiếp cận đất đai DN; mức độ ổn định
Trang 9khi đã có được mặt bằng kinh doanh Chỉ số thành phần nàyxây dựng xuất phát từ đất đai hay mặt bằng sản xuất kinhdoanh là một trong những yếu tố sản xuất cơ bản đối với các
DN Các chính sách liên quan đến đất đai còn có sự khôngđồng đều giữa các tỉnh
- Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
Là chỉ số thành phần xác định khả năng tiếp cận các vănbản pháp lý và mức độ tham gia của DN vào các chính sách,quy định mới Gồm các chỉ tiêu đo lường khả năng tiếp cậncác kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho sựhoạt động sản xuất kinh doanh của DN; Các chính sách vàquy định mới có được tham khảo ý kiến của DN và khả năngtiên liệu trong triển khai thực hiện các chính sách, quy địnhđó; Mức độ tiện dụng trang Web tỉnh đối với DN
Chỉ số thành phần này được xây dựng do tính minh bạch
là một trong những yếu tố quan trọng nhất để phân biệt môitrường kinh doanh nào thuận lợi cho sự phát triển của DN.Chỉ số về tính minh bạch phải hội tụ đủ các thuộc tính: tínhsẵn có của thông tin; tính công bằng; tính dự đoán trước được;
và tính cởi mở
Trang 10- Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước
Là chỉ số thành phần xác định thời gian DN bỏ ra đểthực hiện các thủ tục hành chính Gồm các chỉ tiêu đo lườngthời gian DN bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính; mức
độ thường xuyên mà DN phải tạm dừng kinh doanh để các cơquan Nhà nước địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra
Xuất phát từ nghiên cứu chi phí giao dịch trên cơ sở thờigian bỏ ra là một nội dung quan trọng trong nghiên cứu vềcác nền kinh tế đang chuyển đổi Các nhà quản lý DN thườngphải bỏ dở công việc kinh doanh để giải quyết các vấn đề sự
vụ giấy tờ liên quan đến quản lý hành chính của các cơ quanquản lý nhà nước - thời gian mà lẽ ra đã có thể dành cho hoạtđộng quản lý kinh doanh
- Chi phí không chính thức
Là chỉ số thành phần xác định chi phí không chính thức
DN phải trả Gồm các chỉ tiêu đo lường các khoản chi phíkhông chính thức DN phải trả và các trở ngại do các chi phíkhông chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanhcủa DN, việc trả những chi phí không chính thức có đem lại
Trang 11kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhànước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợikhông
Chỉ số này xây dựng nhằm đánh giá số tiền mà DN phải
bỏ ra để chi trả các khoản chi phí không chính thức, cáckhoản chi phí bất thường khác trong điều kiện hoạt động kinhdoanh bình thường
- Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
Là chỉ số thành phần đánh giá sự năng động, tiên phongcủa lãnh đạo tỉnh trong quản lý, điều hành nền kinh tế tỉnh.Gồm các chỉ tiêu đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của lãnhđạo tỉnh trong thực thi chính sách TW cũng như trong việcđưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển kinh tế địaphương; khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách chưa
rõ ràng của TW theo hướng có lợi cho DN
Chỉ số này được xây dựng dựa trên cơ sở hệ thống quyđịnh pháp luật liên quan hoạt động kinh doanh và đầu tư cònchưa hoàn chỉnh và thiếu rõ ràng trong khi vận dụng vào điềukiện hoàn cảnh cụ thể của tỉnh Trong điều kiện đó, chínhquyền các tỉnh có những cách thức xử lý khác nhau và mang
Trang 12lại những kết quả khác nhau Kết quả ấy có thể tạo cơ hội, hỗtrợ hoặc trở thành rào cản sự phát triển cho DN trên địa bàntỉnh
- Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
Là chỉ số thành phần đánh giá các dịch vụ hỗ trợ kinhdoanh Gồm các chỉ tiêu đo lường sự sẵn có của các dịch vụ
hỗ trợ kinh doanh như xúc tiến thương mại, cung cấp thôngtin kinh doanh, tư vấn pháp luật cho DN, dịch vụ hỗ trợ tìmkiếm đối tác kinh doanh, các dịch vụ công nghệ; số lượng cácnhà cung cấp dịch vụ tư nhân và chất lượng của các dịch vụnày
Các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp là sản phẩm của cácngành hỗ trợ và liên quan trên địa bàn tỉnh Đối tượng cungcấp các dịch vụ này có thể do khu vực tư nhân hoặc nhà nướccung cấp Tuy nhiên, theo sự phát triển nền kinh tế thị trường,
cơ hội tiếp cận với các dịch vụ của khu vực tư nhân ngày cànglớn nên việc tập trung vào các dịch vụ do nhà nước cung cấpkhông có nhiều ý nghĩa bằng Nhà nước chủ yếu đóng vai tròđịnh hướng phát triển cho các ngành hỗ trợ và liên quan trênđịa bàn tỉnh cả về số lượng và chất lượng nhằm tạo điều kiện
Trang 13các DN tiếp cận nhiều hơn các dịch vụ do tư nhân cung cấp
- Chất lượng đào tạo lao động
Là chỉ số thành phần đánh giá đào tạo nghề và phát triển
kỹ năng người lao động Gồm các chỉ tiêu đo lường các nỗlực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển
kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địaphương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm
Cùng với đất đai, lao động là một yếu tố sản xuất quantrọng Hàng năm các tỉnh đều phải đương đầu với áp lực giảiquyết việc làm cho người dân có nhu cầu tìm kiếm việc làm.Tuy nhiên, thực tế những năm qua các DN luôn phàn nàn vềnăng lực yếu kém của lực lượng lao động Các DN gặp rấtnhiều khó khăn tìm kiếm và tuyển dụng lao động đã qua đàotạo chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp Vì vậy, chínhquyền địa phương tập trung vào việc nâng cao chất lượng lựclượng lao động địa phương có ý nghĩa quan trọng đối với môitrường kinh doanh trên địa bàn
- Thiết chế pháp lý
Là chỉ số thành phần đánh giá thiết chế pháp lý ở địa
Trang 14phương Gồm các chỉ tiêu đo lường lòng tin của DN đối với
hệ thống toà án, tư pháp của tỉnh; mức độ hiệu quả của thiếtchế pháp lý này trong giải quyết tranh chấp hoặc khiếu nạicủa DN với các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền ởđịa phương
Chỉ số này được xây dựng trên cơ sở cho rằng phát triểnpháp luật và giải quyết tranh chấp một cách chính quy luôn làmột mắt xích yếu trong quá trình cải cách, chuyển đổi ở ViệtNam Đồng thời, hầu hết các cá nhân và DN vẫn lựa chọn giảiquyết tranh chấp thông qua các cơ chế không chính thức
- Cạnh tranh bình đẳng
Là chỉ số thành phần mới, phản ánh đánh giá và yêu cầucủa cộng đồng doanh nghiệp tư nhân trong nước về môitrường kinh doanh bình đẳng Có nhiều cách nhìn nhận khácnhau nhưng đây có thể là tham khảo cần thiết khi điều hànhkinh tế tại địa phương Các thành phần kinh tế đều là bộ phậncấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Các chủ thểthuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranhtheo pháp luật
Đối với một tỉnh, để nâng cao chỉ số NLCT thì không
Trang 15chỉ một chỉ số thành phần nào mà cần đảm bảo đồng bộ cácchỉ tiêu cấu thành các chỉ số thành phần ấy Do bản thân cácchỉ tiêu mang tính động và mở nên các chỉ số thành phần cũngđộng và mở theo thời gian Điều quan trọng là khi xây dựng
hệ thống chỉ tiêu đánh giá cần phải xác định được những nhân
tố ảnh hưởng (phản ánh qua trọng số) tới NLCT một tỉnh theothời gian để phản ánh kịp thời Trọng số được áp dụng cho tất
cả các chỉ số thành phần Đóng góp của từng chỉ số thànhphần lên những yếu tố đo lường sự phát triển DN (như số DNđang thực sự hoạt động; quy mô vốn đầu tư hoặc đầu tư trênđầu người của DN; lợi nhuận bình quân) là trọng số được tínhtrong đánh giá NLCT cấp tỉnh Cơ sở xác định trọng số làthông qua phương pháp hồi quy để tính toán và phân chiatrọng số thành các nhóm khác nhau, thông thường theo 3mức: Cao, Trung bình và Thấp Khi nền kinh tế Việt Nam tiếptục phát triển cùng công cuộc cải cách đang diễn ra trong cảnước, lĩnh vực kinh doanh và đầu tư ngày càng đa dạng, một
số chỉ số thành phần sẽ trở nên kém quan trọng nhưng một sốkhác lại trở thành thiết yếu Lúc ấy trọng số của các chỉ sốthành phần phải tính toán lại để phản ánh môi trường chínhsách mới
Trang 16Việc xác định rõ ràng nội dung chỉ số NLCT cấp tỉnh có
ý nghĩa quan trọng để đánh giá thực trạng và đề xuất các giảipháp nâng cao chỉ số NLCT các tỉnh ở Việt Nam
Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây về nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Từ năm 2005 tới nay đều có các báo cáo về Chỉ số nănglực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam Ngoài những côngtrình nghiên cứu này, đã có rất nhiều bài viết trên các sách,báo, ấn phẩm hội thảo cấp tỉnh, vùng, ngành liên quan đếncạnh tranh cấp tỉnh và xếp hạng PCI
Các công trình nghiên cứu trên đã hệ thống đầy đủ một
số vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh và nâng cao năng lựccạnh tranh (NLCT) Từ đó nghiên cứu, phân tích thực trạng
và đề xuất giải pháp nâng cao NLCT của quốc gia, của ngành,của Doanh nghiệp Riêng nghiên cứu NLCT cấp tỉnh ở ViệtNam đã được VCCI lượng hóa thông qua CPI để so sánh, xếphạng
Đặc biệt là các công trình, báo cáo nghiên cứu về chỉ sốnăng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam qua từng nămđược thực hiện bởi phòng thương mại và công nghiệp Việt
Trang 17Nam (VCCI) cùng với sự hỗ trợ của cơ quan phát triển quốc
tế Hoa Kỳ (USAID) Những công trình nghiên cứu này có ýnghĩa đặc biệt quan trọng giúp chính quyền địa phương nhìnnhận rõ hơn các vấn đề điều hành hoạt động kinh tế của mình
và định hướng điều chỉnh để cải thiện năng lực điều hành,thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, giúpnhà nước nhìn nhận được những mặt được và chưa được trongchính sách quản lý, thi hành và đưa ra những giải pháp thíchhợp để đưa nền kinh tế - xã hội của đất nước ngày càng pháttriển
Một số nghiên cứu tiêu biểu về chỉ số năng lực cạnhtranh cấp tỉnh trong những năm gần đây
Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2014
Báo cáo PCI năm 2014 đánh dấu chặng đường 10 nămxây dựng và phát triển chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh(PCI) Người trực tiếp viết báo cáo này là Tiến sĩ EdmundMalesky, chuyên gia tư vấn của dự án VNCI Ngoài ra dự ánnghiên cứu này cũng có đóng góp quan trọng của nhómnghiên cứu gồm các chuyên gia tư vấn và cán bộ Dự án nâng
Trang 18cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (do USAID tài trợ) vàphòng thương mại và công nghệ Việt Nam Đây là một dự ánphát triển kinh tế do cơ quan phát triển Quốc tế Hoa kỳ tài trợ.
Dự án do công ty Development Alternatives Inc (DAI) điềuhành PCI trở thành tiếng nói đại diện cho nhu cầu, hy vọng
và mong mỏi của hàng chục ngàn nhà đầu tư tại Việt Nam,truyền tải trực tiếp và mạnh mẽ tiếng nói này tới các nhàhoạch định chính sách ở cả cấp trung ương và địa phương
Báo cáo PCI năm 2014 tập hợp tiếng nói của 9859 doanhnghiệp dân doanh đang hoạt động trên khắp 63 tỉnh, thànhphố Việt Nam Báo cáo phản ánh ý kiến của 1491 doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Dù bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và khu vực tiếptục có những diễn biến phức tạp, năm 2014 đã ghi nhậnnhững chuyển biến đáng khích lệ của nền kinh tế Việt Nam;kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc hơn, trong đó nổi bật là tăngtrưởng GDP đạt 5,98%, lạm phát 1,84% thấp nhất trong nhiềunăm trở lại đây
Báo cáo cho thấy dấu hiệu khởi sắc về môi trường kinhdoanh Tỉ lệ doanh nghiệp trong nước tăng quy mô đầu tư vốn
Trang 19đã tăng trở lại (10,8%) sau hai năm giảm xuống mức thấpnhất Lần đầu tiên trong vòng 9 năm, quy mô vốn trung bìnhcủa doanh nghiệp đã tăng đến mức cao nhất, trung bình là15,1 tỉ đồng, tăng gần gấp đôi so với mức chạm đáy năm 2012
và 2013
Điểm trung vị PCI năm 2014 tăng 0,77 điểm so với năm
2013 (57,81 điểm) lên 58,58 điểm, khoảng cách điểm số giữacác tỉnh tiếp tục được thu hẹp Năm 2014, Đà Nẵng tiếp tụcdẫn đầu bảng với 66,87 điểm, tiếp đến là Đồng Tháp (65,28điểm) và Lào Cai (64,67 điểm)
Khảo sát PCI 2014 ghi nhận những cải thiện rõ rệt nhất
ở lĩnh vực Gia nhập thị trường, tiếp đến là tính minh bạch,dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động và chi phí thờigian Tuy nhiên một số lĩnh vực lại có sự sụt giảm đáng longại như lĩnh vực chi phí không chính thức, tính năng động vàtiếp cận đất đai
Báo cáo Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2014cung cấp thông tin và đưa ra các khuyến nghị hữu ích để cácnhà hoạch định chính sách cũng như lãnh đạo các tỉnh,thành phố cân nhắc và hành động, thúc đẩy đầu tư, tạo việc
Trang 20làm và mang lại sự thịnh vượng cho mọi người dân ViệtNam Qua đó ta thấy rõ hơn được sự tăng trưởng PCI củaTỉnh Bắc Giang và các tỉnh, thành phố trong cả nước, từ đórút ra bài học kinh nghiệm, thực tiễn tốt từ địa phương khác
hỗ trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) Cóthể coi đây là biểu tượng cho sự hợp tác quốc tế và hỗ trợ pháttriển thành công, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của ViệtNam và nâng cao năng lực của đối tác trong nước
Báo cáo cũng đưa ra chi tiết về chỉ số năng lực cạnh tranhcấp tỉnh năm 2015:
Điểm trung vị PCI 2015 tương đối ổn định: Năm nay,
điểm tỉnh trung vị PCI đạt 58,47 điểm, tương đương mứcđiểm năm 2014 nhưng cải thiện đáng kể và có ý nghĩa so với
Trang 21năm 2013 Lần đầu tiên sau 4 năm, khoảng cách giữa nhómđầu bảng và cuối bảng đã bắt đầu được nới rộng Đây có thể
là tín hiệu cho thấy các tỉnh “ngôi sao” đang nỗ lực cải cáchmạnh mẽ hơn trong bối cảnh Việt Nam bắt đầu bước vào giaiđoạn hội nhập kinh tế quốc tế mới Cụ thể, điểm số PCI của
Đà Nẵng hiện đạt mức tăng cao nhất kể từ năm 2012, gần 1,5điểm Trong khi đó, PCI của tỉnh thấp nhất đã giảm hơn 1điểm, quay về mốc điểm xuất phát năm 2013 (48,9 điểm)
Đà Nẵng tiếp tục dẫn đầu bảng xếp hạng: Năm 2015 là
năm thứ 3 liên tiếp Đà Nẵng trụ vững tại ngôi đầu bảng với68,34 điểm, ghi nhận lần thứ 6 thành phố này dẫn đầu cả nước
kể từ khi chỉ số PCI được công bố Trung tâm hành chính tậptrung của thành phố đi vào hoạt động từ tháng 9/2014 đã pháthuy hiệu quả trong việc tiết kiệm nhiều thời gian, công sức,tiền bạc cho cả người dân, doanh nghiệp lẫn cán bộ, côngchức
Các tỉnh xuất sắc khác: Sau Đà Nẵng là Đồng Tháp
(66,39 điểm) và Quảng Ninh (65,75 điểm), những tỉnh đứngđầu của bảng xếp hạng với nhiều sáng kiến cải cách trong cảicách hành chính như tinh gọn bộ máy, công khai, minh bạchtrong đánh giá và lựa chọn cán bộ Hai địa phương tiếp theo
Trang 22nằm trong nhóm có chất lượng điều hành rất tốt của PCI 2015lần lượt là Vĩnh Phúc (62,56 điểm) và Lào Cai (62,32 điểm).
Ngoài bảng xếp hạng PCI truyền thống, báo cáo còncung cấp những kết quả nghiên cứu phù hợp để hỗ trợ đưa ranhững cải cách kinh tế mới nhất Ngoài ra báo cáo trình bàycác phân tích chi tiết về cách thức cải thiện môi trường kinhdoanh thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vựcchiếm 98% tổng số doanh nghiệp Việt Nam và là động lựcquan trọng để phát triển kinh tế và tạo việc làm trong thờigian tới
Nghiên cứu cho thấy các thay đổi trong điều hành kinh
tế cấp tính theo thời gian, những lĩnh vực cải thiện cụ thể:Khảo sát PCI năm nay ghi nhận những cải thiện ở lĩnh vực ranhập thị trường, Tính minh bạch, Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
và chi phí thời gian Trong những chỉ số trên thì Tỉnh BắcGiang chỉ cải thiện điểm ở chỉ số “chi phí thời gian”, nhữngchỉ số còn lại đều giảm nhẹ Tuy nhiên Tỉnh Bắc Giang lạităng điểm đáng kể ở hai chỉ số là chi phí không chính thức vàchỉ cố Cạnh tranh bình đẳng - đây là hai chỉ số có xu hướnggiảm ở các tỉnh thành trong cả nước
Trang 23Báo cáo cũng trình bày nghiên cứu về cách thức tăngcường hiệu ứng lan tỏa của công nghệ và năng suất lao động
từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàicho các doanh nghiệp dân doanh trong nước, cung cấp thôngtin cho việc xây dựng các chương trình cải cách nhằm thu hútđầu tư nước ngoài sắp tới Nếu trước đây nhiều nỗ lực cảicách tập trung vào việc thu hút đầu tư, thì thời gian tới, cầnhướng tới giảm thiểu các rủi ro của môi trường kinh doanhsau khi nhà đầu tư đã lựa chọn Việt Nam
Trong đó, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh tới việc tăngcường tính minh bạch, giúp các nhà đầu tư tiếp cận dễ dànghơn những tài liệu kế hoạch của các địa phương , tiếp tụcphản ánh mức độ hiểu biết và kỳ vọng của các doanh nghiệptrong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vềHiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, với hy vọng sẽcung cấp những thông tin hữu ích cho các thay đổi chính sách,pháp luật cần thiết để thực hiện Hiệp định toàn diện này
Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2015 tổngquan khá đầy đủ về chỉ số CPI của các tỉnh thành trong cảnước trong năm 2015, qua đó giúp ta xác định được nhữngkinh nghiệm, bài học thực tiễn rút ra cho Bắc Giang, khắc
Trang 24phục những lĩnh vực còn yếu kém so với các tỉnh bạn, cảithiện chỉ số PCI của Tỉnh Bắc Giang trong những năm tiếptheo.
Bắc Giang nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)- Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm- Báo đại biểu nhân dân (ngày 12/09/2016)
“Song song với cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh,tỉnh Bắc Giang luôn chú trọng phương án bảo vệ, hạn chế tối
đa hệ lụy cho môi trường UBND tỉnh yêu cầu đơn vị chứcnăng thường xuyên đánh giá tác động môi trường đối với các
DN, nhà máy, đơn vị sản xuất Tới đây, tỉnh sẽ hỗ trợ sở
TN-MT xây dựng hệ thống quan trắc nối trực tiếp với các nhàmáy, xí nghiệp trọng tâm, trọng điểm để theo dõi hoạt động24/24, bảo đảm nước thải phải được xử lý trước khi thải ramôi trường” Đó là chia sẻ của Chủ tịch UBND tỉnh BắcGiang Nguyễn Văn Linh với Phóng viên báo Đại Biểu Nhândân về việc nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh,nhằm nâng cao PCI của địa phương trong thời gian tới
Qua bài báo, ông Nguyễn Văn Linh đã đưa ra nhữngđánh giá về những biến động của PCI kể từ “cú sốc” tụt hạng
Trang 25năm 2013 (đứng thứ 49/63 tỉnh, thành phố), giảm 18 bậc sovới năm 2012 và giảm 26 bậc so với năm 2011 Nhờ nhữngchủ trương đúng đắn, các sở, ngành đưa ra các phương ánkhắc phục kịp thời nên chỉ số PCI của những năm tiếp theo đã
có cải thiện đáng kể Năm 2015, chỉ số PCI của Bắc Giang đãtăng lên 9 bậc, đạt 57,61 điểm Đó là tín hiệu đáng mừng, chothấy nỗ lực của tỉnh trong cải thiện môi trường đầu tư, kinhdoanh; đồng thời, chất lượng điều hành kinh tế và nỗ lực cảicách hành chính của tỉnh, các sở, ngành, UBND các huyện,
TP từng bước phát huy hiệu quả rõ nét
PCI của Bắc Giang ngày càng được cải thiện, là minhchứng cho những nỗ lực của tỉnh trong thời gian qua Để giữmạch, nâng bậc PCI cho những năm tiếp theo thì Tỉnh ủy,UBND Tỉnh luôn quan tâm chỉ đạo các ngành, địa phương nỗlực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp.Thúc đẩy tính tiên phong của lãnh đạo từ tỉnh, đến huyện, xã,nhận thức về thu hút đầu tư tạo môi trường để DN sản xuấtkinh doanh; cải thiện thông thoáng về hành chính và tạo điềukiện tiếp cận đất đai cho doanh nghiệp
Ngoài ra, tỉnh ủy có chỉ thị về nâng cao tinh thần, tráchnhiệm, thái độ của cán bộ, công chức trong việc giải quyết
Trang 26công việc chung cho người dân, trong đó có DN
Đồng thời bài báo cũng đưa ra những điểm trừ còn tồntại trong một số chỉ số thành phần, và những giải pháp nỗ lựckhắc phục những chỉ số bị giảm điểm năm 2015 nhằm nângcao năng lực cạnh tranh của Tỉnh Bắc Giang trong thời giantới
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Trên thế giới, năng lực cạnh tranh là khái niệm đượchiểu theo nhiều cách khác nhau, chưa có sự thống nhất Tuynhiên, hiện nay thế giới sử dụng nhiều khái niệm năng lựccạnh tranh của M.Porter, người sáng lập ra lý thuyết cạnhtranh
Theo M.Porter thì năng lực cạnh tranh một quốc giađược đo bằng sự thịnh vượng, thể hiện qua thu nhập bìnhquân đầu người và chất lượng sống Sự thịnh vượng chủ yếu
do năng suất và huy động lao động vào quá trình tăng trưởngquyết định Do đó, trong khái niệm năng lực cạnh tranh của
Trang 27M.Porter, năng suất là yếu tố quyết định tiêu chuẩn sống bềnvững Với khái niệm này, nâng cao năng lực cạnh tranh quốcgia cũng có nghĩa là đóng góp và nâng cao chất lượng tăngtrưởng và hiệu quả của nền kinh tế
Như vậy, chúng ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh củamột tỉnh, thành dưới dạng năng lực cạnh tranh quốc gia Nângcao năng lực cạnh tranh của tỉnh, thành là quá trình nâng caochất lượng tăng trưởng và hiệu quả của kinh tế của một tỉnh,thành Năng lực cạnh tranh của tỉnh, thành phụ thuộc vàonăng suất sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên và nguồnvốn có một tỉnh, thành
Năng lực cạnh tranh được các tỉnh cần được chú trọngtới để có thể phát triển hơn nữa kinh tế của tỉnh Các tỉnh cầnphải nắm được năng lực cạnh tranh không phải là một tỉnhcạnh tranh trong lĩnh vực nào đó để phát triển mà là tỉnh đócạnh tranh hiệu quả như thế nào trong các lĩnh vực
Khái niệm về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (viết tắt của ProvincialCompetitiveness Index) là chỉ số đánh giá và xếp hạng đánhgiá chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh
Trang 28trong việc tạo lập môi trường chính sách phù hợp để phát triểnkinh tế tư nhân
Ý tưởng xây dựng chỉ số PCI bắt nguồn từ một nghiêncứu của Quỹ Châu Á và VCCI có tên gọi “Những thực hiệntốt trong điều hành kinh tế cấp tỉnh ở Việt Nam”, được thựchiện vào năm 2003- 2004 tại 14 tỉnh của Việt Nam, với nhiềuphương pháp tính toán, nghiên cứu tập trung vào mối quan hệtương tác giữa các yếu tố điều hành kinh tế và sự phát triểnkinh tế của các tỉnh đó Kết quả của dự án nghiên cứu này sau
đó đã trở thành tiền đề của dự án nghiên cứu chỉ số năng lựccạnh tranh cấp tỉnh do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ(USAID) tài trợ
Năm 2005, Phòng Thương mại và Công nghiệp ViệtNam (VCCI) và Dự án Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam thuộc
Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID/VNCI) chínhthức hợp tác nghiên cứu Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh(PCI), thực hiện điều tra, nghiên cứu trên 42 tỉnh, thành phốcủa Việt Nam Về tổng thể, 42 tỉnh, thành phố này chiếmkhoảng 90% giá trị GDP của Việt Nam VNCI và VCCI sau
đó đã tiếp tục hợp tác xây dựng chỉ số PCI cho năm 2006 vàcác năm tiếp theo với sự tham gia đầy đủ của 64 tỉnh, thành
Trang 29phố
Từ năm 2010 đến nay, chỉ số PCI vẫn được VNCI vàVCCI nghiên cứu trên cơ sở có sự tham gia đầy đủ của 63 tỉnhthành (năm 2008, tỉnh Hà Tây sát nhập vào thủ đô Hà Nội).Mục đích là nhằm tạo điều kiện để các tỉnh, thành theo dõinhững thay đổi trong môi trường kinh doanh của tỉnh mình quacác năm, không chỉ ở thứ hạng PCI mà còn ở điểm số PCI trêncác chỉ số thành phần
PCI được thực hiện dựa trên điều tra cảm nhận của 8.300doanh nghiệp trong nước, sử dụng phương pháp chọn mẫuphân tầng ngẫu nhiên trên cơ sở các đặc tính về loại hìnhdoanh nghiệp, ngành nghề hoạt động và tuổi của doanhnghiệp, nhằm đảm bảo mẫu điều tra đại diện toàn bộ doanhnghiệp tư nhân của tỉnh Chỉ số PCI bao gồm mười chỉ sốthành phần, phản ánh các lĩnh vực điều hành kinh tế tác độnglớn đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Những chỉ
số đó là:
Chi phí gia nhập thị trường
Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
Trang 30Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
Chi phí thời gian để thực hiện quy định của Nhà nước Chi phí không chính thức
Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
Đào tạo lao động
Thiết chế pháp lý
Cạnh tranh bình đẳng
Khái niệm về nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được nghiên cứuxuất phát từ một phạm vi, không gian riêng biệt của mỗi tỉnh
mà ở đó có nhiều yếu tố tác động, thay đổi đòi hỏi các chủ thểkhác nhau Vì thế, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh phảixuất phát từ sự tổng hợp các thế mạnh của địa phương, mang
ý nghĩa kinh tế, cụ thể là thu hút đầu tư hiệu quả để các thếmạnh của địa phương được phát huy tối đa Quá trình nàyđược diễn ra nhịp nhàng, với tư duy kinh tế của đội ngũ lãnhđạo tỉnh kết hợp với lợi thế của địa phương mình, từ đó có các
Trang 31chính sách hợp lý, hiệu quả hơn các tỉnh, thành phố khác.
Năng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khẳ năng thuhút đầu tư, tạo lập môi trường thuận lợi, thông thoáng, lànhmạnh trong phát triển kinh tế của các tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh làyêu cầu tất yếu đặt ra trong công cuộc đổi mới hiện nay Điềunày cũng trả lời cho câu hỏi tại sao có những tỉnh, thành phốluôn có sức thu hút đầu tư mạnh, ngược lại có những tỉnh,thành phố vẫn chưa có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
Với những nội dung trên, có thể khái quát về nâng caonăng lực cạnh tranh cấp tỉnh là quá trình đổi mới liên tụcnhằm phát huy các thế mạnh sẵn có, trên cơ sở kết hợp giữacác lợi thế của địa phương với nhau để xây dựng một môitrường đầu tư hiệu quả Hay nói các khác nâng cao năng lựccạnh tranh cấp tỉnh là nâng cao khả năng ganh đua của tỉnhnhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế- xã hội trên cơ sở lợithế của địa phương trong mối quan hệ liên kết với những địaphương khác trong phạm vi quốc gia
Trang 32Quy trình xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Theo cách làm hiện nay, việc xây dựng PCI và xếp hạngPCI được tiến hành dựa trên ba bước, đó là: (1) Thu thập dữliệu; (2) Xử lý dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần; (3)Xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) Cụ thểphương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh doVCCI tiến hành được trình bày dưới đây:
Bước 1 Thu thập số liệu
Có hai loại dữ liệu được thu thập để xây dựng các chỉ sốthành phần Thứ nhất là dữ liệu từ cuộc điều tra qua phiếuđiều tra đối với các doanh nghiệp dân doanh Sự đánh giá nàyhay còn gọi là dữ liệu “mềm”, được kết hợp với dữ liệu kháchquan, còn gọi là dữ liệu “cứng” thu thập từ niên giám thống
kê, từ nguồn của bên thứ ba khác như Bộ Tài nguyên và môitrường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các công ty kinh doanh bấtđộng sản và các hiệp hội doanh nghiệp…
Chọn mẫu: Nhóm nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn
mẫu thống nhất qua các năm là tạo danh sách doanh nghiệpđiều tra từ danh sách các doanh nghiệp đang nộp thuế trên cơ
Trang 33sở dữ liệu của cơ quan Thuế Danh sách này đáng tin cậy hơn
so với danh sách doanh nghiệp đăng ký kinh doanh vì danhsách doanh nghiệp đăng ký kinh doanh đôi khi không đượccập nhật để loại bỏ các doanh nghiệp không còn hoạt động vàthường gồm cả các doanh nghiệp tuy đã đăng ký nhưng chưathực sự bắt đầu hoạt động Để tiến hành chọn mẫu, danh sáchdoanh nghiệp nêu trên được chia thành 24 nhóm theo ba tiêuchí:
Loại hình của doanh nghiệp:
Công ty Cổ phần
Công ty TNHH
Doanh nghiệp tư nhân
Ngành nghề của doanh nghiệp:
Sản xuất, công nghiệp
Khai khoáng
Thương mại, dịch vụ và du lịch
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
Trang 34Năm của doanh nghiệp:
Thành lập trước năm 2000
Thành lập từ sau năm 2000
Gửi phiếu điều tra: VCCI gửi phiếu điều tra được gửi
tới địa chỉ doanh nghiệp theo mẫu đã chọn, chỉ phiếu trả lờihợp lệ mới được chấp nhận, đó là phiếu được điền đầy đủ vàgửi qua bưu điện đến VCCI
Gọi điện thoại: Để đạt tỷ lệ phản hồi cao, VCCI đã
tuyển chọn và huấn luyện cộng tác viên gọi điện thoại đến cácdoanh nghiệp để đảm bảo phiếu điều tra được gửi đến đúngđịa chỉ thuyết phục doanh nghiệp trả lời
Bước 2 Xử lý dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần
Như đã trình bày ở trên, một trong những ưu điểm quantrọng của PCI là so sánh chất lượng điều hành kinh tế của mỗitỉnh với thực tiễn tốt nhất về điều hành kinh tế đang có ở ViệtNam, chứ không phải so sánh với một chuẩn mực lý tưởngnào Vì vậy, mỗi chỉ tiêu được chuẩn hóa về thang 10 điểm,trong đó tỉnh có thực tiễn tốt nhất sẽ tương ứng với điểm 10,
Trang 35tỉnh có thực tiễn kém nhất tương ứng với điểm 1; 63 tỉnh cònlại sẽ tương ứng với điểm nằm giữa 1 và 10 Dựa trên nhữngnghiên cứu về môi trường kinh doanh, các chỉ tiêu được nhómvào 10 chỉ số thành phần Kế thừa những nghiên cứu từ trước,mục tiêu đặt ra là những chỉ số này phải phản ánh được tươngđối đầy đủ những trở ngại đối với việc ra đời và phát triển củakhu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam Trong các chỉ tiêu đãchuẩn hoá, nhóm nghiên cứu tính trung bình các chỉ tiêu đểtạo ra từng chỉ số thành phần Đối với các chỉ số thành phần
sử dụng dữ liệu “cứng” thì dữ liệu này được sử dụng là chỉtiêu sau khi được tính giá trị trung bình và gán trọng số
Bước 3 Xây dựng chỉ số tổng hợp PCI
Nếu lấy điểm của tất cả chỉ số thành phần cộng lại vớinhau, tổng điểm sẽ là PCI tổng hợp chưa có trọng số với điểmtối đa là 100 Mặc dù đây là phương pháp đơn giản và dễ thựchiện nhất để tính PCI, nhưng lại không thật phù hợp nếumuốn sử dụng PCI như một công cụ chính sách Lý do là vìtrong các chỉ số thành phần, có những chỉ số có vai trò quantrọng hơn những chỉ số còn lại khi lý giải sự khác biệt về kếtquả phát triển khu vực kinh tế tư nhân Do đó, mỗi chỉ sốthành phần cần được tính toán trọng số bằng cách căn cứ vào
Trang 36mức độ đóng góp thực sự của từng chỉ số đối với việc pháttriển kinh tế tư nhân
Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành tốtthì sử dụng công thức sau đây để chuẩn hóa điểm:
{10 x ((Điểm của tỉnh – Điểm nhỏ nhất của mẫu)/(Điểmlớn nhất của mẫu – Điểm nhỏ nhất của mẫu))+1}
Nếu điểm chi tiêu cao phản ánh chất lượng điều hànhkhông tốt thì lấy 11 trừ cho công thức trên: 11-[10 x ((Điểmcủa tỉnh – Điểm nhỏ nhất của mẫu)/(Điểm lớn nhất của mẫu –Điểm nhỏ nhất của mẫu))+1]
Để làm được việc này, nhóm nghiên cứu sử dụngphương pháp phân tích hồi qui đa biến để đo lường tác độngcủa từng chỉ số thành phần tới một số chỉ tiêu vốn được xem
là có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển kinh tế tưnhân
Tỉ lệ doanh nghiệp dân doanh (bao gồm Doanh nghiệp
tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty Trách nhiệm hữu hạn vàCông ty Cổ phần) đang hoạt động trên địa bàn tỉnh trên số dâncủa tỉnh theo số liệu cập nhật của Tổng Cục thống kê doanh
Trang 37nghiệp thực sự đang hoạt động là số doanh nghiệp đã hoànthành mọi thủ tục đăng ký kinh doanh và đang thực sự sản xuấtkinh doanh chứ không chỉ dừng ở giai đoạn đầu gia nhập thịtrường Tổng số doanh nghiệp dân doanh này (không bao gồmhợp tác xã) được chia cho số dân của tỉnh (theo đơn vị 1.000dân) để loại bỏ ảnh hưởng có thể có do việc tỉnh nào đông dânhơn thường có nhiều doanh nghiệp hơn
Vốn đầu tư dài hạn của khu vực tư nhân tính theo bìnhquân đầu người được nhóm nghiên cứu chọn để thể hiện mức
độ rủi ro mà doanh nghiệp chấp nhận Giả định của nhómnghiên cứu là chủ doanh nghiệp hay nhà đầu tư sẽ đầu tưnhiều hơn ở nơi có môi trường chính sách hấp dẫn hơn vì ở đó
họ có thể tính toán chính xác hơn chi phí và lợi ích dài hạn đốivới dự án đầu tư của mình Doanh nghiệp sẽ không dám đầu tưnhiều ở địa phương mà tài sản của họ ít được đảm bảo, thamnhũng hoành hành hoặc tồn tại nhiều rào cản “vô hình” hạn chếhoạt động kinh doanh
Lợi nhuận bình quân trên một doanh nghiệp tính theotriệu đồng được nhóm nghiên cứu chọn để thể hiện mức độthành công của các doanh nghiệp dân doanh kể từ khi LuậtDoanh nghiệp ra đời Lợi nhuận doanh nghiệp trong một thời
Trang 38kỳ là một tín hiệu dự báo tốt về tiềm năng đầu tư trong cácgiai đoạn tiếp theo vì sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp tham giađầu tư Những tỉnh cạnh tranh hơn thường tạo ra môi trườngkhuyến khích tinh thần kinh doanh vì lợi nhuận hơn là bằngnhững sự hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước
Trong từng trường hợp, nhóm nghiên cứu hồi qui cácbiến số đại diện cho các chỉ tiêu phát triển kinh tế tư nhân nhưvừa nêu trên, có khống chế ảnh hưởng mà các điều kiệntruyền thống ban đầu đem lại cho sự phát triển kinh tế tưnhân, cụ thể là các điều kiện truyền thống sau:
Khoảng cách với thị trường, được tính bằng số ki-lô-mét
từ trung tâm tỉnh tới Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh
Chất lượng nguồn nhân lực, được tính bằng tỷ lệ phầntrăm dân số tốt nghiệp phổ thông trung học trong năm 2000,
để đại diện cho lực lượng lao động phù hợp mà các doanhnghiệp dân doanh có thể tuyển dụng
Cơ sở hạ tầng ban đầu, được đo bằng số máy điện thoạibình quân đầu người trong năm 1995 để tính toán mức độđóng góp tương đối (hay còn gọi là trọng số) của chúng đốivới các chỉ số thành phần
Trang 39Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Ngày nay, tất cả các địa phương đều tìm mọi cách thuhút các nguồn lực từ bên ngoài cho sự phát triển của địaphương Tuy nhiên, có những địa phương có sức hấp dẫn tốtvới các khách hàng và có những địa phương kém hấp dẫnhơn Điều này thể hiện khả năng cạnh tranh của các địaphương Khả năng cạnh tranh của địa phương được đánh giábằng khả năng của địa phương đối với việc hướng tới nguồn lực,hướng tới việc quảng cáo, khuếch trương địa phương và lợi thếcạnh tranh về mặt địa lý Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nângcao năng lực cạnh tranh tại các địa phương
Thứ nhất, chính quyền địa phương:
Đây là nhân tố chủ yếu quyết định lợi thế cạnh tranh củađịa phương thông qua việc ban hành và thực thi các chínhsách phát triển thị trường địa phương, chính sách đối xử vớicác lực lượng kinh tế và các lực lượng xã hội khác Các chínhsách và hoạt động của chính quyền địa phương ảnh hưởng đến
sự phát triển của địa phương cả trong ngắn hạn và dài hạn
Chính quyền địa phương ảnh hưởng trực tiếp đến cầu về
Trang 40đầu tư tại địa phương thông qua các chính sách thu hút đầu tư,thông qua các các hoạt động tạo ra cơ hội đầu tư tại địaphương, thông qua định hướng chiến lược phát triển địaphương Chính quyền địa phương có thể quyết định các biệnpháp ảnh hưởng trực tiếp sự hấp dẫn của địa phương so vớicác địa phương cạnh tranh
Chính quyền địa phương có tác động đến các nguồn lựcthông qua việc ban hành và thực hiện các chính sách về nguồnnhân lực sẽ tạo cho địa phương một môi trường hấp dẫn đốivới việc thu hút nguồn lao động có chất lượng cao đến với địaphương Khi đó địa phương hấp dẫn đối với nhà đầu tư bởi cónguồn lao động có chất lượng tốt Các chính sách về tài chính,
sử dụng các nguồn vốn đầu tư ngân sách của địa phương sẽảnh hưởng khả năng của địa phương trong việc thoả mãn cácnhu cầu về vốn và đánh giá về cơ hội và nguy cơ về tài chínhcủa nhà đầu tư khi kinh doanh tại địa phương Các chính sách
về quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên củađịa phương sẽ ảnh hưởng sự hấp dẫn của địa phương về khảnăng cung ứng nguyên, nhiên, vật liệu đối với nhà đầu tư
Chính quyền có thể tác động đến môi trường cạnh tranhthông qua các quy định về thương mại Nhìn chung, các nhà