1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dấu ấn đường thi trong thơ mới (qua trường hợp huy cận, vũ hoàng chương)

124 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu dấu ấn Đường thi trong Thơ mới qua trường hợp Huy Cận, VũHoàng Chương vừa thấy được tác động sâu rộng của thơ Đường đối với mộthiện tượng thơ ngay cả khi được gọi là Thơ mới, vừ

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác.

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Động

Trang 4

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm

ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí - Truyền thông

và Văn học,Trường Đại học Khoa học, Đại họcThái Nguyên vàcácThầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trìnhhọc tập

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng

viên hướng dẫn Nguyễn Đăng Điệp đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ

bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè

và đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Động

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 5

5 Phạm vi nghiên cứu 9

6 Cấu trúc của luận văn 9

7 Đóng góp của luận văn 9

NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1: ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ ĐƯỜNGĐẾN THƠ MỚI TỪ GÓC NHÌN CỦA VĂN HỌC SO SÁNH 10

1.1 Ảnh hưởng giao thoa văn hoá từ góc nhìn văn học so sánh 10

1.2 Ảnh hưởng thơ Đường đến Thơ mới trong bối cảnh giao lưu quốc tế đầu thế kỷ XX 19

1.3 Khái quát về hành trình sáng tạo của Huy Cận và Vũ Hoàng Chương thời kỳ Thơ mới 23

1.3.1 Hành trình sáng tạo của Huy Cận thời kỳ Thơ mới 23

1.3.2 Hành trình sáng tạo của Vũ Hoàng Chương thời kỳ Thơ mới 30

CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG DIỆN ẢNH HƯỞNG THƠ ĐƯỜNG TRONG THƠ HUY CẬN VÀ THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG 35

2.1 Ảnh hưởng về quan niệm nghệ thuật 35

2.1.1 Quan niệm nghệ thuật của Huy Cận 35

2.1.2 Quan niệm nghệ thuật của Vũ Hoàng Chương 47

Trang 6

2.2.2 “Lửa thiêng”- nơi hội tụ quan niệm nghệ thuật về con người của Huy Cận

51

2.2.3 Vũ Hoàng Chương quan niệm về con người trong “Thơ Say” và “Mây”. 64

2.3 Ảnh hưởng về phương diện thời gian, không gian nghệ thuật 71

2.3.1 Không gian và thời gian trong thơ Huy Cận 71

2.3.2 Không gian thời gian nghệ thuật trong thơ Vũ Hoàng Chương 91

CHƯƠNG 3: THƠ ĐƯỜNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN TRONG THƠ 94

3.1 Dấu ấn trong hệ thống thi liệu và thi ảnh 94

3.2 Dấu ấn trong ngôn từ và giọng điệu: 101

3.3.1.Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật: 109

3.3.2 Thể thơ tứ tuyệt Đường luật: 111

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thơ Đường một trong những đỉnh cao của văn học Trung Quốc, làthành tựu văn học nước ngoài có ảnh hưởng sâu rộng đối với văn học ViệtNam Suốt thời kỳ trung đại đến nửa đầu thế kỷ XX cha ông ta đã tiếp thunhững tinh hoa của văn học Trung Quốc trong quá trình xây dựng nền vănhọc nước nhà Từ chỗ là một thể loại du nhập của nước ngoài, thơ Đường luật

đã được Việt hóa, trở thành một thể thơ quan trọng trong sáng tác của ngườiViệt hơn 10 thế kỷ Ảnh hưởng nhiều mặt của thơ Đường không chỉ thể hiệntrong văn học trung đại mà còn rất sâu đậm trong phong trào Thơ mới -mộtphong trào thơ nổi bật đầu thế kỷ XX thuộc văn học Việt Nam hiện đại

Trên con đường hiện đại hoá văn học đân tộc, Thơ mới đã đóng góp mộtvai trò quan trọng Thơ mới góp phần làm cho văn học nước nhà phát triểntrên tinh thần kế thừa, tiếp thu nước ngoài trong đó có thơ Đường So sánhtìm ra mối quan hệ gắn bó giữa thơ Đường và Thơ mới thực chất cũng gópphần tìm hiểu thành tựu và đặc điểm Thơ mới

Đứng về mặt lý luận văn học, đây chính là sự vận dụng lý thuyết tiếpthu có sáng tạo văn học nước ngoài đồng thời vận dụng Văn học so sánh nhưmột phương pháp nghiên cứu Lấy đối tượng chịu ảnh hưởng đặt bên cạnh đốitượng gây ảnh hưởng để tìm ra những mối liên hệ tương đồng và khu biệt làcông việc vô cùng cần thiết và hữu ích

Tìm hiểu dấu ấn Đường thi trong Thơ mới qua trường hợp Huy Cận, VũHoàng Chương vừa thấy được tác động sâu rộng của thơ Đường đối với mộthiện tượng thơ ngay cả khi được gọi là Thơ mới, vừa thấy được sự kế thừa vàsáng tạo trong quá trình lao động nghệ thuật của các thi nhân

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

Ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ mới là một vấn đề từ lâu đã

được đề cập tới Ngay từ năm 1942, Hoài Thanh-Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam mặc dù dành nhiều trang để miêu tả ảnh hưởng của thơ Pháp (đặc

biệt là trường phái Tượng trưng) nhưng các ông đã trân trọng và có một chúthứng thú đặc biệt về ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ mới (điều nàyđược bộc lộ qua công phu miêu tả, khảo cứu và cụ thể hơn từ chính số lượngtrang viết) Khi phân chia các dòng mạch Thơ mới, Hoài Thanh- Hoài Chânnói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng của thơ Pháp, dòng mạch mang tính cáchViệt, đồng thời cũng nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng từ Đường thi:Hoài

Thanh, Hoài Chân viết “Đó là ba dòng thơ đã đi song song trong mười năm qua.Cố nhiêntrong sự thực, ba dòng ấy không có cách biệt rõ ràng như thế”[26, tr.36] Riêng đối với dòng thứ hai các ông khẳng định: “Thanh thế thơ Đường ở nước ta xưa nay bao giờ cũng lớn”[26, tr.33] và các nhà Thơ mới đã “đi tới thơ Đường với một tấm lòng trong sạch và mới mẻ, điều kiện cần thiết để hiểu thơ”[26, tr.33].

Tiếp sau Thi nhân Việt Nam, những tác động của Thơ Đường đối với

Thơ mới cũng là đối tượng được nghiên cứu trong một loạt những chuyênluận, những bài viết của Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, PhươngLựu

Phan Cự Đệ trong cuốnVăn học lãng mạn Việt Namcũng có nhiều trang nói về việc tiếp thu của Thơ mới đối với thơ Đường Ông viết: “Phong trào Thơ mới lãng mạn chủ yếu chịu ảnh hưởng của thi ca Pháp, nhưng cũng tiếp thu khá sâu sắc thi ca Trung Quốc…và nhất là thi ca đời Đường” [8, tr.199-

200] Để giải thích về ảnh hưởng của thơ Đường đối với Thơ mới, Phan Cư

Đệ cho biết: “Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Thơ mới chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ Đường Ngay tuổi ấu thơ họ đã nghe giọng ngâm thơ Đường giàu nhạc

điệu của cha anh, lớn lên các nhà Thơ mới đều thuộc ít nhiều thơ Đường Có người làm quen với bản thơ Đường qua bản chữ Hán nhưng cũng có người chỉ

Trang 10

biết một số thơ Đường qua các bản dịch của Tùng Vân, Tản Đà, Ngô Tất Tố, Trúc Khê…Lại có người mang duyên nợ với thơ Đường qua Kiều, Chinh Phụ Ngâm, thơ Tản Đà.” Hồn thơ Đường đã tan vào câu thơ lục tài tình của

Nguyễn Du và trong Chinh Phụ Ngâm ta thấy những ảnh hưởng khá rõ của

Lý Bạch Một mặt khác thơ Đường phần nào cũng có nét giống với thơ tượng

trưng Pháp mà các nhà Thơ mới chịu ảnh hưởng: “Những sắc thái hàm súc, thâm trầm, kín đáo, giàu nhạc điệu, giàu khả năng gợi cảm đã phảng phất trong thơ của một số thi sĩ đời Đường như Lý Thương Ẩn, Giả Đảo, Mạnh Giao, Lý Hạ”[8, tr.202-

203]

Trong cuốn Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Huy Cận – Hà

Minh Đức chủ biên, 60 năm phong trào Thơ mới, các bài viết của Anh Thơ,Ngô Văn Phú, Phan Cự Đệ cũng tiếp tục cho thấy sự gặp nhau giữa thơ Đường

và Thơ mới Trong bài “Kỷ niệm và cảm nghĩ khi sáng tác Bức tranh quê trong phong trào Thơ mới” Anh Thơ đã nói rõ tác giả học tập được gì ở thơ Đường Còn Ngô Văn Phú qua bài “Suy ngẫm về phong trào Thơ mới trong thơ ca hiện đại Việt Nam” thì cho biết nhiều nhà Thơ mới đã gắn bó máu thịt

với thơ Đường ra sao Và Phan Cự Đệ cũng nhấn mạnhthêm vấn đề Thơ mới

có chịu ảnh hưởng khá đậm nét của thơ Đường trong bài “Một bước tiến mớicủa thi ca Việt Nam trên con đường hiện đại hoá”[3, tr.77]

Ngô Văn Phú một trong những người đã rất trân trọng nguồn sống tinh

thần dào dạt Đường thi Trong cuốn Thơ Đường ở Việt Nam với bài viết“Các nhà thơ trong phong trào Thơ mới và thơ Đường”, ông cho người đọc thấy

văn minh phương Đông đã ăn sâu vào tâm hồn chúng ta như thế nào Ông

cũng lý giải điều này như sau: “Những vương vấn ấy là lẽ tất nhiên, bởi các nhà thơ trong phong trào Thơ mới trước khi hấp thụ văn minh phương Tây, trong cái gien của họ, văn minh phương Đông đã thành máu thịt, từ cha ông truyền lại”[21, tr.113]

Trang 11

Phương Lựu với cuốn Văn hoá , văn học Trung Quốc cung một số liên

hệ ở Việt Namđã chỉ rõ ảnh hưởng của Thơ mới, cụ thể hơn là qua bài viết

“Vài suy nghĩ nhân đi tìm ảnh hưởng của Trường hận ca và Tỳ bà hành trong thơ ca

nước nhà” Ông viết “một số nhà thơ chúng ta trong khi phản ánh vấn đề ca

kỹ đều ít nhiều chịu sự gợi ý trực tiếp hoặc gián tiếp về cách đề xuất và giải quyết vấn đề, thái độ đối với nhân vật, cấu tứ hình tượng, sử dụng ngôn ngữ…”[17, tr.335].

Nguyễn Xuân Diện và Trần Văn Toàn qua bài viết “Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của thơ Đường đối với Thơ mới”, đã đặt vấn đề một cách tương

đối hệ thống ở cấp độ hình thức với những biểu hiện có thể quan sát được Hai

tác giả đã “tiến hành phân loại và bước đầu đưa ra một số kết luận về mức

độ, phạm vi cũng như cơ chế ảnh hưởng của thơ Đường vào Thơ mới”(Tạp chí

Hán Nôm, số 3(36) – 1998)

Nhìn chung xung quanh vấn đề này, nhiều cứ liệu cũng như những vấn

đề lý luận đã được bổ sung và tổng kết, ý kiến của các nhà nghiên cứu là kháthống nhất Ai cũng nhận thấy diện mạo Đường thi trong Thơ mới và chiềuhướng tiếp thu có sáng tạo của các tác giả Ai cũng nhận thấy chất liệu Đườngthi đã thấm sâu và đã trở thành một bộ phận hữu cơ trong chỉnh thể của thếgiới nghệ thuật Thơ mới Tuy vậy, một sự khảo cứu toàn diện và công phu vềảnh

hưởng của thơ Đường đối với Thơ mới nhìn chung vẫn là một công việc trongtương lai Mặc dù vậy đó chính là những gợi ý hết sức quý báu cho luận văn.Chúng tôi kế thừa những thành tựu đó và bổ sung thêm những tìm tòi mới,trong đó có một số khía cạnh vấn đề mong muốn được trao đổi Luận văn củachúng tôi mang tên: “Dấu ấn Đường thi trong Thơ mới (qua trường hợp HuyCân, Vũ Hoàng Chương)” mong đóng góp một phần rất nhỏ bé của mình vàoviệc nghiên cứu ảnh hưởng của thơ Đường đến Thơ mới nói chung và thơ HuyCận, thơ Vũ Hoàng Chương nói riêng

Trang 12

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Thơ Đường, tập trung trong ba tác giả lớn là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

-Tìm ra dấu ấn Đường thi trong sáng tác thơ của Huy Cận, Vũ HoàngChương qua những cấp độ để thấy được đóng góp, sự kế thừa và sáng tạo củahai ông đối với thi ca nghệ thuật

- Hai thi nhân đã tiếp thu tinh hoa Đường thi, từ đó làm giàu và pháttriển thơ ca dân tộc

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm đọc và nghiên cứu các tập thơ của Huy Cận, Vũ Hoàng Chương

trước cách mạng tháng Tám năm 1945 như: “Lửa thiêng”, “Thơ Say” và

“Mây”, tuyển tập thơ Đường.

- Sưu tầm và nghiên cứu những bài phê bình và nghiên cứu về thơĐường, thơ Huy Cận, thơ Vũ Hoàng Chương, Thơ mới

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1.Phương pháp loại hình

- Giới thuyết về phương pháp: loại hình là tập hợp các sự vật hiện tượng

có đặc điểm chung nào đó Loại hình học là khoa học nghiên cứu về loại hình

Trang 13

nhằm giúp cho việc phân tích, phân loại những hiện tượng phức tạp Chỉ cóthể nói tới loại hình khi các hiện tượng ấy có chung một cộng đồng giá trị, tứcgiá trị chung có ý nghĩa.

Nghiên cứu văn học loại hình có từ lâu trong lịch sử: Pi-ta-go chia khoahọc thành bốn ngành Số học, Hình học, Âm nhạc và Thiên văn; Ari-xtốt chiavăn học thành ba loại Tự sự, Trữ tình và Kịch Đến thế kỷ XX loại hình học

mới trở thành khoa học tự giác Công trình đầu tiên là Hình thái học cổ tích

của Propp, ông nhận thấy nhiều nhân vật có chức năng hành động như nhaunên ông coi đó là yếu tố cùng loại hình Ông đã lấy tiêu chuẩn chức năng đểxây dựng khoa học loại hình học Về sau có Khrap-chen-co Ở Việt Namnghiên cứu loại hình nghệ thuật thơ ca có các nhà nghiên cứu Trần Đình Sử,Nguyễn Đăng Điệp

Phương pháp loại hình (nghiên cứu loại hình) thường được sử dụng trongnhững trường hợp như phân loại các hiện tượng văn học trên cơ sở giữa chúng

có hiện tượng tương đồng; từ những đặc điểm chung giữa một loạt hiện tượng

có thể nói tới sự xuất hiện của một hiện tượng văn học nào đó; phân kỳ vănhọc trên cơ sở sự xuất hiện các khuynh hướng văn học

- Vận dụng trong luận văn: phương pháp loại hình được sử dụng để cắtnghĩa, lí giải các hiện tượng văn học có sự tương đồng, ở đây là sự tương đồnggiữa thơ Đường và Thơ mới

4.2.2.Phương pháp hệ thống

- Giới thuyết về phương pháp: là phương pháp sắp xếp tri thức khoa họcthành hệ thống trên cơ sở một mô hình lí thuyết làm cho sự hiểu biết của ta vềđối tượng được đầy đủ và sâu sắc hơn.Hệ thống là phương pháp tuân theoquan

điểm hệ thống cấu trúc trong nghiên cứu khoa học Những thông tin đa dạngtừ

các nguồn, các tài liệu khác nhau nhờ phương pháp hệ thống mà ta có đượcmột

Trang 14

chỉnh thể với một kết cấu chặt chẽ để từ đó mà ta xây dựng một lý thuyết mớihoàn chỉnh.

- Vận dụng trong luận văn: Phương pháp hệ thống được sử dụng để nhìnthấy mối quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống thể loại, từ đó, nhìn thấy rõhơn sự biến đổi trong cấu trúc thể loại

4.2.3.Tiếp cận văn hóa học

- Giới thuyết về phương pháp: làchọn góc độ văn hóa để quan sát và giảithích các hiện tượng văn học Nguồn gốc của phương pháp này là đi tìm ảnhhưởng không chỉ của văn hóa đương thời đối với văn học, mà còn truy tìm đếncác truyền thống văn hóa xa xưa của cộng đồng, thấy được quan hệ trực tiếpgiữa văn hóa với văn học hay giữa văn học với kinh tế-xã hội là những mốiquan hệ không loại trừ lẫn nhau

Cách tiếp cân văn hóa học cung cấp thêm một con đường mới để đếnvới văn học Đây là con đường đặc sắc nhưng cũng rất phức tạp, bởi lẽ vănhóa là nơi hội tụ của mọi ý tưởng sáng tạo của con người Việc lựa chọn yếu

tố văn hóa nào để lí giải cho văn học là một việc làm không dễ dàng Điềuquan trọng là phải lí giải được động cơ mục đích cuối cùng của sự lựa chọncác mô típ văn hóa của văn học Nghiên cức văn học dựa trên góc độ văn hóacũng là cơ hội chúng ta tiếp xúc, tìm hiểu diện mạo đa dạng và phong phú củavăn hóa

- Vận dụng trong luận văn: hướng tiếp cận này cho phép luận văn nhìnthấy ảnh hưởng giữa thơ Đường đến Thơ mới như là sản phẩm của quá trìnhgiao lưu, ảnh hưởng, tiếp thu và tiếp biến văn hóa

4.2.4.Phương pháp so sánh:

- Giới thuyết về phương pháp: là so sánh các hiện tượng văn học vớinhau, bất kể chúng thuộc các nền văn học khác nhau hay thuộc cùng mộtnền văn

Trang 15

học So sánh là để xác định sự vật về mặt định tính, định lượng hay hoặc ngôithứ trong mối tương quan với các sự vật khác Phương pháp so sánh giúpchúng ta hiểu rõ bản chất và vị trí của một hiện tượng văn học trong các mốitương quan đa chiều của nó, đồng thời giúp ta nhìn nhận hiện tượng văn họcmột cách toàn diện hơn và tăng thêm tính sinh động, hấp dẫn của đối tượngnghiên cứu Về phương pháp nghiên cứu văn học so sánh, trên thế giới,trường phái Âu – Mĩ chia thành phương pháp“nghiên cứu ảnh hưởng” và

“nghiên cứu song song”;ở XôViết là “so sánh lịch sử” và “so sánh loại hình”

- Vận dụng trong luận văn:Luận văn sẽ vận dụng so sánh thơ Đường –Thơ mới như những hiện tượng có giao lưu ảnh hưởng, mặt khác, so sánh theophương thức: so sánh đối chiếu theo lịch đại giữa hai thời đại thơ ca; so sánhđối chiếu đồng đại trên cùng một phương diện nhưng các nhà Thơ mới đã vậndụng khác nhau như thế nào

4.2.5.Tiếp cận thi pháp học

- Giới thuyết về phương pháp: là phương pháp tiếp cận, nghiên cứu, phêbình tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn từ nghệ thuật, đểtìm hiểu các ý nghĩa hiển hiện hoặc chìm ẩn của tác phẩm như ý nghĩa mỹhọc, triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học Cấp độ nghiên cứu thi pháphọc các hình thức nghệ thuật bao gồm kết cấu, âm điệu, nhịp câu, đối thoại,thời gian, không gian, cú pháp yêu cầu đọc tác phẩm như một chỉnh thể, ở đócác yếu tố ngôn từ liên kết chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống, để biểuđạt ý tưởng, tình cảm, tư duy, nhân sinh quan ,tức là cái đẹp của thế giới, conngười

- Vận dụng trong luận văn: tiếp cận thi pháp học trước hết là nghiên cứucác phương thức nghệ thuật, miêu tả các đặc trưng thể loại văn học, từ đó mớitìm tòi các tầng lớp ý nghĩa ẩn giấu của tác phẩm Thi pháp học giúp ta công

cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách tư duy của tác giả cũng như

Trang 16

nắm bắt mã văn hóa nghệ thuật của các tác giả và các thời kỳ văn học nghệthuật, từ đó nâng cao năng lực thụ cảm tác phẩm.

5 Phạm vi nghiên cứu

Dấu ấn, ảnh hưởng của thơ Đường tới quan niệm về thế giới và con người của Huy Cận, Vũ Hoàng Chương trong thơ; dấu ấn trong thi liệu, thi ảnh, giọng

điệu,ngôn ngữ và thể loại

6 Cấu trúc của luận văn

Chương 1: Ảnh hưởng của thơ Đường đến Thơ mới từ góc nhìn của văn

học so sánh

Chương 2: Các phương diện ảnh hưởng thơ Đường trong thơ Huy Cận và

thơ Vũ Hoàng Chương

Chương 3: Thơ Đường ảnh hưởng đến phương thức biểu hiện của các tập thơ “Lửa thiêng”, “Thơ Say”và “Mây”

7 Đóng góp của luận văn

- Tìm ra sự học tập, kế thừa những tinh hoa Đường thi của Thơ mới nóichung và hai thi nhân Huy Cận, Vũ Hoàng Chương nói riêng

- Trên cơ sở đó thấy được sự sáng tạo và những cống hiến của thi nhânđối với phong trào Thơ mới và đối với văn học Việt Nam

Trang 17

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ ĐƯỜNGĐẾN THƠ MỚI

TỪ GÓC NHÌN CỦA VĂN HỌC SO SÁNH

1.1 Ảnh hưởng giao thoa văn hoá từ góc nhìn văn học so sánh

Văn học so sánh là “một ngành của nghiên cứu văn học chuyên khảo sátnhững quan hệ có tính quốc tế của văn học, những tương đồng và khác biệtgiữa các hiện tượng văn học ở các nước khác nhau Tính tương đồng có thể donhững tương đồng trong sự phát triển xã hội và văn hóa của các dân tộc,nhưng cũng có thể do sự tiếp xúc về văn hóa, văn học giữa các dân tộc”[ 10,tr.179] Do vậy người ta phân biệt những tương đồng loại hình của quá trìnhvăn học và những liên hệ và ảnh hưởng của văn học Hai phương diện nghiêncứu này tuy có tương tác nhưng không lẫn lộn Tiền đề của nghiên cứu sosánh là tính thống nhất của nhân loại trong sự phát triển về mặt xã hội – lịch

sử Do có sự giống nhau về các quan hệ xã hội ở các dân tộc khác nhau nêntrong sự phát triển của các nền văn học khác nhau ở cùng một thời đại lịch sử

có thể quan sát thấy những tương đồng loại hình – lịch sử Đối tượng củanghiên cứu so sánh có thể là những tác phẩm, thể loại, phong cách và khuynhhướng nhất định hoặc sáng tác của những nhà văn nhất định

Con đường phát triển của văn học giống nhau ở các dân tộc khác nhauthường đan chéo với những tiếp xúc và ảnh hưởng quốc tế Tuy vậy chỉ có thể

có sự ảnh hưởng nếu có nhu cầu nội tại cho một sự nhập cảng về văn hóa, tức

là có những xu thế phát triển tương tự ở xã hội ấy, văn học ấy Mọi ảnh hưởngcủa văn học đều gắn với việc làm biến đổi ít nhiều những hình mẫu vay mượn,tức là gắn với việc sáng tạo lại cho phù hợp với trình độ,truyền thống dân tộc,với đặc sắc tư tưởng nghệ thuật của cá tính sáng tạo ở nhà văn Mối liên hệ và

Trang 18

quan hệ quốc tế giữa các nền văn học và các nhà văn các nước khác nhau làmột phạm trù lịch sử, ở những điều kiện lịch sử khác nhau chúng cũng có hìnhthức và mức độ khác nhau Từ thế kỷ XX chúng đã trở nên năng động và trởthành một yếu tố thường xuyên trong đời sống văn học ở hầu hết các nướctrên thế giới.

Khi bàn đến cụm từ ảnh hưởng trong giao lưu văn hoá, người ta phânbiệt thành hai loại Có loại ảnh hưởng tức thời chỉ thông qua một thời gianngắn nhất định Có loại ảnh hưởng sâu sắc, trở thành một nếp sống hoặc nếpnghĩ của con người Loại ảnh hưởng thứ hai này có thể nói đã được bộ lọc củabản sắc văn hoá dân tộc thông qua và chấp nhận, thông qua sự sáng tạo vàcách tân đã trở thành một nét truyền thống, thành sự phát triển tất yếu của vănhoá dân tộc Nó còn được gọi là hoạt động tiếp biến văn hoá Tiếp nhận nhưng

có biến đổi và phát triển Như vậy, ta có thể khẳng định, ảnh hưởng của thơĐường đến Thơ mới là loại ảnh hưởng sâu sắc, thơ Đường đã trở thành máuthịt trong nguồn gốc sáng tạo văn chương Việt Nam qua hàng nghìn năm Vàcàng ngày, nó càng trở nên tinh vi hơn trong cảm xúc cũng như trong thể hiện.Cũng cần bàn đến các cách khác nhau trong tiếp thu, ảnh hưởng Ở đây taxác định hai cách cơ bản đó là thông qua quan hệ tiếp nhận và quan hệ đồngloại hình Cá nhà Thơ mới trong khi sáng tạo thực sự là có ý thức trong việc

kế thừa sâu sắc Đường thi, chủ trương vận dụng hình ảnh ngôn ngữ, thi phápcủa Đường thi trong thơ mình Đó là sự tiếp nhận chủ động nhằm bồi đắp kinhnghiệm và khả năng sáng tác Nhưng bên cạnh đó cũng phải xét đến sự gặp gỡgiữa thơ Đường và Thơ mới, phải chăng cũng là sự gặp gỡ đồng loại hình, đó

là quan hệ tự sinh có gặp gỡ Tức là cũng có khi, nó không phải là sự mượndùng mà chỉ là những tương quan đồng dạng, vô tình gặp gỡ nhau

Vì thế, khi cắt nghĩa hiện tượng ảnh hưởng thơ Đường đối với Thơ mớicần cắt nghĩa bằng sự tất nhiên và cả sự ngẫu nhiên Hơn nữa chuyện văn

Trang 19

chương có liên quan đến chuyện tâm hồn Thơ là loại hình dễ gây xúc độngnhất, tạo sự thông cảm kéo con người đến gần nhau nhất.

Nói đến nguồn ảnh hưởng trực tiếp là nói đến tính tích cực chủ động, tính

có ý thức của người tiếp nhận Một nền văn chương đóng kín sẽ không bao giờphát triển được dù nội lục có mạnh đến đâu Người nghệ sĩ hơn ai hết phảihiểu thấu được điều đó để không bị cô lập và tự giết chết mình, phải biết họchỏi và kế thừa Viên Mai- nhà lý luận thơ cổ Trung Hoa đã quan niệm tài thơ

là sự kết hợp của tiên thiên và hậu thiên, ông xem trọng năng khiếu nhưng

cũng nhấn mạnh học tập: thơ văn toạ ý dùng bút cũng như tóc da cười nói củangười đẹp là những cái tiên thiên, thơ văn đặt câu dùng điển như quần áotrang sức của

người đẹp là những cái hậu thiên Như vậy tiên thiên thuộc về năng khiếu cònhậu thiên là do học tập mà thành nhưng cũng là hệ quả tất yếu của một nềnvăn học rực rỡ và phát triển như văn học đời Đường

Ảnh hưởng gián tiếp, Thơ mới chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ Đườngmột phần do hoàn cảnh lịch sử xã hội chi phối,do nhu cầu tiếp nhận giao lưuvăn học, chủ yếu qua nền văn học truyền thống của dân tộc, đặc biệt là vănhọc trung đại Văn học trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ Đường ThơĐường có mặt rất sớm ở Việt Nam, từ thế kỷ X thơ Đường đã được truyền bá

và có nhiều bậc thức giả am hiểu và sáng tác Mỗi nhà thơ trung đại Việt Namđều ít nhiều chịu ảnh hưởng của thơ Đường Thơ Đường đi vào thơ trung đạiViệt Nam khá sâu sắc và nhuần nhuyễn, kết họp với hồn riêng dân tộc để tạonên những kiệt tác văn học bất hủ Nắm được điều đó chủ trương học tập cácnhà thơ cổ điển những thi nhân trong phong trào Thơ mới đã tiếp thu mạnh mẽvăn học truyền thống cũng là hấp thụ được âm hưởng Đường thi tuy đã bịkhúc xạ nhưng vẫn còn sâu sắc

Ảnh hưởng văn học là mối quan hệ tác động qua lại giữa các nhà văn, cáctác phẩm và các nền văn học Ảnh hưởng văn học chỉ xảy ra trong điều kiệncó

Trang 20

tiếp nhận và sáng tạo và chủ yếu thể hiện trong phương diện sáng tạo, làm ratác phẩm mới, là cái tác động đem lại sự phong phú hay biến đổi về quan điểmthẩm mỹ hay các tư duy nghệ thuật mà truyền thống văn học dân tộc của nhàvăn không có, hoặc sự phát triển tự nhiên của tài năng nhà văn không dẫn đến.Ảnh hưởng văn học là một quá trình, có thể tác động tới các khâu khác nhautrong quá trình ảnh hưởng như gợi ý, thúc đẩy, làm cho giống nhau, tiêu hóabiến dạng, thay đổi biểu hiện nghệ thuật Có ảnh hưởng diễn ra toàn diện, cóảnh hưởng giới hạn trong từng khâu Ảnh hưởng văn học có thể xảy ra trênnhững quy mô, trong những phạm vi khác nhau Một giai đoạn hoặc một thờiđại văn học có thể ảnh hưởng tới sáng tác của nhà văn thuộc nhiều giai đoạn,nhiều thời đại khác Có ảnh hưởng văn học thuần túy mang tính chất cá nhânnhư ảnh hưởng qua lại giữa nhà văn này với nhà văn khác Có ảnh hưởng vănhọc giới hạn trong nội bộ văn học của một dân tộc Có ảnh hưởng văn học mởrộng trên phạm vi một vùng, một khu vực văn học của nhiều dân tộc có quan

hệ gần gũi với nhau Ảnh hưởng văn học lớn nhất mang quy mô toàn thế giới.Giao lưu văn hóa và sự tương đồng lịch sử là những nhân tố quan trọng bậcnhất tạo ra những ảnh hưởng qua lại giữa các khu vực, các nền văn học củanhiều dân tộc khác nhau trong tiến trình chung của văn học nhân loại

Một trong những thành quả của thế giới hiện đại, của nền văn minhcông nghiệp, là cái tôi cá nhân mà sự ra đời của nó gắn liền với các đô thịcông thương nghiệp Ở Việt Nam, vào những năm đầu thế kỷ, những đợt khaithác thuộc địa ồ ạt của người Pháp đã đân dần tạo nên những đô thị kiểu mới.Mặc dù sự xen ghép của các thành phần kinh tế công nghiệp và tiền côngnghiệp thể hiện tính chất thực dân, nhưng các thành phố, nhất là những thànhphố nhượng địa như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn, đã sinh ra mộttầng lớp dân cư mới, với lối cảm, lối nghĩ và lối sống chẳng những khác vớingười tiểu nông mà khác cả với gã thị dân cổ truyền Sau đó, do nhu cầu cầnngười làm trong

Trang 21

bộ máy hành chính, các hãng, công ty,…người Pháp đã mở ra hệ thống tiểuhọc Pháp – Việt trên toàn cõi Việt Nam Bởi vậy, vào những năm hai mươi,tầng lớp trí thức “Tây học bản địa” ra đời Khác với lớp con quan được đi dàotạo ở “mẫu quốc” để trở thành những “ông Tây An Nam” và lớp học sinh tiểuhọc Pháp – Việt khóa đầu được đào tạo vội vàng để ra làm việc, tầng lớp tríthức Tây học bản địa vừa đông về số lượng vừa cao về chất lượng Họ lớn lêntrong không khí dân tộc, dân chủ của phong trào đòi ân xá Phan Bội Châu,đám tang Phan Châu Trinh…Ý thức dân tộc thức tỉnh Đồng thời, họ đủ điềukiện bỏ qua thứ “văn hóa thuộc địa”để tiếp thu tinh hoa của văn hóa Pháp.Chính họ là chủ dân của nền văn hóa mới, văn hóa đô thị, dựa trên tinh thầnkhoa học thực nghiệm Chữ quốc ngữ ra đời góp phần thúc đẩy các phươngthức truyền bá văn hóa như báo chí, nhà xuất bản Văn học lần đầu tiên đượccoi như một loại hình nghệ thuật ngôn từ Các thể loại văn chương mới như:kịch nói, tiểu thuyết, phóng sự, thơ mới ra đời …Cái tôi cá nhân với tư cáchvừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền văn hóa mới xuất hiện Một mặt, nótiếp nối cái tôi tập đoàn của xã hội cổ truyền đã phát triển qua các hình tháinhư cái tôi làng xã, cái tôi vô ngã Lý- Trần, cái tôi quân tử và nhất là cái tôi tài

tử Nhân cách và cá tính cao của con người tài tử là yếu tố nội sinh cần thiết

để cái tôi cá nhân ra đời khi gặp điều kiện thuận lợi từ bên ngoài đưa vào Mặtkhác cái tôi cá nhân này là sự khác biệt về chất ra đời trên cơ sở một xã hội

đang có biến động về cấu trúc “Như vậy, cái tôi cá nhân (1932- 1945) không phải là một kẻ vong bản, một thứ hàng nghập ngoại, mà là sự phát triển tương ứng, tuy lệch pha thời gian với hình thái phổ quát của loài người đã ra đời ở phương Tây trước

đó” [27, tr.14]

Tuy nhiên, ra đời trong điều kiện không bình thường của lịch sử, cái tôithị dân Việt Nam giai đoạn này mang trên mình nó dấu ấn riêng và nhanhchóng phân hóa Một bộ phận ưu tú của tầng lớp này vì quyền lợi dân tộc đãlàm cuộc

Trang 22

khởi nghĩa Yên Bái, “sát thân thành nhân” Bộ phận khác đi vào con đườngcách mạng vô sản Ở đây, vì sự nghiệp lớn, họ khẳng định bản ngã của mìnhbằng sự phủ định nó Cái tôi của họ vì thế, hồi quang những hình thái cổtruyền Số đông còn lại đi tìm cuộc sống bình thường trong cái không bìnhthường của dân tộc Họ có điều kiện để phát triển và khám phá cái tôi củamình Những

người có tài năng và tâm huyết đến với văn chương nghệ thuật để nói lên tiếngnói mới, để được bộc lộ mình như một giá trị riêng và bằng cách đó, đónggóp vào văn hóa dân tộc, dấy lên một cuộc cách mạng văn chương

Cuộc cách mạng đó, trước hết, ở cái nhìn thế giới Mỗi nền hoặc thời đạivăn hóa tạo ra một vùng khí hậu riêng mà bất kỳ ai sống trong đó đều nhiễmlâu dần đọng lắng lại thành tâm thế ngụ ở cả hai cõi, hữu thức và vô thức.Chính tâm thế này quyết định cái nhìn thế giới của mỗi loại hình cá nhân đó lànhững quan niệm về con người, quan niệm về thời gian, quan niệm về khônggian…, những viên gạch phạm trù xây nên bức tranh thế giới Cái nhìn thếgiới của cá nhân cá thể trong nền văn hóa đô thị khác với cái nhìn của cá nhântập đoàn trong xã hội nông nghiệp cổ truyền Do vậy, bức tranh thế giới của

họ, không chỉ khác về chất liệu,vật liệu, mà quan trọng hơn ở cái cảm xúc, ởcái đầu duy lý và bàn tay đo đạc, tính đếm kiểu phương Tây Nếu thiên nhiêntrong tranh cổ truyền không phải là thiên nhiên thực mà nặng về tượng trưngước lệ, ngay trong cả những bài thơ nhằm tả cảnh, vịnh vật, thì thiên nhiêntrong con mắt đô thị là khách quan Người xưa coi mình chỉ là một bộ phậncủa thế giới, một tiểu vũ trụ nên dùng thiên nhiên như một tấm gương để soingắm mình và chiêm nghiệm các định luật vũ trụ Với người thị dân, thiênnhiên đã trở thành một đối tượng phải chinh phục Bởi vậy, người ta mới đođạc và tính toán Đồng thời, với vẻ đẹp của nó, thiên nhiên cũng trở thành mộtđối tượng hưởng thụ Nó được xúc cảm, được mô tả một cách sống động, chânthực và cụ thể

Trang 23

Đời sống đô thị giải phóng con người trước hết ở không gian Đầu tiên làkhông gian địa lí, sau đó là không gian xã hội và cuối cùng là không gian tinhthần Con người làng xã bị cột chặt vào mảnh đất họ sinh sống : “Núi cao chilắm núi ơi!Núi che mặt trời chẳng thấy người thương”, hoặc “ Yêu nhau tam

tứ núi cũng trèo, Thất bát sông cũng lội, ngũ lục đèo cũng qua” Bởi vậy, mọi

sự đi lại buôn bán, đi lính hay ra sống ở kẻ chợ đều làm con người mất đi sựthuần nhất của thôn quê Loại như Chí Phèo, đúng như Bá Kiến nhận xét,mười thằng thì có đến chín thằng đi xa về Người thiếu nữ “chân quê” củaNguyễn Bính chỉ ra tỉnh có một hôm mà đã bay đi chút “hương đồng giónội”…Những người định cư hẳn ở thành phố cởi bỏ được ràng buộc của cáccộng đồng làng xóm cũ: họ đã vượt không gian xã hội cổ truyền Sự phâncông lao động, khoa học thực chứng đã dẫn đến sự định lượng hóa khônggian Xưa kia, những cảm xúc không gian bao giờ cũng nhuốm màu tôn giáo

và triết học Không gian là một khối thiêng liêng không thuần nhất, cái trungtâm và có ngoại vi Trong cái nhìn đô thị, tính không thuần nhất và toàn khốicủa nó bị biến mất Đúng hơn nó đã vỡ vụn ra thành những không gian nhỏ,trần thế như những con đường, bến đò, khúc sông, quán trọ,… cho vừa tâm sựcủa những cá nhân

Thời gian trong xã hội cổ truyền là thời gian vũ trụ được ngắt theo nhịpđiệu của mùa màng, như một cuốn lịch thiên nhiên: “Tháng giêng là tháng ănchơi,Tháng hai trồng đậu trồng khoai trồng cà…”thời gian sản xuất và nghỉngơi để hội hè đình đám cứ xen kẽ và quay vòng hàng năm khiến con người

có cảm giác là con người sống ngoài thời gian Trong quan niệm bác học chỉ

có một thứ thời gian tuần hoàn theo nhịp điệu vĩnh hằng của vũ trụ Mọi vậtdường như chỉ tồn tại trong không gian Vì thế người ta không hề lo lắng đếnquỹ thời gian cá nhân Mọi người nhìn thời gian trôi một cách bình thản:

“Nhất nhật thanh nhàn, nhất nhật tiên”

Trang 24

Con người của xã hội thị dân không còn sống theo nhịp điệu muôn thuởcủa mùa màng, thời tiết nữa, họ tuân theo nhịp điệu của công việc của sựthành đạt của cá nhân trong cuộc sống Thời gian đối với họ dường như trôichảy nhanh hơn Cảm giác thời gian, nhất là thời gian lịch sử được mài sắc vàchuốt nhọn hơn Ý niệm về phát triển theo thời gian dần dần được hình thành.Trước đây, tuổi đời được coi là tuổi tự nhiên Con người cứ lần lượt trải quacác giai

đoạn ấu thơ, hoa niên, thanh niên, trung niên, già một cách tự nhiên Còn đôthị người ta trở thành người như thế nào là do sự cố gắng của chính nó trongthời gian Thời gian là của cải, là công danh, là sự nghiệp Bởi vậy, người ta

có nhu cầu đo đếm thời gian một cách chính xác Đồng hồ cơ khí thay thế chođồng hồ thiên nhiên: Sen tàn, cúc lại nở hoa…; Thời gian đã trở nên khoa học

và khách quan

Những quan niệm của con người về thế giới phản ánh quan niệm vềchính nó về bản thân mình Thiên nhiên, không gian, thời gian thay đổi làmđổi thay chính con người Ở thời Phục hưng, khhi con người cắt đứt với cácràng buộc cộng đồng nông nghiệp xác định mình như là chủ thể của hành vi

và ý chí của mình thì tương quan giữa nó và thế giới cũng thay đổi Nếu cánhân tập đoàn khẳng định bản ngã thông qua các quan hệ xã hội thì cá nhân cáthể khẳng định cái tôi bất chấp các quan hệ xã hội Nó cảm thấy mình là trungtâm Toàn thế giới xoay quanh nó Điều này phản ánh rất rõ trong nghệ thuậtPhục hưng ở Châu Âu, thời của những người khổng lồ Ngược lại các họa sĩđời Tống coi vũ trụ như một chuỗi xích, con người chỉ là một mắt Trongtranh Tống, con người không xuất hiện ở vị trí trung tâm Trong khoảng núinon trùng điệp nó hiện diện khiêm nhường lặng lẽ như một chiếc cầu tre, mộtcọng cỏ …Các họa sĩ Phục hưng bao giờ cũng đặt con người vào vị trí trungtâm theo một điểm nhìn cố định : thiên nhiên chỉ tô điểm cho con người Cáinhìn này cũng bộc lộ rõ trong văn chương đô thị, đặc biệt ở thơ Xuân Diệu,Đinh Hùng,…Nếu trong

Trang 25

thơ cổ điển và dân gian, người ta thường lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm chuẩnmực cho vẻ đẹp của con người (“mặt hoa da phấn”; “Những người thắt đáylưng ong- Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền”) thì ngược lại Xuân Diệu lấycon người làm mẫu mực cho thiên nhiên (“Lá liễu dài như một nét mi”, “Mây

đa tình như thi sĩ thời xưa”, “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần…”),còn Đinh Hùng thì lấy thân xác mình ra mà cảm nhận thiên nhiên (“Thời gianqua trên một nét mi dài, Núi mùa thu buồn gợn sóng đôi vai”), hoặc lấy mình

ra làm trung tâm mà vạn vật thời gian phụ thuộc vào nó (“ Chúng ta đến, mùaxuân thay sắc diện, Chúng ta đi mùa hạ vụt phai nhòa, Gương mặt mùa thuphút chốc phôi pha, Ta dừng gót chợt mùa đông tàn phế…”) Lấy con ngườilàm

thước đo là một nguyên tắc mĩ học mới là một cái nhìn nhân văn, một cách tânnghệ thuật độc đáo của văn hóa đô thị

Sự đảo lộn địa vị của con người trong giới tự nhiên đã mang lại cho nónhiều giải phóng Trước hết là giải phóng thể xác, giải phóng giác quan.Những quan niệm miệt thị thể xác và những gì cùng đi với nó được phá bỏ.Các giác quan thoát khỏi sự kìm hãm của những định kiến được tự do chứngnghiệm Văn chương đô thị tràn ngập ngững cảm giác tươi mới, ban sơ Tuynhiên điều có ý nghĩa nhất trong sự giải phóng con người là quyền tự do lựachọn Chính sự lựa chọn tự do là một tiêu chí quan trọng để con người trởthành một cá nhân đích thực Nhân vật sử thi không hề lựa chọn những hànhđộng anh hùng mà nó thực hiện là siêu cá nhân Con người chịu sự sai khiếncủa số phận, sự đỏng đảnh của thần linh, hay các quy tắc về danh dự của tậpthể Bi kịch đặt con người trước sự lựa chọn nhưng đó là sự lựa chọn giữa haitrật tự sự vật siêu cá nhân

Ngay khi ra đời con người thị dân Việt Nam đã phải đứng trước sự lựachọn tất yếu : tình yêu và hôn nhân Là những thanh niên Tây học, họ yêu theotiếng gọi trái tim là “ Lấy nhau vì tình” Nhưng rồi tình yêu của họ vấp phải

Trang 26

rào cản của những khuôn vàng thước ngọc cổ truyền “cha mẹ đặt đâu con ngồi

đấy”, hay “môn đăng hộ đối” Những tiểu thuyết nổi danh hồi ấy như : Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân của Khái Hưng Đoạn tuyệt của Nhất Linh.

Sau những lựa chọn về tình yêu và hôn nhân là lựa chọn về gia đình và xã hội,

giữa áo cơm và lý tưởng, giữa những con đường cải tạo khác nhau như Gia đình của Khái Hưng, Con đường sáng của Hoàng Đạo, Bướm trắng của Nhất Linh, Sống mòn của Nam Cao,…

Thơ Mới đã thể hiện được số phận cá nhân “đời chúng ta nằm trong mộtchữ tôi”(Hoài Thanh), sự cô đơn và những con đường giải phóng khỏi sự côđơn, tình yêu và tuyệt vọng, những xung đột giữa văn hóa nông thôn và đô thị,những Đông và Tây Như vậy cũng vấn đề của cá nhân đô thị, vấn đề quanniệm mới về con người nhưng khác với tiểu thuyết, Thơ Mới đã đi vào mộtchiều kích khác, chiều kích tâm linh, chiều kích bản thể luận của con người

1.2.Ảnh hưởng thơ Đường đến Thơ mới trong bối cảnh giao lưu quốc tế đầu thế kỷ XX

Trước hết có thể nhận thấy rằng: văn học Pháp là dòng hải lưu mạnh nhấttạo thành nguồn mạch sáng tạo quan trọng của Thơ mới Bởi các nhà Thơ mớicủa chúng ta hầu hết đều là trí thức Tây học, họ học trường Tây, đọc sách Tây,làm việc cho các công sở của Tây Những gương mặt Thơ mới tiêu biểu nhưXuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Nhược Pháp,… đề có bằng

tú tài Tây, Huy Thông đã được du học ở Pháp còn lại hầu hết được học trongcác trường bảo hộ, có bằng thành chung Nói như Hoài Thanh: phương Tâybây giời đã đi tới chỗ sâu nhất trong tâm hồn ta Phương Tây đã mang đến biếtbao

điều mới lạ và sự thay đổi về vật chất, về cuộc sống sinh hoạt tất yếu sẽ dẫnđến những thay đổi về tinh thần Tuổi trẻ của các nhà Thơ mới đã chứng kiếncuộc biến thiên quan trọng và vĩ đại này: khi tâm hồn đang ở độ phơi phớinhất, nhạy cảm nhất, bỡ ngỡ nhất đồng thời cũng nhiều mơ ước khát khaomãnh liệt

Trang 27

nhất thì cũng là lúc gặp cái “vui vẻ trẻ trung” của phong trào Âu hoá nên cũng

dễ hội nhập Các nhà Thơ mới đã tiếp nhận nền văn hoá Văn học Pháp chuyểndần sang tượng trưng siêu thực là nguồn ảnh hưởng lớn nhất đế tư tưởng và

tình cảm thẩm mĩ của các nhà Thơ mới: mỗi nhà thơ Việt Nam như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp( Hoài Thanh).

Nhưng đây cũng là một sự thực: tuổi trưởng thành cùng thời đại mớinhưng rất nhiều các nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới đã từng được sinh ra vàsống trong một bầu không khí văn hoá cổ điển Xuất thân trong những giađình nho giáo, tâm hồn họ cũng đã từng rất quen thuộc với truyền thống sinhhoạt, đạo đức, học hành mang tính mẫu mực của một thời đã qua Bầu khôngkhí cổ

điển ấy chịu ảnh hưởng sâu sắc của nhà nước phong kiến Trung Quốc do điềukiện lịch sử và địa lý chi phối Về lĩnh vực văn học cũng vậy Có thể nói khi

đề cập đến văn học Trung Quốc người ta nghĩ đến thơ Đường Hiện tượng thơĐường không chỉ là thành tựu đọc đáo của riêng Trung Quốc nữa mà đã trởthành tài sản văn hoá của nhân loại Vì vậy sức lan toả của nó bất chấp cả thờigian, bất chấp cả không gian Đối với nước ta, thanh thế thơ Đường lớn hơnbất cứ nơi nào Trong giai đoạn lịch sử còn tồn tại nhà nước phong kiến tươngứng với văn học trung đại, thơ Đường được truyền bá rộng khắp trở thành mẫumực trong nghệ thuật thi ca Sự am hiểu thơ Đường cũng như làm thơ Đườnggiỏi là một tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ văn hoá Vì vậy nhữngngười

được coi là thuần nho thường rất tinh thông chữ Hán và thi luật Đường Chođến đầu thế kỷ XX, mặc dù nho học đã đến lúc suy tàn chỉ còn le lói vài tiasáng cuối cùng trước khi tắt hẳn, mặc dù cái thời vận luật Đường đã cực kỳsuy vi thì những tia hồi quang yếu ớt ấy vẫn còn được phản chiếu, bởi người

ta không thể quên đi dễ dàng những gì đã ăn vào máu thịt hàng nghìn năm,huống hồ thời đại ấy vẫn còn chưa xa Phong thái, cốt cách Đường thi vẫn còn

in đậm trong văn học, trong cả một tầng lớp người đang rơi rớt lại Và khôngthể phủ

Trang 28

nhận rằng, nhiều nhà thơ đã xuất thân trong những gia đình nho học như vậy.

Đó chính là sự thụ dưỡng trực tiếp của các nhà Thơ mới đối với thơ Đường

Từ nhỏ hay nói cách khác đi tuổi ấu thơ của họ đã được nuôi dưỡng trong mộtbầu khí quyển rất thuần, rất trong, đã thụ hưởng nguồn mát lành của thơĐường Họ

được học chữ Hán từ bé, được đọc thơ Đường được nghe thơ Đường ThơĐường đã lưu chuyển trong tâm hồn, suy nghĩ của họ, và dù cách tân đếnđâuthì cái âm vang sâu lắng ấy cũng không dễ dàng bị từ bỏ

Mặt khác, có thể có người không có nguồn gốc Nho gia nhưng đã dànhcho thơ Đường một tình cảm đặc biệt Họ chủ trương tự học chữHán, nghiêncứu thơ Đường và có ý thức tiếp thu những phần đặc sắc tinh tuý Không phải

vì cách tân mà đối lập với truyền thống Họ chỉ lên án những cái gò bó khuônphép và sáo rỗng mà thôi Có nhiều nhà thơ mới trước đó đã từng làm thơĐường, trong đó tiêu biểu nhất phải kể đến Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đông Hồ

Có người dù giữa cơn bão táp của cuộc cách mạng thi ca, dù Thơ mới đang ởthời thịnh trị nhất vẫn rất chung tình với thơ đường luật như Quách Tấn Cònlại hầu như tất cả đều chịu ảnh hưởng về mặt này hay mặt khác với nhữngmức độ đậm nhạt khác nhau

Phong trào Thơ mới là một hiện tượng văn học nổi bật trong thế kỷ XX

Cả một thế hệ nhà thơ, để hòa nhập với trào lưu văn học thế giới, cụ thể là vớivăn minh phương Tây, đã tuyên chiến với thơ cũ, cái cũ Nhu cầu đổi mới thơ

ca, đến lúc đó đã chín muồi

Người cầm cờ cho phong trào Thơ mới lúc bấy giờ là Lưu Trọng Lư đãdõng dạc tuyên bố trong diễn văn ở Quy Nhơn năm 1934: “Các cụ ta ưanhững màu đỏ choét; ta lại ưu những màu xanh nhạt các cụ bâng khuâng vìtiếng trùng đêm khuya; ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìn một cô gáixinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì ta cho là mát

mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sựhôn

Trang 29

nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tìnhthoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi cái tình trong giây phút, cái tìnhngàn thu ” [25, tr 17]

Ấy vậy mà phương Đông, thơ Đường đã hơn một lần còn níu chặt lấy

họ Ta hãy xem bài Tràng giang của Huy Cận:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Những câu thơ, những điển cố, mô típ của Đường thi vẫn còn níu kéo cácnhà thơ trong phong trào Thơ mới

Đến Vũ Hoàng Chương trong các tập “Thơ Say” và “Mây”, những câu

thơ dài lê thê, ngắt đoạn khá hiện đại, song âm nhạc, nhịp điệu, hồn cốt đâu đóvẫn không dứt nổi với thơ Đường:

“Nguyệt chẳng phải, tỳ không, càng không cầm với sắt Tai dẫu quan mà lại tiếng ve

Những âm thanh nhạc điệu chửa từng nghe Đầy nhớ thương tha thiết gọi ta về”

(Tối tân hôn) Hoặc trong bài thơ Mười hai tháng sáu:

“ Trăng của nhà ai? Trăng một phương Nơi đây rượu đắng , mưa đêm trường Ờ! Đêm tháng sáu mười hai nhỉ!

Trang 30

Tố của Hoàng ơi! Hỡi nhớ thương”.

Có lúc Vũ Hoàng Chương ôm cả một bài thơ Đường luật đã được cải tiếnmặc dù hồn thơ đã rất mới:

“ Ngõ nhớ hoa vàng gác nhớ trăng Chiêm bao giợn tuyết gối nhờ băng Sương mây bể xám lòng hoang đảo Nằm hấng thơ mưa độc vận bằng”.

Những vương vẫn ấy là lẽ tất nhiên, “bởi các nhà thơ trong phong tràoThơ mới trước khi hấp thụ văn minh phương Tây, trong cái gien của họ, vănminh phương Đông đã thành máu thịt, từ cha ông truyền lại…” [20, tr 113]

1.3.Khái quát về hành trình sáng tạo của Huy Cận và Vũ Hoàng Chương thời kỳ Thơ mới

1.3.1 Hành trình sáng tạo của Huy Cận thời kỳ Thơ mới

Mùa xuân năm 1938, trên báo Ngày nay, bên cạnh bài thơ cảm xúc của thi sĩ đã nổi danh Xuân Diệu lại có bài thơ Chiều xưa của một thi sĩ mới xuất

hiện: Huy Cận Nào ngờ người đến muộn màng ấy lại nhanh chóng trở thànhmột trong những ngôi sao sáng chói nhất của phong trào Thơ mới

Hơn hai năm sau, mùa hè năm 1940, tập thơ đầu – Lửa thiêng của Huy

Cận ra mắt bạn đọc với lời giới thiệu đầy nhiệt tình và trân trọng của bạn thơXuân Diệu Bằng năng lực cảm thụ tinh tế và khả năng phân tích sắc sảo,Xuân Diệu đã nói lên được những đặc điểm cơ bản của hồn thơ Huy Cận, mộthồn thơ “ mang linh hồn trời đất” và mang nặng tình đời, tình người, tình yêu

sự sống Trong Thi nhân Việt Nam, vị trí của Huy Cận lại được Hoài Thanh –

Hoài Chân khẳng định Trong số 46 nhà thơ được đưa vào tuyển tập này, HuyCận có số lượng bài thơ được tuyển vào loại nhiều nhất ( chỉ sau XuânDiệu) Ở

Trang 31

phần giới thiệu thơ Huy Cận: “Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời bìnhthường, nhưng người luôn luôn lắng nghe mình sống để nghi lấy cái nhịpnhàng lặng lẽ của thế giới bên trong” Thơ Huy Cận “nhiều tình mà ítchuyện”, ông có khả năng “tìm ra thơ trong những chốn ta tưởng không cònthơ nữa” Từ những nhận xét xác đáng ấy, Hoài Thanh đã kịp thời ghi nhậnmột việc làm táo bạo của Huy Cận : “Tìm về những cảnh xưa nơi bao nhiêungười đã sa lầy” Với

hướng đi ấy, Huy Cận “đã gọi dậy hồn buồn của Đông Á, người đã khơi dậycái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này” Cũng năm

1942, trong cuốn Nhà văn hiện đại Vũ Ngọc Phan đã chỉ ra vẻ đẹp riêng của Huy Cận qua Đẹp xưa , Tràng Giang, Thu rừng, một vẻ đẹp trong sáng, thanh

tao, cổ kính mang đậm phong vị Đường thi Dù nhìn nhận ở những góc độkhác nhau nhưng các nhà thơ và các nhà nghiên cứu đương thời đều đánh giácao đóng góp của Huy Cận Và Huy Cận đã có một vị trí cao, vững chắc

trong phong trào Thơ mới Gần tám mươi năm qua, kể từ khi Lửa thiêng ra

đời, càng bình tâm nhìn nhận, các nhà nghiên cứu càng thấy ánh sang kì diệu

của Lửa thiêng Tuy bị ràng buộc bởi cách nhìn có phần khắt khe của một

giai đoạn lịch sử nhưng các nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, Nguyễn HoànhKhung, trong các giáo trình đại học đều chỉ ra lòng yêu đời, tình yêu Tiếng

Việt và vẻ đẹp trong trẻo của hồn thơ Huy Cận Từ Năm 1985 đến nay Lửa thiêng càng được khẳng định là khai thác từ nhiều phương diện khác nhau Trong chuyên luận Thơ mới những bước thăng trần, Lê Đình Kỵ đặc biệt nhấn mạnh nguồn mạch truyền thống chảy dào dạt trong những vần thơ Lửa thiêng Còn nhà thơ Trinh Đường trong tiểu luận Huy Cận và Lửa thiêng đã

cảm nhận sâu sắc nỗi buồn thương của Huy Cận về quê hương đất nước, vềkiếp người đau khổ và lòng yêu đời tha thiết của thi nhân Đỗ Lai Thúy trong

tiểu luận Huy Cận và sự khắc khoải không gian đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của không gian nghệ thuật Lửa thiêng Đó là một không gian “ hóa thân

của thiên đường, của sự hòa đồng nguyên thủy thuở xưa” Nó không hề khépkín mà mở về phía trần thế để có sự

Trang 32

tương giao giữa con người và không gian Trong tập tiểu luận Một thời đại trong thi ca, Hà Minh Đức đã có những kiến giải mới mẻ về Ngọn lửa thiêng trong đời và trong thơ của Huy Cận Nhà Nghiên cứu Hà Minh Đức cho rằng:

“Thế giới tâm linh kết thành ngọn lửa thiêng trong thơ Huy Cận Đó là thếgiới tâm linh soi rọi như ánh sáng, như niềm tin vào lương tri của con người”.Nhờ có nguồn sáng ấy mà Huy Cận nhìn thấy được bóng dáng xưa của ngọnnguồn dân tộc, cảm nhận được nhịp sầu vũ trụ và nỗi buồn nhân gian và nhận

ra bản thể của con người trong sự sống của thiên nhiên

Huy Cận bước tới thi đàn bằng một tâm hồn đa cảm, đa sầu Với tập thơ đầu tay Lửa thiêng, Huy Cận đã mang đến cho phong trào Thơ mới những vần

thơ buồn bã ảo não bậc nhất Buồn bã, cô đơn là tâm trạng chung của các nhàthơ mới nhưng không có nhà thơ nào buồn nhiều, buồn sâu, buồn thấm như

Huy Cận Trong tập Lửa thiêng có 50 bài thì có 35 bài trực tiếp bộc lộ tâm

trạng buồn bã, cô đơn Cũng trong chừng ấy bài thơ mà có đến 46 lần chữ

“buồn” hiện diện và 31 chữ “sầu” giăng mắc khắp các câu thơ Trong lịch sửthơ ca dân tộc có nhiều tác phẩm thể hiện nỗi buồn nhưng không có tập thơnào nỗi buồn được nói lên một cách đa dạng, lắm cung bậc và nhiều sắc thái

như trong Lửa thiêng của Huy Cận Nỗi buồn trong Lửa thiêng thường trực

trong mọi lúc: “chiều buồn”, “đêm sầu”, “buồn đêm mưa”, “buồn xế trưa”,

“buồn tự thuở xưa” Một vệ buồn kéo dài từ quá khứ đến hiện tại: “sầu vạnthuở”, “sầu thiên cổ”, “sầu vạn kỉ”…nỗi buồn đó lan tỏa khắp không gian, vũtrụ tràn ngập nỗi buồn: “trời buồn”, “gió buồn”, “sao buồn”, “nước buồn”,

“sông núi buồn”, “sương sầu”, “vạn lí sầu”, “sầu vũ trụ”, “buồn bã khônggian” Sầu muộn, buồn bã như tụ thành nhựa, kéo thành sợi, kết thành trái đểhội về đầy đủ, nặng trĩu ở tâm hồn Huy Cận, tạo nên nhiều sắc thái buồn:

“buồn buồn”, “buồn không cớ”, “buồn hão”, “buồn nhiều”, “buồn điệpđiệp”…Đối với Huy Cận, nỗi buồn không chỉ cảm được tự lòng mình mà cònnhìn thấy, nghe thấy ở khắp mọi nơi:

Trang 33

Tai nương nước giọt mái nhà Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn

( Buồn đêm mưa)

Nhà thơ lúc nghe lòng mình hay nhìn ngoại cảnh đều gặp bao nỗi buồn.Với tâm hồn đa sầu đa cảm ấy, “Huy Cận đã lượm lặt những chút buồn rơi rớt

để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não” Nỗi buồn Huy Cận nhiều khi làkhông nguyên cớ, như là nỗi buồn nghiệp dĩ, nhưng thực ra nỗi buồn ấy cónguyên cớ từ đặc điểm tâm hồn, từ đời sỗng xã hội Nỗi buồn của Huy Cận lànỗi buồn nhân thế, nỗi buồn thời cuộc, nỗi buồn của người dân mất tự do, củađất nước bị mất độc lập chủ quyền:

Hay lòng chàng vẫn tủi nắng, sầu mưa Cùng đất nước và nặng buồn sông núi

nhà thơ Xuân Diệu trong lời tựa Lửa thiêng : “Cái tiếc sớm, cái thương ngừa

ấy chẳng qua là sự trá hình của lòng ham đời, là cái tật dĩ nhiên của kẻ yêu sựsống” Nỗi buồn Huy Cận có gốc từ lòng yêu đời, từ tình yêu quê hương đấtnước Nỗi buồn ấy không chán chường bi lụy mà trong trẻo, dễ cảm thương.Tình cảm yêu đời của Huy Cận không chỉ biểu hện qua nỗi buồn mà còn thểhiện qua niềm vui Trong tâm hồn Huy Cận có một mảng rất hồn nhiên tươitrẻ

thường hướng về những gì non tơ, trong trắng, thơ mộng Nhờ thế Huy Cậnviết thành công về tuổi học trò, tuổi mười bốn, mười lăm của thời áo trắng.Với

Trang 34

đôi mắt trong trẻo, với tâm hồn nhạy cảm, Huy Cận đã hòa nhập vào thế giới hồn nhiên thơ mộng :

Gió thổi sân trường chiều chủ nhật

Ôi ! Thời tơ bé tuổi mười lăm Nắng hoe rải nhặt hoa trên đất Đời dịu vừa như nguyệt trước rằm

(Học sinh)

Nhà thơ tinh tế ghi lại tâm trạng náo nức, cái vẻ ngập ngừng, rụt rè thậtđáng yêu của “những chàng trai mười lăm tuổi vào trường, quần áo trắng đẹpnhư lòng mới mẻ” Từ những giờ phút rụt rè của buổi ban đầu, những chàngtrai “có linh hồn bằng ngọc” ấy đã nhanh chóng “tìm bạn kết duyên” để mộtngày kia họ đến với mộng ước thần tiên, phút giây hạnh phúc :

Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong Hôm xưa em đến, mắt như lòng

Nở bừng ánh sáng Em đi đến Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng

(Áo trắng)

Sống trong giây phút huyền diệu ấy, Huy Cận nhìn thấy “ánh sáng nởbừng”, “nắng thơ dệt sáng”, “lá nhỏ mừng vui”, và cảm nhận đầy đủ “hồn

trong hơi thở”, “hạnh phúc đầy tay” Áo trắng là một bài thơ đẹp, là tiếng nói

hồn nhiên, trong trắng, chứa chan mộng đẹp của tuổi học trò Tuổi học trò, với

Huy Cận thật đáng nhớ đáng ghi, đó là thời thơ mộng nhất của đời người Lửa thiêng sẽ hao hụt biết bao nhiêu nếu thiếu đi Học sinh, Áo trắng, Tựu trường.

Khi viết về tuổi thơ áo trắng hay hạnh phúc tình yêu, Huy Cận đều tạo dựngmột thế giới thơ mộng Đó là một không gian mang tính thẩm mĩ, là bầu khíquyển đặc

Trang 35

biệt để những tâm hồn được giao hòa, giao cảm với nhau Ở các bài thơ Tự tình, Đi giữa đường thơm, Họa điệu, Ngậm ngùi đều có những thế giới thích

hợp để đưa con người vào cõi mộng

Hình ảnh lứa đôi trong Đi giữa đường thơm là hành trình từ cõi thực sang cõi

mộng Điểm xuất phát là con đường làng thân thuộc, gần gũi và cảnh sắc đậm

Trong cõi mộng, con người đánh mất ý niệm không gian ( Lên bề cao hay xuống bề sâu?) và đánh mất ý niệm thời gian ( Một buổi trưa không biết ở thời nào).Đây là cuộc dạo chơi của đôi lứa nhưng đồng thời cũng là cuộc du

ngoạn của những tâm hồn trên đôi cánh mộng mơ Phải nhìn thế giới từ cõimộng, nhà thơ mới tạo được một không gian nghệ thuật đặc biệt như thế này:

Cả không gian hồn hậu rất thơm tho Gió hương đưa mùi, dìu dịu phất phơ

Trong thế giới hương màu hòa hợp ấy, những tâm hồn được giao hòa,

giao cảm và tìm thấy hạnh phúc thần tiên Ở bài thơ Ngậm ngùi, nhà thơ đưa

tâm hồn mình vào cõi mộng, vào thế giới êm ái hài hòa như nhịp đưa nôi rungủ:

Lòng anh mở với quạt này

Trang 36

Trăm con chim mộng về bay đầu giường Ngủ đi em, mộng bình thường

Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ

Từ cảnh thực nhà thơ đã ảo hóa để biến thành cõi mộng Sợi buồn dệtthành chiếc võng tâm trạng, chiếc quạt mang gió mát của tình yêu, hàng thùydương là lời ru của một tấm lòng yêu thương pha lẫn ngậm ngùi nuối tiếc.Không phải Huy Cận tìm thấy lòng mình trong cảnh mà lòng thi nhân đã hóacảnh để chờ đón những ngọn gió trong đời, nhà thơ tự phơi trải lòng mình để

tự tìm niềm đồng cảm Vì thế trong Lửa thiêng, không gian nội tâm tương

thông với không gian ngoại cảnh, tạo nên sự hòa quyện giữa thực và ảo,ngoại cảnh ở nội tâm

Trong Lửa thiêng, Huy Cận luôn mang nỗi “khắc khoải không gian”.

Chủ thể trữ tình xuất hiện giữa không gian trần thế, bị đóng khung trongnhững giới hạn chật trội nên luôn khát vọng giao tiếp, khát vọng chiếm lĩnhkhông gian trên cao Trong hành thình chiếm lĩnh không gian, huy Cận trinhận không gian rộng lớn trên nhiều hướng, nhiều chiều, nhiều lớp Tinh thần

chiếm lĩnh không gian được thể hiện tập trung ở bài thơ Tràng giang, một thi

phẩm nổi tiếng của Huy Cận

Cảm hứng của bài thơ Tràng giang là cảm hứng không gian: “Bâng

khuâng trời rộng nhớ sông dài” Không gian được mở ra từ dòng sông rộnglớn với muôn vàn đợt sóng và triền miên nỗi buồn Từ dòng sông, không gian

được mở rộng theo chiều dọc( Con thuyền xuôi ), chiều ngang( lơ thơ cồn nhỏ)mà chiều nào dường như cũng không có giới hạn Rồi từ hai chiều của

không gian mặt phẳng tác giả mở ra chiều thứ ba của không gian:

Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu

Trang 37

Một không gian ba chiều mở ra theo ánh mắt nhìn ngắm và chiêmnghiệm của thi nhân, một không gian thấm đẫm chất Đường thi: khoáng đạt và

cổ kính, tĩnh tại và thanh vắng Nhưng Tràng giang là thi phẩm của Thơ mới,

nó mang đậm dấu ấn của một thời đại trong thi ca Cũng là chiếm lĩnh khônggian, khát khao hòa nhập vào vũ trụ nhưng Huy Cận không tìm được sự annhiên tự tại của các thi sĩ đời Đường Các nhà thơ xưa vươn tới không giantrên cao là cảm thấy hòa nhập giữa tiểu vũ trụ và đại vũ trụ, còn Huy Cậncàng lên cao càng thấy lạnh, càng cảm thấy cô đơn giữa đất trời Chủ thể trữtình không xuất hiện trong điểm nhìn siêu cá thể như người xưa mà hiện hữutrong tâm thế của một cá thể rợn ngợp trước vũ trụ trở về tìm điểm tựa ở tìnhquê hương đất nước Trong hành trình tìm kiếm, chiếm lĩnh không gian, tâmhồn Huy Cận chứa chất đầy mâu thuẫn Nhà thơ vừa khao khát cái xa xôi màvừa sợ cái xa xôi Muốn thoát khỏi cái hẹp nhưng khi đối diện với cái rộng

lớn vô hạn lại cảm thấy cô đơn, bé nhỏ Trong nhiều bài thơ của tập Lửa thiêng không gian vĩ mô và vi mô bị phân hóa, trở thành tương phản Lúc ấy

nhà thơ tự nhận ra cái tôi cô đơn của mình trước vũ trụ bao la Cảm thức ấykhác với thi sĩ xưa, bởi Huy cận là nhà thơ mới, một nhà thơ trong trào lưuvăn học lãng mạn 1932- 1945

1.3.2 Hành trình sáng tạo của Vũ Hoàng Chương thời kỳ Thơ mới

Vũ Hoàng Chương sinh năm 1916, đồng lứa với các nhà thơ Xuân Diệu,Huy Cận, Bích Khê, Ông học hết bậc tú tài, lại chuyển sang học Luật Sinh

ra trong một gia đình thượng lưu, ông hấp thụ cả hai dòng văn học Đông vàTây…Và trong thơ Vũ Hoàng Chương, chất đông phương dù có đậm đặc thậmchí đôi lúc đến hoài cổ, nhưng cái chất tây phương trong thơ ông, lại đượcchuyển giao khá nhuần nhị Những thể nghiệm hình như đằm chín hơn VũHoàng Chương tạo ra một lối thơ, nói như bây giờ, Đông Tây hòa hợp nhuầnnhuyễn, qua một tâm hồn và tự nó hiện lên:

Trang 38

“Say đi em, say đi em Say đi cho lơi lả ánh đèn Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt Rượu, rượu nữa và quên, quên hết !

Ta say quá rồi Sắc ngã màu trôi…”

Đến với hai tập “Thơ Say” và “Mây” trong giai đoạn này, ta sẽ bắt gặp

một khối buồn, buồn vì mối tình đầu bị phụ bạc, buồn vì thời thế loạn lạc,người nghệ sĩ như không tìm ra lối thoát văn chương nên buồn bởi mơ ướcnghiệp văn không thành hiện thực Những nỗi buồn đó theo ông trên khắp nẻođường đời và ngấm vào da thịt, xương máu và trở thành nguồn nuôi dưỡnghồn thơ cho bao người nghệ sĩ tài hoa mà phận bạc

Thơ Say đã đưa Vũ Hoàng Chương lên ngang hàng với những ngôi sao

đáng chú ý trong phong trào Thơ mới Dù xuất hiện ở cuối mùa thơ, nhưng VũHoàng Chương đã góp một tiếng thơ độc đáo, mà chỉ những tài năng, mới tạo

ra được nó Nghĩa là, sự đóng góp của ông ngang tầm với Hàn Mặc Tử, XuânDiệu, Chế Lan Viên, Bích Khê…

Thơ Vũ Hoàng Chương lấy cái tôi làm chủ thể, lấy cảm giác nhập thầnvào những phút giây mình là mình nhất mà viết Xuân Diệu có cái đê mê vàotình yêu Hàn Mặc Tử có cái đê mê vào cõi huyền diệu, thì Vũ HoàngChương

Trang 39

đê mê trong cái khoái lạc trần tục, của những quan niệm chỉ có mình mới hiểumình nhất, mới thấy giải thoát khỏi mọi thứ sầu muộn rắc rối ở xung quanh.

Vũ không hề giấu giếm lối sống của mình :

“Đàn với bút, tài sơ không chép nổi Những cao xa để mộng chẳng nên hình Hãy còn mem, người vợ góa Lưu Linh Đưa lối những chàng say về Lý tưởng”.

( Lý tưởng- Thơ Say)

Ông tìm tự do trong men rượu,trong yêu đương Khi đắm vào yêu, ôngyêu, không phải trong thanh cao, mơ mộng mà trong lạc thú của đờithường.Vũ Hoàng Chương tìm người yêu trong cái đám trốn bỏ cuộc đời màlại không trối từ lạc thú ấy Và, hưởng cho hết lạc thú, lại là thú quên đ

“…Hãy buông lại gần đây làn tóc rối Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên, Rồi em đã dìu anh trên cánh khói Đưa hồn say về tận cuối trời Quên”.

(Quên – Thơ Say)

Thơ tình của Vũ Hoàng Chương không nhiều lắm, nhưng có những bài xứng

đáng là những bài thơ tình đầu của Thơ mới, chẳng hạn như bài Mười hai tháng

sáu:

“Trăng của nhà ai? Trăng một phương, Nơi đây rượu đắng, mưa đêm trường

Ờ đêm tháng sáu, mười hai nhỉ,

Tố của Hoàng ơi! Hỡi nhớ thương !”

(Mười hai tháng sáu - Mây)

Trang 40

Có lẽ trong thơ, chưa ai tả được cái đắm đuối mê ảo trong cái thú hútthuốc phiện ông ngợi ca Nàng Tiên Nâu với nhiều cung bậc, nhiều ấn tượngcảm xúc thật độc đáo Và, ông cho mình lúc đó là tự do, siêu thoát nhất…

Có thể, với quan niệm Nho giáo, cho ông như thế là đam mê trác táng, là mộtthứ bệnh hoạn,cũng vì thế mà đang trong phong trào Thơ mới, người ta phụctài ông , nhưng khi đề cập đến thơ Vũ Hoàng Chương thì hình như câukhencũng có đôi chút ngại ngần không buông hết lời như khen Xuân Diệu, Thế Lữ,Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử,…nhưng theo cách nghĩ phóng khoáng thì sự đitìm lối thoát cho cá nhân mình, dù bụi bặm, dù đời cho là “sa ngã”, nhưng nhàthơ lại thất đấy là lúc tâm hồn thanh thản nhất cũng vì thế, Vũ Hoàng Chươngmới có cái độc đáo riêng mình Thơ Vũ Hoàng Chương không hòa đồng đượcvới tâm tư của đông đảo bạn đọc, bởi thơ Vũ Hoàng Chương đào sâu vào tâmtrạng cô liêu của bản thể của ông, trong lối trốn đời, ông tự giành lấy chomình.Vũ Hoàng Chương lập dị trong lối sống và đôi lúc ở cả trong thơ

Vũ Hoàng Chương dẫn Thơ mới vào cõi sâu xa cá tính Thơ ông không hề

bí hiểm, nhưng ông chẳng giống ai trước mình, và những người sau mình cũngchẳng ai bắt chước nổi Ông tạo nhạc, tạo tranh cho Thơ, ông chọn từ cho từngcâu đắc ý , đắm hồn vào những trang thơ mà ông cho đó mới thật đáng gọi làThơ Thơ ông nhiều câu rất điêu luyện:

Gót sen chùa cổ đêm trăng ấy Vọng thấu luân hồi nhạc mỏng manh

(Đậm nhạt- Mây)

“…Nhịp trúc buông khoan

Sóng tơ dồn chậm Môi nồng tươi, da mịn ấm Liễu xinh xinh thẹn dáng, liễu cong đôi nét mày”.

(Dâng tình- Mây)

Ngày đăng: 18/04/2019, 22:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huy Cận: Lửa thiêng, NXB Hội Nhà văn, H. 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lửa thiêng
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
2.Huy Cận - Trần Khánh Thành: Huy Cận - Đời và thơ, NXB Văn học,H . 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy Cận - Đời và thơ
Nhà XB: NXB Văn học
3. Huy Cận – Hà Minh Đức: Một cuộc cách mạng trong thi ca, 60 năm phong trào Thơ mới, NXB GD, H .1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cuộc cách mạng trong thi ca, 60 năm phongtrào Thơ mới
Nhà XB: NXB GD
4. Vũ Hoàng Chương: Thơ Say, Thơ Mây, NXB Hội Nhà văn, H. 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Say, Thơ Mây
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
5. Nguyễn Văn Dân: Lý luận văn học so sánh, NXB Đại học Quốc gia, H. 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
6. Nguyễn Đăng Duy: Văn hoá tâm linh, NXB Văn hoá Thông tin, H. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá tâm linh
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
7. Nguyễn Đăng Điệp: Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học, H.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Nhà XB: NXB Văn học
8. Phan Cự Đệ:Văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945, NXB GD, H. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945
Nhà XB: NXB GD
9. Phan Cự Đệ: Thơ văn Hàn Mặc Tử - Phê bình và tưởng niệm, NXB GD, H. 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Hàn Mặc Tử - Phê bình và tưởng niệm
Nhà XB: NXB GD
10. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử -Nguyễn Khắc Phi: Từđiển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQGHN. 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB ĐHQGHN. 2000
11. Lê Bá Hán - Lê Quang Hưng - Chu Văn Sơn: Tinh hoa Thơ mới, thẩm bình và suy ngẫm, NXB GD, H. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa Thơ mới, thẩm bình và suy ngẫm
Nhà XB: NXB GD
12. Nguyễn Thị Bích Hải: Thi pháp thơ Đường, NXB Thuận Hoá, Huế. 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Đường
Nhà XB: NXB Thuận Hoá
13. Bùi Công Hùng: Tiếp cận nghệ thuật thơ ca. NXB Văn hoá TT 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận nghệ thuật thơ ca
Nhà XB: NXB Văn hoá TT 2000
15. Phương Lựu - Trần Đình Sử - Lê Ngọc Trà: Lý luận văn học, NXB GD, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: NXB GD
17. Phương Lựu: Văn hóa, văn học Trung Quốc cùng một số liên hệ ở Việt Nam, NXB HN, H. 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa, văn học Trung Quốc cùng một số liên hệ ở ViệtNam
Nhà XB: NXB HN
18. Phan Ngọc: Bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB Văn học, H. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn học
19. Nguyễn Khắc Phi: Thơ văn cổ Trung Hoa - Mảnh đất quen mà lạ, NXB GD, H. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn cổ Trung Hoa - Mảnh đất quen mà lạ
Nhà XB: NXBGD
20. Nguyễn Khắc Phi - Trần Đình Sử: Về thi pháp thơ Đường, NXB Đà Nẵng, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thi pháp thơ Đường
Nhà XB: NXB ĐàNẵng
21. Ngô Văn Phú: Thơ Đường ở Việt Nam, NXB Hội Nhà văn, H. 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Đường ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
22. NguyễnQuốc Siêu: Thơ Đường bình giải, NXB GD, H. 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Đường bình giải
Nhà XB: NXB GD

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w